Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:11:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2  (Đọc 387659 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #470 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2010, 06:15:01 pm »

DP-62 “Damba”



Hệ thống DP-62 “Damba” được giới thiệu là hệ thống phóng (rải) bom (thủy lôi) tự hành phòng thủ bờ biển.

Tổ hợp DP-62 “Damba” được sử dụng nhằm tiêu diệt các lực lượng người nhái, biệt kích và khí tài của kẻ thù dạng tàu ngầm siêu nhỏ và tàu ngầm trong nhiệm vụ phòng thủ chống biệt kích tại cửa vào các khu đỗ tàu và căn cứ tàu chiến, đòng thời bảo vệ các khu vực lãnh hải quốc gia.

Nhà thiết kế chính của tổ hợp “Damba” – Viện Nghiên cứu khoa học lắp ráp xe máy chính xác Tula (nay là “Doanh nghiệp “Splav” (thành phố Tula)). Ngày 21 tháng 12 năm 1969, theo mệnh lệnh của Hội đồng Quốc phòng Liên Xô số 999-362 về việc bắt đầu thiết kế thí nghiệm về việc chế tạo tổ hợp phản lực tự hành chống biệt kích “Damba”. Khi thiết kế tổ hợp, kinh nghiệm chế tạo hệ thống pháo phản lực phóng loạt cho Lục quân “Grad” và “Grad-1”. Sự thiết kế tổ hợp “Damba” được hoàn thành năm 1980. Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô số 0257, tổ hợp “Damba” được tiếp nhận vào trang bị của Hải quân Liên Xô. Sự sản xuất xe vận tải trong thành phận tổ hợp được giao cho xí nghiệp “Motovilikhin zavod” (thành phố Perm).

Việc xuất khẩu tổ hợp “Damba” được quyết định bằng mệnh lệnh của Tổng thống Nga số 8S4 từ ngày 25 tháng 7 năm 1998. Tổ hợp “Damba” trong hình thức xuất khẩu mang tên “Tổ hợp phòng thủ bờ biển phóng (rải) bom (thủy lôi) phản lực tự hành “Damba” (số DP-62E)”. Trong phiên bản xuất khẩu, các thiết bị và tài liệu liên quan khác với các yếu tố mà tổ hợp sử dụng trong Hải quân Nga.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười Hai, 2010, 06:41:25 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #471 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2010, 06:40:59 pm »

Trong tổ hợp rải mình phòng thủ bờ biển DP-62E  gồm có:

+ đạn phản lực không điều khiển PRS-60

+ xe chiến đấu BM-21PD

+ tổ hợp trang bị kỹ thuật 95TO

+ tổ hợp tài liệu khai thác sử dụng

Tổ hợp hoạt động trong sự kết hợp với đài thủy âm trong hệ thống phòng thủ bờ biển hoặc trong chế độ tự động. Tổ hợp có khả năng cơ động cao.


Đạn phản lực không điều khiển PRS-60

Đạn phản lực không điều khiển PRS-60 được sử dụng nhằm tiêu diệt các lực lượng biệt kích người nhái và các các khí tài bằng đầu đạn nổ nổ trên độ sâu từ 3 đến 20 mét. Đầu đạn nổ được nạp 20kg thuốc nổ. Nhờ đầu mút hình đĩa của đầu đạn, đạn PRS-60 bảo đảm sự không nảy ra khỏi mục tiêu trong toàn bộ phạm vi tầm xa từ 300 đến 5km. Đạn PRS-60 được lắp trong tổ hợp với ngòi nổ 95V (nơi thiết kế Viện Nghiên cứu khoa học “Poisk” – thành phố St. Peterburg). Theo yêu cầu của khách hành, có đạn phản lực không điều khiển 122mm PRS-60UT với đầu đạn quán tính và mô hình ngòi nổ lớp dành cho việc huấn luyện.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #472 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2010, 07:02:14 pm »



Xe chiến đấu BM-21PD được sử dụng nhằm bảo đảm khả năng bắn đạn từ 40 ống dẫn hướng. Tổ hợp có thể bắn từng viên, bắn lần lượt hoặc phóng loạt. Xe chiến đấu BM-21PD được thiết kế trên gầm xe tải có khả năng cơ động cao Ural-375D (Ural-4320), được đồng nhất một cách tối đa với BM-21 của hệ thống pháo phản lực bắn loạt “Grad” và được tăng cường bộ chỉnh lưu với thiết bị lọc. Bằng cách này, thiết bị truyền động điện của BM-21PD có thể hoạt động như một trạm cung cấp năng lượng riêng cũng như với sự hỗ trợ của bộ chỉnh lưu từ mạng lưới điện công nghiệp với hiệu điện thế 380V và tần số dòng điện 50Hz. Sự điều khiển phóng có thể từ cabin xe chiến đấu hoặc từ hầm kín. Xe chiến đấu được trang bị một tổ hợp thiết bị phụ tùng riêng. Sự chuyển giao và thành phần nhóm các thiết bị phụ tùng được xác định bằng hợp đồng.

Xe vận tải (TM) với tổ hợp giá đỡ đồng nhất 9F37M (2 giá đỡ, 20 viên đạn/giá) được sử dụng cho nhiệm vụ vận tải đạn, cung cấp chúng cho xe chiến đấu và khi cần thiết dành cho việc bảo vệ đạn trên giá, đồng thời vận chuyển các thùng chứa với ngòi nổ. Gầm xe biến thể của Zil-131 được sử dụng làm cơ sở cho xe vận tải.

Tổ hợp trang bị kỹ thuật 95T) được sử dụng cho việc tiến hành  các công việc thao tác với đạn trong quá trình bảo quản chúng tại căn cứ hoặc trong kho. Tổ hợp các khí tài học tập và huấn luyện được sử dụng để huấn luyện và chuẩn bị cho kíp xe.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #473 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2010, 07:08:01 pm »

Thông số kỹ thuật

Đường kính đạn PRS-60: 122mm

Chiều dài: 2745mm

Khối lượng đạn: 75,3kg

Khối lượng thuốc nổ trong đầu đạn: 20kg

Tầm bắn (mét)

+ cực đại: 5000

+ cực tiểu: 300

Độ sâu hiệu quả: 3 – 200 mét

Xác xuất tiêu diệt tàu ngầm biệt kích khi bắn nửa giàn (20 viên): 0,99

Thời gian phóng một loạt đạn: 20 giây

Phạm vi nhiệt độ hoạt động hiệu quả: từ -40 đến 50 độ

Số lượng ống dẫn hướng: 40

Khối lượng xe chiến đấu nạp đạn đầy đủ với kíp xe: 14 620kg

Kíp xe: 3 người

Tốc độ di chuyển tối đa: 75km/h

Khả năng vượt dốc sâu: 1,5 mét

Khối lượng xe vận tải – nạp đạn: 9500kg

Số lượng đạn trên xe vận tải: 40

Số lượng ngòi nổ trên xe vận tải: 40.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #474 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2010, 02:37:35 pm »

9K510 “Illyuminatsia”

Hệ thống pháo phản lực bắn loạt sử dụng cho việc bắn đạn vạch sáng.

Hệ thống phản lực mang vác 9K510 (“Illyuminatsia”) được thiết kế bởi các chuyên gia thuộc Hiệp hội Nghiên cứu khoa học “Splav” (hiện nay là Doanh nghiệp Nghiên cứu khoa học “Splav”, thành phố Tula) và các xí nghiệp liên quan. Năm 1989, việc thiết kế kết thúc. Hệ thống được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang theo mệnh lệnh số 048 của Tư lệnh quân chủng Lục quân từ 29 tháng 12 năm 1989.

Hệ thống gồm có: đạn phản lực không điều khiển 9M42, thiết bị phóng 2P312, bảng điều khiển phóng 9P611.

Khi bắn từ thiết bị phóng phản lực mang vác 2P132, đạn phản lực không điều khiển 9M42 với đầu đạn vạch sáng được sử dụng nhằm bảo đảm ánh sáng cho các hoạt động chiến đấu khi hoạt động trong điều kiện ban đêm của các phân đội bảo vệ biên giới và các công trình quan trọng, trong các tình trạng khẩn cấp và hiện tượng thiên tai.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #475 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2010, 03:09:13 pm »

Thông số kỹ thuật

Thiết bị

Khối lượng: 35kg

Chiều dài ống dẫn hướng: 1400mm

Góc tầm

+ cực tiểu: 25 độ

+ cực đại: 40 độ

Góc hướng: - 8 đến 8 độ

Đạn phản lực không điều khiển 9M42

Đường kính đạn: 122mm

Chiều dài: 1760mm

Khối lượng: 27kg

Tầm bắn

+ gần nhất: 1000 mét

+ xa nhất: 5000 mét

Thời gian phát sáng trong không khí: 90 giây

Phạm vi diện tích chiếu sáng khi độ chiếu sáng 2lx (lux): 500 mét
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #476 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2010, 03:40:40 pm »

A-215 “Grad-M”



Hệ thống phản lực bắn loạt 122mm A-215 “Grad-M” được sử dụng cho nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch và khí tai kỹ thuật trên bờ khi đổ bộ, yểm trợ hoạt động đổ bộ, đồng thời dành cho việc phòng thủ các tàu đổ bộ khỏi sự tấn công của tàu chiến địch trong khi hoạt động trên biển. Tốc độ bắn cao và tầm bắn xa bảo đảm hiệu quả hỗ trợ hỏa lực cho lực lượng lính thủy đánh bộ.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật khi thiết kế hệ thống pháo phản lực A-215 trên tàu trên cơ sở hệ thống pháo phản lực Lục quân 9K51 “Grad” được phê chuẩn bởi Bộ Tư lệnh Hải quân ngày 12 tháng 1 năm 1966. Mẫu thí nghiệm đầu tiên của thiết bị phóng được chuẩn bị vào giữa năm 1969 tại xưởng số 172. Trong quý 3 và 4 năm 1969, mẫu đã trải qua các thí nghiệm của xưởng ở Perm, còn sau đó được đưa đi thí nghiệm tại các trường bắn trên bộ. Trong quý 1 năm 1970, tiêu bản thứ hai đã được xưởng hoàn thành. Bộ phận nạp đạn và các bộ phận trên boong tàu khác của thiết bị được sản xuất tại xưởng “Barrikada”.

Các thí nghiệm trên tàu của tổ hợp A-215 diễn ra trên biển Baltic từ 20 đến 7 tháng 5 năm 1972 trên tàu đổ bộ cỡ lớn BDK-104 thuộc thiết kế số 1171 (tên trong xưởng số 300). Trong quá trình thí nghiệm đã bắn 300 viên đạn M-21OF khi sóng biển cấp 6. Khi đó, các vấn đề vướng mắc và hỏng hóc không xuất hiện sau khi loại bỏ hoạt động tiếp xúc không đáng tin cậy của đạn xuất hiện khi lắp vào ống dẫn hướng phóng của thiết bị.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười Hai, 2010, 04:03:05 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #477 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2010, 04:06:36 pm »

Theo kết quả các cuộc thí nghiệm trên tàu, A-215 đã được xác nhận và tiếp nhận trong trang bị của tàu chiến lớp 1171 (tên trong xưởng số 295 – 301…) và tàu thiết kế số 1174 (một thiết bị phóng với 320 viên đạn). Sau đó Viện Nghiên cứu khoa học trung ương tự động và thủy lực học – MOP (kim loại – oxit và chất bán dẫn) và LOMO (Hiệp hội quang học cơ khí Leningrad) đã thiết kế sơ đồ ổn định gián tiếp tự động. Trên cơ sở đó, năm 1977, thiết bị quan sát đo xa mới DVU-2 đã được chế tạo. Hệ thống A-215 với DVU-2 được tiếp nhận vào lực lượng vũ trang năm 1978.


Thiết kế số 1171

Hệ thống pháo phản lực nâng cấp A-215 “Grad-M” nằm trong trang bị của các tàu pháo cỡ nhỏ thuộc thiết kế 21630 dòng “Buyan”. Tàu đầu tiên của thiết kế 21630 được khởi công ngày 30 tháng 1 năm 2004 tại thành phố Saint Peterburg trên xưởng đóng tàu “Almaz” và nhận tên gọi “Astrakhal” (tên gọi của xưởng: số 701). Ngày 7 tháng  2005, tàu được hạ thủy và năm 2006, gia nhập biên chế. Đến năm 2010, trong xưởng đóng tàu của “Almaz” dự định đóng 7 tàu trong dòng này (theo thông tin khác – 15 tàu đến 2015).

Hai hệ thống A-215 với cơ số đạn chung 320 tên lửa được bố trí trên tàu đổ bộ cỡ lớn mới thuộc thiết kế 11711 (do Phòng thiết kế Neva thiết kế). Tàu đầu tiên trong dòng nhận tên gọi “Phó đô đốc Ivan Gren” được khởi công tại xưởng đóng tàu “Yantar” thuộc Pribaltic ở Kaliningrad tháng 12 năm 2004, thời gian đưa vào hoạt động: đầu năm 2009.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #478 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2010, 04:24:00 pm »


Thiết kế số 1174

Trong thành phần tổ hợp A-215 “Grad-M” có:

+ thiết bị phóng trên boong tàu MS-73 (MS73M) với thiết bị nạp đạn dưới bong tàu

+ khí tài quan sát do xa bằng tia laze DVU-2

+ hệ thống điều khiển bắn PS-73 “Groza”

+ đạn phản lực không điều khiển 122mm

Trong cơ số đạn, loại đạn cơ bản được sử dụng là đạn nổ - nổ mảnh 9M22U – bảo đảm tầm bắn của hệ thống: 20km. Cơ số đạn: 160 viên

Trong hệ thống pháo phản lực bắn loạt A-215 có thể tiếp nhận đồng thời các loại đạn phản lực mới:

+ A3-TS-48 với đầu đạn nhiệt áp

+ A3-DS-48 tăng cường uy lực.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #479 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2010, 04:48:04 pm »


Thiết kế số 21360 (tàu pháo lớp Buyan - "Astrakhal")

Để dẫn bắn từ xa và ổn định trong các điều kiện lắc (tròng trành) trên biển, thiết bị phóng MS-73 được trang bị thiết bị dẫn động tự động hóa. Thiết bị nạp đạn dưới boong tàu dạng mặt trống bố trí 8 khối phóng, mỗi khối 20 tên lửa không điều khiển. Khi nạp đạn, các khối được truyền theo cặp tới ống dẫn hướng của thiết bị phóng theo đường thẳng đứng. Sau loạt phóng, khối đạn rỗng được đưa trả lại tới mặt trống và cặp tiếp sau được đẩy tới ống dẫn hướng. Thời gia nạp đạn cho thiết bị phóng không quá 50 giây, thời gian nạp đạn lại: 2 phút. Hoặc lực được bắn trong chế độ tự động theo các dữ liệu của hệ thống điều khiển bắn – theo dàn hoặc từng viên. Khoảng cách giữa mỗi viên đạn được phóng trong chế độ bắn loạt: 0,5 giây. Thiết bị phóng cho phép thực hiện sự nâng cấp sâu rộng trong việc tiếp nhận các loại đạn cho đến đạn phòng không tầm thấp. Có thể tạo thành sự liên kết hệ thống phóng trong tổ hợp pháo – tên lửa độc lập của các tàu vận tải.

Hệ thống khí tài điều khiển bắn PS-73 “Groza” được thiết kế cho tổ hợp. Hệ thống khí tài điều khiển bắn bảo đảm việc báo sự xuất hiện của đạn trong ống dẫn hướng; sự tiếp nhận tự động các tọa độ hiện tại của mục tiêu; phân tích tự động và liên tục các góc dẫn bắn đầy đủ cho thiết bị phóng; đưa ra lệnh phóng đạn.

Phiên bản bố trí thiết bị phóng không có thiết bị nạp đạn với cơ số đạn một lần băn, nạp đạn bằng tay cũng đã được thiết kế.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM