Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:31:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật vụ Trân Châu Cảng  (Đọc 55432 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #30 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 09:54:59 am »

Trong thời gian đó, các bộ tham mưu liên quân Đồng Minh đang hối hả chỉ đạo việc tập luyện để sẵn sàng “nhảy xuống Béc-lanh". Một kế hoạch chiếm Béc-lanh bằng nhảy dù đã được xây dựng và hoàn tất. Các sư đoàn không quân của Anh và Mỹ sẽ đảm nhiệm thực hiện kế hoạch này. Người ta đã xây dựng những sa bàn về Béc-lanh và các sân bay ở xung quanh Béc-lanh để luyện tập.

Tất cả đều đã sẵn sàng và chỉ còn chờ mệnh lệnh tối cao của Ai-xen-hao (viên tướng Mỹ được chỉ định là Tổng chỉ huy liên quân Anh - Mỹ, sau này sẽ là Tổng thống Mỹ).

Ngày 25 tháng 3 năm 1945 , quân đoàn số Bảy nhận được những tin tức kỹ hơn về pháo đài An-pơ. Đối phương chở đến đây những kho quân nhu, vũ khí cho hàng trăm nghìn người: tám mươi đơn vị tinh nhuệ mỗi đơn vị từ một ngàn đến bốn ngàn người. Hàng đoàn tàu hoả liên tục chở đến những vũ khí tối tân nhất, những phương tiện chiến đấu hiện đại nhất. Nhiều nhà máy ngầm dưới đất chuyên sản xuất vũ khí đang được tiếp tục xây dựng.

Ba ngày sau, ngày 28 tháng 3 năm 1945, Ai-xen-hao thông báo cho Xta-lin biết về kế hoạch mới: Trước hết quân Đồng Minh mở cuộc tiến công về phía Nam, tiêu diệt hệ thống pháo đài An-pơ chứ chưa tiến công Béc-lanh như đã dự kiến.

Sau đó các Tổng tham mưu trưởng liên quân mới nhận được chỉ thị và người nhận cuối cùng là nguyên soái Mông-gô-mê-ri.

Hồi tháng 9 năm 1944, Aixen-hao tuyên bố "Mục tiêu chính đương nhiên là Béc-lanh" thì ngày 31 tháng 3 năm 1945 nguyên soái Mông-gô-mê-ri nhận được điện: "...Ông nhớ rằng tôi tuyệt đối chưa bao gì nói đến Béc-lanh. Thành phố ấy đối với tôi chỉ mới là một khái niệm về địa lý cho nên chưa bao giờ tôi quan tâm đến. Mục tiêu của tôi là phá tan các lực lượng của đối phương và bẻ gãy sức kháng cự của chúng".

Lúc bây giờ, Soóc-sin và Mông-gô-mê-ri rất bực bội về tính chất ngây thơ của chiến lược Mỹ. Mông-gô-mê-ri điện cho Thủ tướng Soóc-sin là theo ông, người ta đang phạm "một sai lầm kinh khủng".

Xta-lin vội vàng làm cho Bộ chỉ huy tối cao liên quân tin chắc chắn thêm là Béc-lanh đã mất ý nghĩa chiến lược. Ông cho Ai-xen-hao biết rằng chính vì lẽ đó mà trong chiến dịch đánh chiếm Béc-lanh, Liên Xô chỉ sử dụng "những đơn vị loại hai". Thật ra Liên Xô đã chuẩn bị đánh chiếm Béc-lanh bằng những đơn vị tinh nhuệ nhất : hai mươi quân đoàn và một trăm năm mươi binh đoàn lấy từ mặt trận U-cơ-ren và Bạch Nga sang, dưới quyền chỉ huy của nguyên soái Rô-cô-xôp-ki tổng số hơn hai triệu rưỡi lính đã từng tôi luyện trong chiến đấu, bảy ngàn năm trăm máy bay, bốn mốt ngàn sáu trăm đại bác và sáu ngàn ba trăm xe tăng.

Trước các tướng lĩnh và các Bộ tham mưu liên quân, Ai-xen-hao thuyết minh về quy mô và tính chất quyết liệt của cuộc kháng cự tuyệt vọng của quân Đức và nhiệm vụ cấp thiết phải đập tan hệ thống pháo đài An-pơ.

Trái với cơ quan tình báo Mỹ và Ai-xen-hao, người Anh vẫn cho chuyện pháo đài An-pơ chỉ là chuyện bịp bợm. Theo tình báo Anh thì cả Hít-le và Bộ chỉ huy tối cao Đức không thể nào còn có sức để xây dựng những công trình quy mô như vậy để tạo nên một bước ngoặt lớn đối với số phận nước Đức. Những dự kiến xây dựng lớn đều không thể nào thực hiện được vì không quân Đồng Minh đã làm chủ không phận.

Nhưng trên đây cũng chỉ là giả thuyết. Thật ra cho đến cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1945, ngoài người Anh thì ai cũng tin ở pháo đài An-pơ. Binh lính Đức cũng vậy. Họ tin rằng có một cứ điểm hùng mạnh cuối cùng sẽ giúp cho họ chiến thắng.

Sự thật thì thế nào? Trong thời gian ấy, việc xây dựng khu vực An-pơ đã hầu như phải ngừng lại. Cả khu vực tràn đầy những nhân viên của bộ máy hành chính và các bộ sơ tán đến, các bộ chỉ huy cũng chạy đến trú ẩn, trong tay chẳng còn tên lính nào, các nhân viên mặt đất của không quân.v.v. Không một sư đoàn nào còn có khả năng chiến đấu mà lại được điều về vùng An-pơ.

Trong lúc đó, ở Mỹ vừa xuất bản một tập tài liệu nhan đề Pháo đài An-pơ của Hít-le gồm hai mươi bảy trang, bán gần ba đô-la, trong đó có các báo cáo gửi từ Thuỵ Sĩ và Đức về. Tác giả tập tài liệu khẳng định pháo đài An-pơ có thể kéo dài cuộc chiến đấu đến năm năm, ở đó có bốn sư đoàn Sung sướng gồm phần lớn là những người đi săn ở núi An-pơ, được huấn luyện đặc biệt.

Tổng tham mưu trưởng của Ai-xen-hao là tướng Xmit họp báo nói lên mối lo ngại của bộ chỉ huy tối cao và Ai-xen-hao về hệ thống pháo đài An-pơ.

Khi bị chất vấn, ông phải thừa nhận rằng ở Bộ Tổng tham mưu tối cao, người ta không biết cụ thể những cái gì có thật ở pháo đài An-pơ và rồi sẽ tìm thấy những gì ở đó. Nhưng ông ta thú nhận rằng mọi người đều lo sợ. Tóm lại dẫu sao thì pháo đài An-pơ vẫn là vấn đề số một trước mắt và nhất định chúng ta sẽ đánh chiếm khu vực ấy, nếu cần thì thêm sự giúp sức của người Nga.

Trong hàng trăm phóng viên chiến tranh làm việc cho các Bộ tham mưu liên quân, không có một người nào chống lại huyền thoại ấy, ngay cả cơ quan mật vụ, mặc dầu họ thừa nhận là máy bay trinh sát không phát hiện ra một vụ tập trung quân nào cả và xung quanh khu vực cũng không có một cứ điềm nào lớn.

Vài ngày sau, Đít-ma, người phát ngôn chính thức của Chính phủ Đức, chạy trốn khỏi Béc-lanh, đi dọc sông En-bơ đến đấu hàng quân Mỹ. Cơ quan mật vụ thẩm vấn Đít ma, con người có thể tin được, thì y khẳng định câu chuyện pháo đài An-pơ chỉ hoàn toàn là tưởng tượng.

Thế nhưng những tin tức ấy không hề làm thay đổi chiến lược như đã quyết định. Bây giờ cũng như trước kia, những tin tức ngược lại bao giờ cũng được tin hơn. Cho nên sau đó, tướng Bơ-rát-lây, chỉ huy quân đoàn số mười hai Mỹ, đã cho nhiều thượng nghị sỹ Mỹ đến thăm chiến trường, biết rằng các cuộc chiến đấu ở pháo đài An-pơ có thể kéo dài hàng tháng thậm chí cả năm.

Vào trung tuần tháng 4, Ai-xen-hao điều sư đoàn vận số mười ba sang châu Âu. Khi những binh lính được vũ trang hiện đại nhất để phá tan pháo đài An-pơ đến Ăng-ve thì chiến tranh kết thúc. Không còn ai nhắc đến pháo đài An-pơ nữa.

Ngày 29 thắng 4 năm 1945, nhiều đơn vị lính Mỹ và Pháp kéo đến thì thấy chẳng có dấu vết gì ở An-pơ cả.

Ngày 5 tháng 5 họ đến giải phóng lâu đài I-te, nơi từ 1943 bọn phát xít giam cầm những con tin quý nhất của Pháp : hai thủ tưởng cũ Rây-nô và Đa-la-diê, đại sứ Pháp ở Béc-lanh. Tổng tham mưu trưởng Pháp, tướng Ga-mơ-lanh, tướng Vây-găng, cô em của tướng Đờ-gôn v.v..

Sau đó người ta đi tìm các cứ điểm bí mật của pháo đài An-pơ thì lại phát hiện ra cả một kho báu nghệ thuật của châu Âu!

Hơn một ngàn năm trăm thùng lớn đựng các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm tạo hình, các bản thảo... sáu ngàn năm trăm bức hoạ nổi tiếng thế giới. Không có một viện bảo tàng châu Âu nào không có các tác phẩm ở đây. Tập ca-ta-lô dày hơn sáu ngàn trang đánh máy. Để chuyên chở kho tàng nghệ thuật ấy, người ta phải dùng hơn một ngàn xe cam-nhông. Tổng giá trị ước tính khoảng bốn tỷ đô-la.

Ngày 7 tháng 5, toàn bộ lính Đức ở An-pơ đầu hàng không điều kiện. Điều mà tướng Ai-xen-hao tin một cách chắc chắn, cho đến nay vẫn không ai hiểu nổi. Bởi lẽ các cơ quan mật vụ của Đồng Minh thường rất chuẩn xác trong công tác điều tra, phát hiện.

Chẳng hạn sau khi cứ điểm Séc-bua đầu hàng, viên tướng Mỹ đã chỉ cho viên tướng Đức xem bản đồ Séc-bua. Bản đồ này còn chi tiết và chính xác hơn cả bản đồ Đức ! Người Mỹ chẳng những biết rõ số quân lính mà còn biết tên của cả các hạ sĩ quan Đức.

Trong lúc đó, vùng An-pơ thật ra chỉ được bảo vệ rất vừa phải, máy bay trinh sát Đồng Minh xâm nhập chẳng có gì là khó khăn. Cơ quan mật vụ Mỹ lại do một người có tài năng cầm đâu là A-lanh-đơn.

Lúc bấy giờ rõ ràng là người Đức không còn có thể có nguyên liệu và nhân công để thực hiện những công trình xây dựng khổng lồ. Các thung lũng lũng An-pơ lại rất rộng, không thể nào bảo vệ có hiệu quả chống các cuộc oanh tạc của đối phương.

Ai-xen-hao có trong tay đủ mọi phương tiện hiện đại để điều tra, phát hiện, làm sao lại không thể hiểu sự thật về một vùng ít được bảo vệ như vậy? Và từ đấy đi đến một sai lầm chiến lược lớn?

Ai-xen-hao chưa bao giờ trả lời những câu hỏi ấy. Những lý do khiến ông hành động sai lầm cũng bị chôn vùi xuống đất cùng với ông ta dưới nấm mộ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #31 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:01:17 am »

VỤ ÁM SÁT HÂY-RÍCH VÀ TRANG SỬ ĐẪM MÁU LI-ĐI-XƠ

Béc-lanh, mồng 8 tháng 6 năm 1942. Trong một lễ tang cực kỳ long trọng, các quan chức cao cấp Đức Quốc xã đã vĩnh biệt một con người từng làm cho cả thế giới phải run sợ: Rê-na Hây-rích, tổng chỉ huy SS.

Năm 1931, hắn lại bị loại ra khỏi Hải quân và bóc quân hàm. Sau đó hắn vào SS và do gia đình bên vợ, hắn kết thân với Him-le. Hai mươi chín tuổi hắn đã trở thành chỉ huy đội hiến binh SS. Ba năm sau, hắn giữ chức Tổng chỉ huy cơ quan An ninh Đức. Một vợ và ba con hắn là người có biệt tài trong việc thanh toán các đối thủ chính trị, là người tổ chức các vụ tàn sát dã man người Ba Lan, người Do Thái, người Nga. Chính Hây-rích là người cuối cùng quyết định số phận của hàng triệu người Do Thái ở châu Âu.

Sau khi nước Pháp bị bại trận, Anh trở thành nơi cư trú của chính phủ và những nhà quân sự của tất cả các nước trong lục địa. Bên cạnh những người tình nguyện Ba Lan, Na Uy, Hà Lan, Bỉ và Pháp, đội đặc nhiệm (SOE) cũng huấn luyện trong trại một nhóm người tình nguyện Tiệp Khắc để họ trở về chiến đấu ở Tổ Quốc.

Trong mùa thu 1941 có hai thanh niên được huấn luyện một cách đặc biệt, đó là Ku-bi, con một gia đình nông dân và Gáp-xíc, một người thợ khoá. Cả hai đều là cựu hạ sĩ quan quân đội Tiệp. Hai thanh niên này đã trở thành bạn thân khi họ gặp nhau ở Anh và có liên quan đến số phận hàng nghìn người Tiệp sau này.

Tháng 3 năm 1939, Hít-le chiếm đóng toàn bộ nước Tiệp. Ở Praha, không còn chính phủ bù nhìn Ha-sa nữa, chính quyền trực tiếp do người Đức nắm. Nhân dân bị tước hết mọi quyền tự do dân chủ. Nền kế hoạch Tiệp Khắc hoàn toàn hướng về phục vụ cho chiến tranh của Đức Quốc xã.

Viên tướng SS ở Tiệp Khắc tỏ ra bất lực và Tổng tư lệnh SS Hây-rích, ba mươi bảy tuổi, được cử sang thay thế. Ngày 27 tháng 9 năm 1941, Hây-rích đến Praha với một Bộ Tham mưu gồm sáu mươi hai chuyên gia của cơ quan An ninh Trung ương.

Ba ngày sau, ngày 2 tháng 10, Hây-rích triệu tập tất cả các quan chức Đức để giải thích các nguyên tắc và mục tiêu của Đức ở Tiệp Khắc. Chẳng những phải Giéc-man hoá Tiệp Khắc mà Hây-rích còn đề cập đến vấn đề "Phân chia lại châu Âu”. "Những người Tiệp gốc thuần tuý, có thể Giéc-man hoá được" còn nữa thì phải tiêu diệt hết. Tuy vậy, đó là mục tiêu lâu dài. Trước mắt cần giữ vững tinh thần của thợ thuyền Tiệp, rất cần thiết cho công nghiệp chiến tranh. Cần tăng thêm khẩu phần và tiền thưởng.

Trung thành với sứ mệnh của y, Hây-rích đã kết án tử hình hai trăm vụ chỉ trong vòng chưa đấy hai tuần lễ.

Trong thời gian này, Ku-bi và Gáp-xíc vẫn ráo riết luyện tập: học sử dụng lựu đạn chống tăng và học bắn để trở thành thiện xạ. Cuối cùng tất cả đã sẵn sàng.

Ngày 28 tháng 12 năm 1941, một máy bay Anh bay tầm xa, cất cánh từ một sân bay gần Luân Đôn. Sau một chặng bay đầy nguy hiểm trên châu Âu bị chiếm đóng, Ku-bi và Gáp-xíc nhảy xuống một làng cách Praha hai mươi kilômét. Sứ mệnh của họ rất rõ ràng: ám sát Hây-rích.

Sau khi đi mấy vòng xung quanh địa điểm nhảy dù, họ tìm được một chỗ trú ẩn lý tưởng trong một hang đá hoang vắng. Nhưng ngay hôm sau, họ đã sợ hãi khi thấy có người phát hiện ra. Người ấy nói: Tôi nghe tiếng động cơ máy bay và sau đó thấy hai người nhảy dù xuống. Anh ta nói biết rõ vùng này và theo người ấy thì chỗ ẩn nấp ấy là rất tốt.

Khi trông thấy người lạ, Ku-bi và Gáp-xíc đều đặt ngay tay lên khẩu súng để sẵn sàng ứng phó. Nhưng không có gì đáng sợ. Anh ta tự giới thiệu là Bô-man và nói cho hai thanh niên biết là họ đang ở cách Praha hai mươi kilômét và hứa là sẽ giúp cho họ bắt liên lạc với nhóm kháng chiến trong thành phố. Chính anh cũng là thành viên của tổ chức kháng chiến, một tổ chức yêu nước nhưng hiện nay đã bị cấm. Nhờ Bô-man và chỉ sau bốn ngày ở hang đá Ku-bi và Gáp-xíc đã được đưa đến một gia đình ở Praha và bắt liên lạc được với các vị lãnh đạo phong trào kháng chiến.

Giáo sư hoá học Va-nêc, bí danh là Jin-dra, là thủ lĩnh của tổ chức kháng chiến Tiệp Khắc, đã kể lại cuộc gặp gỡ đầu tiên với Ku-bi như sau:

"Đầu năm 1942, với tư cách là thủ lĩnh phong trào kháng chiến Tiệp Khắc, tôi được biết là người ta đang chuẩn bị để ám sát tên Hây-rích. Một thành viên của chúng tôi đã phát hiện trong hang đá hai người thanh niên. Họ nói rằng họ từ Anh đến và muốn đến Praha để làm nhiệm vụ quan trọng. Họ đã ở Praha được một tuần lễ và tôi đề nghị gặp họ. Nhưng chỉ có một người đến. Chúng tôi chỉ mới biết rằng họ là những người nhảy dù xuống. Nhưng máy bay cũng có thể là của Đức lắm chứ. Và dầu cho đúng là máy bay của Anh thì vẫn cố khả năng là những điệp viên đã bị bắn chết hoặc bị bắt và người Đức đã thay thế bằng người của họ. Lúc bấy giờ, cần phải hết sức cảnh giác.

Trước tiên tôi yêu cầu người thanh niên cho xem các giấy tờ, đương nhiên là giấy tờ giả. Sau đó tôi yêu cầu cho biết tên các sĩ quan Tiệp đang ở Anh. Cuối cùng yêu cầu miêu tả cho tôi biết làng xóm nơi anh sinh đẻ. Anh ta tỏ ra hơi bực mình vì sự quá ư thận trọng của tôi. Chắc Ku-bi chờ đợi một sự đón tiếp kiểu khác. Đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp những người nhảy dù mà thời gian gần đây thì các liên lạc của chúng tôi với Luân Đôn rất thất thường, không ổn định. Chúng tôi không được thông báo trước về việc họ đến. Trong suốt cuộc nói chuyện - gần như một cuộc thẩm vấn - các khẩu súng bao giờ cũng để trên bàn và sẵn sàng nhả đạn. Cuối cùng tôi tin đúng là hai người kháng chiến. Tôi hỏi Ku-bi và anh bạn anh định làm gì ở đây. Thoạt đầu anh còn nói về một nhiệm vụ quan trọng nhưng mơ hồ. Sau đó anh thú thật là họ đến để giết Hây-rích. Tôi hơi nghi ngại.

Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, thật ra ý định ấy không làm tôi thú vị lắm. Hậu quả một cuộc ám sát bao giờ cũng rất ghê gớm, khó lường trước được. Nhất là ám sát một người như vậy, một người trong những cột trụ của phát xít, tất nhiên sẽ kéo theo những đòn trả thù khủng khiếp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #32 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:04:43 am »

Nhưng khía cạnh này của vấn đề hình như họ không hề nghĩ đến và cũng không quan tâm nhiều lắm. Tôi nói với Ku-bi về điều đó nhưng hình như không gây tác động gì ở anh cả. Họ cần làm đúng mệnh lệnh của Luân Đôn, còn chúng tôi, phong trào kháng chiến địa phương, chúng tôi có nhiệm vụ giúp sức cho họ thực hiện cuộc mưu sát. Trong lúc chờ đợi, tôi cho họ một người bảo vệ, một trong những người tốt nhất của chúng tôi, thường gọi một cách thân mật là chú Ha-xki. Ha-xki tìm cho hai chàng trẻ một chỗ ở mới, gần ngay nhà ông, thuộc gia đình bà Mô- ra-vêc, thường gọi là thím Ma-ri-a.

Ma-ri-a là một phần tử kháng chiến ưu tú. Con trai lớn của bà hiện nay đang ở trong không quân Hoàng gia Anh, còn chú em A-ta thì rất tự hào được kết bạn với những chiến sĩ nhảy dù thực sự.

Ông Xa-pha-ric đã làm thợ mộc bốn mươi năm ở lâu đài Praha, kể lại những kỷ niệm xưa:

"Tôi biết ông Ha-xki từ ngày ông là thầy giáo của tôi. Đã nhiều năm tôi không gặp lại ông. Tôi đã đến Praha, học nghề thợ mộc và sau đó làm ở lâu đài Praha, sửa chữa đồ cũ và làm đồ mới.

Một hôm vào mùa thu 1941, lúc tôi bước ra sân của lâu đài thì bỗng nhiên thấy ông Ha-xki đi lại gần tôi. Ông ta nhận ra tôi ngay. Ông hỏi tôi làm gì ở đây và hỏi xem tôi suy nghĩ như thế nào về hoàn cảnh hiện nay. Tôi nói là tôi không thể chịu được người Đức, chúng ta đang sống trong một thời kỳ rất tồi tệ...

Ông ta mời tôi đi uống một ly giải khát và chuyện trò rất thân mật. Sau đó nhiều lần ông trở lại lâu đài để thăm tôi, tìm hiểu về đủ mọi thứ và cuối cùng thì hỏi thẳng xem tôi có muốn giúp việc gì cho kháng chiến hay không? Tôi suy nghĩ trong mấy ngày và trả lời ông là tôi đồng ý.

Đến đầu năm 1942, ông giới thiệu với tôi hai người thanh niên. Họ nói rằng họ bay từ Anh sang và đã nhảy dù xuống. Họ có một nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện, họ yêu cầu tôi chỉ cho họ chiếc ô-tô của Hây-rích và nói cho họ biết những điều họ cần biết. Tôi chỉ cho họ chiếc xe Méc-xơ-đét và chiếc xe tuỳ tùng.

Hai chàng trai thường trở lại thăm tôi ở lâu đài. Đôi khi họ mang theo cả bạn gái. Và một hôm họ nói thẳng với tôi là họ muốn giết Hây-rích".

Đầu năm 1942, Ku-bi và Gáp-xíc đã xoay xở được các giấy tờ và xe đạp, họ cũng tìm ra con đường thường đi của Hây-rích và cố tìm một chỗ nào thuận tiện nhất để thực hiện nhiệm vụ. Thoạt đầu họ định chọn con đường dài bóng mát và chăng một sợi dây thép ngang đường để đón xe Hây-rích. Nhưng chỗ này có cái bất tiện là nếu thất bại thì không có lối thoát. Họ lại lên xe đạp và trở về Praha, có phần thất vọng. Sau đó họ phát hiện ra một địa điểm lý tưởng: một khúc quanh mà lúc qua đó, nhất định xe của Hây-rích sẽ phải đi chậm lại như mọi chiếc xe khác, rất chậm thì mới có thể vòng qua được. Trong một vài giây, Hây-rích sẽ là mục tiêu lý tưởng để cho người nấp gần đấy nổ súng. Một người bạn khác là Van-xic cũng được đào tạo ở Anh về, cũng biết được kế hoạch này. Khoảng chín giờ sáng, Ku-bi, Gáp-xíc và Van-xic sẽ gặp nhau ở bến tàu điện, rất gần khúc đường vòng quanh. Ku-bi và Gáp-xíc dừng lại như mọi người dân bình thường khác. Ku-bi mang theo trong túi tài liệu một lựu đạn chống tăng, chế tạo một cách đặc biệt còn Gáp-xíc thì mang theo một súng liên thanh nhỏ giấu trong áo khoác ngoài. Van-xic đứng ở một góc đường, cách xa khoảng hai trăm năm mươi mét. Từ đó có thể trông thấy các xe đi đến. Khi thấy chiếc xe Mec-xe-đét của Hây-rích, anh sẽ dùng tấm gương để báo hiệu. Thấy tín hiệu ấy, Ku-bi và Gáp-xíc sẽ rời ngay khỏi trạm tàu điện, chạy đến chỗ đường ngoặt và sẽ còn đủ thời gian để chuẩn bị tiến công lúc chiếc xe đến. Để chạy thoát, họ đã có xe đạp.

Giáo sư Va-nêc kể lại:

"Hoàn cảnh trở nên cực kỳ phức tạp. Chỗ nào Ku-bi và Gáp-xíc cũng tìm ra cách để giết Hây-rích, trong lúc đó thì tổ chức chúng tôi đang ở trong thời kỳ khá nguy hiểm từ cuối tháng 3 năm 1942 sau khi tay điện đài bị bắt cùng một số thành viên khác nữa. Mỗi lần tôi tìm cách làm cho hai thanh niên ấy hiểu rõ hậu quả vô cùng nguy hiểm của việc giết Hây-rích thì họ đều nhất mực trả lời rằng đó là mệnh lệnh của Luân Đôn và sớm muộn họ cũng phải thực hiện... Chúng tôi quyết định xin ý kiến Luân Đôn xem đã nên thực hiện vụ ám sát ấy trong tình hình hiện nay chưa?

Luân Đôn trả lời rất rõ ràng: cần làm ngay, không chần chừ! Chính phủ của chúng tôi ở Luân Đôn (Chính phủ Tiệp lưu vong) muốn bằng hành động, chứng tỏ cho nhân dân Tiệp biết rằng Chính phủ hoàn toàn không giống như bọn bù nhìn Ha-sa và ở trong nước có một tổ chức kháng chiến đang hoạt động mạnh và đang phát triển.

Thêm nữa, người ta cũng hy vọng rằng sự trả thù của bọn phát-xít sau vụ ám sát sẽ kích động thêm phong trào kháng chiến. Quả nhiên điều đó đã xảy ra.

Khoảng giữa tháng 5 năm 1942, Ku-bi và Gáp-xíc cho tôi biết rằng họ đã tìm ra một địa điểm lý tưởng để hành động và họ trình bày cho tôi nghe toàn bộ kế hoạch. Tôi thấy tốt.

Vài ngày sau, nhờ một đầu mối, tôi biết được là Hây-rích sẽ bay sang Béc-lanh vào ngày 27 tháng 5 năm 1942 . Tôi báo cho Ku-bi và Gáp-xíc rằng ngày 27 tháng 5 năm 1942 là ngày tốt nhất để thực hiện kế hoạch, bởi vì hôm đó chắc chắn là sẽ không có xe hộ tống".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #33 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:11:58 am »

Sáng 27 tháng 5 năm 1942... Một buổi sáng mùa xuân đẹp trời. Sau mười giờ, Hây-rích tạm biệt vợ con. Người lái xe đã chực sẵn. Hây-rích bước lên xe để ra sân bay, không có hộ tống. Cùng lúc ấy, ở địa điểm đã định, hai thanh niên đứng chờ ở trạm tàu điện. Đã mấy chuyến tàu đi qua mà họ chưa lên vội. Theo họ biết thì Hây-rích phải ra đi lúc chín giờ. Họ sốt ruột đứng chờ, luôn luôn nhìn chiếc đồng hồ cửa hàng bên cạnh. Tất cả đều phối hợp rất tốt... có điều là Hây-rích không đến? Mười giờ ba mươi phút... Đây rồi, Van-xic đã báo hiệu bằng chiếc gương. Cả hai vội vàng chạy đến chỗ ngoặt. Trước khi vào khúc quanh, người lái xe hãm xe, chạy rất chậm.

Khẩu tiểu liên sẵn sàng trong tay, Gáp-xíc nghe tiếng động cơ nổ ròn. Anh đã trông thấy Hây-rích. Anh nhắm mục tiêu, bóp cò nhưng không có viên đạn nào ra khỏi nòng. Chiếc quy-lát bị hóc ! Gáp-xíc đứng như chôn chân xuống đất, cực kỳ hoảng sợ. Ku-bi sợ hãi, gọi to "Giô-dép!" Không có gì hết !

Hây-rích và tên SS lái xe đã trông thấy người giương súng bắn. Tên lái xe phanh ngay xe lại, cả hai rút vội súng lục ra. Lúc bây giờ Ku-bi nghĩ ngay đến quả lựu đạn. Anh vừa chạy vừa rút chốt lựu đạn và ném nhanh vào chiếc xe ô-tô. Một tiếng nổ cực mạnh. Nhiều mẩu kim khí và từng nắm đệm bông bay tơi tả lên không. Hây-rích và tên lái xe nhảy ra khỏi xe, bề ngoài trông như không việc gì cả. Đoàn tàu điện dừng lại. Ku-bi nhảy lên xe đạp và phóng đi như gió. Tên lái xe vừa chạy vừa bắn vừa thét to sau Gáp-xíc. Anh nhảy vào một cửa hàng đang mở cửa. Từ chỗ đó, anh bắn gục tên lái xe rồi tiếp tục chạy và nhảy lên được một chiếc tàu diện đang chạy vào thành phố.

Chẳng ai chú ý đến thái độ bối rối của anh. Chỉ dọc đường anh mới nhớ ra là đã bỏ lại nhiều thứ ở địa điểm vừa rồi: súng tiểu liên, túi tài liệu, áo khoác và chiếc xe đạp.

Chiếc xe này là của thím Ma-ri-a ! Anh không biết rằng Ku-bi cũng đã bỏ quên túi tài liệu, mũ cát két, ngoài ra anh còn bị thương ở mắt.

Trong lúc ấy, đội cảnh sát Tiệp chạy đến chỗ đường ngoặt: họ đón một chiếc xe cam nhông nhỏ chở hàng. Cố lấy hết sức lực còn lại, Hây-rích gượng dậy một cách khó khăn và người ta đưa hắn vào bệnh viện. Vết thương cực kỳ nguy hiểm: các mảnh lựu đạn và cả những sợ bông đệm đã vào trong lá lách, trong gan. Cùng với nhiều vết thương bên trong, máu của hắn cũng bị nhiễm độc.

Tất cả những thứ hai thanh niên bỏ lại trên hiện trường đều được trưng bày trong một tủ kính và chụp ảnh đăng lên các báo. Đài phát thanh và các loa phóng thanh báo tin vụ ám sát và miêu tả vài nét đại khái về hình dáng các tội phạm. "Tất cả những ai che chở bọn tội phạm hoặc cho chúng ẩn nấp sẽ bị xử bắn đi cùng với toàn bộ gia đình". Chúng kích thích mọi người tìm thủ phạm bằng cách đặt một giải thưởng mười triệu cua-ron. Ít ngày sau, giải thưởng được tăng lên gấp đôi, hai mươi triệu, bằng khoảng hai triệu tiền mác Đức.

Gáp-xíc trốn trong nhà của Fa-fếc, ở ngoại ô còn Ku-bi thì trú tại nhà thím Ma-ri-a, điều cực kỳ nguy hiểm vì chiếc xe đạp của thím anh đã bỏ lại nơi xảy ra vụ ám sát. Lệnh bao vây lập tức được ban hành ở Praha. Các quán ăn, rạp chiếu bóng, rạp hát đều bị đóng cửa. Lệnh thiết quân luật hai mươi mốt giờ mỗi ngày. Cả thành phố nội bất xuất, ngoại bất nhập. Đêm nào bọn Ge-sta-pô cũng đi lùng sục từng nhà một. Các đường phố bị ngăn chặn. Tất cả đều bị lục xét tỉ mỉ. Bốn trăm năm mươi ngàn lính Đức thuộc đủ các binh chủng tham gia vào chiến dịch càn quét này. Năm nghìn ngôi nhà bị lục tung, có nhà bị lục nhiều lần. Bọn Đức kiểm tra thẻ căn cước của gần năm triệu công dân Tiệp. Một cuộc càn quét chưa từng thấy trong lịch sử.

Nhưng chúng vẫn không tìm ra thủ phạm. Tuy vậy các chỗ trú ẩn của họ đều thay đổi luôn, vẫn không đủ an toàn. Không chỉ có họ là bị đe doạ mà cả những người giúp đỡ họ. Đài phát thanh vẫn tung ra những lời doạ dẫm. Đã có hàng trăm người Tiệp bị bắt hoặc bị xử bắn.

Trong hoạn nạn, con người đã đến cưu mang những kẻ bị săn đuổi là bác sĩ Pê-tơ-rêc, linh mục nhà thờ chính thống Tiệp ở trung tâm thành phố Praha. Pê-tơ-rêc dùng nhà thờ làm nơi trú ẩn cho những người nhảy dù. Ku-bi, Gáp-xíc, Van-xic và bốn người nhảy dù nữa vào ở trong nhà thờ.

Hây-rích chết hôm mồng 4 tháng 6 năm 1942 . Các nhà phẫu thuật giỏi nhất của Đức cũng đều bất lực. Cảnh hấp hối của hắn cũng kéo dài và đau đớn như nhiều nạn nhân của hắn đã từng bị.

Ngày 11 tháng 6 năm 1942, đài phát thanh loan báo nhiều biện pháp nghiêm khắc chống nhân dân vùng Li-đi-xơ: "Tất cả đàn ông đều bị xử bắn, tất cả đàn bà đưa vào trại tập trung, trẻ con đưa đi trại cải tạo. Nhà cửa đều bị phá huỷ hết và tên làng bị xoá".

Một vài tuần sau, làng Lê-da-ki cũng chịu một số phận giống y như thế. Kẻ địch vẫn tiếp tục săn đuổi nhưng vẫn không thể tìm ra thủ phạm. Các nhà tù đều chật ních người. Mỗi xà lim chứa đến mười bảy người. Xe quân sự kéo đi từng đoàn để làm nhiệm vụ xử bắn, máy chém ở nhà tù Praha làm việc suốt ngày. Riêng nhà tù này đã có hơn một ngàn người bị chém, không kể những người bị treo cổ. Lệnh săn lùng các thủ phạm sẽ kết thúc vào ngày 18 tháng 6. Sau đó sẽ như thế nào? Không ai có thể biết được. Vụ Li-đi-xơ đã chứng tỏ rằng bọn phát xít có thể làm tất cả mọi thứ.

Thần kinh của Kiyếc-đa - một nhân vật cũng từng luyện tập ở Anh về - không còn chịu đựng nổi sự căng thẳng. Ngày 16 tháng 6 năm. 1942, y đến trình diện ở Tổng hành dinh Ge-sta-pô tại Praha. Y đã thuật lại tất cả mọi sự việc.

Trái với mọi quy tắc, sau khi nhảy dù xuống Tiệp, y không trú ẩn ở nhà người lạ mà ở trong trang trại của bố mẹ. Y là bạn của Ku-bi và Gáp-xíc, y biết tất cả mọi kế hoạch, biết tất cả những người tham gia vào vụ ám sát. Nhưng y không thể biết hiện nay các thủ phạm và những người nhảy dù ẩn nấp ở đâu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #34 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:14:36 am »

Tuy vậy, bọn Ge-sta-pô và SS đã thoả mãn. Chúng đã nắm được các tên và địa chỉ. Thế là bắt đầu ngay cuộc bắt bớ. Trước hết là đến Ha-xki. Ông uống một liều thuốc độc. Rạng sáng, bọn Ge-sta-pô kéo đến nhà thím Ma-ri-a và phá huỷ ngôi nhà. Trong lúc đó thím cũng uống một liều thuốc độc. Thím quỵ xuống trước mặt chú con út A-ta. Mô-ra-vêc và A-ta đều bị dẫn đến Tổng hành dinh cùng với nhiều chiến sĩ khác của phong trào kháng chiến và tất cả đều bị thẩm vấn. Bọn Ge-sta-pô nghĩ rằng ngoài bà mẹ của A-ta thì chỉ có A-ta là người duy nhất biết các thủ phạm hiện nay trốn tránh ở đâu. Chúng biết rằng họ ở trong một nhà thờ. Nhưng nhà thờ ở Praha thì rất nhiều. Hôm ấy là ngày 17 tháng 6, hôm sau 18 tháng 6, lệnh truy tầm đã kết thúc. A-ta phải nói! Nhưng người con trai mười bảy tuổi vẫn hoàn toàn im lặng. Chú dũng cảm chịu đựng mọi sự tra tấn dã man của bọn Ge-sta-pô. Sau hai mươi bốn tiếng đồng hồ bị nhục hình, cuối cùng bọn Ge-sta-pô đưa cho A-ta xem đầu lâu của bà mẹ. Liệu chú có muốn trông thấy đầu lâu của ông bố hiện nay đang sống không? Không chứ ? Vậy thì hãy nói tên của nhà thờ ra. Trước nửa đêm, A-ta quỵ xuống và nói tên nhà thờ.

Ba giờ sau, lúc ba giờ bốn mươi lăm phút, viên tướng SS cho quân đến bao vây nhà thờ và ra lệnh bằng mọi cách bắt sống các thủ phạm chứ không bắn chết. Đêm ấy Gáp-xíc và Van-xíc ngủ dưới hầm còn Ku-bi và hai người nữa thì luân phiên gác nhà thờ. Cũng thật không may, đêm nay là đêm cuối cùng của họ ở đây, ngày mai người ta sẽ dẫn họ đến một chỗ trú ẩn khác ở nông thôn.

Khi trông thấy bọn Ge-sta-pô vào nhà thờ, ba người gác liền nổ súng. Viên tướng SS đã báo cáo khá chi tiết về tình hình đêm ấy như sau:

"Sau khi phá khoá nhà thờ, lính SS bắn trả những người đã bắn từ nhà thờ ra. Tiếp đó diễn ra cuộc đấu súng giữa hai bên, phía Đức có ném thêm nhiều lựu đạn. Cùng lúc ấy lính SS bắn nhiều tràng tiểu liên vào các nhà đối diện và vào phía sau nhà thờ. Điều đó gây nguy hiểm cho những người của chúng ta đang ở trong các ngôi nhà. Vì vậy tôi ra lệnh:

- Ngừng bắn ngay lập tức vào nhà thờ và các nhà ở phía trước.

- Tất cả lính SS phải lập tức tìm cách đưa những người ở trong nhà thờ ra ngoài.

- Một nhóm xung kích SS do viên chỉ huy có kinh nghiệm chiến trường sẽ tìm cách kết thúc cuộc đấu súng và bắt sống bọn thủ phạm".

Bọn Đức vẫn chưa biết số lượng địch thủ và chỗ ẩn nấp của họ. Sau khoảng hai giờ chiến đấu, vào lúc bảy giờ sáng, ba người gác nhà thờ bị bắt. Một người đã chết, hai người nữa bị thương nặng. Ku-bi bị thương quá nặng nên chỉ vài phút sau thì chết. Bọn Ge-sta-pô bắt Kuyếc-đa đến nhận dạng. Trong ba người chết chỉ có một người là thủ phạm.

Ge-sta-pô tiếp tục truy tìm. Chúng phát hiện ra một hầm ngầm dưới đất. Chúng bắt những vị linh mục kêu gọi những người dưới đất ra đầu hàng. Họ nhất loạt trả lời: "Không bao giờ !". Ge-sta-pô cho bơm hơi cay và nước xuống hầm. Nhưng nước dâng lên rất chậm. Chúng sợ rằng các thủ phạm đã thoát ra một lối nào khác và dưới hầm có chỗ tiêu nước. Một nhóm xung kích SS được lệnh nhảy xuống hầm. Lập tức có tiếng súng nó. Bọn Đức phải bắn trả và phải dùng cả lựu đạn. Khi ngừng tiếng súng, chúng dùng đèn pha chiếu xuống thì thấy bốn người bị chết. Có người tự bắn vào đầu mình.

Mãi về sau, qua một bản báo cáo, người ta biết rằng, phía quân Đức có mười bốn tên lính bị chết, hai mươi mốt tên khác bị thương nặng và có tất cả ba trăm năm mươi người đã tham gia cuộc đấu súng kéo dài hơn sáu tiếng đồng hồ.

Xác của bảy người nhảy dù bị kéo ra vỉa hè trước nhà thờ, và Kuyếc-đa lại buộc phải ra nhận dạng.

Nhưng bọn Ge-sta-pô chưa kết thúc công việc. Linh mục Pê-tơ-rêc và các nhân viên khác của nhà thờ chính thống Tiệp bị kết án tử hình. Cuộc trả thù đẫm máu của phát xít sau đó nhằm vào các gia đình của bảy người nhảy dù.

Tính ra tất cả hơn mười ngàn người bị bắt đi trại tập trung và gần một ngàn năm trăm người bị xử bắn. Với cái giá phản bội, Kuyếch-đa sống cho đến hết chiến tranh và năm 1946, y đã bị kết án treo cổ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #35 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:20:57 am »

ĐIỆP VIÊN VÀ TÌNH YÊU

Trong thế chiến thứ hai, ảnh chụp có một vai trò quan trọng có lẽ không kém gì ra-đa. Những tấm ảnh chụp từ trên máy bay về các thành phố, các bến cảng, đường giao thông v.v... có giá trị rất lớn vì qua đó người ta có thể phát hiện ra các sân bay, các nhà máy quốc phòng. Từ lâu trước khi xảy ra chiến tranh, các cường quốc châu Âu đã đi săn tìm các tấm ảnh cho các Bộ Tư lệnh quân đội.

Thời bấy giờ ở phía Tây Béc-lanh có một nhà văn sống riêng biệt để viết. Vốn là sĩ quan phản gián của Phổ, ông ta từ bỏ nghề cũ và đi vào sự nghiệp sáng tác văn học. Sách của ông viết cũng được nhiều người biết đến. Chúng ta tạm gọi tên ông là Fen-sếc. Fen-sếc rất được các điệp viên, thám tử kính phục vì người ta bảo ông có sức mạnh linh tính rất đặc biệt.

Điều làm cho nhà văn đã có tuổi này khó chịu nhất là trên bầu trời thành phố suôtt ngày có tiếng động cơ của một chiếc máy bay quảng cáo. Gần như thần kinh ông không bao giờ được nghỉ ngơi. Suốt ngày chiếc máy bay quảng cáo cho một số các hãng công nghiệp. Chốc chốc nó lại tung ra một bó giấy quảng cáo.

Một buổi sáng Fen-sếc đang ngồi đọc sách, hai tai nhét chặt bông thì cô đầy tớ gái bước vào phòng ra hiệu cho ông lấy bông ra. Cô ta muốn nói với ông một điều gì Ma-ri, tên cô gái, tỏ ra cực kỳ bối rối. Cô là người An-da-xơ, trẻ tuổi và rất xinh đẹp. Fen-sếc từng bị cuốn hút bởi hình thể cô gái với những đường nét hấp dẫn và nụ cười duyên dáng.

Phải chăng vì thế mà từ một năm nay, Ma-ri đã trở thành người tình của Fen-sếc? Fen-sếc cũng chẳng biết nữa vì tính ông ta vốn không thích phân tích các thứ tâm lý phức tạp của tình yêu.

Thế nhưng hiện nay trước mắt ông, Ma-ri không phải là người tình mà là cô hầu phòng đang run rẩy và sợ hãi. Chỉ nhìn đôi mắt cũng đủ biết là cô đang cảm thấy bị đe doạ vì cô là người nước ngoài.

Khi cô gái trở lại bình tĩnh và nói với Fen-sếc thì đến lượt ông ta cũng cảm thấy có phần lo âu.

Ma-ri báo cho ông biết là có hai người lạ mặt đến hỏi ông và đang chờ ngoài cổng.

... Chào Fen-sếc xong, hai người khách lạ tự giới thiệu là người của Ge-sta-pô. Một người mở cặp lấy ra một tập hồ sơ và nói qua về nguồn gốc của của Fen-sếc: ông là con một sĩ quan Phổ đã chiến đấu trong chiến tranh Pháp - Đức 1870-1871 và nổi tiếng là một sĩ quan chỉ huy kỵ binh giỏi. Bản thân Fen-sếc, sau thế chiến thứ nhất, đã dũng cảm vượt khỏi nhà tù của Nga, và thời cộng hoà Vây-ma, đã là một điệp viên phản gián đắc lực.

Fen-sếc chợt nghĩ, họ đến đây chắc là vì việc này.

Người của Ge-sta-pô nói tiếp, lần này y hạ giọng như một lời tâm sự riêng tư. Ge-sta-pô đang tổ chức một mạng lưới phản gián trong quân đội. Ge-sta-pô muốn đề nghị Fen-sếc cộng tác bởi Fen-sếc có biệt tài về các hoạt động này.

Thoạt đầu Fen-sếc lúng túng chưa biết nghĩ như thế nào, trong lúc trên đầu vẫn ì ầm tiếng động cơ máy bay quảng cáo. Ông nói đây là một đề nghị quan trọng, ông phải có thì giờ để suy nghĩ. Vả chăng tuổi tác của ông có còn thích hợp để làm công việc ấy nữa không?

Người của Ge-sta-pô thấy Fen-sếc nói có lý nên hẹn để ông suy nghĩ và sẽ trở lại sau ít hôm.

Fen-sếc cũng ra phố. Ông giơ nắm đấm về phía chiếc máy bay quảng cáo. Sau đó ông vào một quán cà phê. Vừa uống vừa suy nghĩ về hoàn cảnh khó xử hiện nay. Là con cháu của một dòng họ quý tộc, ông thù ghét chính quyền mới thành lập ở Đức. Vào Ge-sta-pô đối với ông thật chẳng có gì là thích thú. Thế nhưng khó có cách nào thoát khỏi nó.

Fen-sếc khất lần trong nhiều tuần và cuối cùng thì đành phải chấp nhận. Người ta lại giao cho ông làm công tác phản gián với mục đích phát hiện các gián điệp nước ngoài cài vào Đức.

Nhưng do chán ghét các vị chỉ huy nên ông tỏ ra gần như hoàn toàn bất lực trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Sau một thời gian, rõ ràng ông làm ăn chẳng có chút hiệu quả nào cả. Cực hơn nữa, chiếc máy bay quảng cáo vẫn ì ầm suốt ngày trên bầu trời làm cho thần kinh ông càng căng thẳng, mệt mỏi.

Và điều phải đến đã đến. Một buổi sáng, viên chỉ huy gọi ông đến và nói bằng giọng hết sức lạnh lùng:

- Ông Fen-sếc, công việc của ông cấp trên không hài lòng chút nào. Có dư luận cho rằng ông thuộc phe đối lập. Bản thân tôi cũng nghĩ rằng hình như dư luận ấy là đúng. Nào, ông bạn hãy cố gắng một lần nữa xem.

Trở về căn phòng, Fen-sếc bỗng nổi giận. Chiếc máy bay quảng cáo đang bay lượn trên các toà nhà Chính phủ. Ông bèn lấy giấy viết mấy dòng cho viên chỉ huy cơ quan phản gián của Ge-sta-pô: "Theo tôi, nên chú ý việc chiếc máy bay tư nhân lại được phép bay tự do suốt ngày trên bầu trời thủ đô. Các máy bay thương mại không được phép bay trên một số khu vực, cả máy bay du lịch cũng vậy. Tôi đề nghị cần tiến hành điều tra kỹ lưỡng về những người trên chiếc máy bay từ chiều ngày nay đang bay lượn trên các toà nhà của Chính phủ. Nói chung cần cấm các máy bay quảng cáo tư nhân để bảo đảm an ninh quân sự".

Nửa giờ sau, Fen-sếc kinh hoàng thấy ba sĩ quan không quân bừng bừng nổi giận ập vào căn phòng của ông ta. Họ cho ông biết rằng Bộ trưởng Không quân đang điên tiết lên vì ông. Người lái chiếc máy bay quảng cáo là một sĩ quan nổi tiếng trong cuộc thế chiến thứ nhất, đã được thưởng nhiều huân chương quân công. Đó là một con người hoàn toàn có đủ tín nhiệm, không ai có thể nghi ngờ được. Tức giận và quyết làm cho ra lẽ để mọi người thấy cái sai của Ge-sta-pô đã nghi ngờ không có cơ sở, vị Bộ trưởng Không quân đã ra lệnh bắt chiếc máy bay quảng cáo phải hạ cánh xuống một sân bay quân sự.

- Ông hãy đi cùng chúng tôi.

- Đi đâu? Fen-sếc hỏi.

- Đến sân bay. Thống chế Gơ-rinh đã yêu cầu cơ quan của ông mời ông có mặt ở sân bay để ông thấy rõ sự thật về cái mà ông đã buộc tội.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #36 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:39:11 am »

Fen-sếc lên xe cùng ba sĩ quan đi đến sân bay.

Bỗng nhiên chiếc máy bay quảng cáo lại xuất hiện trên bầu trời. Ba chiếc máy bay chiến đấu từ trên cao lao xuống, ra hiệu cho chiếc máy bay quảng cáo phải hạ cánh. Trên sân bay, một đại đội quân của Thống chế Gơ-rinh đã ở tư thế sẵn sàng nổ súng. Xa xa, đoàn xe cảnh sát túc trực để đề phòng mọi bất trắc.

Chiếc máy bay quảng cáo nhỏ bé đáp xuống sân bay trong lúc ba chiếc máy bay chiến đấu bay sát lại gần, nòng súng chĩa vào đối phương.

Các sĩ quan không quân nói với Fen-sếc:

- Ông lại đây. Chúng tôi muốn ông chứng kiến cuộc khám xét chiếc máy bay quảng cáo.

Khi chiếc máy bay này đã hạ cánh, các sĩ quan chạy ra sân bay và làm thành một vòng tròn xung quanh. Một người mặc bộ y phục phi công sang trọng bước xuống. Y dừng lại giây lát để nhìn quang cảnh xung quanh rồi lấy hộp thuốc lá mạ vàng, rút ra một điếu, bình tĩnh châm lửa hút.

Một viên sĩ quan lại gần Fen-sếc, nói lớn:

- Ông đã thấy rõ chưa? Người lái máy bay là phi công nổi tiếng của chúng ta, Ren-fen.

Sau đó y nói với viên phi công:

- Lại đây ông Ren-fen. Ai mà biết thế nào được! Ông sẽ thấy một điều rất lạ trong cuộc đời của ông.

Giọng nói của viên sĩ quan vang lên giữa sân bay. Ren-fen tiến lại gần. Rồi y cúi đầu xuống nói se sẽ:

- Tôi đã phạm sai lầm.

Trong một phút, mọi người ngớ ra, lặng người đi như chôn chân tại chỗ. Tiếp đó là công việc lục soát vội vã. Người ta phát hiện ra một máy ảnh để chụp từ máy bay được giấu kín trong một góc. Người thứ hai ngồi trên máy bay không có vẻ gì là một thợ cơ khí người Đức. Y văng ra một tiếng chửi tục bằng tiếng Pháp. Công việc của những kẻ điều tra không có gì khó khăn vì y tuyên bố bằng tiếng Pháp hẳn hoi là y sẽ không giấu điều gì hết.

Ren-fen gần như quỵ xuống. Y không phản ứng gì cả và người ta kéo tay y ra sau lưng để cho vào còng số tám. Ngược lại, con người nước ngoài thì sẵn sàng giơ tay ra cho cảnh sát còng, trên môi nở một nụ cười thân thiện.

Trong cái giây lát bất thần ấy, người ta dường như quên mất Fen-sếc. Sau đó các sĩ quan mới nhớ đến ông. Họ lại gần ông, đập mạnh hai gót giầy vào nhau, giơ tay chào và xin lỗi ông. Họ cũng nói lên sự thán phục đối với trình độ chuyên môn của Ge-sta-pô đồng thời tuyên bố là bao giờ ông ta cũng được Bộ trưởng không quân kính trọng.

Sau khi nhìn một lần cuối viên gián điệp người Pháp đang tươi cười và lão Ren-fen khốn khổ, Fen-sếc chạy vội đến trạm điện thoại và gọi điện báo cáo tất cả mọi sự việc cho viên chỉ huy của ông. Lão này rú lên vì vui sướng và ôm hôn thắm thiết Fen-sếc khi ông trở về trụ sở cơ quan phản gián của Ge-sta-pô. Như vậy là Ge-sta-pô đã chứng tỏ được tài năng của mình cho các cấp lãnh đạo cao nhất biết. Đồng thời nó cũng chứng minh sự yếu kém của cơ quan phản gián trong quân đội.

Ren-fen từ chối không trả lời bất cứ một câu thẩm vấn nào. Ông chỉ khóc lóc và than thở. Ngược lại, viên gián điệp Pháp thì chưa hỏi đã cung khai hết. Y nói rõ là y đã làm công việc này trong nhiều tháng và đã bay trên khắp nước Đức. Nhưng y tuyên bố một cách thoả mãn rằng các tấm ảnh chụp được đều đã ở trong tay các cấp trên của y từ lâu. Người ta không thể làm gì được nữa. Và y thì sẵn sàng chịu xử bắn.

Sự vui mừng tràn ngập trong cơ quan phản gián của Ge-sta-pô. Thật là một đòn vào loại bậc thầy. Tên gián điệp đầu tiên bị bắt là do Ge-sta-pô chứ không phải do cơ quan phản gián của quân đội. Thành công ấy là nhờ ai? Chính là nhờ Fen-sếc.

Ông ta về nhà và uống ly rượu. Hôm ấy, cả buổi chiều rõ ràng là ông không còn bị quấy rầy bởi tiếng động cơ của chiếc máy bay quảng cáo. Khoảng nửa đêm, Fen-sếc đi ngủ.

Đúng một giờ sáng, có tiếng chuông réo mạnh ngoài cửa. Fen-sếc yên chí là những bạn đồng nghiệp ở Ge-sta-pô quá chén đang đến để chúc mừng. Nhưng vừa mới mở khoá thì cánh cửa bật tưng, một sĩ quan cùng hai tên lính xông vào.

- Ông là Fen-sếc?

- Vâng, chính tôi đây.

- Chúng tôi được lệnh bắt ông.

- Tại sao vậy?

- Chúng tôi không được phép bàn cãi với ông.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #37 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:41:33 am »

Fen-sếc nghĩ "bắt đầu lôi thôi dây" và mặc quần áo, lên xe đi đến nhà giam quân đội. Suốt đêm, ông băn khoăn lo nghĩ. Sáng hôm sau, các sĩ quan phản gián của quân đội đến thẩm vấn. ông biết rằng mình bị bắt vì bị tình nghi là gián điệp.

- Tại sao ông biết là trong chiếc máy bay quảng cáo ấy có gián điệp?

Fen-sếc trả lời:

- Tôi cũng chẳng biết nữa.

Các sĩ quan không tin ông ta. Họ nghi rằng do hối hận đã hợp tác với những tên gián điệp ấy và để chuộc tội, ông ta đã tố giác.

Nhưng sự việc đến tai Ge-sta-pô. Người ta lấy làm lạ tại sao Fen-sếc bị bắt? Hay là do sự ganh tị giữa hai cơ quan phản gián? Viên chỉ huy của Fen-sếc đã làm mọi cách để ông ta được thả ra ngay lập tức.

Ba ngày sau, Fen-sếc ăn cơm trong một khách sạn ở Xtốc-khôm cùng với tác giả bài này. Ma-ri, cô "đầy tớ" ăn mặc cực kỳ sang trong. Họ vừa cưới nhau xong.

Fen-sếc nói:

- Bọn phát xít muốn buộc tôi trở thành gián điệp.

- Nhưng tại sao ông biết là chiếc máy bay ấy chụp hình thành phố Béc-lanh?

Cặp mắt của Ma-ri sáng lên một cách tinh nghịch. Cô không nói tiếng Đức nữa mà nói tiếng Pháp một cách thành thạo:

- Người yêu của tôi làm việc với tôi. Anh ấy làm việc cho cả hai bên. Đó là cách duy nhất để khỏi bị bắt. Tôi được gửi đến Béc-lanh với nhiệm vụ giám sát Fen-sếc. Nhưng chúng tôi yêu nhau. Chúng tôi thấy cần phải cho người Đức một cái gì đó để cho họ khỏi nghi ngờ.

Câu chuyện của cặp vợ chồng thật là kỳ lạ. Nhưng tại sao họ không về Pháp?

- Nhưng những phi công bị bắt thì thế nào, khi ông bà bỏ trốn thì họ phải trả giá bằng cái chết ư?

Fen-sếc nói với Ma-ri:

- Em nói cho ông ta rõ sự thật đi.

- Thế này nhé. Không có gì phức tạp hết. Hiện nay Pháp cũng đã bắt được hai điệp viên Đức trong một trường hợp tương tự. Người ta sẽ trao đổi cho nhau thôi mà. Sẽ chẳng có người nào bị chết cả. Thời chiến thì không được nhưng thời bình thì đó là chuyện thường thôi (câu chuyện này xảy ra trước năm 1939).

Sau đó cặp vợ chồng rời khỏi Thuỵ Điển, trở về Pháp. Năm 1948, họ sống ở Đức. Và sau đó, họ đến Thượng Hải. Dường như nhiều người cho rằng với quá khứ chống phát xít, cặp vợ chồng ấy đã đi theo chủ nghĩa cộng sản. Nhưng có lẽ ít ai nghĩ rằng, họ lại là những người của Oa-sinh-tơn phái đến Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #38 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:45:09 am »

NGƯỜI BẠN GÁI CỦA KLAUS FUCHS VÀ VỤ TIẾT LỘ BÍ MẬT BOM NGUYÊN TỬ

Đã một thời không ai không biết đến cái tên của nhà bác học Đức trẻ tuổi Klaus Emil Julius Fuchs, xuất sắc về tài năng nhưng lại bị kết án là phản bội.

Đằng sau K.Fuchs có bóng dáng một người đàn bà xinh đẹp. Trong các hồ sơ mật của Luân Đôn và Oa-sinh-tơn đều có tập hồ sơ riêng về vai trò của người đàn bà này trong cuộc đời của nhà bác học.

Ít ai biết tên thật của cô gái. Trong các hồ sơ chỉ ghi là Hin-đa X. các bạn bè thân thiết gọi cô bằng cái tên Brandt, tiếng Đức có nghĩa là "đám cháy".

Hin-đa vóc người tầm thước, mái tóc màu hung, tiếp xúc với nhiều phong trào chính trị cánh tả. Cô quen Fuchs khoảng năm 1930 ở Trường Đại học Kiel lúc cả hai còn là sinh viên. Fuchs và Hin-đa đều gia nhập một nhóm sinh viên cộng sản. Hin-đa chỉ là "lính mới". Lúc gặp Fuchs, một sinh viên có phong thái nghiêm trang, người dỏng cao và hơi gầy, cô đã có cảm tình ngay và biết rằng đấy chính là kiểu người mà mình thích. Mỗi tuần Fuchs đến thăm cô hai lần tại một căn phòng bé ở phố Hin-đen-bua. Cả hai đều không muốn phí thì giờ vào những chuyện yêu đương, họ ước mơ góp phần vào việc xây dựng phong trào cách mạng trên toàn thế giới. Họ cùng nhau bắt tay vào nhiều công việc. Mùa đông, họ đến các khu tập trung công nhân, phát truyền đơn kêu gọi đấu tranh chống phát xít, chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, liên hiệp lại để đấu tranh giai cấp.

Cuối cùng Hin-đa từ bỏ gia đình mà cô cho là tư sản. Cô tự thấy trước đây mình quá yếu đuối, chỉ sợ mất cuộc sống yên ổn và đầy đủ tiện nghi của gia đình. Bây giờ cô đã thấy tất cả những cái đó đều vô nghĩa- Fuchs đã mở mắt cho cô. Cô thấy muốn đấu tranh bí mật thì cần phải biết hy sinh.

Hai người bắt đầu đi vào hoạt động bí mật và sống như vợ chồng cùng chung lý tưởng. Cuộc sống của họ luôn bị đe doạ bởi Ge-sta-pô nhưng cũng là dịp để cô hiểu người yêu của mình hơn.

Chính quyền phát xít ra lệnh bắt tất cả các đảng viên chi bộ cộng sản ở Trường Đại học Kiel. Buộc phải đi trốn, họ sống với nhau hàng tháng trong căn phòng đóng kín. Chỉ có Hin-đa thỉnh thoảng vẫn phải đến các hiệu thực phẩm. Nếu chẳng may cô bị bắt thì người bạn trai cũng tin rằng không bao giờ cô ta phản bội anh. Có lẽ không có một người đàn ông nào tin ở một người đàn bà như anh tin cô. Cho đến mười lăm năm sau, khi bị bắt ở Luân Đôn về tội tình báo nguyên tử, anh vẫn cứ tin ở cô.

Mặc dầu đã cắt đứt với gia đình nhưng sống trong bí mật, họ vẫn phải sống bằng tiền của gia đình Hin-đa. Có lần Fuchs đã nghĩ là có lẽ nên qua một "tuần trăng mật" ngắn ngủi rồi chia tay nhau, mỗi người mỗi ngả thì hơn. Nhưng Hin-đa không cho anh ra đi trong giờ phút hiểm nghèo ấy, lúc mà đoàn thanh niên cộng sản đang bị Hít-le truy lùng và tiêu diệt.

Tuần lễ sống bí mật đầu tiên ở Đức đối với đôi bạn trẻ quả thật là thiên đường. Trong tuần trăng mật đặc biệt ấy họ xây bao nhiêu mộng cho tương lai. Trước hết là phải đi khỏi nước Đức. Rồi một ngày trong tương lai, khi cuộc đấu tranh đã kết thúc, họ cũng sẽ có một ngôi nhà riêng chứa đầy sách, báo, sẽ có các đĩa hát Bê-to-ven, So-xta-cô- vích, trên tường nhà có những bức tranh của các nhà cách mạng...

Nhưng trước mắt, muốn sống bí mật trong thành phố Kiel, họ phải đốt tất cả các giấy tờ, cất giấu các bằng cấp,chứng minh thư. Thậm chí Hin-đa phải chạy đi xoay các giấy tờ giả mạo hợp pháp.

Fuchs thuyết minh về chiến lược của tương lai, Hin-đa chỉ nghe nói cũng đã đủ mê. Nhất là anh ta lại giải thích cho cô nghe về học thuyết Mác. Sau này Hin-đa kể lại với mọi người là Fuchs đã giảng giải cho cô biết rằng bọn tư sản ngu xuẩn thường giải thích xuyên tạc chủ nghĩa duy vật. Chúng cho rằng chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa chỉ quan tâm đến tiền tài, vật chất. Đâu phải thế! Chủ nghĩa duy vật là quan niệm cho rằng cuộc sống trên thế giới bắt nguồn từ các tế bào vật chất. Triết học duy tâm của xã hội cũ bắt nguồn từ Pơ-la-tông, Càng cho rằng mọi vật đều do Thượng đế sinh ra...

Hin-đa nghe tất cả những điều đó một cách say mê và càng thán phục người yêu mình thông minh, hiểu biết rộng.

Thế rồi... hai người buộc phải trốn khỏi nước Đức phát xít. Nhưng làm thế nào để trốn?

Hin-đa nghĩ rằng không một người vợ nào hiểu chồng như cô hiểu Fuchs. Trong suốt ba tháng, họ sống chung trong căn phòng ở Kiel, để ngày đêm cùng nhau bàn bạc cho kế hoạch đó.

Đến bây giờ thì Hin-đa biết từng chi tiết nhỏ trong quá khứ của Fuchs. Khi anh mới được ba tuổi, quân đội Hoàng gia Đức đã nã đại bác sang Pa-ri. Bố anh là một người có đầu óc hoà bình. Gia đình đã nghiêm cấm chú bé Fuchs không được đi theo bọn trẻ ngoài đường để hoan hô đoàn quân đang đi ra mặt trận. Vì vậy chú bé như một người ngoại đạo đối với cuộc đời, cách biệt khỏi mọi người xung quanh. Chú không hề có bạn mà chỉ sống với các anh, chị trong một thế giới riêng biệt, không tiếp xúc với tư tưởng yêu nước sô-vanh của người Phổ.

Cuộc sống cô độc đã đưa Fuchs đến với Hin-đa. Anh ta không thể chịu được cảnh gia đình mình bị tàn phá bởi bọn phát xít. Một bà chị của anh đâm đầu vào tầu hỏa, một bà chị khác bị điên, bố bị bắt vào trại tập trung. Fuchs muốn trả thù cho gia đình. Hin-đa bàn với Fuchs cùng trốn sang Anh để gặp lại các bạn chiến đấu và tiếp tục cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #39 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 10:47:56 am »

Hai người vượt biên giới nhưng Fuchs sang Pháp một thời gian, còn Hin-đa thì qua Anh trước. Sau đó họ cùng tiếp tục học ở Trường Đại học Bơ-ri-xtôn ở Anh. Fuchs rất thích nước Anh còn Hin-đa thì ngược lại. Cái gì ở Anh cô ta cũng ghét bởi vì nước Anh đã làm cho Fuchs của cô say mê nghiên cứu khoa học. Anh ta gần như sống cách biệt với cô. Mỗi khi gặp nhau - hoạ hoằn họ mới gặp nhau - cô gọi anh là đồ hèn nhát, đồ vô tích sự, đồ tư sản. Cô có chút ngờ vực là anh hơi quá chú ý đến các cô gái Anh.

Một hôm Hin-đa từ biệt Fuchs vì những lời thoá mạ:

- Rồi anh sẽ thấy là một ngày kia các bạn bè. Anh sẽ phản bội anh cho mà xem.

Hin-đa sang Pháp sau đó lại sang Đan Mạch. Cô trở thành liên lạc viên và nhân viên hoạt động bí mật của Quốc tế cộng sản ở châu Âu. Trong thời gian đó, Fuchs có thêm nhiều bè bạn ở Anh. Phạm vi nghiên cứu của anh ngày càng mở rộng. Năm 1938, anh vào Trường Đại học Ê-đin-bua, ở đó anh tốt nghiệp bang tiến sĩ khoa học. Các công trình nghiên cứu về vật lý nguyên tử và nhiệt hạch làm cho anh chiếm vị trí hàng đầu trong các nhà khoa học trẻ tuổi. Anh công bố các công trình nghiên cứu trên các Tập san của Hội khoa học Hoàng gia. Người thanh niên Đức lưu vong đã có tên tuổi và có một vị trí cao trong giới khoa học. Dường như lý tưởng cộng sản lu mờ dần trong đầu óc của Fuchs.

Hin-đa thì ngược lại. Cô đang góp sức tổ chức các mạng lưới tình báo ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Đức và các nước Bắc Âu. Cô tham gia nhiều hoạt động bí mật. Chắc chắn cô còn yêu Fuchs nhưng cô đã vượt xa người thầy đã dạy cho cô những bài khai tâm về chủ nghĩa cộng sản. Đến mức họ chẳng viết thư cho nhau nữa.

Nhưng việc đời cứ tiếp tục thay đổi. Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Hít-le xâm chiếm Ba Lan và chiến tranh bùng nổ. Vốn là một thành viên không thể thiếu của nền khoa học Anh, Fuchs bỗng nhiên trở thành một người nước ngoài, công dân của một nước thù địch. Thế là anh bị tập trung để đưa sang Ca-na-đa. Anh nhận được lệnh phải chuẩn bị đi gấp. Lúc bấy giờ bỗng nhiên anh nhớ đến Hin-đa. Cô ta đã nói đúng: nước Anh đã phản bội anh. Người Anh đúng là những tay tư sản, phát xít, những con thú. Là kẻ thù của Hít-le, nhưng Fuchs đã bị giam giữ và chuyển đi nơi khác. Mà lại phải vượt qua Đại Tây Dương đang đầy những tàu ngầm hoạt động!

Fuchs tự cảm thấy như một kẻ tử vì đạo. Anh đã quên chủ nghĩa cộng sản nhưng nay thì anh lại sẵn sàng trở lại với nó. Đúng, Hin-đa đã nói đúng, làm sao có thể quên được lời cảnh cáo của cô ta. Cô ấy có lý, anh vẫn yêu cô ấy. Nhưng bây giờ Hin-đa ở đâu? Ở Nga chăng?

Sau khi bị tập trung ở Ca-na-đa, Fuchs quyết định đi tìm Hin-đa. Ở Ca-na-đa, cũng như ở Mỹ, có những đảng viên cộng sản sẵn sàng giúp anh đi tìm Hin-đa. Trong đó có cả Hội chữ thập đỏ nữa.

Nhưng may mắn làm sao, anh không phải chờ đợi lâu. Dường như ở đâu đấy, Hin-đa đã nghe tiếng kêu tuyệt vọng của anh. Anh nhận được một bức thư của cô. Hin-đa đang ở Mỹ và hỏi xem anh có cần cô giúp đỡ, có cần cô gửi cho một ít tiền không, Hin-đa nhắc lại với anh rằng, với tư cách là một nhà khoa học, một ngày kia anh sẽ được tự do. Cô cũng nhắc khéo anh nhớ lại tất cả những gì hai người đã đàm luận với nhau ở Kiel, trong những ngày quá khứ đẹp đẽ.

Cho đến khi Fuchs được trở lại với các công trình nghiên cứu thì những niềm tin cũ lại sống lại mãnh liệt trong tâm trí anh: điều đó chính là nhờ có Hin-đa và cũng nhờ có thời gian bị giữ trong trại tập trung.

Năm 1941, anh được trả lại tự do để có thể tiếp tục các công trình nghiên cứu và hoàn tất kế hoạch chế tạo bom nguyên tử. Mặc dầu mọi người đều biết đến cái quá khứ cộng sản của anh, anh hoàn toàn được các cơ quan an ninh của Anh và Mỹ tin tưởng.

Đây là thời gian mà Hít-le đang đe doạ thế giới bằng một thứ vũ khí bí mật mới. Bên mặt trận Đồng Minh, tất cả các nhà khoa học nguyên tử đang được động viên để tìm cách đánh bại bọn phát xít. Là một người cộng sản nhưng Fuchs được phép vào tất cả các phòng thí nghiệm nguyên tử và tham gia các công trình nghiên cứu. Anh trở thành một nhân vật quan trọng trong việc chế tạo bom nguyên tử và cuối cùng được nhập quốc tịch Anh.

Anh sang Mỹ nhưng Hin-đa đã đi rồi. Anh trở lại Anh nơi mà Hin-đa vừa mới ở một thời gian ngắn. Cô ta đi khắp nơi với danh nghĩa nhà báo nhưng Fuchs đã biết cô ta làm công việc gì rồi. Họ viết cho nhau những lá thư tràn đầy tình yêu tha thiết.

Một hôm Hin-đa nhờ một nhân viên Xô Viết chuyển đến cho Fuchs mấy trăm quan tiền Anh. Số tiền ấy từ nay làm cho anh trở thành một thành viên của cơ quan tình báo Xô Viết.

Rồi sau đó Hin-đa trở về Anh trong một đêm, chỉ một đêm thôi. Họ thức với nhau trắng đêm để nói chuyện tâm tình. Ngày hôm sau Hin-đa dã phải ra đi vì một công việc quan trọng. Fuchs cũng vậy...

Buổi chiều chủ nhật hôm ấy, khi anh đến Cơ-rốt Rôm thì Hin-đa vẫn chưa ra đi. Cô muốn bí mật quan sát cái gì sẽ diễn ra: Một người đàn ông vẻ mặt băn khoăn đi về phía Tơ-ra-phan-ga. Một người khác dong dỏng cao và gầy, đeo kính, đi lại gần người kia, hai tay bỏ túi. Người thứ nhất trao cho người thứ hai một chiếc phong bì - Chiếc phong bì đã tiết kiệm cho nước Nga được mười tám năm nghiên cứu nguyên tử! Sau đó Hin-đa thấy người yêu của cô đi rất nhanh xuống ga tàu điện ngầm rồi biến mất.

Khi bị đưa ra toà, Fuchs khai là anh bị bệnh tâm thần, tiềm thức của anh bị chia làm hai phần, một phần tốt, một phần không tốt. Anh tự nhận về mình hết mọi tội lỗi để che chở cho Hin-đa. Trong suốt phiên toà, anh không hề nhắc một lần nào đến tên người yêu cả.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM