Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:35:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Biên giới Tây Nam  (Đọc 150971 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2008, 06:49:42 am »

Cô gái nghe lời từ từ nhắm mắt lại. Chu Thom bỗng thấy ruột gan mình quặn lên. Trời Phật! Có phải nó đấy không, cái thằng sĩ quan tình báo nhân dân đã trải qua đủ các loại trường lớp ở Ha-oai, ở Sài Gòn và cả ở các nơi mà bỗng dưng hắn biến mất ba tháng, đến khi trở về, trong các câu chuyện thỉnh thoảng hắn lại đá vào vài câu ngạn ngữ Tàu? Cái thằng mà chuyên đứng đầu các trò chơi độc ác, các đám đánh lộn với tụi học sinh nhà nghèo cái hồi nó học trên anh và Mươn Then hai lớp ở trường trung học Tung-sleng? Cái thằng mà có một lần anh đã nghe Mươn Then vừa cười vừa kể lại rằng suốt những ngày tháng căng thẳng đợi chờ anh, nó đã không ngớt theo đuổi chinh phục cô? Có phải chính nó đấy không? Nếu đúng thì tại sao bây giờ em lại ngả đầu dựa vào nó thế kia? Hả Mươn Then?… Chao! Những buổi chiều ngồi với nhau bên biển hồ Tông Lê Sáp, em cũng néo dựa vào tôi thế này mà khe khẽ hát khúc “A-pê” ngợi ca cuộc đời sóng gió như truyền thuyết của những người dân chài. Tôi lai gọi em là con đom đóm hay đổi mày để cho phải dò dẫm cả đời… Chao ôi! Thì ra sự vắng mặt của em bấy lâu nay được giải thích như thế này đây. Bỏ tất cả chạy theo một thằng sĩ quan tàn quân, một thằng tội phạm chiến tranh, một tên ác ôn chuyên ký những chỉ thị giết người… Chua chát chưa! Những ngón tay của Chu Thom bấu chặt bào nhau nhớp nháp mồ hôi. Lạy trời phật! (Anh trở nên có thói quen hay buột miệng khấn trời phật kể từ khi cái đầu anh một chút nữa thì rời khỏi mình). Giá mà mình có một cấyúng? Cái thẹo nơi cổ giật giật khiến anh sa sầm mặt mày.

Cô gái lại mở mắt ra, nhích người ngồi thẳng dậy:

-Anh bảo liệu có thoát không? Ôi! Sao mà đi đâu cũng toàn đụng họ! Em không muốn ngồi tù đâu.

-Thôi đi Mươn Then! Em đừng gở mồm. Em tính muốn ngồi tù thực sao mà cứ một giọng trêu trời ấy nói mãi thế?

Cô gái cong đôi môi lên tỏ vẻ bướng bỉnh:

-Em không muốn trêu trời trêu đất gì cả nhưng… Nhưng biết đâu họ đã chẳng vòng trong vòng ngoài đông nghịt ở ngoài trảng rồi?

Có vẻ run sự thực sự trước chính câu nói của mình. Cô gái càng co rúc người lại. Gã đeo kính đột nhiên gằn giọng:

-Thôi chứ! Ngồi lì cả đây mãi sao? Các anh chịu khó tản bớt ra ngoài mà lo cánh gác đi.

Hắn quay lại định nói với cô gái một câu gắt gỏng gì đó nữa nhưng thấy cô đã im lặng nhắm mắt, bèn buông xuôi:

-Ngủ đi! Cố ngủ đi! Chúc em mơ được những giấc mơ vàng bạc ở bên kia biên giới. Tạnh mưa là chúng mình sẽ đi ngay khỏi cái nơi đã gây cho em nhiều suy nghĩ sợ hãi này.

Bác sĩ Chu Thom bỗng sực tỉnh. Tạnh mưa là đi ngay khỏi nơi này à? Không! Lạy Phật! Không dễ dàng đến nỗi ấy đâu Pôn Xin ạ! Các người đã cứa vào cổ ta một lần nhưng chưa đứt, nay định sang bên kia rủ thêm bè thêm cánh trở về cứa cổ ta một lần nữa cho đứt hẳn ư? Không… Anh nhổ mấy vụn đá trong miệng ra.

Với tất cả sự thận trọng và khéo léo vốn có của một bác sĩ phẫu thuật, lợi dụng khoản khắc lộn xộn của bọn người lạ mặt tản ra tìm địa thế ẩn nấp, Chu Thom dính sát người vào vách đá lẻn ra ngoài…

Tới bìa rừng, anh chỉ kịp vơ quàng lấy túi đồ mổ rồi co chân chạy luôn. Phải tới kịp Tà Sơn trước khi trời tạnh… Quân ăn thịt trẻ con ấy không thể thoát vô lý như vậy được. Phải tới Tà Sơn trước khi trời sáng… Người sản phụ đang quằn quại trên giường… Cả hai sự khẩn cấp dồn vào anh một lúc. Anh quăng mạnh đôi dép nhựa vào rừng. Nhưng… Anh thoáng ngần ngừ. Còn cách nào khác được nữa, gấp lắm rồi! Thôi thì Mươn Then coi như đã chết rồi! Chết thật sự trong anh rồi! Ôi! Giá mà hồi nãy anh được nói với cô một câu, được ra hiệu cho cô một chút thôi…


Chạy được mấy bước, một cãi rễ cây bò nổi lên trên mặt đường quật sấp ngực anh xuống đất, túi đồ mổ văng vào bụi… Kiểu này không kịp rồi! Đột nhiên anh chạy lộn trở lại. Đâu đây có lối tắt gần được nửa đường, chỉ cần gắng sức lội qua được cái bưng vừa rộng vừa sâu. Con đường tắt này anh nhớ rõ lắm. Lần ấy chính anh đã bị chúng rượt đuổi khi anh quyết định chạy trốn. Anh chạy trốn chỉ với lý do anh là bác sĩ! Tới giữa bưng, một con chó to tướng ngoạm vào được vai anh… Cả đến con chó của chúng cũng không ưa loại người có chữ trong đầu.


Tới chân dốc, anh dừng lại đắn đo một chút rồi ngoặt người sang trái rừng. Rừng đêm vội vàng nuốt chửng lấy con người nhỏ bé. Mưa vẫn ào ào đổ xuống để phô phang cái sức mạnh hoang dã ngàn đời của mình.
Trong nhà xã đội trưởng Tà Sơn, mặc dù Hoà đã cố ghìm nhưng tiếng cái tiếng nói thanh khàn khàn như tiếng gái giả trai của anh vẫn cứ rung lên.

-Khổ lắm Săm Đi ạ! Tôi đã nói chỉ có mấy thằng ác ôn vượt trại cùng dăm ba khẩu súng quèn, để một mình tôi đi với anh em là được rồi, anh cứ ở nhà, chị ấy đang… Đang-Thỉnh thoảng vấp phải một chữ khó, anh thường dừng lại lục lọi trí nhớ rất vất vả-Đang… Hả? Đang trở dạ đẻ.

Săm Đi vò đầu bắt tai khiến cho những ngọn tóc xoăn của anh ngóc cả dậy như những con rắn đen. Săm Đi nhìn cặp môi xám ngoét của Hoà ái ngại:

-Biết thế, nhưng… Thôi được! Tôi ở nhà một lần vậy. Mà không! Không đâu-Anh nhăn nhó như chính mình đang đau đẻ-Các anh đến hiệp đồng công tác, thằng xã đội tôi sao có thể ở nhà vì một mụ vợ sắp đẻ được. Mà anh… Anh lại vừa dứt con sốt rét! Tôi đi thôi.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2008, 06:50:49 am »

Hoà gật gù cái đầu húi cua nhòn nhọn như đầu con rắn hổ mang sấn tới trước mặt Săm Đi.

Nhưng mà này! Anh có biết thế nào là đẻ ngược không hả? Cái ngữ đàn ông ào ào như anh làm sao mà biết được. Đẻ ngược là đẻ… đẻ không xuôi, là… Là mọi thứ cứ ngược lung tùn cả lên hiểu không? Trường hợp này rất có thể… Mà thôi! Mải tranh cãi y học ở đây, chúng nó lại thót qua biên giới bây giờ. Quân lính của anh vẫn rải đều trên đường đấy chứ? Cái thằng sĩ quan tình báo này ma mãnh lắm chứ không vừa đâu.

-Đồng chí Hoà!… Tôi… Tôi…

-Ơ hay cái anh này! Vào với chịi ấy đi! Chỉ một lát nữa là bác sĩ tới thôi. Không hiểu giông bão thế này…
Săm Đi há miệng đinh nói thì bằng cả hai tay, Hoà ấn mạnh vào vai bạn cho ngồi hẳn xuống ghế.

Vừa lúc đó Chu Thom ập vào, toàn thân lạnh băng như một cây nước đá. Anh gần như ngã dúi vào hai cánh tay dài nghêu của anh đội trưởng công tác.

-Biết ngày mà-Hoà ghì chặt lấy người bạn bác sĩ, nói cứ xoe xoé-Tôi đoán nhất định là anh. Và đã là Chu Thom thì bao giờ cũng biết lộ mặt đúng lúc khi người ta cần. Hoan hô! Giông bão thất bại rồi! Thôi tôi phải đi đây. Anh Chu Thom ở lại, chúc cho mẹ tròn con vuông nhé!

Chu Thom xua xua tay yếu ớt, tiếng nói anh phát ra thều thào:

-Đừng đi… Chúng nó năm thằng… Thằng đeo kính là… Tất cả ở hốc đá trảng Kà Keo… Nhanh lên!… Trờì tạnh là không còn ai đâu. Trời còn mưa không?-Anh hỏi ngẩn ngơ rồi chắp hai tay lên ngực-Tin tôi đi… Tôi đã cùng ngồi sưởi lửa với chúng nó… Hoà nhảy phắt người lên:

-Tất cả ở hốc đá Kà Keo? Có đúng thế không? Hoàn toàn chính xác chứ? Thế thì chết mẹ bọn dã thú rồi Săm Đi ơi! Đừng đòi bỏ vở ở nhà đẻ một mình nữa nhé! Cám ơn Chu Thom, xong việc hãy chờ tôi cùng về đấy.-Cặp mắt một mí của Hoà loé lên vẻ ranh mãnh-Lâu lắm không gặp nhau. Tôi có bài thơ đang ngoáy dở, mê li ra phết. Mùa hè năm 80-Rừng khô như tờ bánh tráng. Sáng về tôi đọc cho mà nghe. Tạm biệt.

-Anh Hoà! Trong đám ấy có…-Không nói hết câu, Chu Thom mím chặt môi ngồi xuống.

Nhìn theo cái bóng của Hoà chìm nghỉm trong đêm tối ướt át, xã đội trưởng Săm Đi ngồi không yên. Ngó trước ngó sau một chút, anh cũng xách súng chạy ra theo. Ra tới cửa anh lại chạy vội vào chụp tau Chu Thom nói hối hả:

-Bác sĩ… Bác sĩ giúp tôi! Mọi sự trông nhờ cả ở cái bụng của bác sĩ. Vợ tôi nó mong con mười năm rồi… Nó đâu còn trẻ nữa… Nếu nó hỏi, bac sĩ cứ bảo tôi đang đun nước nóng ở sau nhà. Tôi muốn cho nso yên cái bụng mà đẻ. Cám ơn… Cám ơn…

Anh nhìn nhanh vào cửa buồng vợ một cái rồi chạy ào đi.

Còn một mình, Chu Thom khép kín cửa lại rồi xách túi thuốc tới cửa phòng người đẻ. Chân tay anh rã rời, mắt nhìn mọi vật cứ dính nhằng vào nhau. Màng da ở cái thẹo trên cổ anh vẫn cứ phập phồng. Phập phồng như sắp sửa rách bung ra. Đỡ tô chè thốt nốt của người mẹ anh xã đội trưởng bưng từ bếp lên, mấy ngón tay anh cứu quăn quí lại cầm không vững nữa. Thoáng thấy con mắy già nua của người mẹ đang ngước lên anh lo lắng, Chu Thom cố gượng một nụ cười làm méo xệch khuôn mặt nhợt nhạt. Anh nói bà mẹ đun giùm một siêu nước nóng…


Khi những người lính trở về cũng là lúc cánh cửa sử phòng đẻ được mở ra. Nắng sớm rọi vào khuôn mặt người mẹ đang nhắm mắt thiêm thiếp những tia sáng tinh khiết. Trên tay bà nó, đưa bé có cái mũi xinh xinh đáng ngủ êm đềm.


Săm Đi đứng sững ở cửa phòng với bàn tay quấn băng xanh. Trên gò má nhem nhuốc bùn đất của anh, người ta thấy có một giọt nước mắt to tướng lăn ra. Con mắt anh nhoà đi nhưng cái miệng anhlại cười. Cười mếu máo.


Nhà ngoài, đội trưởng Hoà sau khi ngửa cổ tu sạch một gáo nước mưa, anh đang xoa xoa tay vào ngực với vẻ cực kỳ khoan khoái. Anh đội trưởng tính tình vô tư không để ý thấy anh bạn thầy thuốc đã tựa lưng đứng bên cửa tự lúc nào và đang mở to đôi mắt vừa thẫn thờ vừa dò hỏi nhìn mình. Anh quẳng vù đôi giầy vải há mõm dính bết đất vào cái vũng nước đầu hè rồi mấy cái răng vổ nơi cửa miệng anh bắt đầu chìa ra nom thật nhộn.

-Muộn tí xíu nữa thì hỏng ăn Chu Thom ạ! Bọn mình chưa đến nưoi, trời đã tạnh mất rồi.

Chu Thom im lặng, anh nhướng mắt lên. “Cái lúc ấy tôi biết. Khi đó tôi bắt đầu ấn vết dao đầu tiên. Thấy mưa thôi gõ trên mái tôn, tay tôi sượng lại tưởng rằng không tài nào mổ được nữa”.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2008, 06:52:00 am »

-Khi chúng tôi xộc vào, hộc đá vắng tanh-Hoà nói sôi nổi-Đống củi chúng nó sưởi chì còn là một vũng nước lềnh bềnh tro than. Du học ở Tàu về có khác, thâm nho đến tận nước cờ cùng. Nhưng thằng Tàu lại không dạy nó cách thức ngoại lệ khi xoá dấu trên cát ướt nên anh em mình cứ việc rà đèn pin sát đất mà bám theo. Tang tảng sáng, khi con chim kà keo đầu tiên bắt đầu cất tiếng hót… Bậy! Mình lại tả cảnh văn thở nữa rồi!-Hoà bật cười ngượng nghịu-Tảng sáng người đi đầu thấy chúng dúm vào nhau ở bìa rừng như gà mắc mưa. Trước mạt chúng là trảng trống. Bên kia trảng là đất Thái. Thật giống cái tình cảnh đi săn vịt giời, chỉ động khẽ một cái là mẹ con nó vù mất! Đúng lúc đó, trời đất! Săm Đi hàng ngày trông hiền khô mà lúc ấy coi đầu óc sáng láng dữ, ông đòi dẫn một tổ vòng phải, luồn sát đất sang đón lõng ở bìa trảng bên kia. Hoan hô!… Thế là bên này mình cứ ung dung từng sải một sáp tới… Khi tới sát lưng, nghe chúng nói chuyện lào phào, mình rủa thầm: đồ ngu! Mang nhau đến được đây rồi mà lại còn chuyện với trò. Cứ chạy tuốt luôn có phải chúng tao đành chịu không. Chúng nó vẫn nói. Mà ủa! Sao lại có cả tiếng con gái nữa Chu Thom? Mình nghe rõ rành rành tiếng cô ta nói: “Anh không được nói năng với tôi như thế. Cho đến bây gìơ anh vẫn chưa là gì với tôi hết. Tôi chán cuộc sống nhạt nhẽo đói nghèo ở đây thì tôi đi, tự ý đi chứ không phải tôi đi theo anh…” Đại khái là như thế. Nói năng nghe cũng được đấy chứ. Thây hay hay, mình bò xích lại chút nữa. Một giọng đàn ông cất lên rất khẽ nhưng nghe tinh như thấy có kim khí va chau ở bên trong. Đó! Lại văn chương này nọ nữa rồi. Y nói: “Đàn bà trở mặt!… Tôi không cần biết vì sao cô đi và đi theo kiểu gì, nhưng ở đây, nhất là lúc này, xin cô nghe tôi một chút, nếu không thì phiền lắm! Tóm lại là cô phải tiếp tục đi”. Rồi mình lại nghe hắn năn nỉ: “Nào, đứng dậy đi em. Sang đến bên kia em có bướng bỉnh đến đâu anh cũng xin chiều…”. Và cái khi cái cò gì nữa nghe mệt lắm. Hà! Té ra chúng còn cụm lại vì ba cái vụ mèo chuột này đây. Chắc một cô tiểu thư nhẹ dạ nào đó định đi tìm thiên đường nhưng đến điểm chót cuối cùng lại ngập ngừng. Kỳ cục thật! Cô ta còn khóc thút thít nữa chứ.

Chu Thom nhắm nghiền mắt lại như bị chói nắng.

Hoà sửng sốt:

-Chết! Anh đuối lắm phải không? Đường đất giông bão lại mổ suốt đêm như thế mà tôi cứ thia lia mãi… Thôi, anh đi nằm nghỉ một chút đi!

Chu Thom mở bừng mắt ra, cái nhìn như thầm nói: “Không! Anh kể tiếp đi!… Cứ kể tiếp đi! Tôi đang nghe đây. Cô ấy… Khóc phải không? Tảng sáng… Để tôi nhớ xem nào? Có lẽ lúc ấy thằng bé đã lọt ra khỏi lòng mẹ nó. Nó khóc. Khóc mới khiếp chứ!”.


-Thôi được rồi-Hoà quăng nốt cái mũ dúm đó xuống đất-Trong khi chờ Săm Đi ra, mà ông này mới ghê chứ, công việc vừa xong là chạy như ma đuổi thẳng một mạch về nhà, tôi kể nối cho anh nghe. Đáng lẽ mọi việc xảy ra sẽ rất êm thấm nếu anh chàng nằm sau tôi kềm được tiếng nhểu mũi của mình. Lính tráng bây giờ thế đấy: mới gội mưa có một đêm mà đã… đã… cái gì? Tiếng Campuchia gọi là gì? À, cảm cúm om sòm. Thế là chúng bắn. Bắn như kẻ bị nấc cụt. Vừa bắn vừa lùi ra trảng. Để bắt sống, anh em mình chỉ nố súng vào sương. Lại nữa!… Cái tật! Nôm na là anh em mình toán ghếChu Thom nòng bắn chỉ thiên. Trong khói mù mờ, tôi thoáng thấy cô gái bưng chặt lấy hai tay chạy xà quầy xà quầy. Thằng đàn ông đeo kính, đúng là có đeo kính anh ạ!-Vì có lúc kính tuột xuống, nó lại quáng quàng nhặt lấy đeo lên mắt-Vội xông tới bế xốc lấy cô ta định vác chạy, nhưng cô ấy cứ nhoài xuống đất, miệng thì kêy thét lên đòi chết ngay tại đây cho đỡ khổ. Vừa khi đó cánh tập hậu của Săm Đi bất thần đánh tới. Bọn này có một nhúm nhưng chống trả mới ghê chứ: Kêu thế nào cũng nhất định không hàng. Bỗng thằng đeo kính khẽ giật người lên rồi nhủn lưng xuống ôm chặt lấy bắp đùi. Viên đạn này là của Săm Đi. Đó là ông ấy còn đang rối trí vì chuyện vợ con chứ nếu không thì thằng đeo kính có khi chỉ bị bứt đi một cái tai. Trong giây phút hoảng loạn, nó chĩa luôn súng về phía cô gái đang co rút người lại như lên cơn động kinh. Thú thực Chu Thom ạ! Tôi chưa bao giờ nghe thấy một giọng nói vừa cay đời vừa bi thảm đến thế: “Tôi không muốn giết em nhưng tôi muốn cắn chết cái giọng hát của em. Nó đã làm tôi khốn khổ khốn nạn!… Thà tôi phải chết trăm lần còn hơn sống mà nhìn em hát cho thằng bác sĩ và đồng bọn của nó nghe… Đừng oán tôi…” Chát! Chát! Cùng với phát súng của nó, tôi cũng lẫy cò. Nó bị thêm một viên đạn vào tay, vùng chạy được một đoạn thì người khuỵu xuống. Nhưng cô gái cũng reo lên một tiếng đau đớn, máu ở cánh tay rỏ cả xuống tấm xà rông màu vàng. Và lạ chưa! Đến lúc ấy tôi vẫn nghe tiếng thằng đàn ông đeo kính gằn lên: “Con quỷ Thét-sô-la (Loài thuỷ quái dưới nước hay quyến rũ tàu bè qua lại) kia! Tao nguyền rủa mày. Nếu tao không quay lại chợ tìm mày thì…”.


Mình tháo vội cuộn băng nhảy tới chỗ cô gái. Nhưng nhìn quanh quất thấy không có một vật gì gọi là cưng cứng một tí để buộc ga-rô cả. Trường hợp đạn vào động mạnh tay như thế dứt khoải phải ga-rô mới cầm được máu phải không bác sĩ? (Chu Thom nhúc nhắc cái đầu có mớ tóc lượn sóng rất đẹp không ra gật, không ra lắc. Nếu lúc khác thì anh bạn người Việt của anh đã lại nói:”Sao mắt ông toàn thấy sương khói thế cả thế này?” rồi). Như tôi đã nói, xugn quanh toàn là cỏ le non búng cả, thử ngắt một ngọn mập nhất, chưa kịp băng nó đã nát nhoét ra tay. Chạy vào bìa rừng kiếm cây thì xa, đạn lại bắn rát. Tôi quờ tay lên túi tìm cây viết Bic. Không thấym chạy nhảy rơi đâu rồi? … Nhưng tôi lại đụng phải một vật gì cồm cộm?  Chàt! Tuyệt quá!-Nói đùa, cái thói rởm sinh thơ phú của tôi cũng có lúc được việc ra trò-tôi rút tờ giấy gai có chép bài thơ mới sáng tác ra gấp thật nhỏ như đám con nít thường gẫp giấy làm đạn bắn dàn thun rồi đặt nhẹ cái Mùa hè năm 80 đó lên vết thương cô gái và quấn chặt lại. Cô ta cũng có kêu rên chút đỉnh theo kiểu con nhà giàu được cưng chiều, thậm chí còn đẩy tôi ra nữa mới sốt ruột chứ. Nhưng rồi cuối cùng cô nàng cũng ngoan ngoãn ngồi yên, lại còn táy máy đưa tay sờ vào cái bài thơi đang gác lên vết thương, có vẻ lạ lùng lắm.


Khi tôi ngẩng lên thì cả tốp tàn quân đã bị trói gọn như đống bao bì rách ở dưới đất. Thằng đeo kính lúc này không còn kính cứ gục mãi đầu xuống làm như cả trận mưa đêm qua chỉ trút vào có một mình nó… Thế là đi tong mất phần nửa bài thơi có câu mở đầu nghĩ tới sưn óc mới ra: Rừng khô như tiếng mõ trâu-ấy bậy! Đêm khô như tiếng mõ trâu-Rừng khô như tờ bánh tráng-Mùa hè năm 80… Thôi! Tôi vào với thằng nhỏ một chút đây. Cái tật! Không sửa được, vợ thì chưa có nhưng mình cũng có kha khá bạn gái, cô nào cũng kêu: “Nói chung anh cũng… Được đấy nhưng phải cái… Cái… Tiếng của ông gọi là gì nhỉ? Đúng rồi! Phải cái huyên thuyên quá! Cứ gọi là ế vợ cả đời”. Chà! Săm Đi mừng phải biết nhé! Coi chừng ông ấy sướng quá lại la hú chạy cùng rừng bây giờ. À, mà khỉ quá! Mình chưa biết cô ấy tên là gì, ở đâu nữa mới chết chứ.


Chu Thom mấp máy môi định nói một cái gì đó song anh chỉ lặng lẽ đến bên Hoà nắm lấy cánh tay bạn xiết chặt. Hoà nhoẻn cười hồn nhiên, anh nghĩ rằng người bạn ít nói đang thắm thiết biểu lộ sự khen ngợi trước năng khiếu y tế đặc biệt của mình. Năng khiếu quá đi chứ, băng ga-rô bằng thơ thì lịch sử chiến trận của loài người đã dễ có mấy ai. Anh bật cười khà khà rồi đi vào.


Chu Thom từ từ đi ra cửa. Nắng chiếu qua những tán lá sô-đo non tơ phả vào cặp mắt trũng sâu của anh một màu xanh dịu. Sau đêm giông bão, bầu trời bao giờ cũng có cái vẻ yên ả kỳ lạ thế này. Anh cứ đứng thế ngửa mặt nhìn lên như người tắm nắng.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2008, 06:53:02 am »

Và giờ đây, sau nửa năm, Mươn Then đang ở trước mặt anh dưới ánh đèn rực rỡ trong đêm hội được mùa của bàn con toàn xã. Một Mươn Then mà anh quen từng hơi tóc, từng độ ấm ngọt đôi môi, từng cái chau mày nũng nịu và quen đến cả những sợi tóc tơ màu hung hung sau gáy… Trên sân khấu nom cô hơi gầy và già đi. Nhưng như thế lại càng đẹp, đẹp đến xa lạ, đẹp đến huyền ảo xa xôi của những giấc mơ đang bồng bềnh trong anh.


Hình như ban đầu người ta có giới thiệu đây là buổi biểu diễn của đội văn nghệ thuộc trại phụ hồi nhân phẩm nào đó, và tới giữa chừng cái lo trên cành cao lại đọc lên một cá tên Mọ Len hay Crươm Đen gì nữa mà vì nhức đầu quá anh không ngó màng tới. Nửa năm… Gần hai trăm ngày qua anh đã có đôi bận đi tìm cô nhưng người ta không thể chỉ đích xác cho anh biết bây giờ cô đang ở đâu. Thế rồi công việc lại cuốn anh đi. Lạy phật! Có dân tộc nào bị hành hạ đến nỗi nghề thầy thuốc bỗng trở thành thần thánh như dân tộc này không!


Sau một tràng vỗ tay dai dẳng, không từ chối được, cô gái phải trở ra sân khấu hát lại lần thú hai. Ngay từ đầu giọng hát của cô đã buông ra đằm thắm như một lời tâm tình. Con mắt có cái đuôi dài tưởng chừng dõi nhìn vào trong chính tâm hồn cô, dẫn dắt người nghe tới những khung cảnh mới lạ, những điều thầm kín mà chỉ một mình cô biết, mình cô giữ gìn…

Mùa hè năm 80

Đêm khô như tiếng mõ trâu

Rừng khô như tờ bánh tráng

Trời không một tia gió thoảng

Đau đáu nhìn vào lòng thung

Bắt gặp tiếng dao đêm

Của bầy chim mời nhau tỏng đá…

Dàn nhạc khuất bóng ở đâu, lúc hoà vào nghe có tiếng gió tiếng chim, lúc tách ra nghe gầm gào thắng trận, lúc lại thoải xuống để lấy đà cuộn sóng cuộn bão, động rừng biển nâng bổng tiếng hát của cô lên cao… Cao mãi. Nhưng Chu Thom thấy lòng mình chùng xuống, mềm ra… Bài thơ của anh ấy! Anh run người lên trong một cảm xúc ùa tới choáng ngợp…

Đêm, cái nóng làm mềm mặt đá

Con mắt mưng lên đỏ máu nhìn trời

Bỗng hiện về một dòng sông xa xôi

Hiện về một lu nước hoa cau rơi lấm chấm…

Hát tới đây giọng cô lắng đi… Nhỏ dần… Rồi dừng hẳn lại. Khẽ khàng chắp hai tay lên ngực, cô nhìn về một điểm thẳm xa của trời đêm mà có lẽ lúc ấy gió vẫn mài miệt đưa tới cái vị thơm nồng của cánh đồng sau vụ gặt, cô nói như thì thầm với chính mình.:

-“Thưa bà con, thưa các anh các chị!… Bài thơi mà tôi đang hát là của một người lính… Người ấy đã cứu tôi. Nhờ người ấy một phần mà đêm nay tôi được hát trước bà con, trước các bạn, trước các em… Người lính đó tôi không biết tên, không nhớ mặt, hiện nay ở đâu. Tôi hát bài này trước hết xin tặng người chiến sĩ ấy, sau nữa hát tặng bà con…”.

Một sự im lặng bao trùm lên tất cả mọi người. Tiếng hát cô gái lại trải ra. Cô hát mà vẫn như đang nói tiếp những tâm sự của mình.

… Mùa hè năm 80

Vẫn nằm ngoài ký ức

Chúng tôi nằm mê mùa mưa

Thấy sấm nổ ran trong từng thớ thịt

Ngày phục giặc nằm im trên đất

Gió thổi lá bay như những tờ lịch rơi

Phủ vàng áo lính…

Những làn sóng âm thanh và những làn sóng lụa toả lan xung quanh cô gái, tưởng như cô đang đứng trước mặt biển cuộn sóng. Một lượng sóng lớn nhất đã trào vào lòng Chu Thom. Anh ngồi đó, không nghe thấy tiếng hát trên kia, chỉ nghe âm điệu bài thơi ngân vang trong đầu mình.

Con đom đóm kia có vẻ đã mệt mỏi, đang quay trở về, nó lại vụt sáng vụt tắt khi bay qua luồng sáng đèn. Khi cô gái hát tới đoạn cuối:

… Mùa năm 80

Rồi sẽ qua mau

Mùa hè năm 80

Sẽ không quên vội

Mùa hè năm 80

Cho đồng đôi thêm thương đồng đội

Và cho tôi hiểu thêm rõ về tôi.

Thì nó chấp chới bay xuống khoảng không lộng gió trên đầu mọi người và không thấy nó bay trở lại nữa. Cô gái dứt tiếng hát nhưng ánh mắt vẫn bay tới xa xăm như cố đẩy đưa tiếng hát của mình tới những điểm chốt heo hút mịt mùng mà cô gái nghĩ chắc sẽ có anh.

Như mơ ngủ, Chu Thom đứng dậy định len mọi người đi lên nhưng bàn tay dịu dàng của bà y sĩ đã kéo anh ngồi trở lại. Nhìn vào mắt bà, anh thấy rơm rớm nước…

Đã lấu lắm rồi bác sĩ Chu Thom mới lại thấy ngực mình ngột ngạt. Anh thẫn thờ đưa tay nới khuy áo… Không! Mươn Then ơi! Bài thơi ấy chưa hết đâu. Phần còn lại, đêm qua người ta đã tìm thấy trong túi áo khô máu của anh… Anh ấy không còn dịp nghe em hát lên bài thơ của mình nữa!… Lạc trong rừng lâu quá, vết thương của anh bị nhiễm trùng cấp tính… Nhưng bạn bè của anh ấy sẽ nghe em hát và sẽ hiểu em. Và cả anh nữa… Mươn Then!


Tháng 6 năm 1981
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2008, 12:03:50 pm »

Biển Hồ yên tĩnh

Mai Ngữ

Chúng tôi rời thị xã Xiêm Riệp vào một buổi chiều sau hai ngày đi thăm cảnh Angkor hùng vĩ. Gần như chúng tôi lần theo dấu chân của những khách du lịChu Thom khi xưa, cũng từ nơi cố đô của Suryavacman đi ra Biển Hồ, cũng từ một công trình vĩ đại của con người đi ra nơi sáng tạo tuyệt vời của thiên nhiên. Nhưng chúng tôi không phải là khách du lịch, chúng tôi là một đoàn công tác. Trên dọc lộ trình, hình tượng ám ảnh chúng tôi không chỉ là cảnh trí huy hoàng của những ngọn tháp đá trong khu đền cổ Angkor với những khuôn mặt trầm tư, và thần bí của tượng thần Bay-on bốn mặt xoay ra bốn hướng, với những hình người, hình những chiến sĩ anh dũng của Jayavacman VII hay những nàng vũ nữ Ap-sa-ra xinh đẹp chạm nổi trên vách đá dọc theo những hàng lang đang thử thách cùng với thời gian. Chen vào đó và cũng choán lên trong ký ức của chúng tôi còn là những đống xương người, sọ người trắng xoá trên bãi xác mà bọn Pol Pot đã đập chết gần vạn con người nagy trên đường từ Angkor trở về Xiêm Riệp. Ở Campuchia có biết bao nhiêu bãi xác như thế này? Trong khoảng tối bao la của hoàng hôn, những đống xương người trắng lên một cách khủng khiếp khiến đầu ocs chúng tôi buốt nhói, bàng hoàng…


Trời Xiêm Riệp chói chang trước mùa mưa, nắng hun chát mặt người. Đồng chí nhà văn già đi cùng với tôi chốc chốc lại thở phì phò nhữ bễ thổi, lắc lắc mái tóc rất dầy và đã bạc quá nửa pha lẫn bụi đất bốc lên từ mặt đường. Tôi thoáng ngửi thấy cả mùi khét vì nắng cháy từ chân tóc anh phải ra. Ngồi bên trái tôi, Lê Văn, trợ lý tuyên truyền và là nhà thơ của Mặt trận thì lim dim mắt như sắp ngủ. Cả người anh đều ngọn, mũi ngọn, cằm nhọn và những đầu xương ở tay, ở chân đều nhọn. Ngồi trên cái bậc cao của thành xe, thân hình xương xẩu và cao vồng của anh phải cúi gập xuống để tránh những cú xóc nẩy người. Chiếc xe díp lắc lư như gã say rượu, nhảy chồm chồm trên con đường đất từ sau mỏm núi K’rom rẽ vào Biển Hồ. Đây vốn không có đường, mùa mưa tới nước sẽ ngập băng và có độ sâu đến hai chục mét. Con đường do những đoàn xe hơi, xe bò, xe ngựa chuyển cá từ Biển Hồ về Xiêm Riệp tự tạo ra trong mùa khô này, sẻ ngang một bãi dài dọc mọc tràn ngập những bụi s’nghe, loại cỏ dại cao và mập hơn giống lúa nếp ở Việt Nam, chen lẫn những cây rên lùm xanh thẫm.


Ngồi ghế trước, cạnh người lái xe, Lê Đình Dũng-tiểu đoàn phó tiểu đoàn tiểu đoàn trinh sát của mặt trận, hai bàn tay ghì chặt lấy thành ghế cho khoi bị lắc. Chiều ấy, Dũng không mang quân phục, anh vận chiếc áo sơ mi kẻ sọc đỏ, chiếc quần ốc-pho màu tím than và đội chiếc mũ vải rộng vành của những người chăn bò Mỹ. Đi theo anh có Thư, chiến sĩ trinh sát trẻ-Thư mới mười tám tuổi, hai má tròn căng và hồng lên vì nắng, ngang lưng quấn đầy đạn M.79, người hơi ngả về phía sau để tránh đôi vai rất rộng của đồng chí chỉ huy, tay phải giữ khẩu M.79. Trên cuộc hành trình này của chúng tôi, hai anh lính trinh sát của mặt trận luôn luôn theo sát làm nhiệm vụ hướng dẫn bởi vì họ gần như là “thổ công” ở vùng này…


Không biết có phải ngẫu nhiên mà trong chuyến đi này quy tụ nhưng con người khá đặc biệt. Trưa hôm trước, trong khi ngồi đợi tiểu đoàn phó Lê Đình Dũng sửa soạn hành trang, chính trị viên tiểu đoàn trinh sát là Ba Chúc vừa cười vừa kể lại một mẩu nhỏ trong chuyến về phép năm ngoái của anh. Chuyến ấy, vừa về tới nhà, anh đã phải đưa cả vợ lẫn cô con dâu trưởng (con trai anh cũng đi bộ đội đóng ở biên giới phía Bắc) lên nhà hộ sinh huyện. Cả hai mẹ con đều chuyển dạ cùng ngày và đứa cháu đích tôn của Chúc đã biết giữ lên mà chịu ra đời chậm hơn chú ruột nó năm tiếng đồng hồ. Cùng một ngày Ba Chúc vừa là một người bố vừa là một ông nội đón con trai (đã phải đứa út chưa?) và cháu gái về nhà. Đồng chí chính trị viên của tiểu đoàn trinh sát cười rất vang, rất sảng khoái, hai tay sang rộng ôm lấy đôi vai lực lưỡng  của Lê Đình Dũng vừa từ trong buồng bước ra. Dũng hơi đỏ mặt, bao giờ anh cũng đỏ mặt khi nghe kể về chuyện vợ con. Ạnh mới hăm tám tuổi, Chưa vợ và cũng khá điển trai, khuôn mặt vuông vức đầy vẻ cương nghị nhưng đôi mắt lại rất lành khi nào cũng mở to đen láy, đôi môi mỏng với hàm răng trắng muốt đều tăm tắp. Dũng giống như một con người mẫu cho những nhà nặn tượng và cũng là một chàng trai lý tưởng cho những cô gái ưa kén chọn. Mùa khô năm ngoái khi còn là đại đội trưởng đại đội Ba, anh đã dân quân vượt gần ba chục cây số nước giữa Biển Hồ, truy quét bọn tàn quân Pol Pot ở phía bắc tỉnh Pua Sát, giải thoát cho hơn vạn dân và ngay đêm đó đã đưa hàng vạn con người vừa đi xuồng (cướp được của địch) vừa lội ào ào băng qua Biển Hồ, trở về lập những phum mới ngay tại vùng Xiêm Riệp này. Mới chỉ nghe qua mà tim tôi đã rung lên, chộn rộn trong đầu cái cảnh hàng vạn, hàng vạn dân Campuchia được những chàng lính trinh sát Việt Nam cứu thoát khỏi những nhát cuốc của lính Khơ-me đỏ, lũ lượt bám theo bộ đội ta trong cái đêm mờ mọt trăng lu của bầu trời sắp rạng. Chính cái cảnh tượng hùng vĩ ấy đã khiến chúng tôi quyết định phải đến với Biển Hồ, không phải đề thăm nơi thắng cảnh như những du khách khi xưa mà để tìm hiểu một chiến công của bộ đội trong thời gian qua. Và Lê Vân, anh nhà thơ của Mặt trận và là người bạn quen biết của tiểu đoàn trinh sát đã đưa chúng tôi tới đây. Rồi cũng chính anh đã đề nghị Lê Đình Dũng, người chỉ huy trực tiếp trận đánh phía bắc Pua Sát giáp Biển Hồ năm ngoái, cùng đi với chúng tôi ra vùng sóng nước mênh mang đó…

Tôi nhớ khi Ba Chúc kể xong, kể một cách vắn tắt trận đánh đó, Dũng chỉ cười mủm mỉm, hai mắt long lanh trong suốt nhìn khắp lượt chúng tôi, chẳng nói thêm câu gì hết…
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:05 pm »

Người lái chiếc xe díp trống hốc chở chúng tôi có cái tên rất lạ: Thầm-Lại Như Thầm. Đó cũng là một chàng lính trẻ mà tâm hồn rất nghệ sĩ, sẵn sàng nhập cuộc với anh em-như cánh lính trinh sát thường nói. Chẳng thế mà khi chúng tôi ngồi đợi thuyền trong căn nhà gỗ của Uỷ ban phum Kơ-nia Chơ-năng nằm sát mép nước, Thầm lẳng lặng quay xe hộc tốc trở về đơn vị vận tải của anh chỉ cốt kiếm được cân đường thốt nốt, cân đậu xanh và dăm bao thuốc lá Sa-mít dành cho tối này vì anh biết chúng tôi phải làm việc khuya giữa vùng nước mênh mang của Biển Hồ… Đồng chí nhà văn già rất cảm động và anh nói Thầm là kẻ “chịu chơi”. Bao giờ anh cũng dùng cái từ đó khi tâm hồn bị xúc động. Rồi anh lúc lắc đầu, mái tóc dầy và bạc bị gió thổi lật làm tung ra những hạt bụi cát li ti. Trong chuyến đi này, người bạn già của tôi luôn bị xúc động vì những cuộc gặp gỡ bất ngờ với những con người cũng rất bất ngờ. Những lúc ấy, anh cố nén tình cảm của mình bằng nhưng chuỗi cười thật vang, thật khỏe-giọng cười ít khi có được khi anh còn ở ngoài Hà Nội. Tôi nhớ trước ngày lên đường, anh chìa cho tôi xem giấy công lệnh và nói:

-Các ông ấy (ý nói mấy anh phụ trách cơ quan) đã định không cho tôi đi, bảo tôi có tuổi, sợ sang bên đó sống với bộ đội sinh hoạt kham khổ, khó mà chịu đựng được-Anh cười rất hóm-Không đúng! Sức tôi, tôi biết, tôi càng đi càng khỏe ra, thật đấy.

Tôi hiểu anh bạn già của tôi lâu này có nhiều tâm sự ngổn ngang.

Cách đây hơn một năm đứa con trai của anh lên đường nhập ngũ. Điều này cũng chẳng có gì bất ngờ. Lúc này không thiếu những học sinh từ biệt nhà trường tình nguyện gia nhập quân đội. Đứa con trai của anh trước kia vẫn ở với mẹ nó. Vợ chồng anh sống xa nhau khi nó mới bảy tuổi, tuy không chính thức ly hôn nhưng họ ít khi gặp nhau. Vợ anh còn rất trẻ, chị thua anh mười hai tuổi nhưng tính nết thì già dặn và rất căn cơ. Còn anh thì buông tuồng, nhớ đấy và quên ngay đấy và nhất là anh không có nhiều sách được in như các bạn đồng nghiệp khác. Người vợ sau khi eo sèo anh chuyện này chuyện nọ cuối cùng đều đay nghiến chồng về cái nhược điểm đó. Thật tội, trong khi cả hai người lúc ở cơ quan thường nói chuyện với bè bạn về công tác, về tình hình chính trị quốc tế, tóm lại là những vấn đề cao quý của cuộc sống; nhưng khi vế đến nhà, sau bữa cơm tối chỉ có hai người với nhau thì câu chuyện lại chỉ xoay quanh những điều vặt vãnh nhất. Rồi khi chị vợ bắt đầu ca cẩm thì anh chỉ ngồi im thin thít để cho chị phải nổi đoá lên. Mà lý lẽ gì đi nữa thì rốt cuộc anh chồng vẫn cứ phải thua vợ, thua những sự thật đơn giản nhất của vợ. Sự xung khắc đã dẫn đến chỗ họ phải sống xa nhau. Để tỏ ra mình là người cao thượng, người vợ kiên quyết giữ đứa con duy nhất, nuôi nó mà không cần đến sự trợ cấp của chồng. Đứa con sống với mẹ cho đến năm nó học cấp ba phổ thông, đột nhiên nó trở về với bố. Nó nói: “con rất yêu mẹ nhưng bây giờ con không thể sống thiếu bố được”. Suốt ba năm, nó tỏ ra một đứa trẻ ngoan ngoãn, không đua đòi bè bạn và bao giờ cũng nói năng lịch sự, có lễ độ. Anh rất lấy làm mừng vì dù sao anh cũng rất yêu thương con, và hơn nữa nếu chẳng may nó bị hư hỏng thì mẹ nó sẽ trút lên đầu anh mọi trách nhiệm làm như vì anh mà nó xảy ra nông nỗi ấy. Thời kỳ đầu chú bé rất ham đọc sách, những cuốn sách của bạn bè tặng anh được nó là người đầu tiên đọc nghiến ngấu. Về sau cái thú vui đọc sách của nó giảm dần đến nỗi chính anh cũng nhận thấy. Trong câu chuyện của hai bố con, anh cảm thấy sự suy nghĩ của con mỗi ngày một xa lạ đối với anh. Câu chuyện không còn đậm đà như xưa và anh biết rằng từ nay nó đã tách khỏi mọi suy nghĩ thường ngày hoặc tách khỏi sự giáo huấn của anh. Anh không biết nên mừng hay nên lo.


Mùa hạ năm 1978, cậu học sinh vừa tốt nghiệp lớp 10 đã xin bố cho đi bộ đội. Đó là một buổi tối mất điện, căn phòng nhập nhoè ánh sáng của ngọn đèn dầu hoả-có lẽ người con trai chọn tối đó để che giấu sắc mặt dễ xúc động của mình. Đứa con nói nó không muốn học tiếp lên đại học vì sức học của nó không được giỏi giang cho lắm. Với sức học ấy, nếu muốn học lên được thì bố sẽ phải làm những công việc mà bố không thể làm được: dò hỏi, chạy vạy, cầu cạnh, thậm chí có khi phải có những động tác không đẹp đẽ chút nào… Trời, như vậy thì tội nghiệp cho bố quá; mà nếu như bố làm được những chuyện ấy có thể bố chẳng phải sống cô độc như thế này…

Nó nói tiếp:

-Ở trường các thầy các cô dạy con rằng: “Đi học, đi làm việc hay đi chiến đấu cũng đều là để phục vụ Tổ quốc”. Con tự nguyện chọn con đường ngắn nhất, thanh thản nhất để phục vụ Tổ quốc và con cũng chẳng phải nhờ cậy ai hết, cũng không ai có thể nghi ngờ động cơ của con: con xin đi chiến đấu. Tổ quốc bao giờ cũng cần đến những người lính. Thế hệ trước con như bố, như các chú đã chiến đấu trên ba mươi năm, bây giờ đến lượt chúng con. Chúng ta còn phải tiếp tục cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta muốn sống một cuộc đời tốt đẹp nhưng kẻ thù cứ muốn dìm chúng ta trong vũng bùn đen. Chúng nó đang dập dờn ngoài biên giới và một ngày nào đó, nếu chúng ta sơ hở, chúng nó sẽ đánh ta…


Thế rồi đứa con lên đường. Cuối năm ấy, nó được về phép tranh thủ và báo tin nó đã được bổ sung vào mặt trận phía Tây Nam. Lúc đó, cuộc chiến tranh biên giới do bọn Pol Pot gây ra ngày càng lan rộng. Lòng người cha thấp thỏm từng ngày từng tháng cho đến khi toàn nước Campuchia được giải phóng khỏi nạn diệt chủng. Bức thư gần đây nhất của nó viết cho bố vào tháng tư năm ngoái. Anh còn nhớ một đoạn trong thư: “… ở đây (tức ở Campuchia) mỗi người dân mà con được gặp đều có cuộc đời thật bi thảm tưởng như mọi nỗi bi thảm trên trái đất này đều dồn cho họ. Nếu con là một nhà văn, con chỉ viết về cuộc đời của bất kỳ một con người nà đó con có thể có một cuốn tiểu thuyết về số phận con người sâu sắc hơn bất kỳ cuốn nào trên thế giới. Hồi ở nhà, con đã được đọc cuốn “Số phận một con người” của Sô-lô-khốp. Lúc đó con rùng mình sợ hãi và thương cảm cho số phận người lính Liên Xô bị bọn Đức hành hạ trong trại tù bình. Bây giờ so với số phận của những người Campuchia còn sống sót thì số phận anh lính Nga kia hãy còn may mắn hơn nhiều bố ạ. Ở đây điều chua xót nhất là dân tộc này lại bị bọn bành trướng dùng chính ngay bàn tay đồng chủng đồng bào của họ huỷ diệt… Con đã phải tự tay đào lên những bãi chôn hàng vạn nguời bị bọn Pol Pot giết chết để các chú quay phim, chụp ảnh làm việc tố cáo tội ác của chúng. Con cũng đã được dự những cuộc hỏi cung những tên phạm  nhân ác ôn tay sai của Pol Pot. Có tên tự thú nhận nó đã đập chết hàng trăm người, nó khai với giọng điệu rất hồn nhiên y như nó vừa làm một công việc bình thường nào đó chứ không phải là chuyện giết người, gương mặt đờ đẫn như một con vật. Làm sao có thể hy vọng cải tạo những con vật ấy trở thành nguời được hả bố?…

… Con mong rằng nhân dân Campuchia mãi mãi không quên nhưng tội ác này, mãi mãi ghi nhớ số phận bi thảm của họ trong bốn năm qua. Con nói như thế bởi vì con nghĩ người ta rất dễ dàng quên ngay cái quá khứ khủng khiếp ấy. Có thể là cuộc sống mới đến với họ quá nhanh, họ chưa kịp đón nhận nó cũng như bốn năm trước họ đã bị bọn Pol Pot phản bội và đầy đọa mau lẹ tới mức họ khộng kịp phản ứng ra sao nữa. Trên đất nước này, người ta rất dễ thích nhảy múa, chỉ cần nổi nhạc lên là tất cả mọi người có thể múa nhảy thâu đêm suốt sáng…”


Sau lá thư ấy, anh không nhận được thêm tin tức gì của con trai nữa, chỉ biết rằng đơn vị của nó vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu phức tạp và gian khổ trên mảnh đất mà họ vừa giải phóng. Mảnh đất ấy giờ đây kêu gọi anh, thôi thúc anh đến với nó. Anh muốn hiểu ngọn nguồn của những phẩm chất cao quý và mọi hy sinh chịu đựng của các chiến sĩ Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế đang chiến đấu vì tự do nhân phẩm của dân tộc cùng sống chung trên bán đảo Đông Dương này, trong những người lính ấy có đứa con trai bé bỏng của anh. Điều gì đã làm cho nó suy nghĩ và viết ra được những dòng chữ đã khiến anh phải bồi hồi xúc động, nỗi xúc động lâu lắm rồi chính bản thân anh cũng tưởng như không bao giờ có được, tưởng như tâm hồn anh đã bị chai sạm, lì lợm đi rồi. Không hẳn chỉ có chiến tranh, sự tiếp giáp giữa chúng ta và kẻ thù, giữa cái sống và cái chết, đã dạy cho con anh những suy tư ấy. Ắt còn phải có cái gì nữa? Số phận bi thảm của những người dân Campuchia? Tội ác ghê rợn của cái bọn lâu nay vẫn tự xưng là “cộng sản” trước kia ngự trị trong lâu đài Chăm-ca-mon ngày ngày uống rượu Mao đài, ngậm sâm Cao Ly và tụng thánh kinh bìa đỏ?… Tốt hơn hết là chính anh phải dấn thân vào nơi đó lấy bản thân mình làm cuộc thực nghiệm-dù cho sức khỏe và tuổi tác đã ngăn cản anh. “Không, anh nói, tôi không đi bằng hai chân, tôi sẽ đi bằng nhịp đập của trái tim tôi, trái tim tôi tuy già nua nhưng nó còn đập mạnh…”. Với niềm hy vọng mong manh là gặp được đứa con trai ở một nơi gọi là tiền tuyến, anh hăm hở hơn tất cả những người đi cùng trong chuyến ấy…
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:17 pm »

Tiểu đoàn phó Lê Đình Dũng dùng cây sào dài đẩy con thuyền gỗ nhỏ giống như loại thuyền thoi chở chúng tôi ra xa mép nước. Thông thạo như một dân chài thực thụ, anh lách rất khéo léo con thuyền ra khỏi hàng chục con thuyền khác đang bâu kín chiếc xe vận tải chở cá của huyện. Bốn vành bánh xe ngập một nửa dưới nước. Lúc mới thoạt nhìn, suýt nữa tôi kêu lên vì tôi cứ nghĩ đến biển là nghĩ đến nước mặn. Nước Biển Hồ đục lờ, vốc lên tay nhìn rõ những hạt phù sa đỏ hồng vằn lên hệt như nước sông Hồng ngoài Hà Nội. Về mùa khô, nước hồ cạn chỉ ngập quá đầu gối cho nên người ta có thể xắn quần lội khắp mấy chục cây số biển, nhưng Dũng ngăn không cho chúng tôi lội. Anh bảo dưới nước toàn là đầu cá, xương xá vất từ trên nhà sàn xuống sau khi làm cá, mổ cá và phơi cá; có thể bị đâm vào gan bàn chân và người không quen có thể bị nhiễm trùng. Tuy nhiên dưới đáy nước vẫn có những lạch ngầm và sâu, đó là đường đi lối lại của những chiếc xuồng gắn máy và tàu nhỏ. Con đường bị chìm trong lòng nước nhưng con người đã thuộc nó như thuộc bàn tay mình, chẳng bao giờ lạc lối hay mắc cạn…


Lúc chiều, từ trên xe díp nhảy xuống, nhìn bao quát khắp bờ Biển Hồ, tôi hơi thất vọng. Tôi vẫn còn ấn tượng của những chuyến đi biển trước kia, tới bờ bao giờ cũng bị đập mắt vào cảnh trí bao la của trời nước, của những con sóng ào ào dội vào, của màu nước trong xanh, của hàng cột buồm lô nhô và khứu giác nồng lên mùi tanh của cá, mùi mặn của muối, của cả gió nữa. Ở đây, biển bị ngăn cách bởi những căn nhà sàn nằm chênh vênh trên mặt nước chắn hết tầm nhìn. Những căn nhà mỏng manh dựng lên bằng những cây cột chỉ nhỉnh hơn cổ tay-loại cây rên càng ngâm nước càng chắc, sàn nhà bằng gỗ và mái lợp lá thốt nốt vàng khượm. Những căn nhà này vào mùa nước to, chúng sẽ được di chuyển đi nơi khác hoặc tự nổi lên nếu có những bè bương nằm phía dưới. Căn nhà gỗ của Uỷ ban phum cũng chất đầy những cây bương to gộc dưới gậm sàn. Thêm một dãy nhà lá mọc dài theo bờ đất, đó là chợ, là nơi mua bán, đổi chác. Hàng hoá gồm những nhu yếu phẩm: vải, quần áo may sẵn, những chiếc sà rông (váy) của phụ nữ đủ màu, những món tạp phẩm sặc sỡ bằng nhựa, bằng ni lông được gửi từ Việt Nam qua và do những tay buôn đem từ biên giới Thái Lan về. Lại có rất nhiều dưa hấu, những trái to bằng chiếc mũ cối bộ đội vỏ xanh cẩm thạch mỡ màng ngon lành trông đã phát thèm. Trẻ con cởi trần, đen trũi, nô đùa trên cát và dưới nắng. Người lớn mặc quần din Thái Lan, mũ rộng vành đi lại thậm thịch, chuyển cá khô lên xe. Đồng chí chủ tịch uỷban huyện, cưỡi xe hon-đa kèm theo một đồng chí bảovệ đeo khẩu AK phóng ào tới xem xét việc chuyển cá. Đồng chí vừa ở công trường đào kênh về, con kênh nối liền Biển Hồ tới chân núi K’rom để mùa nước tới tàu lớn có thẻ vào sâu được trong đất liền…


Gió từ biển xa thổi về, gió mang theo vị tanh của cá khô và vị nồng nồng của bùn mục. Khi chúng tôi vượt ra khỏi những căn nhà sàn nằm sát bờ, trời còn sáng, tầm mắt đột nhiên được mở rộng mới thấy Biển Hồ thật sự bát ngát mênh mông. Sau nhà là biển và lại tiếp nối những căn nhà khác nằm rải rác ở phía xa, những chiếc xuồng máy vè vè chạy xuôi ngược, có chiếc chở đầy dưa hấu hoặc hàng hoá, đó là những quầy bán hàng lưu động trên mặt nước. Dũng đẩy thuyền áp vào một căn nhà sàn cá khô phơi đầy trêm mái lá, những con cá to bổ đôi như hai chiếc quạt nan dính lưng nhau trắng lốp. Dũng bảo đây là trạm nghỉ chân và anh mời khách lên nhà uống nước trong khi chờ xuồng máy tới chả ra khơi xa, nơi chúng tôi định tới làm việc trong đêm nay. Con thuyền từ từ húc đầu vào chiếc cầu gỗ, trên đầu cầu đã có một bà mẹ đứng đón. Bà mẹ chưa già lắm, mặc sà rông hoa đỏ, tóc cắt ngắn kiểu Trung Quốc mà hồi xưa Pol Pot đã bắt tất cả phụ nữ Campuchia phải cắt như vậy. Chúng tôi lần lượt bước lên cầu, lần lượt chắp hai tay chào mẹ: “Săm bai”. Bà mẹ ngả đầu hơi cười, cũng chắp hai bàn tay ngang cằm chào lại. Chúng tôi bước vào nhà, căn nhà nhỏ gọn gàng và sạch sẽ. Chiếc máy khâu kễ trong góc nhà, nơi ngủ được ngăn bằng vải hoa. Nới tiếp khách phía ngoài, trên sàn nhà trải chiếu đan bằng cật lá thốt nốt trắng như ngà. Đồng chí nhà văn già bỏ balô, ngoài người ngồi xuống ghé mắt nhìn ra biển trải mênh mông khẽ kêu:


-Trời, ngồi đây ngắm biển thì đã quá!

-Chưa ăn nhằm chi bác ạ. Lát nữa ra ngoài kia bác còn thấy thú vị hơn nhiều…

Dũng mỉm cười tiếp lời như vậy rồi anh quay giới thiệu chúng tôi với chủ nhân. Anh nói tiếng Khơ-me chưa được thạo, đôi chỗ phải nhờ Lê Vân dịch hộ những từ chuyên môn như: nhà văn, nhà thơi, nhiệm vụ quốc tế, v.v… Lúc đó tôi mới thấy được khả năng và trí thông minh của Lê Vân. Nghe nói anh còn có thể dịch cả thơ Việt Nam sang tiếng Khơ-me và đọc cho bà con địa phương thưởng thức, tôi tin anh làm được như vậy…
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:29 pm »

Bà mẹ Campuchia ngồi thu hai đầu gối tươi cười chắp hai bàn tay ra ý chào mừng các khách quý. Ngồi bên bà là cô gái chừng hai mươi tuổi mặc quần đen bằng vải thu, áo sơ-mi hoa cắt rất khoé. Mái tóc dài xoã xuống sau gáy càng làm tôn thêm nước da vốn đã trắng trẻo của cô, nước da làm chúng tôi ngạc nhiên, bởi những cô gái vùng này thường ngăm ngăm đen. Nước da trắng và vóc dáng mảnh mai của cô làm người ta liên tưởng đến một bông nhài. Còn đôi mắt đen và sâu thẳm không hiểu sao cứ đăm đắm nhìn về phía tiểu đoàn phó Lê Đình Dũng, tưởng như anh cán bộ trinh sát Việt Nam này đang toả ra sức hút kỳ diệu nào đó. Đôi mắt như biết nói, biết cười bộc lộ niềm vui ngời ngợi không cần giấu giếm khiến Dũng cũng không dám nhìn lại. Anh xoay mặt hẳn về chúng tôi và nói với giọng không được lưu loát cho lắm:

-Đây là bà mẹ và gia đình mà bọn chúng tôi đưa từ Pua Sát trở về… Ông bố đã bị bọn Pol Pot giết hại, mẹ còn chín người con. Cô Săm Ri đây là con lớn… Săm Ri thì bác với các anh biết cả rồi. Tôi đã nói rồi mà…

Nhà văn già làu bàu:

-Ông nói với bọn mình hồi nào? Hôm nay bọn tôi mới tới đây lần đầu.

Dũng cười ngượng nghịu, mặt đỏ lên và chống chế:

-Tôi cứ ngỡ tôi nói rồi chứ nhỉ… Nếu không thì Lê Vân cũng nói…

-Chưa đâu-Vân lắc đầu-Anh Dũng chưa nói, tôi biết. Mà tôi cũng không nói. Để anh tự nói thì tốt hơn, nhất là khi có cả Săm Ri ngồi đây.

Tuy không hiểu khách nói điều gì nhưng cô gái cũng cười và cúi mặt. Lúc đó Dũng mới dám nhìn cô gái nói:

-Thế này nhé, hồi tháng Tư năm ngoái, đại đội tôi đánh sang bên kia Biển Hồ, truy quét bọn tàn quân Pol Pot ở bắc Pua Sát như anh Ba Chúc đã kể với các anh và bác. Bọn tôi đánh vào mấy phum: phum A, phum Sô và những phum gì gì nữa, tôi quên tên rồi… Bọn nó bị diệt một số, bị bắt một số, những tên còn lại, chạy toán loạn vào rừng. Tôi mới gom dân lại rồi đưa về bên này. Trời thì tối, tôi vào một căn nhà thấy lố nhố toàn đàn bà và trẻ em, người nào cũng đen thui, quần áo đen, mặt mũi da dẻ cũng đen. Chỉ có một cô gái là trắng trẻo. Tôi gọi cô ta ra và hỏi “có phải là vợ lính Pol Pot không?”. Tức thì cô ta oà lên khóc, vừa khóc vừa la: “Không, tôi không phải vợ Pol Pot… Oan tôi quá, bộ đội Việt Nam ơi, cứu tôi với. Tôi không phải là vợ Pol Pot”. Tôi đâm ra lúng túng khi cô ta cứ níu chặt lấy mình, tôi mới bảo: “Cô muốn về Xiêm Riệp thì theo bộ đội”. Thế là cô ta cùng tất cả mọi người chạy ùa theo anh em trinh sát ra bờ Biển Hồ. Đêm đó khoảng chín ngàn người đã lội biển theo chúng tôi. Mãi khi truy quét hết bọn Pol Pot, chúng tôi lại trở về đây cùng với đội công tác của bạn giúp đỡ nhân dân thành lập phum, tổ chức lại đời sống, dựng nhà dựng cửa, xây dựng chính quyền và các đoàn thể… thì tình cờ tôi gặp lại Xiêm Riệp, cô gái mà tôi bảo là vợ Pol Pot ấy…

Xiêm Riệp chăm chú lắng nghe giọng nói của Dũng tưởng như cô đã hiểu hết những lời anh. Đột nhiên cô bật lên câu gì đó bằng tiếng Khơ-me. Cả Dũng và Lê Vân đều cười, rồi Dũng giảng cho chúng tôi:

-Cô ấy lại vừa trách tôi đã gán cho cô ấy là vợ Pol Pot… Hôm tôi gặp lại Săm Ri là hôm đội công tác của bạn về tập họp chị em để tổ chức hội phụ nữ phum. Tôi đang ngồi hút thuốc lúc giờ nghỉ thì một cô gái đi đến trước và nói: “Tại sao đêm hôm đó anh lại gọi em là vợ Pol Pot? Làm sao em có thể làm vợ nó được? Nó đã đập chết bố em, đầy đọa cả gia đình em. Em thù nó, anh biết không?”. Tôi nghe cô ta nói thật ngạc nhiên hơn vì… vì, nói thật Săm Ri hôm ấy đẹp quá, đẹp lạ lùng, đẹp hơn tất cả những cô gái mà tôi từng gặp. Tôi lúng túng mãi sau mới nói: “Tại đêm đó tôi thấy cô mặc áo trắng, người cũng trắng trong khi các chị em khác đều đen thui nên tôi mới nghĩ sai như vậy. Bây giờ tôi xin lỗi cô nhé. Tên cô là gì? Gia đình cô ở đâu?”. Tôi quay ra thăm hỏi cô và thái độ Săm Ri cũng dịu hẳn đi, cô nói cho tôi biết tình hình gia đình, về mẹ, về các em cô. Rồi ngày chiều hôm ấy, Săm Ri dẫn tôi về nhà. Qua tiếp xúc tôi biết đây là một gia đình tốt, có khổ, có thù sâu với bọn Pol Pot. Dần dà gia đình Săm Ri trở thành cơ sở của đơn vị trinh sát… Đó, chuyện chỉ có như vậy…


Dũng không nói gì thêm nhưng tôi cảm thấy như câu chuyện không hẳn chỉ có vậy. Đồng chí nhà văn chớp chớp mắt liên hồi khi nghe Dũng kể và anh gầm ghè muốn nói câu gì đó nhưng lại thôi. Tôi nhìn cô gái Campuchia và cố tìm ra câu nói vui vẻ:

-Này, Săm Ri lớn hung rồi, bao giờ thì Săm Ri lấy chồng?

Săm Ri nghe dịch lại lời tôi, lập tức cô liếc mắt về phía Dũng rồi trả lời. Lê Vân cười và dịch lại:

-Săm Ri bào anh cứ hỏi anh Dũng ấy!

Câu trả lời mới dễ thương, mới ý nhị làm sao! Mặt Dũng đỏ ửng đến tận vành tai trong khi cả chúng tôi và bà mẹ đều cười…


Gió thổi từ biển xa loạt soạt ngoài cửa sổ đã được chống lên bằng thanh gỗ nhỏ. Nhà văn già rút cuốn sổ tay ra ghi vội mấy dòng chữ, tiếng mở giấy cũng loạt soạt trong tiếng gió. Không gian im ả thật dễ chịu rồi vang lên đâu đó tiếng động cơ máy nổ đều đều. Một chiếc xuồng máy từ từ ghé vào dưới gầm sàn. Tôi nhìn qua cửa sổ, thấy anh lính trinh sát Thư trẻ măng ngồi trên mui xuồng, khẩu M.79 chống trong tay. Trong nhà, Dũng vội vàng đứng lên…
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:43 pm »

Được ra giữa Biển Hồ, giữa cái mênh mang trời nước ngồi quây quần trên sạp gỗ của con thuyền lớn bên cái nhà nổi mà chủ thuyền là bác Hai-thợ máy, dưới ánh sáng xanh nhạt của ống đèn nê-ông được thắp sáng do cái máy phát điện nhỏ cũng của bác Hai, mới cảm thấy hết được hạnh phúc được sống trong tình thương đằm thắm của nhân dân nước bạn. Khi chúng tôi cùng với tiểu đoàn phó trinh sát Lê Đình Dũng làm việc xong với tất cả những cơ sở mà anh triệu tập đến theo yêu cầu của chúng tôi, đêm đã khuya, trừ một số phải trở về công tác, còn tất cả đều ngồi lại. Buổi ấy, trăng mọc muộn, đêm tối mịt mùng. Đàn thiêu thân to như loài bướm trắng ở rừng chấp chới lao vào ánh đèn rồi rơi lả tả trên mặt nước. Cá tụ tập hai bên mạn thuyền đớp mồi lũm bũm, nhưng chú cá nhỉnh hơn trái chuối, trắng lấp lánh như bạc nhảy tung lên khỏi mặt nước. Một chiếc thuyền nhỏ lướt tới, người đàn bà ngồi trên mũi, xoè chiếc s’thoong, loại lưới giống như chiếc quạt giấy khổng lồ, vớt cá, mỗi mẻ được hàng cân. Chú bé ngồi sau thuyền nghển đầu nhìn chúng tôi, toét miệng cười.


Đêm Biển Hồ mới yên tĩnh làm sao. Tiếng đàn ca có lẽ từ một chiếc đài thu thanh bán dẫn nào đó vẳng tới. Thời gian như ngưng đọng lại, chẳng rõ hôm nay ngày mấy, thứ mấy và lúc này mấy giờ rồi? Bọn khách phương xa có tôi, đồng chí nhà văn già và Lê Vân. Chủ nhà là bác Hai-thợ máy, bác chỉ ngồi nhấp nhổm một lát rồi lại luồn ra phía nhà bè. Gia đình bác, gồm cả vợ và ba đứa con cũng được đơn vị trinh sát của Dũng cứu khỏi những nhát cuốc độc ác của Pol Pot trong đợt truy quét hồi tháng Tư năm ngoái ở vùng nam Biển Hồ, bắc Pua Sát. Có thể nói chỉ chậm giây lát, vợ bác vốn là người Việt Nam và cả bác nữa, một người dính líu đến Việt Nam đã bị lính Khơ-me đỏ chôn sống. Đến bây giờ bác vẫn không hiểu sao bọn Pol Pot lại thâm thù người Việt và những người Campuchia có cảm tình với Việt Nam đến như vậy? Suốt bốn năm qua, vợ bác cố giấu tung tích, không dám hé môi nói một từ Việt mới trốn thoát, mặc dù lúc nào chúng nõ cũng nghi ngờ, cũng rình mò, theo dõi. Còn bác, bác dại dột khai thật là thợ máy nổ, những tưởng mình là công nhân ắt sẽ được cảm tình với những kẻ xưng là cộng sản. Nào ngờ chúng nó lại thâm thù bác, thâm thù cả giai cấp công nhân? Nó đày ải bác và đối xử với bác như một kẻ nô lệ-còn quá hơn nữa, như một con vật. Đến bây giờ chính bác cũng như nhiều người trí thức Campuchia mà tôi được tiếp chuyện vẫn không giải thích nổi tại sao thằng Pol Pot lại thâm thù những người nắm được khoa học kỹ thuật đến như vậy? Nó chỉ nhằm vào lớp người đó mà thủ tiêu trước hết. “Thật là một tên điên khùng!”. Những nhà tri thức Campuchia nhún vai kết luận. Còn bác Hai-thợ máy thì bảo nó là một thằng phản động nhất thế giới. Một tên phản phúc nhất thế giới. Nó đã phản bội những người anh em Việt Nam, nó đã phản bội anh em đồng chí của nó, nó đã phản bội cả dân tộc nó, họ hàng cha mẹ nó…


Cùng ngồi lại với chúng tôi đêm ấy ngoài mấy đồng chí bộ đội Việt Nam như Dũng, Thư, anh lái xe Lại Như Thầm và Hóa, đội trưởng đội đánh cá của Bộ tham mưu Mặt trận, còn có ba người chủ thật sự của Biển Hồ, ba cô gái. Săm Ri mà chúng ta đã biết vẫn mặc bộ đồ Việt mà cô ưa thích, chiếc quần bằng vải thun đen nhánh, áo sơ-mi hoa trắng, người mảnh mai và trắng trẻo càng về đêm càng giống một bông hoa nhài. Bên cô, Su Ri La hội trưởng hội phụ nữ phum Kơ Nia Chơ Năng này. Cô ngồi hơi nghiêng người, một tay chống trên sạp thuyền và bao giờ mặt cũng hơi cúi, đôi mắt thỉnh thoảng lai ngước lên nhìn người đang nói rồi lại cúi xuống cười. Su Ri La đã ngoài ba mươi, vận sà rông màu xanh lam, áo sơ mi bồng vai và tóc búi sau gáy. Cô cũng đẹp, sắc đẹp đến độ chín như trăng mười sáu. Chúng tôi ngậm ngùi khi được biết chồng và ba đứa con của cô đều bị Pol Pot giết hết. Hiện nay cô sống một mình với người em gái vừa đánh cá vừa làm nghề may. Ngồi trước mọi người, Su Ri La tỏ ra biết nói chuyện, lối nói riêng của phụ nữ. Nghĩa là cô khôngnói nhiều, khôngnói hết câu; nụ cười, khóe mắt và cả dáng ngồi thay cho tất cả và chúng có sức hấp dẫn thiệt kỳ lạ khiến cho buổi nói chuyện tuy không rôm rả nhưng cứ lắng đọng lại, lắng sâu, rất sâu trong lòng người.
Còn Su Va Chăn, cô thứ ba ngồi phía phải Săm Ri, vóc người nhỏ lại mặc chiếc áo hoa xanh biếc. Thoạt đầu tôi cứ ngỡ cô còn ít tuổi, khoảng mười sáu, mười bảy gì đó, sau mới biết cô đã có chồng con và tất cả đều bị đập chết dưới thời Pol Pot. Trên đất nước đau thương này, đàn bà goá quá nhiều, mười người mà tôi gặp thì đến chín người có chồng bị giết hại đến nỗi mỗi khi nói chuyện với họ, tôi không dám nhắc đến chuyện chồng con. Và ở đây, người ta đã có câu ca: “Mêmai kò sarây” nghĩa là “đàn bà goá cũng là đàn bà” cũng như “cơm nguội cũng là cơm”.


Su Va Chăn không phải người vùng này nhưng cô rất thuộc Biển Hồ. Đã bao lần, chính cô dẫn đường cho đơn vị trinh sát của Dũng đi truy quét địch. Cô sống với bà dì ở sát chợ Xiêm Riệp và chiều nay nghe tin Dũng đưa chúng tôi ra đây, cô liền đi theo. Gần như cô là “người nhà” của tiểu đoàn trinh sát mặt trận Xiêm Riệp này. Cô gái ngồi im lặng, không tham gia vào câu chuyện. Dáng ngồi và gương mặt trầm mặc của cô gợi lên vẻ chịu đựng và nhẫn nại làm đau lòng mọi người. Ôi người con gái Campuchia đáng thương và đáng mến, mãi mãi chẳng có ai có thể quên em! Tôi nhớ lúc gần sáng, khi Dũng kể lại những chuyện tổn thất trong chiến đấu làm mọi người phải rưng rưng nước mắt thì chính cô Su Va Chăn cùng với Săm Ri là người khóc nhiều nhất mặc dù với tiếng Việt các cô chỉ hiểu lõm bõm nhưng các cô nhìn mặt người kể mà đoán biết tất cả. Mọi sự cách biệt của ngôn ngữ đã tan biến đi khi tất cả chúng ta đều hết sức thông cảm với nhau, cùng chung một kẻ thù như nhau…
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2008, 12:04:58 pm »

Mười giờ đêm, một chiếc thuyền nhỏ của đơn vị đánh cá đến đón Hoá, đội trưởng của họ. Đơn vị của Hóa đang làm nhiệm vụ cung cấp một phần lương thực thực phẩm cho bộ đội toàn tuyến. Họ đánh cá, phơi cá rồi gửi đi các sư đoàn, trung đoàn, lên các chốt tiền tiêu. Mặc dù anh em đã rất cố gắng, mấy tiểu đội mà chúng tôi đã đến thăm chốt trên sát biên giới cũng chỉ được mỗi bữa hai miếng cá khô nấu với nước lõng bõng trong cái soong nhôm quân dụng. Đường vận chuyển khó quá, nhất là về mùa mưa, phương tiện xe cộ lại thiến thốn. Các chiến sĩ cũng rất hiểu nỗi khó khăn đó; họ hiểu khi họ nắm chốt ở nơi đây thì Hoá và đồng đội của anh đang phơi mình giữa khoảng trời nước bao la này mà làm cá. Cuộc sống của họ chẳng có gì khác ngoài trời và nước, chung quanh là cá, những con cá tra, cá lóc, cá ướp muối, phơi khô gửi cho các chiến sĩ. Họ cố gắng tự túc phần nào để bớt gánh nặng cho hậu phương, cho Tổ quốc.


Đội trưởng Hoá ngồi nán thêm với chúng tôi ít phút rồi đứng lên cáo biệt. Anh phải đi gấp có công tác cần. Hoá kéo Thầm, cậu lái xe và Thư, chiến sĩ trinh sát thì thầm điều gì đó rồi anh nhảy xuống thuyền nhỏ đứng đợi. Thầm quay vào và còn cố hát cho xong bài hát lúc nãy vừa bị cắt ngang. Thầm hát bài hát của người lính lái xe Trường Sơn. Anh hát không hay nhưng có sức rung động và bài hát đã đưa chúng tôi về những năm chống Mỹ ác liệt, con đường chạy dọc thân hình Tổ quốc với những cua, những ngầm, và những cô gái mở đường, những đoàn quân ra trận…


Hát xong, Thầm ngửa cổ hút hết chén chè đường vẫn dành cho anh từ đầu rồi đứng lên theo anh đội trưởng đánh cá. Chiếc thuyền cởnì đám sáng chui tọt vào bóng đêm sâu thẳm. Và chỉ hưn nửa giờ sau nó quay trở lại Thầm và Thư lễ mễ bưng lên mỗi anh một soong quân dụng: một soong cháo cá và một soông đựng con lá lóc nướng khá to. Sau này tôi mới biết đó là quà tặng của đội đánh cá. Đơn vị của Hoá chốt cách đây non năm cây số đường nước. Buổi tối khi Hoá tới chỗ chúng tôi để làm việc thì ở nhà anh em đã chuẩn bị món quà thiết thực này cho khách. Hoà rất thèm được ngồi lâu với chúng tôi, được nghe chúng tôi nói chuyện về tình hình Tổ quốc và nhất là được nhờ chúng tôi chuyển những suy nghĩ chân thành của anh em về nước. Song tiếc rằng anh phải đi ngay sau khi làm việc, anh có điện khẩn của Bộ tham mưu phải đi làm công tác đặc biệt ngay trong đêm. Tôi nghiệm ra ở nơi xa Tổ quốc này, mỗi anh em đều có những tâm sự riêng muốn được giãi bày, được giải thích, được lắng nghe cho thật chính xác với một sự thông cảm rất bình đẳng và thoải mái…


Khoảng này vào quá nửa đêm. Mấy bao thuốc lá Sa-mít mà Thầm bỏ ra đã bị hút hết. Chai rượu thuốc Campuchia của bác Hai lấy trong rương ra khi có hai soong cá của Hoà gửi biếu cũng đã vơi quá nửa. Tất cả chúng tôi đều không biết uống rượu, nhất là thứ rượu mạnh này nên mới nhấm nháp tí chút mà ai cũng ngà ngà say. Chúng tôi nâng chén chúc mừng hai tổ quốc Việt Nam và Campuchia, chúc sức khỏe lẫn nhau. Có tiếng trẻ sơ sinh khóc oe oe từ căn nhà bè. Vợ bác Hai mới ở cữ hôm qua, một đứa con trai ra đời trên Biển Hồ, đứa con chung của hai dân tộc. Lại nâng chén chúc mừng hạnh phúc đang tái sinh của bác thợ máy nổ. Bác cười khà khà, nói tiếng Việt chưa sõi: “Sướng quá, sướng quá. Bốn năm Pol Pot đâu có được như thế này, đâu được ngồi với nhau vui vẻ như thế này. Nó chỉ có giết và giết thôi. Không có chú Dũng thì cả nhà tôi cũng chết hết cả rồi… Chú Dũng làm con rể Campuchia đi, chú lấy vợ Campuchia đi. Ai cũng bằng lòng hết, cả cái dân Biển Hồ này ai cũng thương chú mà, có phải không Săm Ri?… Tôi cũng lấy vợ Việt Nam mà, hà hà…”. Bác Hai ngả người ôm choàng lấy anh cán bộ trinh sát Việt Nam, cười nấc lên. Săm Ri xấu hổ chui vào lưng Su Ri La nhưng đôi mắt càng về đêm càng long lanh dán vào khuôn mặt của Dũng. Anh tiểu đoàn phó trinh sát ngồi lọt giữa đám người, anh chỉ mặc chiếc áo lót bằng sợi trắng ngắn tay, cả da mặt, cổ và hai cánh tay trần đỏ hồng lên vì ngấm rượu.


Dũng nghiêng người đỡ hai tay bác Hai thợ máy. Anh không cười, mặt lạnh đi, lừ đừ nhìn chai rượu màu nâu sẫm đặt trước mặt:

-Tôi cám ơn tấm lòng của bác Hai, lâu nay bác vẫn vun vén cho hạnh phúc của tôi với Săm Ri. Tôi cám ơn bác vô cùng… nhưng bác Hai ơi, sự đời bây giờ không đơn giản như hồi bác cưới bác gái mặc dù bác là người Khơ-me và bác gái là người Việt. Cuộc đời bây giờ phức tạp hơn trước nhiều… Kìa anh Lê Vân! Kìa bác, kìa anh! Sao không uống đi… Chúng ta đêm nay uống chén rượu của bác Hai và chúng ta sẽ nói với nhau những chuyện tâm sự thầm kín nhất…

Lê Vân nâng ly rượu, gắm nó bằng đôi mắt đỏ kè:

-Rượu đêm nay sẽ làm cho tâm hồn ta thêm trong sáng, đồng chí Dũng ạ. Tôi không biết uống rượu nhưng đêm nay tôi sẽ uống với đồng chí. Đồng chí là người lính trinh sát còn mình là lính cơ quan lại có máu làm thơ, nên chí chúng ta có thể hợp nhau và cùng uống với nhau…

-Tôi rất tán thành ý kiến của Lê Vân. Hãy làm cho tâm hồn chúng ta mãi mãi trong sáng. Chúng ta hãy cạn chén, cạn ly chúc hạnh phúc đang hồi sinh cho các bạn Campuchia ngồi đây. Chúc hạnh phúc của Su Ri La, của Săm Ri, của Su Va Chăn, của bác Hai… Ủa, bác chạy đâu rồi? Bác xuống với cậu con trai mới ra đời, hay lắm. Chúc hiện tại và tương lai của cháu bé, vị chủ tương lai của Biển Hồ…-Nhà văn già uống một hơi đến đáy ly và dốc ngược ly xuống để mọi người biết nó không còn mọt giọt-Nào, các bạn, tôi xin nói, tôi là một kẻ chịu chơi-Anh đã bắt đầu bốc lên, giọng nói vang nhưng hơi thở rung-Nào các bạn, từ nãy đến giờ tôi chưa uống, bây giờ bắt đầu uống và uống cho đến sáng. Nếu hết rượu mà rượu cũng sắp rồi, tôi sẵn sàng uống cạn nước Biển Hồ này. Xưa nay tôi chưa hề say nhưng đêm nay tôi sẽ say, nước Biển Hồ làm cho tôi say, say vì sung sướng được gặp gỡ các bạn, được ngắm không chán mắt mọi gương mặt của các bạn. Chao ôi, sao mà tôi yêu các bạn, sao mà tôi muốn khóc và nếu như tôi có khóc thì các bạn hãy mừng cho tôi. Vì ở tuổi già này còn được khóc vì tin yêu, vì xúc động khi không còn gì vui sướng hơn…


Đàn thiêu thân vẫn lao vào ánh đèn rồi rơi lả tả xuống sặp thuyền, Lê Vân khẽ khàng nhặt từng con búng ra ngoài nước. Tiếng cá đớp mồi nổi lên quanh chúng tôi mỗi lúc một nhiều, bây giờ chẳng cón chiếc thuyền nào đi quanh vớt cá nữa. Cá Biển Hồ nổi tiếng trên thế giới về mật độ cao nhất.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM