daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #440 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:51:47 pm » |
|
Đạn phản lực rải mìn chống bộ binh 9M16 Được sử dụng để tạo thành các trận địa mìn từ xa. Có đầu đạn mẹ - con với mìn chống bộ binh POM-2. Khối lượng: 56,4kg, khối lượng đầu đạn: 21,6kg. Chiều dài: 3019mm. Tầm bắn: 13,4km. Số lượng mìn: 5. Diện tích lan tỏa của mình sau một loạt bắn của xe: 250m2.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #441 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 07:58:32 pm » |
|
Đạn phản lực rải nhiễu vô tuyến 9M519 Được sử dụng để tạo ra các dải nhiễu vô tuyến nhằm mục đích hạn chế các hệ thống điều kiển của đối phương trong mắt xích chiến thuật bằng cách chế áp tuyến thông tin liên lạc vô tuyến, các trạm điều khiển của quân đội và pháo binh, các trạm phân tích thông tin mặt đất. Tổ hợp 9M519 gồm 8 đạn giống nhau về khối lượng kích thước và tính năng khí động học chế áp các khí tài vô tuyến, hoạt động trong phạm vi tần số từ 1,5 đến 120MHz. Khối lượng: 66kg, khối lượng đầu đạn: 18,4kg. Chiều dài: 3025mm, Tầm bắn: 18,5km. Các tính năng kỹ thuật của bộ cảm biến nhiễu R-032: dạng và kiểu nhiễu: ngăn chặn, tiếng ồn; thời gian hoạt động liên tục: 60 phút, bán kích hoạt động: 700 mét.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #442 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2010, 08:03:48 pm » |
|
Đạn phản lực hóa học – nổ mảnh 9M23 Được nạp 3,11kg chất hóa học R-35 hoặc 2,83 chất hóa học R-33. Ngoài ra, trong đầu đạn còn có 1,8kg thuốc nổ khi nạp chất “R-35” hoặc 1,39kg khi nạp chất “R-33”. Đạn 9M23 được trang bị ngòi nổ cơ học MRV (9E210) và ngòi nổ định vị (9E310) có thể kích nổ trên độ cao 1,6 đến 30 so với mặt đất. Vụ nổ trên không làm tăng cường một cách đáng kể khu vực hoạt động hiệu quả của các mảnh nổ và chất độc. Đạn 9M23 mang lại 760 mảnh nổ với khối lượng trung bình 14,7g. Tầm bắn với ngòi nổ định vị: 18,8km.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #443 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2010, 03:08:55 pm » |
|
Thông tin lịch sử  Lịch sử pháo phản lực bắn loạt thế hệ thứ hai của Liên Xô được bắt đầu từ giữa những năm 1950, khi mà yêu cầu tổ chức thành lập các hệ thống tiểu đoàn pháo bắn loạt với tầm xa trên 20km, được sử dụng nhằm tiêu diệt sinh lực, các đơn vị kỹ thuật không bọc thép của kẻ thù trong chiều sâu trận địa phòng ngự chiến thuật gần nhất. Hệ thống pháo tên lửa bắn loạt “Grad” được thiết kế nhằm thay thế các hệ thống BM-14 với đạn phản lực M-14 thuộc thế hệ đầu tiên sau chiến tranh. Đầu tiên, năm 1957, các công việc nghiên cứu hệ thống pháo phản lực chiến trường thế hệ mới được Cục Pháo – Tên lửa giao cho Phòng thiết kế Sverdlov số 203 (Tổng công trình sư A.I.Yaskin). Hệ thống pháo phản lực được thiết kế dưới sự tiếp nhận thiết kế không thành công trong các công việc phát triển đạn phản lực phòng không không điều khiển kiểu “Strizh” (“Voron”). Theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, trên xe chiến đấu dự định bố trí 30 rãnh dẫn hướng cho hệ thống tên lửa. Nhiệm vụ này không thực hiện được do các đặc điểm thiết kế của tê lửa và sự hạn chế theo các kích thước trên các xe chiến đấu bố trí tổng cộng 12 – 16 rãnh dẫn hướng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #444 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2010, 03:09:39 pm » |
|
 Trong Phòng thiết kế số 203 đã xác định rằng để đáp ứng các tính năng kỹ chiến thuật, cần thiết phải hoàn thiện lại các tên lửa (trong các chi tiết nhằm giảm kích thước đạn và tăng số lượng rãnh dẫn hướng, làm cánh đuôi ổn định gấp – mở được). Đây là công việc được giao cho công trình sư V.V.Vatolin - người đã chứng tỏ tài năng không tồi khi thiết kế BM-14-17. Đáng chú ý là các cánh đuôi ổn định không chỉ thiết kế gấp – mở một cách đơn giản mà được uốn cong theo mặt phẳng hình trụ với đường kính đạn 122mm. Trong trường hợp này, các rãnh dẫn hướng có thể thiết kế bằng các ống như BM-14-17. Bản vẽ phác họa của xe chiến đấu với phiên bản tên lửa mới đã được trình bày, trong đó có trường hợp có thể đáp ứng các nhiệm vũ kỹ chiến thuật và bố trí 30 ống dẫn hướng. Để tiếp tục các công việc tiếp theo về hệ thống tên lửa, cần tìm các nhà thiết kế tên lửa. Phòng thiết kế số 203 đã tìm kiếm người thực hiện công việc này. Xưởng pháo binh Chelyabinsk số 66 và xưởng Sverdlov số 8 mang tên M.I.Kalinhin đã từ chối tiếp nhận công việc. Công việc thiết kế đạn đã thu hút được sự tham gia của Viện Nghiên cứu khoa học số 147 – cho đến thời điểm đó chưa có kinh nghiệm trong việc thiết kế này. Và vào năm 1958, tại Viện Nghiên cứu khoa học số 147, dưới sự chỉ đạo của A.N. Ganichev đã bắt đầu khởi xướng các công việc thiết kế đạn phản lực. Công việc nhanh chóng đã nhận được sự ủng hộ của Ủy ban quốc gia về kỹ thuật quốc phòng (lệnh của Ủy ban quốc gia về kỹ thuật quốc phòng từ ngày 24 tháng 2 năm 1959).
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Mười Hai, 2010, 04:25:22 pm gửi bởi daibangden »
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #445 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2010, 03:56:03 pm » |
|
 Thực tế các công việc thiết kế đạn phản lực là cuộc thi đua về cơ bản giữa Viện Nghiên cứu khoa học số 147 và Viện Nghiên cứu khoa học số 1. Viện Nghiên cứu khoa học số 1 đã trình bày bản đồ án hoàn thiện đạn phòng không phản lực kiểu “Ctrizh”. Theo các kết quả quan sát theo hai bản đồ án, Cục Pháo – tên lửa đã đánh giá đạn của Viện Nghiên cứu số 147 cao hơn. Một trong những điểm nổi trội hơn là công nghệ chế tạo thân đạn phản lực. Viện Nghiên cứu số 1 đã trình bày sự chế tạo đạn bằng phương pháp tiện từ ống có thành dày. Còn Viện Nghiên cứu số 147 đã tiếp nhận công nghệ chế tạo vỏ đạn phản, sự chế tạo đạn phản lực của Viện được thực hiện bằng phương pháp vuốt nóng. Viện Nghiên cứu khoa học số 147 đã thiết kế đạn với hệ thống ổn định hỗn hợp. Đạn được giữ cân bằng bởi cánh đuôi và bằng cách quay. Mặc dù sự quay có tốc độ không lớn – 10 vòng/phút, và không tạo được hiệu quả đạt yêu cầu. Điều này được bù đắp bằng độ nghiêng của lực kéo trong động cơ, loại trừ được nguyên nhân tản mát quan trọng nhất của đạn. Trong quá trình thiết kế bản vẽ phác thảo và thiết bị phóng, các nhà thiết kế đã thảo luận một vài phiên bản thiết kế của phần tử ổn định một cách tương ứng với thiết kế của ống phóng dẫn hướng. Việc này nghĩa là phải gắn cố định một cách thường xuyên cánh đuôi trên thân đạn và khung dẫn hướng hoặc cánh đuôi dẫn hướng được mở ra sau khi đạn ra khỏi ống dẫn hướng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #446 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2010, 04:34:42 pm » |
|
 Theo các tính toán, khi sự dẫn hướng khí động học của sự ổn định trong đường bay được mở ra sẽ tồi hơn bởi sự xuất hiện các rãnh cố định trong bản lề của chúng. Điều này mang tới sự rung, lắc trong bộ phận ổn định trong khi bay và giảm độ tin cậy chung của đạn phản lực. Các cánh ổn định được cố định một cách cứng nhắc không có các nhược điểm tương tự, tuy nhiên, ống dẫn hướng cho chúng sẽ chiếm vị trí rất lớn (theo so sánh với các ống dẫn hướng cho đạn với các cánh ổn định gấp – mở) và việc bố trí chúng trên xe chiến đấu xe bị giảm đáng kể về số lượng. Vì thế, để kiểm tra thí nghiệm về sự ảnh hưởng của cấu trúc bộ phận ổn định tới sự chính xác của đạn tên lửa, cả hai mẫu đạn đã được chế tạo, còn trên gầm cơ sở của xe M-14 – hai phiên bản của ống dẫn hướng. Các kết quả bắn kiểm tra diễn ra trên trường bắn “Staratel” thuộc Hạ Tagil không xuất hiện những điểm nội trội đặc biệt của đạn với bộ phận ổn định được cố định cứng. Trong kết quả do sự vượt trội rõ ràng về bố cục trong đạn phản lực “Grad”, lần đầu tiên trong các hệ thống pháo phản lực bắn loạt của Liên Xô tiếp nhận loại đạn bốn cánh đuôi dạng uốn cong trong vị trí phức tạp (chúng được cố định bằng cách vành đặc biệt), tiếp xúc một cách khít với mặt phẳng hình trụ của thùng đôi và không làm ảnh hưởng tới kích thước của đạn. Cánh đuôi ổn định của đạn chỉ được mở ra sau khi đạn rời khỏi ống phóng dẫn hướng. Trong kết quả, A.N.Ganichev đã tiếp nhận thành công loại tên lửa rất thuận lợi và phù hợp với ống dẫn hướng với với yêu cầu hình xoắn ốc cho sự xoay ban đầu của tên lửa. Trong khi bay, sau khi bay ra từ ống dẫn hướng, sự ổn định của đạn được bảo đảm bởi sự hỗ trợ của các cánh ổn định và bằng sự quay của đạn theo trục dọc. Sơ tốc quay ban đầu nhận được trong kết quả của tương tác của trục dẫn động của đạn và khe dẫn hướng dạng trục hình chữ P được tăng cường trong khi bay với sự hỗ trợ của các cánh ổn định bố trí dưới góc 1 độ theo trục dọc của đạn. Hệ thống ổn định này đã chứng minh gần như tối ưu. Trong sự phối hợp với động cơ công suất lớn từ thuốc súng một khối thuốc mồi đã thành công trong nhiệm vụ bảo đảm đạt tầm bắn 20km.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #447 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2010, 07:47:50 pm » |
|
 Bằng cách này, tập thể các công trình sư dưới sự lãnh đạo của A.N.Granichev đã thành công khi trong việc kéo dài cánh của đạn phản lực theo các kích thước ngang mà không ảnh hưởng tới giới hạn đường kính tên lửa, và thành công khi lắp đạn vào thiết kế dẫn hướng cho đạn phản lựcd dạng ống. Đồng thời, họ cũng thành công trong việc phối – kết hợp các ưu điểm cơ bản của hai loại đạn được tiếp nhận trong các hệ thống phản lực bắn loạt. Các lần bắn thí nghiệm động cơ đạn phản lực được bắt đầu năm 1960, khi đó, trong khuôn khổ thí nghiệm cấp cơ sở đã trải qua 53 lần, cấp quốc gia: 81 lần. Sự tổ chức nhanh chóng các tiểu đoàn dã chiến trang bị pháo phản lực nhận tên gọi “Grad”, được chính thức ban hành bởi Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng từ 30 tháng 5 năm 1960 số 578 – 236. Các yêu cầu kỹ - chiến thuật của Cục pháo- tên lửa cho hệ thống pháo phản lực bắn loạt dưới số 0010044 được phê chuẩn ngày 10 tháng 10 năm 1960. Nơi thiết kế hệ thống chính được xác định là Viện Nghiên cứu khoa học số 147. Tổng công trình sư của hệ thống “Grad” là A.N.Ganichev.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Mười Hai, 2010, 08:19:13 pm gửi bởi daibangden »
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #448 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2010, 08:04:30 pm » |
|
 Các nơi thiết kế chính theo đề tài “Grad” được giao cho các xí nghiệp: Viện Nghiên cứu khoa học số 147 – cơ quan chính về thiết kế tổng thế hệ thống pháo phản lực bắn loạt thiết kế công nghệ và trang bị cho việc chế tạp thân đạn phản lực, Viện Nghiên cứu khoa học số 6 – nơi thiết kế nhiên liệu thuốc đạn rắn và động cơ, công nghệ sản xuất, Phòng Thiết kế quốc gia số 47 – nơi thiết kế trang bị bộ phận chiến đấu (đầu đạn), Phòng Thiết kế số 203 – nơi thiết kế thiết bị phóng – xe chiến đấu BM-21. Một trong những yếu tố chính của hệ thống pháo phản lực bắn loạt là thiết bị phóng – xe chiến đấu BM-21 (số hiệu của Cục Pháo – tên lửa: 2B5). Trong thiết kế, cơ sở của thiết bị BM-21 được sử dụng toàn bộ các công nghệ được sử dụng khi thiết kế thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không 9P12 “Kub”, - hình dạng và cấu trúc của hộp được hàn từ các tấm thép. Bên trong gầm xe bố trí các cơ cấu dẫn bắn. Trong thành phần gầm xe chiến đấu đã lựa chọn xe vận tải quân đội cơ động cao “Ural-375” - được sản xuất quy mô lớn ở xưởng xe tải Miasskyi từ năm 1961. Xe vận tải “Ural-375” được đặt mua bởi Bộ Quốc phòng Liên Xô và để tăng sức cơ động, xe có ba trục, tất cả đều là trục dẫn động. Ban đầu, nóc xe là vải bạt không thấm nước. Để sản xuất cho xe chiến đấu của hệ thống pháo phản lực đã yêu cầu nóc xe bằng kim loại. Vì thế, Phòng thiết kế số 203 đã thông báo tới xưởng Miasskyi với yêu cầu về chế tạo xe hơi có cabin bằng kim loại hoàn toàn. Tiếp theo (trong các thí nghiệm xe) được tăng cường tuổi thọ của trục cân bằng và thực hiện các thay đổi khác về thiết kế và hoàn thiện. Kết quả là xuất hiện xe tải “Ural-375D”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #449 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2010, 08:23:05 pm » |
|
 Cuối năm 1961, đã có hai xe chiến đấu BM-21 thí nghiệm được chế tạo, khi đó chúng đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng. Tháng 12 năm 1961, Cục Pháo – tên lửa đã cho chế tạo 2 xe và 500 đạn phản lực. Các thí nghiệm trên trường bắn cấp quốc gia của “Grad” được bắt đầu từ mùng 1 tháng 3 năm 1962 trên trường bắn pháo binh Pzhevka ngoại ô Leningrad. Trong tháng 3 đến tháng 5, BM-21 đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước và binh chủng. Hai xe chiến đấu BM-21 đã bắn 663 đạn phản lực và xe hoàn thành hành trình việt dã 10 000km. Xe thí nghiệm khi đó dưới chỉ số 2B5 đã trải qua 3380km, trục gầm xe đã bị gãy. Các thí nghiệm đã được khôi phục, gầm xe mới nhanh chóng được hoàn thiện. Trên các xe này đồng thời cũng bị gẫy, trong số đó xuất hiện cả sự gãy cầu trước và sau, sự gãy trục các – đăng cũng xảy ra. Sauk hi toàn hiện toàn bộ tổ hợp thí nghiệm theo Mệnh lệnh của Hội đồng Quốc phòng số 572-130 từ 28 tháng 3 năm 1963. “Grad” được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang. Trong cùng năm đó, hệ thống được sản xuất tại Kubinka theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng N.S.Khrutsev. Theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô từ ngày 29 tháng 1 năm 1964 số 98-32, “Grad” được sản xuất hàng loạt. Sự sản xuất quy mô lớn BM-21 được bắn đầu năm 1964 tại xưởng xe máy Perm mang tên V.I.Lenin (xưởng số 172). Trong cuộc duyệt binh tháng 11 năm 1964, những loạt xe BM-21 đầu tiên đã diễu qua Quảng trường đỏ. Do các vấn đề trong xưởng Perm, chúng không được hoàn thiện – thiếu bộ truyền động điện của bộ phận pháo.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|