Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:56:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Biên giới Tây Nam  (Đọc 151014 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #130 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2017, 03:04:53 am »


        Nhàn nói với nó, nhưng nó không biết tiếng Việt. Anh phải giơ tay vít vai nó xuống nó mới biệt. Băng cho thằng tù binh lúc này cũng chẳng dễ dàng gì. Tay phải Nhàn không nhúc nhích được. Tay trái phải giữ súng. Còn nó thì vụng về lắm. Đưa cuộn băng nó luống cuống, đầu lắc lịa rồi gật lịa như cầu van. Nó vờ vịt hay nó đau quá thật. Không! Những thằng đã lo giấu súng để chạy thì chẳng làm gì anh nổi đâu. Nhàn quyết định giúp nó băng vết thương. Được băng bó cẩn thận, thằng này bớt la lối hơn. Nhưng rồi đang đi tự dưng nó trố mắt nhìn vào một bụi cây bên bờ đường và ngồi thụp xuống. Quanh bụi cây có những xác lính địch nằm co quắp, còn trong bụi có gì đang cựa quậy, chắc một thằng địch chưa chết hẳn quẫy đạp chứ gì đâu. Nghĩ vậy nhưng Nhàn vẫn đi phía sau những cây thốt nốt, đề phòng đạn thẳng nó bắn tới. Từ trong bụi cây vọt ra một tên lính địch. Hắn mặc một chiếc quần không ra dài ra ngắn, lụng thụng đến đầu gối. Hắn bắn Nhàn. Nhàn nằm xuống. Cây thốt nốt che hết người Nhàn. Thằng địch bắn xong thì cuống quá chạy xuống mé đầm. Súng của Nhàn hết đạn. Nhàn sử dụng khẩu AK của thằng tù binh vẫn khoác trên người, đuổi theo hắn. Thằng này nghe đạn nổ vội nằm xuống. Kiểu này bắt sống mày cũng không khó gì. Nhàn nghĩ. Nhưng anh đã cách khá xa tên tù binh cổ ào mút. Và mỗi lần muốn bắn anh phải nằm xuống đất nên mấy lần hô rồi mà thằng địch chỉ nhót chạy. Thằng địch đã lội đến giữa đầm. "Thôi thì cho mày nằm luôn ở đó". Nhàn nhắm vào cái lưng to bè của nó. Đạn nổ, thằng nay vặn người lại rỗi gục xuống giữa đầm lầy.

        Nhàn đã tới ngã ba cây bông tây. Vẫn là khu đất anh đã qua mà sao như đổi khác.

        Nhàn có cảm giác ở đây vừa có cái gì thật yên vắng vừa có cái gì xôn xao. Không biết Tư đâu rồi, bộ đội ở đâu cả. Nhàn thầm hỏi và ngước mắt nhìn ngọn cây bông tây. Những làn gió từ đâu xô về làm rung ào ào cành lá. Bỗng hình dung ra bóng dáng hai đồng chí trinh sát bữa nọ, một chút ân hận thoáng qua đầu Nhàn. Mặt anh đỏ lên. Giá không có tên tù binh, Nhàn sẽ leo lên cây như hai anh trinh sát ấy để theo dõi địch và tìm Tư. Tiếng súng ở phía đầm lầy vẫn dội lên gắt gỏng, nhưng đối với Nhàn rất đỗi bình thường. Anh đã trinh sát, đã tiêu diệt, đã bắt kẻ địch làm tù binh ở đó về đây, có gì lạ nữa đâu.

        Bỗng từ một dãy cây thốt nốt bao lấy một cái làng phía trước Nhàn, Tư chạy vọt ra, mặt hớn hở:

        - Nhàn hả, bị thương hả, thằng tù binh hả? Mũi đánh đằng đó ra sao rồi? Anh Chiến đâu, có lệnh gì không?

        Tư đưa một chuỗi câu hỏi làm Nhàn không kịp trả lời. Anh hỏi lại:

        - Mũi đằng này, anh em đâu, anh Tư?

        - À hả, đang phục quanh đây cả. Không thấy thằng địch chết mẹ nào chạy qua. Mũi đằng ấy chưa vào được làng phải không?

        - Sao lại chưa - Nhàn hơi cau mày lại - bộ đội chiếm được làng từ sáng, anh không nghe súng nổ đấy à. Mũi anh Chiến đang truy kích và lùng sục đấy.

        - Thật không - Người Tư chúi về phía Nhàn, cặp mắt hẹp mở ra đến hết cỡ khiến má và trán cộm lên những nếp da tròn lẳn.

        - Sao lại không thật, sao anh hay nghi kỵ vậy. Anh Chiến dặn mũi của anh phải vậy thật kỹ không để thằng địch lọt ra hướng này. Anh phục ở đây thì trật rồi. Địch rút và nấp ở đầm lầy kia kìa!

        - À à lẽ nào, lẽ nào, mình cứ tưởng, tớ đi nhé!

        Đã chúi người định đi, Tư còn quay lại nhìn Nhàn, nhưng cũng chẳng ra nhìn Nhàn, mà len lén ngó xuống y hệt người vừa làm một việc vụng trộm gì đó bị bắt quả tang. Môi Tư mấp máy, mắt nháy dồn. Anh chép miệng mấy cái liền mới nói được mấy tiếng lúng búng:

        - Tớ bị thương... cậu ạ...

        Tư đưa tay xắn ống quần, đùi phải anh quả có cuốn mấy tròng băng trắng rất cẩn thận. Rồi đột ngột Tư kéo quần xuống thật mạnh, xoay người chạy đi.

        - Khoan anh Tư ơi! Nhàn gọi, nhưng không kịp. Bóng Tư khuất dần giữa muôn vàn cây thốt nốt mọc rải ra đến tận bờ đầm. Nhàn nhìn Tư cho đến khi mất hút và thầm nghĩ: anh chàng hăng gớm, "thời cơ" của anh ta mà, để xem sau trận này anh ta có còn chống chèo cho khuyết điểm của mình không? Cũng thật lạ lùng, trước đây mỗi lần nghĩ về Tư, Nhàn buồn lắm, hoang mang nữa. Bây giờ thì anh chỉ thấy đáng thương cho đại đội trưởng của mình. Sau trận đánh này, nhất định Nhàn sẽ nói thật kỹ lưỡng với Tư, về những điều lâu nay Nhàn đã suy nghĩ về anh. Và Nhàn rất tin đại đội trưởng sẽ khác đi...

        Nhàn đã dẫn tên tù binh đi sâu vào rừng thốt nốt. Đến gần lối rẽ về chỗ đại đội đóng quân, thằng giặc bỗng đứng lại, mắt đau đáu nhìn cái bi-đông nước đeo ở thắt lưng Nhàn, miệng lắp bắp gì đó. Nhàn chợt nhớ mình cũng đang khát khô cổ. Nhưng rồi anh vẫn trút hết phần nước còn lại cho nó uống. "Thế đấy đồ khốn ạ - Nhàn thầm nghĩ nhưng không nói ra - Trước đây nghe kể về mày, chứng kiến tội ác và sự điên rồ của mày, tao những mong chộp được mày để xé xác mày ra. Nhưng bây giờ mày có cơ được làm người rồi đấy. Tao hiểu ra rồi, mày cũng chẳng khác một con chó bị chủ xua đi cắn càn".

N.B       
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #131 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2017, 03:38:23 am »


NHỮNG TIA CHỚP PHÍA CHÂN TRỜI

NGUYỄN QUỐC TRUNG         

        Xa Mát cặp hai que sắt nung nóng vào chỏm tóc, uốn lần cuối cùng, rồi quay sang hỏi tôi:

        - Ông xem tóc mình quăn đúng mốt chưa?

        Mái tóc của Xa Mát đã uốn quăn tít làm cho gương mặt trái xoan của cậu ta như dài thêm lạ hẳn. Tôi gật gù:

        - Khen cho ông đến kiên trì, đẹp đấy.

        Xa Mát đặt đôi đũa sắt cạnh bễ thụt, khoái chí uốn tay múa một tràng theo điệu cai bách, ngân nga câu hát học được trọ trẹ:

        - Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay...

        Ánh mắt Xa Mát lấp lánh niềm vui rất bốc của một chàng trai mới lớn. Tóc của cậu ta thuộc loại tóc mỡ, sợi mềm dán xẹp xuống đầu. Tuần trước tôi và cậu ta đến phum Công-pông Cà-đây gom đao, liềm, cuốc về rèn giúp bà con. Thấy trong tờ họa báo nước ngoài dán ở trụ sở phum có một thanh niên châu Phi có khuôn mặt hao hao mình nhưng nhờ mãi tóc quăn tít nên trông có vẻ điển trai hơn. Xa Mát vò đầu nói:

        - Mình mà có mái tóc quăn chắc cô nàng Chan Thi sẽ mê tít.

        Tôi nói đùa:

        - Điều đó khó gì. Chừng nào ông sang thăm thành phố Hồ Chí Minh, tôi thân chinh đưa ông đến mỹ viện, cứ gọi là quăn như bện vào đầu.

        Xa Mát vẫn thật thà:

        - Mình muốn quăn bây giờ. Để nàng Chan Thi phải lác mắt cơ.

        Và hôm nọ có tốp bộ đội Việt Nam đi tải đạn ghé vào lò rèn hút thuốc. Tình cờ một cậu kể ngày còn đi học cấp hai cậu ta uốn tóc bằng hai que sắt nung nóng. Mắt Xa Mát sáng lên, cậu ta liền cắt thanh sạp giường sắt hai đoạn, mỗi đoạn chừng một gang tay, nhưng uốn không nổi vì sạp giường dẹp, không lăn tóc được. Thấy vậy Tư Phạm, trưởng tổ lò rèn chúng tôi, đã làm cho cậu ta hai chiếc đũa sắt. Suốt tuần nay, Xa Mát lúi húi bên bếp lò để uốn tóc, quên cả nghỉ trưa. Có đêm hắn ngồi làm đến mười một giờ và đã dẫn tới kết quả mái tóc cậu ta quăn đi như bây giờ.

        Xa Mát hỏi tôi:

        - Ông xem quần thẳng "li" chưa?

        Tôi hất hàm phía Phạm:

        - Ông bảo Tư Phạm chuẩn bị, ta đi.

        Tư Phạm đang ngồi chốt đinh vào chiếc guốc, Xa Mát gọi mấy lần mới nghe. Phạm ngẩng gương mặt chữ điền, vầng trán rộng lấm tấm mồ hôi, cười hàm răng trắng lấp lóa:

        - Đi chơi hả? Hai cậu đi đi, mình còn mắc bận chút xíu.

        Tôi gật:

        - Người đâu có người lúc nào cũng việc. Cả tuần rèn giũa chưa chán ư?

        Tư Phạm vẫn điềm tĩnh, nụ cười rất dễ thương:

        - Còn mấy đôi guốc các cô ấy nhơ mình sửa kịp tết Chô-chơ-nam Thơ-mây.

        - Xem ra ông cũng biết "ga lăng" nhỉ?

        - Các cậu ghé nhà chị chủ tịch phum nói chị cử ai hướng dẫn tụi mình đi lấy gỗ làm cán dao, cán cuốc nghe.

        Xa Mát và tôi thắng hai bộ quần áo diện nhất, được ủi bằng nước sôi đổ vào ấm nhôm, "li" thẳng đứng, khấp khởi bước ra khỏi nhà hướng về phía phum Công-pông Cà-đây.

        Những vạt nắng cuối cùng đã cuốn về cánh rừng thốt nốt, phía tây, dãy Kim Ri xanh lơ, đỉnh núi vương những làn mây trắng xốp nhẹ như bông. Dọc sườn núi là phum Côn-pông Cà-đây với những ngôi nhà sàn giống như chuồng bồ câu, dựa lưng vào vách đá thẳng đứng. Trên những mái ngói màu sáp ong tháp hình củ hành đã lan nhẹ làn khói tím sẫm. Buổi chiều thứ bảy yên tĩnh quá.

        Ngôi nhà có cái tháp cụt nhọn kia là nhà Chan Thi, thoáng thấy chúng tôi đã hồi hộp. Chân Xa Mát bước líu ríu dáng đi rất lạ. Không phải đến bây giờ cậu ta mới hồi hộp đâu. Suốt ngày thứ bảy này cậu ta làm việc gì cũng bồn chồn, vội vàng. Tay quai búa nhưng mắt liếc nhìn bóng nắng ngoài sân, mấy lần búa văng ra khỏi đe, Phạm không tránh nhanh thì bị tai nạn rồi. Tôi biết nàng Chan Thi đã hút hết tâm trí Xa Mát nhà tôi rồi. Hễ nhắc đến tên cô ấy là mắt Xa Mát lại sáng lên lạ thường.

        Chẳng riêng gì Xa Mát, chúng tôi đều ít nhiều yêu thầm nhớ trộm Chan Thi. Bộ đội đóng quanh vùng đã lấy tên cô gái đặt tên cho phum. Chẳng rõ cậu nào nghĩ ra cái trò ấy. Chỉ biết bây giờ thanh niên của phum thường hãnh diện giới thiệu: "Chúng tôi ở phum Chan Thi đây".

        Sắc đẹp của Chan Thi chinh phục được cả loài vật hung dữ. Ngày mới giải phóng phum này chỉ sót lại hai con trâu. Trước kia có đến hàng trăm con, nhưng bọn lính Pôn Pốt đã bắn giết thịt hết. Hai con trâu này rất to lớn và hung dữ như hổ rừng. Hễ thấy bóng người là chusng rượt bằng được. Ban ngày nó vào phum tìm muối húc đổ cả nhà sàn. Làm cách nào để bắt hai con trâu này thuần dưỡng mà cày bừa, nhân giống? Chả nhẽ cứ để cảnh nhân dân phum và bộ đội dàn hàng ngang cuốc ruộng. Du kích phum và một đại đội quân tình nguyện Việt Nam vác gậy tạo thành một vòng vây dồn chúng về cái chuồng đã làm sẵn. Nhưng hai con vật đã mở đường máu. Một nữ du kích bị xéo dập chân, một chiến sĩ bộ đội Việt Nam bị húc gãy hai xương sườn. Nhiều người đề nghị cho chúng lên đĩa thôi. Nhưng Chan Thi quả quyết giao chúng cho cô. Thực là kỳ diệu, vào một buổi sáng cô gái nắm hai nhúm muối đến thẳng hai con trâu đang giỡn nhau giữa bãi cỏ. Hai con trâu đứng cắm chân một chỗ hết nhìn cô gái lại ngó đôi bàn tay xinh đẹp đựng một ít muối. Thế rồi ngày hôm sau chúng ngoan ngoãn để cô dẫn về chuồng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #132 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2017, 03:39:05 am »


        May mắn hơn các đơn vị đứng chân ở dọc biên giới, tổ lò rèn chúng tôi hàng ngày được trông thấy cô gái hoa khôi của phum ấy. Chẳng là buổi sáng cô vẫn thường dắt hai con trâu giống của phum ra thả ở đám cỏ dưới kia và chiều tà lại ra đón chúng về. Qua chỗ lò rèn bọn tôi, cô thường ngoảnh mặt đi, đôi guộc gõ xuống mặt đường kiêu kỳ. Chúng tôi tự biết thân phận của mình, suốt ngày chìm trong bụi than, mặt mũi lem luốc, quần ao dày cứng như mo cau, lấy gì để cô ấy chú ý. Đối tượng lọt vào mắt xanh Chan Thi phải là những tay có Hon-đa bóng loáng, cổ tay đeo đồng hồ ba đinh trễ xuống, ngón tay đeo nhẫn vàng gắn hạt kim cương sáng xanh mà chiều thứ bảy nào cũng đến ngôi vặt vẻo giữa sàn nhà Chan Thi, phì phèo điếu thuốc đầu lọc, miệng oang oang tán tụng các món ăn đặc sản mà họ vừa thưởng thức trước khi đến đây. Nhưng thái độ kiêu kỳ của Chan Thi khiến chúng tôi cảm thấy tức anh ách, thậm chí ghét nữa. Nhưng thú thực mắt chúng tôi vẫn chưa bỏ lỡ cơ hội nào ngắm nhìn cãi dáng người thon thả, suối tóc óng mượt tràn xuống tấm lưng mềm mại, chiếc khăn "voan" mỏng choàng lên mái đầu rất gọn. Và tối thứ bảy nào, Xa Mát cùng tôi cũng xuyên đêm tự nguyện đến sinh hoạt ở cái câu lạc bộ không tên tại nhà Chan Thi đến chín giờ rưỡi mới dò dẫm về cái lò rèn dưới gốc cây đa ấy.

        Gặp hôm trời mưa hai thằng bước lảo đảo trên con đường mấp mô những tảng đá rêu trơn nhẫy. Có lần hai đứa bị nhào xuống ruộng tưởng vỡ đầu gối, dập thái dương, dép văng khỏi chân. Hai đứa xuýt xoa quờ tay mò dép. Một hồi mỏi cả lưng đành dìu nhau về. Đến nhà lại chỉ chỗ để Phạm cầm bật lửa đi tìm hộ. Còn hai đứa dội mấy gáo nước ào ào cho trôi bùn rồi chuồi người vào màn Phạm đã mắc sẵn, mắt líu lại, tưởng ngủ lịm ngay. Nhưng hình ảnh Chan Thi cứ chập chờn trước mắt, trống ngực đập dập dồn, lại thao thức, mong nhớ, nước mắt dấp dính bờ mi. Cho đến lúc thiếp đi lúc nào không hay. Sáng mở bừng mắt đầu óc lại nhẹ tênh, nhìn ánh nắng bình minh màu nõn chuối, người như muốn bay lên, lại muốn xách súng lên điểm tựa để được áp buồng ngực vào bờ công sự nóng bỏng thuốc đạn để thử thách, để rèn luyện và cống hiến cái sức trẻ tràn trề của mình cho đất Bạn.

        Chẳng riêng gì hai đứa chúng tôi, thanh niên phum và cả mấy anh cán bộ trẻ công tác ở cơ quan huyện Đăng Cao cùng khá nhiều chàng trai buôn bán ở chợ Bát-đom-boong cũng phóng xe tới. Ngôi nhà sàn ấy rậm rịch bước chân ồn ào tiếng cười nói. Dường như anh chàng nào đặt chân tới đây cũng nói cười rất to, thi nhau mang những chuyện hay nhất ra kể, chẳng có gì ngoài mục đích gây sự chú ý của cô chủ nhà xinh đẹp. Đập lại, Chan Thi cứ ngồi ở trong buồng, chốc chốc ra hiên nhà xem cái ang đựng nước nếu đã cạn thì xuống cái giếng ở sân múc mấy gàu đổ vào, đó là thứ giải khát duy nhất tiếp khách, rồi lại quay vào buồng. Nhưng mỗi khi có khách ra về cô vẫn biết ra tiễn. Cô lẳng lặng đưa khách ra tận cái dốc cuối ngõ và trước khi chia tay khách còn được tặng một nụ cười rất tươi, cùng lời mời:

        - Tối thứ bảy sau anh tới chơi nhé.

        Câu nói nghe như gửi gắm điều gì, khiến khách ngỡ như cô đã dành riêng tình yêu cho mình rồi. Riêng tôi và xa Mát thỉnh thoảng còn được thêm:

        - Nhà Chan Thi có cái dao (hay cuốc) cùn quá...

        Những lúc ấy lưỡi chúng tôi líu lại, hai đứa thi nhau trả lời:

        - Đâu... đâu... đưa đây nhanh lên, bọn anh rèn tốt lắm.

        Rất nhiều cô gái trong phum đã trách móc chúng tôi. Có lần cô Tha Na đem gỗ tới lò rèn nhờ Phạm đẽo guốc, đã phê bình tôi và Xa Mát.

        - Nhà em là hang hùm, hang rắn hay sao mà mỗi khi đi qua các anh không thèm vào. Bộ đội Việt Nam mà không công bằng gì cả.

        Tuần sau đó, khi qua ngõ nhà Tha Na, chúng tôi cũng tạt vào. Chao ôi, cô gái mừng quýnh. Rồi nào nước thốt nốt ngọt, nước thốt nốt chua, nào bánh ăng-co, bánh nếp, xôi đậu... tiếp đầy bàn. Nhưng chúng tôi vẫn nhấp nhổm như ngồi trên thanh sắt nung nóng. Miệng nhai bánh, nhưng tai vểnh lên cố nghe trong cai âm thanh ồn ào như chợ từ nhà Chan Thi vọng sang người ta nói gì. Mặt Xa Mát ngây thuỗn, Tha Na hỏi hai lần mới nghe và gượng gạo cưới xĩn lỗi.

        Tha Na vốn tinh ý, cô nén tiếng thở dài chua chát nói.

        - Em biết các anh vào chơi lấy lệ thôi, con ong đậu ở hoa cà, bụng vẫn dành để lấy nhụy hoa nhãn.

        Mặt chúng tôi lạnh toát, hai đưa vội chuồn ra khỏi nhà Tha Na. Ra khỏi ngõ Xa Mát nói:

        - Rất thương nhưng không yêu được. Phật ơi! Nếu như đó là Chan Thi nhỉ?

        Tôi cũng buông câu thành ngữ, ra vẻ mình hiểu rộng:

        - Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên.

        Ra tới đầu đoạn đường rải đá dẫn ngược lên phum Công-pông Cà-đây, Xa Mát nói:

        - Ông Tư Phạm nhà ta khó lòng chiếm được cảm tình con gái. Miệng lưỡi như bọn mình chưa ăn ai nữa là.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #133 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2017, 11:21:54 am »


        Tôi cười khẽ:

        - Thanh niên gì mà suốt ngày lúi húi bên lò rèn. À, rồi cũng có vợ, dĩ nhiên loại sắc nước hương trời phải dành cho cỡ bọn mình. Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo mà.

        Xa Mát tiếp:

        - Dịp nào cậu ta về hỏi vợ có lẽ ông nên giúp một tay. Dẫu sao...

        Xa Mát ngừng nói khi trông thấy từ trong phum hai người đi về phía chúng tôi. Dẫn đầu, một người đàn bà thấp béo xách bọc nặng trong khăn cram-ma, chúng tôi nhận ra đó là chị Khươn Don, chủ tịch phum. Đi sau là cô gái bận đồ tím, thoạt nhìn cũng biết đó là Chan Thi. Cô xách ống bương nặng, chắc là nước thốt nốt thôi. Chả lẽ đi thăm bộ đội trên điểm tựa? Từ đây đến đơn vị đầu tiên cũng phải hơn chục cây số. Cuốc bộ tầm này sao kịp. Phía này chỉ có tổ lò rèn bọn tôi. Chị chủ tịch vẫn thường đến bàn công việc, nhưng Chan Thi, hoa khôi của phum, đến chỗ lò rèn ấy ư? Họa có rồng đến nhà tôm, Xa Mát đứng sững hết nhìn hai người lại ngó tôi như không tin vào mắt mình.

        Chị chủ tịch quay lại nói gì với Chan Thi. Cô gái đáp câu gì, đầu hơi cúi xuống. Đến gần chúng tôi, chị chủ tịch tươi cười nói:

        - Các em đi chơi đâu đấy?

        Chan Thi im lặng, cúi đầu nhìn cái guốc di di dưới chân. Xa Mát ập úng:

        - Bọn em định xuống trụ sở phum xem múa.

        Chan Thi ngoảnh mặt giấu nụ cười tinh nghịch, chỉ một thoáng bất chợt tôi bắt gặp gương mặt cô gái hồng lên, đôi mắt chàm xanh sáng long lanh. Chị chủ tịch cười to:

        - Chị hỏi thế thôi, chứ cũng biết các em định tới nhà Chan Thi rồi. Nhưng hôm nay Chan Thi sẽ là khách của các em. Kìa sao hai cậu nhìn nhau thế? Nguyễn xách giùm Chan Thi ống nước thốt nốt chứ.

        Tôi đưa tay run run đỡ lấy ống bương, cố tránh chạm bàn tay mềm mại, ngón búp măng trắng muốt của cô gái. Xa Mát xách bọc khăn cram-ma của chị chủ tịch.

        Chúng tôi trở về lò rèn. Chan Thi đi trước, lúc này tôi mới nhận ra cô gái bận toàn đồ tím, chiếc khăn "voan" cũng màu tím. Phải rồi, hôm nay là thứ bảy, theo tục lệ đạo Hồi, con gái chưa chồng bận đồ tím. Dáng cô nhẹ nhàng như lướt phía trước tôi.

        Đến gần lò rèn đã nghe tiếng gõ chan chát trong nhà, ánh sáng hắt ra từ bếp than rừng rực soi rất rõ bộ ngực Phạm vạm vỡ, bắp thịt ở cánh tay cuồn cuộn, đôi lông mày rậm co vào giãn ra như cánh chim. Chan Thi mở tròn mắt nhìn Phạm. Một lát, cô nàng quay ra cửa, ánh mắt cô sáng lên kỳ lạ, tôi đặt ống bương lên bàn, vội vã đến đập tay lên đôi vai rắn chắc của Phạm.

        - Có khách.

        Phạm ngẩng lên, nhoẻn miệng cười.

        - Chào các chị... tôi còn mắc chút xíu. Các chị xá lỗi nghe.

        Tôi gắt khẽ:

        - Mai làm không được sao? Nghỉ tiếp khách đã.

        Phạm nói nhỏ:

        - Các cậu tiếp giùm đi, mình tranh thủ làm xong đêm nay, mai còn rèn cho xong mấy cái cuốc ấy, sắp tới đợt làm cỏ rồi.

        Tôi bước tới chiếc sạp lấy mấy cái chén đặt lên bàn. Xa Mát đã pha trà, trà tự tạo của lính miền tây Campuchia, bằng cây hà thủ ô cắt nhỏ phơi khô. Xa Mát định rót ra chén thì chị chủ tịch ngăn lại:

        - Mời các em dùng nước thốt nốt ngọt. Chan Thi rót nước mời các anh, em.

        Chan Thi rót nước ra chén, hương thốt nốt thơm ngào ngạt. Chị chủ tịch mở khăn cram-ma, thì ra đó là gói kẹo làm bằng đường thốt nốt. Chan Thi đã lùi lại ngồi ở góc bàn, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn Phạm. Phong tục ngươi theo đạo Hồi ở cái phum này vẫn kiêng kỵ con gái bưng nước mời con trai tận tay, khi chưa yêu nhau. Chị chủ tịch bưng từng chén nước đặt trước mặt chúng tôi:

        - Các em uống nước ăn kẹo đi.

        Thật bất ngờ, Chan Thi cầm một chiếc kẹo đến chìa trước mắt Phạm. Xa Mát và tôi đều trố mắt nhìn nhau. Chẳng nhẽ cô gái hoa khôi này lại phải lòng ông Phạm chúng tôi? Chị chủ tịch cũng đưa mắt nhìn vẻ ngạc nhiên. Chan Thi nói câu gì đó tôi không nghe rõ, chỉ thấy Phạm khẽ lắc đầu, nét mặt vẫn chăm chú vào việc. Trời, phải chi tôi có cái diễm phúc ấy, không chừng mừng đến phát khóc. Chan Thi nũng nịu:

        - Anh dùng một tí...

        Phạm vẫn không ngẩng mặt lên:

        - Tui đang mần công chuyện mà.

        Chị chủ tịch nói to:

        - Cô ấy có thương mới mời em dùng một tí, của tía đấy.

        Chan Thi nói thêm:

        - Người Chăm có câu: "Mời khách từ chối, xui hơn cháy nhà" đó.

        Nhưng tôi đang làm việc mà - Phạm hơi gắt.

        Đột ngột Chan Thi bước vội qua cửa, vụt chạy về phum. Hình như vừa chạy vừa đưa tay áo lau nước mắt. Phạm đóng xong cái đinh, xếp búa và đồ nghề vào hòm, rồi thong thả đi rửa tay, lát sau, trở lại bàn, chị chủ tịch trách:

        - Em hơi quá khắt khe đấy. Chiều lòng nó tí có phải hơn không. Sắp tới, cô ấy sẽ dẫn các em vào rừng đốn cây đấy.

        Phạm nói cương quyết:

        - Tui là người thợ, phải giữ nghiêm kỷ luật, chị à.

        Tôi gắt:

        - Ông máy móc thấy mồ. Ở đây việc quái gì phải nguyên tắc.

        Phạm vẫn điềm tĩnh:

        - Không nên nhân nhượng cho mình vi phạm nguyên tắc. Trong nhà máy chỉ cần anh sơ suất, lơ là một tí có thể gây chết người và thiệt hại hàng vạn đồng...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #134 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2017, 11:22:28 am »


        Tổ lò rèn chúng tôi được thành lập vào giữa năm bảy chín, lúc ý phum Công-pông Cà-đây giải phóng được bốn tháng. Ba năm, dưới chế độ Pôn Pốt, người dân bị gom vào công xã, sống vất vưởng ở ngoài đồng. Phum sóc bỏ hoang, nhà cửa đổ nát, cỏ mọc rợp chuồng trâu chuồng gà, nhà trở thành nhà hoang, heo rừng vào ngủ trong bếp, công cụ sản xuất hỏng hết. Ngươi dân Công-pông Cà-đây trở về cầm cái dao, cái cuộc lưỡi bị han rỉ, cán bị mục. Đơn vị chúng tôi được giao nhiệm vụ giúp nhân dân phum ấn định và xây dựng cuộc sống mới. Chính Tư Phạm là người đề xướng thành lập tổ lò rèn này. Lúc đầu, ban chỉ huy trung đoàn Đồng Xoài chúng tôi còn ngần ngại, bởi lẽ tuy là một cái lò rèn thủ công nhưng chuẩn bị đủ dụng cụ chẳng phải dễ. Phạm đã hăng hái lập một phương án tỉ mỉ, cái bễ thụt hơi sẽ làm từ hai nòng cối 80 ly của Trung Quỗc bị pháo ta phá hỏng trong chiến dịch giải phóng Lếch, sắt thép để rèn là phương tiện chiến tranh địch để lại. Thường ngày Phạm vốn trầm lặng, vậy mà độ ấy trở nên sôi nổi hơn, gặp ai cũng vung tay, hăng hái kể về cái lò rèn, chúng tôi đều biết, trước khi mặc áo lính, Phạm là thợ hàn bậc bốn công tác tại một nhà máy cơ khí thành phố Hồ Chí Minh. Rồi Phạm được cử làm tổ trưởng cái lò rèn này.

        Xa Mát, chiến sĩ tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, cũng được điều về. Mấy tuần sau khi lò rèn hoạt động tôi cũng được bổ sung vào tổ. Tôi vốn chẳng có năng khiếu gì về rèn giũa. Đến cái khuy quai ba lô bị bật đinh cũng chẳng biết gắn lại, nói chi đến chuyện rèn dao, ren cuốc.

        Có một điều ngẫu nhiên thật thú vị, Xa Mát và tôi rất hợp nhau trong cuộc sống hàng ngay, có thế nào cũng xong. Đũa của chúng tôi là cành cây, gần tới bữa cơm mới nhao ra bờ so đũa ven sườn núi bẻ lấy hai đoạn, đưa sà vào mâm vừa tỉa lá, xong bữa trước làm tăm luôn. Xa Mát chỉ quen dùng muỗng, nĩa, các thứ ấy đã bị mất từ lúc còn ở đơn vị cũ, tới đây anh thay bằng lá mít cuốn lại. Chúng tôi gọi là cách sống sáng tạo của lính chiến trường.

        Phạm kịch liệt phản đối vã bắt tay vào làm ngay cuộc "cách mạng". Phạm sắm sửa cho hai đứa. Cậu ta bỏ ra nửa ngày chủ nhật vào rừng đẵn tre, ngồi mấy tiếng vọt hẳn một nắm đũa, phải đến ba chục đôi. Rồi ngày chủ nhật sau đó đào bới trong đống vỏ đạn, sắt thép chọn hai vỏ đạn 14,5 ly, gò thành hai cây muỗng tặng Xa Mát.

        Lò rèn chúng tôi được đặt dưới gốc đa cạnh con đường rải đá lớn, cách phum Công-pông Cà-đây chừng một cây sỗ. Hàng ngày tấp nập người vào ra, vui nhộn không thể tả. Nhân dân đưa dao cuốc, lưỡi cày đến nhờ rèn giúp. Có người làm cỏ ngoài đồng gãy cuốc cũng đưa về đây tra cán lại. Bộ đội đi qua ghé vào hút thuốc, uống nước, đùa bỡn vài ba câu rồi đi. Các cô lái trong phum đưa cả những đôi guốc, đôi dép tới nhờ Phạm đóng lại đinh, thay quai, ấy là những đôi guốc các cô bới trong đống gạch đổ của nhà mình bị Pôn Pốt dùng mìn đánh sập. Ngày bị đuổi ra khỏi phum nào có ai kịp mang theo gì đâu. Thời gian bị đày ải trong các công xã, họ phải đi chân đất. Bây giờ chợ búa chưa họp, hàng hóa chưa có. Không hiểu từ đâu các cô gái vùng này thích đi guốc mộc và Phạm là người duy nhất đẽo được hàng chục đôi tặng các cô ấy.

        Sáng thứ hai ấy, Chan Thi cũng đến dẫn chúng tôi trao rừng đốn cây.

        Chúng tôi đi dọc triền núi Kim Ri thẳng vào rừng Ô Răng, buổi sáng mùa mưa, vòm trời màu nước thép. Chúng tôi đi trong màn sương mỏng như làn khói nhẹ. Xa kia, dãy Ô Răng chìm trong biển mây mù, những chóp núi cao nhô lên xanh nhạt như những hòn đảo. Sau lưng chúng tôi là nếp đồi mềm mại thấp dần tới cánh đông Công-pông Cà-đây.

        Chan Thi dẫn đầu. Cô lao về phía trước, gấu xà rông thêu hình vuông trắng giữa có bông hoa dại đỏ lướt trên ngọn cỏ đuôi chồn, mái tóc vấn cao để lộ cái cổ loa kèn trắng ngần xuôi xuôi xuống bờ vai tròn lẳn.

        Nắng sớm còn le lói trên ngọn cây, chúng tôi đã tới thung lũng Cây Găng. Những cây găng thân chi chít gai - những cái gai sắc nhọn dài tới năm sáu cen-ti-mét - cao sáu bảy mét, to hơn bắp chân, rất thẳng, lá nhỏ. Tôi chưa từng thây ở đâu găng mọc nhiều đến thế.

        Phía xa mây mù đã nhóm dân lên đỉnh núi. Chan Thi chỉ lên núi đá dựng cạnh thung lũng, nói nhỏ với Xa Mát và tôi:

        - Hòn núi ấy tên gọi là Phnôm Pích Nin, có nghĩa là núi ngọc. Lưng chừng núi có một cây hang đá đẹp lắm. Tết Chô Chơ-nam thơ-mây trai gái trong phum tới tắm cho tượng Phật.

        Tôi gợi chuyện:

        - Chà, thích nhỉ. Bọn tôi lên thăm được không?

        - Trưa nay mời các anh lên thăm, đẹp lắm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #135 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2017, 11:22:58 am »


        Phạm đã cởi khăn áo vắt lên cành cây và bắt tay vào đốn. Bàn tay như cái kim của anh nắm chặt cán dao phang từng nhát rất mạnh, lưỡi dao cắm phập vào thân cây. Chỉ một loáng anh đã đốn xong một cây. Anh phạt cành xếp vào chỗ trống trải, chặt tiếp, Xa Mát và tôi cũng dùng loại dao như của Phạm, cũng học theo cách cầm dao của anh, dồn hết sức bình sinh chặt, nhưng lưỡi dao chỉ bám vào thân cây, qua vỏ một tí là bật ra như phang vào sắt thép. Phải chặt hàng chục nhát mới ngã được một cây. Đốn được vài bốn cây bàn tay đã rát như xát muối, lòng bàn tay đỏ ửng, mu bị bong hai ba chỗ, máu rỉ ra, ngón tay rộp lên. Chan Thi cũng chặt rất nhanh, tôi ngạc nhiên không ngờ cô lao động giỏi đến thế, cô làm rất hăng, có điều nét mặt vẫn khó đăm đăm, cô đang dỗi với Phạm. Cô gái Chăm giận đến là dai. Ông Phạm nhà tôi không hề để ý đến điều đó, làm quần quật.

        Tới trưa, chúng tôi đã đốn được vãi chục cây. Kể ra chỉ làm cán cuốc, cán dao thì đã tạm đủ. Nhưng Phạm động viên chung tôi chặt thêm nữa, kẻo tốn công lặn lội vào đây.

        Trời đang trong xanh đến ngộp thở, nắng phả ngun ngút, bỗng nắng nhạt dần, gió tây thổi mỗi lúc một mạnh, chốc lát dội ào ào trên nóc rừng. Mây đen kéo tới ùn ùn. Gió bốc lá khô ném lên không, bay như bướm, không gian tối sầm lại. Một tiếng sét nổ như bom trên đầu.

        Chan Thi kêu to:

        - Trời sắp mưa to đấy, các anh à.

        Cô lấy khăn mùi xoa cột lên ngang mái tóc sau gáy, rồi thét lạc cả giọng:

        - Các anh theo em.

        Ba chúng tôi theo cô gái vượt qua một cái lòng khe cạn chạy ngược lên hang Pích Nin, cứ nhìn mảnh khăn trắng dập dờn như cánh chim hải âu sau gáy cô gái mà lao theo. Ống quần tôi móc vào gai rách toạc, người lảo đảo lao vào thân cây. Ngón chân vấp vào rễ cây tưởng bật móng, buốt tới tận óc, đầu gối như long ra, vẫn bám sát cô gái. Chan Thi chạy rất nhanh chạy ngược dốc mà cô lao vùn vụt. Mưa quất ào ào trên nóc rừng.

        Chúng tôi vào một cái hang đá. Vòm hang cao, lòng hang sâu hun hút. Phía ngoài cửa hang có những phiến đá nhẵn như bào. Cách cửa hang chừng chục mét xây bằng đá, bên trong có một bức tượng Phật ngồi xếp bằng chân trên hình một con rắn xòe ra năm cái đầu che lấy đầu tượng.

        Đứng ở cửa hang nhìn ra, mưa giăng mờ phía xa. Một lúc đã nghe tiếng nước réo ồ ồ. Đến lúc mưa mỏng dần, nhìn xuống đã thấy một con suối phóng qua chân núi.

        - Phải chờ con suối kia rút hết nước mới qua được.

        Chúng tôi đứng ở của hang. Phía xa những tia chớp nhấp nhóa rạch chân trời đầy mây, những đụn mây đen hình thù kỳ dị.

        Bất giác mắt Tư Phạm mơ màng, tôi chưa hề thấy ánh mắt cậu ta như thế bao giờ, giọng khấp khởi:

        - Các cậu coi giống lửa hàn chưa cà?

        Tôi nói đùa:

        - Sao chỉ các cậu thôi?

        Tư Phạm vẫn giữ nết mặt trầm ngâm:

        - Trong đời mình chẳng có gì quyến rũ bằng nghề hàn cả. Mình say mê từ lúc còn nhỏ.

        Chan Thi hất hàm nhẹ, nói khích:

        - Thế sao không ở nhà mà hàn, còn đi bộ đội?

        Tư Phạm điềm tĩnh:

        - Phải đánh giặc đã chớ. Còn giặc thì đất nước chả yên nữa là nhà máy. Vậy mà trước ngày lên đường tui cứ đứng ở cửa nhà ngó sang bên kia sông Sài Gòn, nơi đó có mấy chiếc tàu đang sửa, ánh lửa hàn chớp lóe, tựa như ánh chớp kia.

        Chan Thi ném về phía Phạm cái nguýt dài.

        Mưa tạnh, con suối dưới chân núi cũng biến mất ở rừng nước rút đến nhanh. Không thể tiếp tục đốn cây, chúng tôi vác mỗi người hai cây gỗ trở về.

        Ra khỏi thung lũng găng, ai nấy lóa mắt trước ánh nắng rực rỡ. Trước mặt phạm Công-pông Cà-đây hiện rất rõ những ngọn tháp củ hành nhô lên như tháp bút. Lên tới sườn núi Kim Ri, chúng tôi đã mệt nhừ, thở ra lỗ tai, Phạm bảo ngồi nghỉ lấy sức. Phía xa chớp vẫn rạch chân trời, mây đen dựng từng đụn.

        Xa Mát hỏi:

        - Học nghề hàn chắc khó, anh Phạm nhỉ?

        Phạm háo hức kể:

        - Theo tui, nghề chi mình say mê đều làm được. Ngày mình vào nghề đêm năm mơ ánh lửa hàn chập chờn trước mặt.

        Đôi môi Chan Thi mím chặt, mắt lơ đãng nhìn xa.

        Về tới lò rèn, chúng tôi ướt như ngụp dưới suối lên. Quân phục dán vào ngỡ khó gỡ ra được. Chan Thi trở về nhà ngay, nhìn cô ấy ướt đẫm, thương quá. Nhưng gương mặt vẫn hồng lên như thoa phấn, đôi mắt xanh thẳm, đẹp đến lạ kỳ.

        Thay quần áo xong, Phạm mở hòm đồ, lôi mấy đôi guốc dưới gầm giường ra sửa. Tôi lấy cây ghi-ta treo ở vách xuống đánh, còn Xa Mát hát. Bài nọ xọ sang bài kia. Chốc chốc hứng quá, cậu ta nhảy xuống đất múa. Một lúc cả hai đứa đều đói cồn cào. Xa Mát phân công:

        - Tôi đi vo gạo, ông nhóm lửa nấu cơm.

        Phạm đứng dậy:

        - Hai cậu cứ hát cho vui, mình nấu cơm, chút xíu là có ăn liền à.

        Tất nhiên tôi và Xa Mất mừng muốn nhảy cẫng lên và sẵn sàng nhường công việc ấy cho đồng chí tổ trưởng. Từ ngày về đây, hai đứa bọn tôi đã sinh tật hay "nhường" chuyện nấu nướng, dọn dẹp cho Phạm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #136 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2017, 11:23:23 am »


        Ngọn lửa Phạm nhóm vừa liếm đáy xoong thì Chan Thi xuất hiện ở cửa; cô gái rục rỡ trong bộ đồ màu xanh, mái tóc xõa tràn lưng, trên đầu chăng ngang chuỗi cánh con cánh cam xanh óng ánh như ngọc. Đôi má mịn màng ửng hồng, tay xách chiếc giỏ đan bằng lá thốt nốt nặng trĩu.

        Cô đặt giỏ lên bàn, lấy ra bốn gói xôi gạo nếp đồ vơi trái thốt nốt giã nhỏ, thơm ngào ngạt. Chan Thi nói:

        - Má em bảo em đưa thức ăn mời các anh dùng.

        Xa Mát nhanh nhảu:

        - Thôi khỏi nấu cơm, ông Phạm à.

        Tư Phạm tươi cười bước tới.

        - Cảm ơn Chan Thi nghe.

        Chan Thi nguýt nhẹ:

        - Anh mà cũng biết cảm ơn sao?

        Rồi cô gái đặt gói xôi trước mặt Phạm:

        - Anh phải dùng hết, không Chan Thi bắt đền.

        Phạm thật thà:

        - Tui tưởng mỗi người một gói chứ.

        Chan Thi cười khẽ:

        - Ba gói sợ kỵ.

        Phạm nói đùa:

        - Thanh niên mà cũng mê tín vậy sao?

        Mặt Chan Thi đỏ lựng.

        Chúng tôi vừa mở gói xôi vừa xuýt xoa chưa nếm đã thấy ngon. Bỗng chị chủ tịch phum chạy ập vào:

        - Tàn quân Pôn Pốt đóng giả con buôn bắt mất hai con trâu giống của phum rồi.

        Chúng tôi sửng sốt. Hai con trâu là vốn quí của phum. Bọn chúng hiểm quá. Chan Thi hỏi rối rít:

        - Hồi nãy, em vẫn thấy trong chuồng. Mất bao giờ?

        - Khoảng một giờ rồi.

        Phạm đứng bật dậy, với khẩu súng AK báng gấp trên giá:

        - Các cậu bình tĩnh dùng bữa đi. Một mình tui đủ rồi. Tụi nó chưa dắt đi xa đâu.

        Chị chủ tịch nói:

        - Chúng nó đi về khe núi Kim Ri.

        Xa Mát xách súng.

        - Để tôi đi cùng, một mình ông đi không an toàn đâu - cậu ta nói với tôi - ông phải ở nhà.

        Mọi người lao đi, chỉ mình tôi ở lại, không thể nào ăn nổi. Đầu óc tôi căng thẳng chưa từng thấy.

        Một giờ... hai giờ... trôi qua vẫn chưa có tin tức gì. Đến quá nửa đêm, mệt quá, tôi nằm xuống sạp rồi thiếp đi.

        Tôi bị đánh thức bởi tiếng người gọi nhau ồn ào. Tôi nhào ra cửa phía trụ sở Côn-pông Cà-đây đỏ hai ba ngọn đèn bão, tiếng người từ đó vọng tới. Biết có chuyện, tôi vội lao tới, tim muốn nhảy khỏi ngực. Sân trụ sở phum đã tấp nập người. Tôi lách vào, gặp Xa Mát ở cầu thang. Xa Mát nói:

        - Ông Phạm bị thương nặng lắm.

        - Sao? Sao? Cậu bảo sao - tôi hỏi dồn.

        - Vào tới khe núi gần đến dãy Ô Răng thì nghe tiếng trâu rống. Anh Phạm bảo tôi canh chừng ở ngoài rồi lần vào. Được chục mét thì mìn nổ.

        Tôi lách qua mấy người vào chỗ Phạm nằm. Chan Thi đang ngồi ôm lấy ngang người Phạm, cô ngẩng lên, nước mắt ướt đẫm mặt. Chân phải Phạm bị cụt tới đầu gối, chân trái quấn băng trắng toát. Thấy tôi, Phạm cố nở nụ cười. Gương mặt Phạm vẫn bình tĩnh.

        - Nguyễn đấy à? Mình bị thương rồi.

        Tôi đặt tay lên ngực Phạm. Người Phạm nóng hầm hập. Mắt anh nhắm lại rồi mở ra, chớp chớp, đôi mắt vẫn rất sáng.

        - Mình khó sống nổi, các cậu nhớ rèn hết đồ để cô bác kịp làm mùa. Còn mấy đôi guốc mình chưa kịp đóng đinh...

        Chan Thi hốt hoảng:

        - Anh... Anh đừng nói dại, thần Inđra không vui đâu.

        Phạm bóp bóp tay tôi rất mạnh. Rồi cứ lỏng dần mắt anh bất chợt sáng lên. Đôi môi nhợt nhạt nở nụ cười thanh thản. Và người anh luội dần. Mọi ngươi đứng xung quanh thét lên. Chan Thi gục xuống người anh khóc nức nở. Cô vừa khóc vừa hôn lên mặt, lên mắt, lên môi anh. Cô như muốn giành anh trở lại cuộc sống. Nhưng đã bất lực. Cô giựt dây cánh cam trên đầu bẻ làm đôi đặt xuống đầu Phạm. Phong tục người Chăm khi vợ chồng vĩnh biệt nhau mới làm như thế. Một cụ già nói với tôi:

        - Con về nhà lấy quần áo của nó lên đây.

        Tôi chạy sấp ngửa trở về.

        Lát sau tôi quay trở lại, nhìn lên phum Công-pông Cà-đây trước mắt tôi là cả một rừng đuốc sáng tiến về trụ sở phum. Những ngọn đuốc làm bằng cành thốt nốt chẻ nhỏ ngâm kỹ, sáng rực không vương một ngọn khói, một đốm tàn. Hàng trăm ngọn đuốc đó tụ lại quanh Phạm như đóa hoa lửa. Tôi sực nhớ đến ánh lửa hàn mà Phạm hẵng thao thức mong nhớ.

Thành phố Hồ Chí Mình. 1-6-1984         
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #137 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2017, 11:47:20 am »

     
NHỮNG SỢI CHỈ VÀNG

HÀ PHẠM PHÚ         

        Buộc chỉ cổ tay
        Bằng ba sợi chỉ hồng
        To như những sợi dây vàng

        (Dân ca Campuchia)

        Hưng tụt từ trên chiếc ghế đẩu cao lênh khênh xuống, lui ra xa ngắm nghía cái giá để ba lô vựa được gắn vào bức tường gỗ bằng những chiếc đinh dài, gật gù tỏ vẻ hài lòng. Đã lâu có dễ đến ba năm, Hưng chưa được sống trong một doanh trại chính quy với những chiếc giường kê thẳng tắp, chăn màn gấp xong vuốt đi vuốt lại đến vuông thành sắc cạnh. Thực ra mỗi năm, chí ít Hưng cũng có vài ba lần từ dưới cơ sở trở về đoàn họp thành, báo cáo công việc, nhưng vào những dịp như thế anh thường tạt chỗ này chỗ kia, tiện đâu ăn đấy, ở dưới phum lên chẳng ai bắt anh phải giữ thật đúng kỷ luật trong doanh trại. Ba năm anh đã quen sống nếp sống dân dã có ít nhiều phóng túng, bây giờ vào trường quân chính của mặt trận dù đã là sĩ quan anh vẫn phải ghép mình vào kỷ luật mà người học viên nào cũng buộc phải thực hiện, do đó không thể không có những cái chật chưỡng ngỡ ngàng. Lớp học chưa khai giảng các học viên tập trung củng cố nơi ăn chốn ở. Hôm nay cả tiểu đội Hưng phải đi lấy củi, anh được phân công ở lại sửa sang chiếc giá để ba lô và đóng giá để bát.

        Chợt có người vỗ mạnh vào vai, Hưng giật mình quay lại. Hóa ra là Bảng, anh bạn cùng nhập ngũ một ngày, đang làm trực ban nhà trường. Bảng nhe răng cười:

        - Mình đem đến cho cậu tin vui, nhưng có thuốc lá đưa đây một điếu đã!

        - Ăn hối lộ à?

        Nói vậy nhưng Hưng lại chìa bao thuốc Rùm-đo cho bạn. Bảng nhón một điếu rõ khéo, bập vào môi, châm lửa, kéo một hơi dài, thở khói mủ mịt.

        - Đã ngươi thật - Bảng nói với vẻ khoái trá - Này có một cô đến tìm đấy. Cậu tốt số thế. Con mình, có bằng đẹp trai hẳn hoi mà chẳng em nào nhìn đến? À, mà một cô gái Campuchia xinh đẹp nhé.

        Hưng thay bộ quần áo lao động, chải lại mái tóc bù xù cho phẳng rồi theo Bảng ra nhà khách. Những cơn mưa cuối cùng vừa dứt. Gió từ sông Xê San thổi lên mát rượi. Nhìn xuống bến sông nước đang lắng trong lại, Hưng thấy một chiếc xuồng máy thon dài mũi cong vút, chiếc cần chân vịt gác lên ghềnh xuồng quen thuộc quá, từ màu sơn đỏ của chiếc máy nổ đến chiếc cần lái bóng nhẫy. Những chiếc xuống như thế chỉ có ở Luông Sval. Chân Hưng bỗng ríu lại. Nắng lóa mắt. Anh chưa kịp nhận ra cô gái mặc áo màu tím hoa cà, cuốn chiếc xà-rông nền nã là ai thì đã nghe thấy tiếng reo nho nhỏ:

        - Ôi, anh Hưng!

        Lúc này thì Hưng biết cô gái ấy là ai rồi, vờ kêu lên nhưng giọng hết sức vui vẻ:

        - Na Ri! Sao em biết anh ở đây mà tới tìm?

        Cô gái cúi xuống tay vò vò chiếc khăn cro-ma, giọng nhẹ bẫng, hơi giận:

        - Bố bắt em phải lên tận đoàn hỏi tin anh, chứ em, em chả đi đâu. Anh vô tình lắm, đi học mà không nói với bà con Luông Sval một lời!

        Hưng cầm tay cô gái, bảo cô ngồi xuống. Anh biết mình có lỗi. Hết phép, từ Việt Nam sang, anh ghé vào đoàn định báo cáo xong, có xuồng là đi Luông Sval ngay. Nhưng đồng chí phụ trách bảo ở lại không phải về xã nữa. "Trên cử đồng chí đi học quân chính, ngày mai phải có mặt ở trường rồi!".

        "Nhưng tôi chưa báo với xã, cũng phải chào bà con một câu chữ ạ?"

        "Dào ơi, vẽ chuyện!"

        Chỉ vì ý nghĩ đơn giản của đồng chí phụ trách nên mới xảy ra chuyện này đây. Cô gái vẫn còn ấm ức:

        - Hay bà con Luông Sval có điều gì ăn ở không phải với anh, hả anh Hưng?

        - Lớp học mở gấp quá, Hưng buộc phải thanh minh, nên anh không về chào bà con được, không về thăm bố và Na Ri được, dạ cứ áy náy mãi. Na Ri thông cảm nhé!

        Chỉ cần nghe Hưng nói vậy Na Ri đã thấy mát lòng mát dạ. Cô cười đôi mắt to đen nhánh ướt như hai giọt sương nhìn Hưng đăm đăm. Cô nói thầm thào như gió thoảng.

        - Bố bảo nhất định anh phải để dân phum Luông Sval làm lễ buộc chỉ cổ tay mới được đi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #138 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2017, 11:47:51 am »


        Luông Sval là một phum ở sát biên giới Lào, bên bờ sông Mê Kông có đất liền và có đảo. Dân ở Luông Sval phần lớn gốc Lào, nói tiếng Lào, phong tục tập quân giống như người Lào. Mới chỉ sống ở Luông Sval ba năm, nhưng Hưng đã cùng chia cái sống, cái chết với dân phum, anh xem mảnh đất đó như quê hương thứ hai của anh sau cái làng chài trên bờ biển Phan Thiết. Vì thế anh không thể từ chối cái lễ buộc chỉ cổ tay, tiếng Lào gọi là Cula paxi còn tiếng Campuchia thì gọi là choong day. Phải báo cáo nhà trường. May thay đồng chí hiệu trưởng là một người tinh tế, ông quyết định cho Hưng nghỉ hai ngày. Như vậy anh có hẳn một đêm chia tay với bà con trong phum.

        Mờ đất hôm sau, Na Ri đưa xuồng đến đón Hưng. Sương mù bảng lảng trên những đỉnh rừng, lãng đãng phủ kín mặt sông. Tiếng nước chảy, tiếng cá quẫy nghe như rất xa, vọng đến từ cõi hư ảo nào đó. Trời se se lạnh nên Na Ri khoác thêm một chiếc áo len mỏng bên ngoài chiếc áo màu tím hoa cà, tóc bỏ lơi duyên dáng. Cô biết ăn mặc như thế, Hưng sẽ thích nhìn hơn.

        Hưng xách một chiếc túi nhỏ trong đựng quà Việt Nam để tặng bà con trong phum, tặng bố và Na Ri. Anh đẩy xuồng ra khỏi bến rồi nhanh nhẹn nhảy lên khoang. Thấy anh phong phanh một tấm áo mỏng, Na Ri quàng cho anh chiếc khăn cro-ma rồi nhường anh cầm lái.

        Hưng cầm chiếc dây nhựa đen dâu mỡ, cuộn mấy vòng quanh chiếc vô lăng rồi giật mạnh. Chiếc máy giật mình phun ra những làn khói trắng, sau đó rung lên đều đều. Anh bẻ làm cho mũi thuyền hướng ra giữa sông, rồi băng theo dòng nước, đến chỗ hợp lưu với sông Mê Kông thì đổi hướng chạy lên phía bắc. Nước đã rút nhưng vẫn còn lớn, nhiều đảo nhỏ còn đang ngụp lặn chỉ để hở những chỏm cây anh. Sương tan loãng dần, đã nhìn thấy hai bờ sông dốc đứng nhiều cây xoài để trơ những chùm rễ lớn vì đất bị lở trong mùa mưa vừa rồi. Làng mạc hai ven bờ sông lúc thưa lúc mau, những bến xuống được xẻ bậc hoặc đóng thang bằng gỗ. Những chiếc xuồng không, được neo bởi những xợi xích sắt, cứ dập dềnh lên xuống vì sóng đánh. Hưng nhẩm tính, từ ngã ba sông lên đến Luông Sval có chạy gắng lắm cũng phải sẩm tối mới tới được.

        Na Ri ngồi đối diện với Hưng, hai chân khép lại một cách kín đáo. Cô có khuôn mặt thanh tú, chiếc mũi dọc dưa, cái miệng nhỏ với đôi môi mọng. Bộ ngực tròn đầy phập phồng theo nhịp thở dưới làn áo mỏng căng. Cô nhìn Hưng tự nhiên, không còn e lệ nhu lúc gặp nhau ở nhà khách chiều qua.

        - Anh Hưng, Na Ri cất tiếng hỏi, anh nghĩ gì mà buồn như lá chuối gặp lửa thế?

        - Anh đâu có buồn, Hưng đáp rồi mỉm cười, anh đang nghĩ đến Luông Sval đấy. Anh không ngờ Na Ri lại nói tiếng Việt giỏi như thế, tiến bộ nhanh lắm!

        Hưng nói điều đó rất thực lòng. Những ngay ở Luông Sval, dạy Na Ri học, nghe Na Ri nói nhưng anh đâu có để ý. Thế mà chỉ xa có hai tháng trở lại, anh chợt như khám phá ra một Na Ri khác Na Ri đẹp, duyên dáng, ý nhị, thông minh. Ôi, Na Ri.

        Nghe Hưng khen, Na Ri ngượng nghịu lấy tay che nụ cười. Cô chợt nghĩ đến những ngày đầu khi anh mới về xã. Vậy mà đã ba năm. Vừa đến Luông Sval, còn chân ướt chân ráo, đội công tác của Hưng đã tỏa đi khắp phum gặp gỡ các gia đình, tổ chức nói chuyện, khi thì dăm ba ngươi, lúc thì cả xóm. Mấy ông ủy ban trước đó làm việc cầm chừng đã tích cực lên, phân công nhau trực hàng ngay để giải quyết công việc. Tình hình khá hơn, nhưng người dân đi ra ruộng về, đi ra rừng về cứ túm năm tụm ba to nhỏ chuyện gì, hễ thấy cán bộ đội công tác thì bỏ đi, lỉnh mỗi người một ngả. Thế rồi người ta nói công khai với nhau. Khơ me đỏ chỉ đánh Việt Nam không đánh người Khơ-me. Tất nhiên Na Ri cũng được người ta rỉ tai cho biết điều đó. Còn Hưng, anh có biết điều đó không, cô không rô. Hưng vẫn cứ đi lại thăm hỏi bà con, chăm chỉ học tiếng Khơ-me, tiếng Lào. Anh cũng tìm cách lành thân với Na Ri, nhưng cô lảng tránh. Cô muốn làm cho anh chán phải thôi, giận phải thôi. Nhưng anh không nản, cũng chả giận. Na Ri vừa thấy lạ, vừa thấy sợ. Cho đến một buổi chiều...

        Hôm ấy đội công tác được tập trung đi gặt giúp dân, đội trưởng Úc Nhem và Hưng ở lại ủy ban làm một số công việc. Bỗng có nhiều tiếng súng nổ ở phía ngoài phum. Một dân quân hốt hoảng chạy về, lắp bắp mãi mới nói được ai. Bọn phỉ Pốt bắn lén vào đội công tác. Hưng vội cùng Úc Nhem băng qua mấy ngôi nhà, thẳng tới nơi chiến đấu vừa mới xảy ra. Một đội viên quê ở Căng-đan hy sinh. Những cán bộ trong đội công tác, trừ Úc Nhem, đều mới được rút từ các cơ sở lên, chưa trải qua chiến đấu, vì thế gặp trường hợp này không khỏi lúng túng. Họ đứng vây quanh liệt sĩ, cúi đầu súng chúc nòng, lặng lẽ, nét mặt ai cũng lộ vẻ căng thẳng, xao xuyến. Một số dân tò mò đứng nhìn từ xa, xì xào bàn tán. Hưng chưa hiểu hết phong tục của người địa phương, anh chỉ thấy để liệt sĩ nằm mãi ở đây thì bất tiện. Phải đưa về trụ sở ủy ban, làm lễ truy điệu theo nghi thức quân đội. Ý kiến bàn bạc của Hưng được Úc Nhem đồng ý. Úc Nhem nói:

        - Việc này đối với tôi cũng mới lắm, tôi tin anh. Và rồi chắc dân sẽ hiểu anh.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #139 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2017, 11:48:17 am »


        Nghe Úc Nhem nói vậy Hưng mừng lắm. Anh rẽ đám đông bước vào xốc liệt sĩ lên vai đi về phía ủy ban. Lúc này dân phum đổ ra đường, nối vào sau Hưng thành một đoàn dài. Vừa khi ấy Hưng nhìn thấy Na Ri, liền gọi giật lại, nói như ra lệnh:

        - Na Ri, cô về nhà nấu ngay một nồi nước thơm!

        Không hiểu sao lúc đó, cái ý thức phản kháng luôn thường trực trong cô biến đi đâu mất. Cô đáp một cách ngoan ngoãn:

        - Vâng!

        Hưng dùng nước thơm lau rửa xong, lấy chiếc bạt duy nhất của mình liệm cho liệt sĩ. Tự nhiên nước mắt Na Ri ứa ra. Người đã chết đâu có phải ruột thịt của anh, sao anh quý trọng thương tiếc đến thế? Úc Nhem lấy quốc kỳ phủ lên mặt liệt sĩ. Hưng bước ra trước đám đông, nói bằng tiếng Khơ-me. Na Ri mở to mặt nhìn Hưng. Cô thấy mái tóc xoăn tự nhiên rất đẹp của anh xõa xuống trán, đôi mắt như có lửa. Từng lời của anh như rót vào tai cô, như dòng nước thấm vào ngực.

        - Thưa bà con, Hưng nói, bọn phỉ Pôn Pốt nói rằng chúng chỉ bắn người việt Nam, không bắn người Khơ-me. Nhưng hôm nay chúng đã bắn chết một người đồng bào của bà con, một người Khơ-me Căng-đan, một người bạn của tôi. Người bạn của tôi đây, ai trông thấy mà không biết đó là một người Khơ me Căng-đan chính cống. Bạn tôi có vợ con ở Căng-đan. Bây giờ vợ con bạn không bao giờ còn được thấy mặt bạn nữa. Bạn đã hy sinh thân mình vì nước Campuchia mới. Vì vậy tôi xin bà con hãy làm lễ cầu hồn cho liệt sĩ. Tôi hứa trước linh hồn bạn, tôi sẽ trả thù cho bạn.

        Quanh Na Ri nhiều người đưa tay lau nước mắt. Hưng nói tiếng Khơ-me chưa thạo, còn có chỗ sai, nhưng ý tứ của anh sáng sủa. Anh ấy trẻ người mà ăn nói chững chạc, mà dễ nghe quá. Bất chợt Na Ri bắt gặp mình nghĩ quá nhiều về anh người Việt, dơ quá, xấu hổ quá. Nhưng quê anh ta ở đâu, bố mẹ anh già hay trẻ, có đông anh em không? Vợ anh ta chắc phải xinh đẹp lắm? Sau này Na Ri có hỏi Hưng về chuyện đô, nhưng chỉ một lần. Hưng đáp rằng vợ anh chỉ là một cô gái bình thường, không đẹp cũng không xấu. Nhưng Úc Nhem lại bảo rằng anh chưa có vợ. Mỗi ngươi nói một đường, biệt tin ai. Na Ri muốn tin lời của Úc Nhem hơn.

        Tối hôm ấy bố Na Ri đã mời Hưng ăn cơm, ông dọn món mắm bò hoóc và món cheo. Na Ri thấy thế thì biết rằng bố đã coi anh là người thân thiết, tin cậy rồi. Bố cô ngồi với anh đến khuya, mặc dù chai rượu không cạn được phân nửa. Bố Na Ri chậm rãi, nói như mở gan ruột mình:

        - Tao nói thật với mày vì coi mày như anh trai của Na Ri (riêng điều ấy Na Ri không thích). Bộ đội Việt Nam rất tốt, đã giúp nhân nhân Campuchia đánh được Pháp, đánh được Mỹ, nhưng giúp xong lại rút về nước. Lần này bộ đội Việt Nam sang giúp nhân dân Campuchia đánh bọn diệt chủng sẽ lại rút về nước. Bọn ngoài rừng nói, con chim đậu rồi bay, cành cây không bay theo được. Lại nói, thuyền đậu rồi thuyền lại đi, bến không đi theo được. Bộ đội Việt Nam rút đi rồi, chúng nó trở lại, giết dân Campuchia một lần nữa. May bảo, vậy thì ai dám thân thiện với chúng mày.

        Hưng nắm tay bố Na Ri, giọng xúc động:

        - Bây giờ con mới thật hiểu bố. Con nói thế nay để bố nghe, bộ đội Việt Nam sẽ giúp nhân dân Campuchia xây dựng cuộc sống mới không cho bọn diệt chủng quay lại nữa. Nhất định thế đấy bố ạ.

        - Ừ, ừ - bố Na Ri lắc lư cái đầu bạc - Phải như vậy chứ, mà cái lý là phải như vậy, tao nói có đúng không Na Ri?

        Na Ri bất ngờ bị bố hỏi, ngượng đỏ mặt, đáp li nhí:

        - Đúng thế ạ!

        Hưng cho xuồng máy chạy sát vào bờ hòn đảo xanh nổi lên giữa dòng Mê Kông. Một bầy khỉ đùa nhau chí chóe vọt vội lên cao, mỗi con bám vào một cành cây, giương mắt thao láo nhìn chiếc xuồng với đôi trai gái. Hưng giơ nắm tay lên dọa, bày khỉ cũng bắt chước dọa lại. Na Ri không nhịn được, cười khanh khách. Hưng thấy ngượng vội tìm cách lảng chuyện:

        - Mới xa Luông Sval hai tháng mà anh cứ ngỡ đến hai năm.

        - Về Việt Nam là anh quên Luông Sval ngay thôi!

        - Ôi, Na Ri, em nghĩ gì thế? Anh không bao giờ quên Luông Sval đâu, vì anh đã là "ma" của đất Luông Sval rồi mà.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM