Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:01:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật vụ Trân Châu Cảng  (Đọc 55415 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #50 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:50:23 pm »

Cho đến nay, nguyên nhân khiến Ôn-drích A-mít phản bội vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Nhưng điều chắc chắn là năm 1985, A-mít đã đến với KGB và đề nghị khai tất cả những gì mình biết. Lúc đầu, KGB không mặn mà với người này lắm vì A-mít không tiếp cận những tài liệu Liên Xô đang quan tâm. Nhưng với tính kiên nhẫn vốn có, Nga đã tung những khoản tiền hào phóng cho A-mít và tin rằng đến một lúc nào đó, họ sẽ được đền bù thoả đáng.

Chỉ một năm sau, lòng kiên nhẫn đã được đền đáp ngoài trông đợi. A-mít trở thành giám đốc bộ phận phản gián chống Liên Xô của CIA. Ngay lập tức, tại vị trí mới, A-mít đã được xem tất cả mọi điệp vụ bí mật của CIA trên đất Xô-viết, và quan trọng hơn cả là danh sách các "chuột chũi".

Quen với hàng loạt thành công trong tuyển mộ các điệp viên Xô-viết, CIA cực kỳ hoảng hốt khi mọi việc đột nhiên diễn biến khác lạ, từng người từng người một, các "chuột chũi" bốc hơi không để lại dấu vết, một dấu hiệu rõ ràng là họ bị lật tẩy và nhận một viên đạn vào đầu - một phản ứng bất biến trong hoạt động của KGB khi đối xử với kẻ phản bội. Một trong những nạn nhân lần này có Đmi-tri Pô-ly-a-kốp.

Cùng lúc, việc tuyển mộ của FBI cũng sa lầy. Cơ quan an ninh này tiếc nhất về vụ 2 nhân viên ngoại giao ở Đại sứ quán Xô-viết tại Oa-sinh-tơn vừa được chiêu dụ là Va-le-ri Mác-ty-cốp và Séc-gây Mô-tô-rin. Ngay khi thành công này được báo cho CIA, 2 nhân viên này bất ngờ bị triệu hồi về Mát-xcơ-va và lĩnh án. FBI bắt đầu nghĩ tới một khả năng không tưởng: có một "chuột chũi" đã chui vào hàng ngũ cao nhất trong CIA.

Một nghi ngờ giống như vậy cũng bao trùm CIA và khi lên gần tới đỉnh điểm thì câu trả lời xuất hiện. Lần này nó đến từ miệng điệp viên KGB Vi-ta-li Y-u-chen-kô vừa đào thoát sang Mỹ từ Rom. Bởi hắn đã từng làm nhân viên phản gián cao cấp của KGB nên không khó khăn gì trong việc lật tẩy rất nhiều gián điệp của KGB ở Mỹ, giá trị nhất là Ét-uất Li Hô-uốt. Đây là một cực điệp viên CIA từng làm việc ở Mát-xcơ-va. Sau khi bị máy kiểm tra nói dối phát hiện tật nghiện ma tuý và một số tật xấu khác, Hô-uốt đã bị triệu hồi về nước và sa thải. Sau đó người này đã đến hợp tác với Liên Xô.

Hô-uốt đã kịp thời thoát sang Liên Xô trước khi bị túm nên Mỹ coi đây là thủ phạm của tất cả những thất bại gần đây của CIA và FBI. Nhưng các thất bại vẫn liên tục tiếp diễn, nên buộc Mỹ phải nghĩ tới một gián điệp khác. Đầu tiên, một "chuột chũi" thượng hạng, sĩ quan phản gián cao cấp KGB đã bị bắt và tử hình. Tiếp đó là Ô-lếc Gooc-đi-ep-ki, một điệp viên khác của KGB do MI6 tuyển mộ, suýt bị triệu hồi về Mát-xcơ-va để bắt giữ đã kịp thời trốn chạy sang Mỹ. Cả hai người này đều xa lạ đối với Hô-uốt.

Một cuộc rà soát kỹ càng diễn ra đối với tất cả những ai có biết sự tồn tại của Pô-ly-a-kốp và Goóc-di-ép-ki. A-mil nằm trong danh sách nhưng không tiến hành công tác xua tan nghi ngờ. Con người này hoạt động quá sơ hở. Với gần 1,5 triệu đô-la được KGB thưởng sau khi chỉ điểm 11 điệp viên chủ chốt trên đất Nga. A-mít đã mua một biệt thự 540.000 đôla, một xe hơi hảo hạng hiệu Gia-gua và rất nhiều đồ quý giá. Nhưng không hiểu sao A-mít vẫn qua được 2 lần kiểm tra của máy nói dối.

Vấn đề còn lại chỉ là thời gian. Đến năm 1989, một kẻ phản bội ở KGB tại bộ phận mật mã đã cung cấp bằng chứng, chỉ ra có một điệp viên Xô-viết nam tại CIA cộng thêm cả địa điểm người này gặp sĩ quan điều khiển tại Bô-gô-ta, Cô-lôm-bi-a. Khi đem so sánh, chỉ có một sự trùng lặp: đó chính là thời điểm A-mít đi du lịch Bô-gô-ta!

Cho đến năm 1991, FBI đã tiến hành một cuộc điều tra tìm bằng chứng truy tố A-mít. Thật đáng ngạc nhiên, A-mít hết sức bất cẩn, để tài liệu mật khắp nhà cùng với những đĩa mềm có đánh các bản báo cáo cho KGB. FBI khám xét và tìm ra những giấy tờ cho thấy A-mít đã nhận được từ KGB 2,7 triệu đô-la cũng như lời cam kết về một biệt thự tuyệt đẹp bên bờ sông sau khi A-mít sang định cư tại Liên Xô.

Cho đến năm 1993, A-mít đã bị bắt và cô vợ bị coi là đồng phạm. A-mít phải nhận án tù chung thân. Khi được hỏi lại sao không chạy trốn khi CIA bắt đầu mở chiến dịch truy tìm, thì A-mít đã điềm tĩnh trả lời: "Tôi là một người Mỹ và luôn là như vậy". Có một trùng lặp kỳ lạ, là khi được KGB hỏi một câu tương tự. Pô-ly-a-kốp đã trả lời: "Tôi là một người Nga và muốn được chết như một người Nga.”
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #51 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:53:25 pm »

VỀ SỰ KIỆN "MÙA XUÂN 1968” Ở TIỆP KHẮC CŨ

Cuối năm 1967, đầu 1968 tại Tiệp Khắc đã diễn ra hàng loạt sự kiện nóng bỏng mà đỉnh điểm là việc Liên Xô đưa quân đội vào nước này vào tháng 8 năm 1968. Tháng 11 năm 1967 diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, trong đó phái "cải cách" đứng đầu là Đúp-xếch (Dobchek) đòi tách đảng khỏi chính quyền và tiến hành các cải cách kinh tế - chính trị. Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc lúc bấy giờ là Nô-vết-nưi, kiêm chức Chủ tịch nước, đã không đủ sức ngăn cản trào lưu này. Tháng 3 năm 1968, chức Bí thư thứ nhất của Nô-vốt-nưi bị mất về tay Đúp-xếch; chẳng bao lâu sau chức Chủ tịch nước cũng chuyển giao cho tướng Xvô-bô-đa. Đến ngày 5 tháng 4, Ban chấp hành Trung ương thông qua "cương lĩnh hành động tháng 4" với nội dung "cải cách toàn diện các mặt đời sống đất nước". Ít lâu sau, Chec-nich, một trong những nhà lãnh đạo phái cải cách được bầu làm Thủ tướng. Đến đây, thực chất chính quyền ở Tiệp Khắc đã lọt vào tay phong trào dân chủ "Mùa xuân Pra-ha".

Tin tức này nhanh chóng bay về Mát-xcơ-va.

Từ nhiều năm nay, trong một bộ phận dân chúng và giới lãnh đạo Tiệp Khắc đã nhen nhóm ý tưởng khôi phục "truyền thống Trung Âu”, xem xét lại chính sách đối ngoại theo hướng thân phương Tây hơn và xa rời Mát-xcơ-va hơn. Vào thời kỳ ấy, thái độ thất thường này đối với Crem-li là không thể chấp nhận được, nhất là đôi khi chính sách này có biểu hiện của tư tưởng bài Xô, dẫn đến nguy cơ tạo khoảng trống trong vùng đệm ở phía Tây Liên Xô. Nhiều chính khách nước ngoài thường chê các nhà lãnh đạo Liên Xô thời kỳ này là trì trệ, xơ cứng trong việc nhận thức nhiều vấn đề, nhưng cũng phải công nhận rằng trong những vấn đề tương tự các diễn biến ở Tiệp Khắc họ lại tỏ ra rất nhạy cảm và đưa ra những phản ứng nhanh đến kinh người.

Vào thời kỳ đó, căn phòng của Đại sứ Liên Xô tại Tiệp Khác Si-nốp hầu như sáng đèn suốt ngày đêm. Đôi mắt vị đại sứ thâm quầng vì mất ngủ và mệt mỏi. Ông căng thẳng và chăm chú theo dõi diễn biến tình hình, và rồi các sự kiện thay nhau diễn ra ngày càng khẳng định một dự cảm của ông và Ban lãnh đạo KGB: ở đây không còn là những "tìm lòi về lý luận trong việc điều hành nhà nước Xã hội chủ nghĩa" như các nhà lãnh đạo Tiệp Khắc giải thích, mà có lẽ là một khuynh hướng nguy hiểm mà không thể gọi bằng một cái tên nào khác ngoài "tàn dư phản cách mạng" đang thai nghén và lớn lên.

Hạ tuần tháng 2, trong dịp dẫn đầu đoàn đại biểu đến Pra-ha mừng quốc khánh Tiệp Khắc, nhà lãnh đạo Liên xô L.Brê-giơ-nep cũng cảm thấy bất an. Mặc dù đã gửi điện chúc mừng Bí thư mới của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc là Đúp-xếch, nhưng rõ ràng những lời hay ý đẹp trong bức điện không phản ánh tâm trạng thực của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông cho rằng đã đến lúc không thể không có hành động.

Ngày 23 tháng 3, ngày thứ 2 sau khi Nô-vốt-nưi bị cách chức Chủ tịch nước, bất ngờ Brê-giơ-nep cho mời, mà thực chất là triệu tập các nhà lãnh đạo Ba Lan, Cộng hoà dân chủ Đức, Bun-ga-ri, Hung-ga-ri và Tiệp Khắc đến Mát-xcơ-va để bàn biện pháp ngăn cản hành động "quá nóng" của Tiệp Khắc, nhắc nhở Đúp-xếch về "nguy cơ đang tiềm ẩn trong tình hình phức tạp" ở nước ông có thể đe doạ lợi ích khối Vác-xa-va và bày tỏ quyết tâm phối hợp hành động chống lại các phần tử chống Chủ nghĩa xã hội.

Phát biểu tại cuộc gặp mặt, Đúp-xếch đã cảm ơn lòng tốt của các đồng nghiệp, song lại cho rằng sự lo lắng và ý định "phối hợp hành động" của các nhà lãnh đạo khối Vác xa-va là không cần thiết vì Đảng Cộng sản Tiệp Khắc "được đại đa số quần chúng ủng hộ và các cải cách đang diễn ra là vì lợi ích của Chủ nghĩa xã hội". Kết quả là thông cáo chung vẫn đưa ra những lời hết sức nhẹ nhàng là “tăng cường quan hệ giữa các nước Xã hội chủ nghĩa trên cơ sở hữu nghị, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”.

Trong khi đó, tại Tiệp Khắc không khí vẫn sôi sùng sục Người ta ăn mừng chiến thắng của các cầu thủ đội tuyển khúc côn cầu trước đội tuyển Liên Xô trong trận chung kết của Đại hội thể thao Ô-lim-pic mùa đông tưng bừng một cách cố ý. Hàng ngàn người đổ ra đường; các nhân vật bất đồng chính kiến ngày xưa nay bỗng dưng xuất hiện như nấm, họ diễn thuyết ở mọi nơi trong thành phố, những kẻ bị xử "oan” trong các vụ việc trước đây công khai phát biểu chống Chủ nghĩa xã hội...

Đúng vào lúc đang tưng bừng như thế thì cuối tháng Tư có chuyến viếng thăm đến Tiệp Khắc của nguyên soái Liên Xô Ia-ku-bốp-xki, Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang khối Vác-xa-va; đây là chuyến thăm thứ 2 của nguyên soái kể từ đầu năm. Sứ mạng của nguyên soái Ia-ku-bốp-xki là thế nào thì không mấy ai rõ, thế nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Tiệp Khắc lại đưa ra lời giải thích rất hàm hồ làm mọi người hiểu rằng, nguyên soái đề nghị sớm tổ chức cuộc tập trận của liên quân trên lãnh thổ Tiệp Khắc Tin này làm u ám cả Pra-ha và cứ như cơn ác mộng bao trùm Tiệp Khắc: "Cho họ vào rồi họ có đi không?".

Đêm 3 tháng 5, trong màn đêm của không khí hội hè, một chiếc máy bay cất cánh từ sân bay ở ngoại ô Pra-ha nhằm hướng Mát-xcơ-va. Trên máy bay là Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Tiệp Khắc Đúp-xếch, Chủ tịch Quốc hội Sma-cốp-xki, Thủ tướng Chec-nich và Bí thư trung ương Bi-lác. Họ khẩn cấp được mời đến gặp ban lãnh đạo Liên Xô. Không ai biết nội dung cuộc hội đàm kéo dài liên tục 36 tiếng đồng hồ, song lời lẽ trong thông cáo chung thì nhạt nhẽo và rất khách sáo. Thái độ úp mở của Đúp-xếch trong cuộc gặp gỡ báo giới sau hội đàm làm người ta hồ nghi có một điều gì đấy không bình thường sắp xảy ra.

Ngày 7 tháng 5, Hãng Thông tấn Liên Xô TASS ra tuyên bố phủ nhận tin của báo chí Tiệp Khắc về sự dính líu của cơ quan an ninh Liên Xô đến cái chết của Man-ich, một trong những phần tử "cải cách", coi đó là bịa đặt và gây chiến. Ngày 8 tháng 5, đại sứ Ba Lan tại Pra-ha đến Bộ Ngoại giao Tiệp Khắc kháng nghị việc báo chí, đài phát thanh và truyền hình Tiệp Khắc đưa tin không thiện chí về tình hình nội bộ Ba Lan. Đêm 8 tháng 5, lãnh đạo các nước khối Vác-xa-va, trừ Đúp-xếch, được mời đến Mát-xcơ-va hội đàm bí mật; trọng tâm là vấn đề Tiệp Khắc. Ngày hôm sau, 9 tháng 5, kỷ niệm 23 năm ngày Liên Xô giải phóng Pra-ha khỏi quân Đức phát xít, có tin một số đơn vị quân đội Liên Xô đang hành quân theo hướng biên giới Tiệp Khắc qua lãnh thổ Ba Lan. Cả Pra-ha căng lên như một dây đàn trước những lời đồn đoán rằng sắp có một cuộc can thiệp vũ trang. Thế nhưng, ngày lễ qua đi mà tình hình vẫn yên ổn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #52 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:55:21 pm »

Sau này các nhà phân tích đưa ra hai giả thuyết liên quan đến sự kiện này: Có thể đây chỉ là hành động của ban lãnh đạo Liên Xô nhằm nhắc nhở phía Tiệp Khắc; cũng có thể đã có quyết định giải quyết vấn đề bằng sức mạnh quân sự trong hai ngày 9 và 10 tháng 5, song phải hoãn lại vì chưa có được sự thống nhất ý kiến; duyên cớ chính trị để can thiệp vũ trang lại chưa đầy đủ...

Ngày 17 tháng 5, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.Cô-xư-ghin đến thăm Tiệp Khắc. Ông gặp gỡ các nhà lãnh đạo Tiệp Khắc, đi tắm nắng ở khu điều dưỡng Ka-rô-vich. Đây được xem như nỗ lực cuối cùng của Liên Xô giải quyết vấn đề bằng con đường hoà bình. Thế nhưng, một chuyến thăm khác lại không báo hiệu điềm lành, đó là chuyến đi của Thứ trưởng Quốc phòng, nguyên soái Ku-li-cốp, với kết quả là thoả thuận về việc tiến hành một cuộc diễn tập quân sự quy mô lớn của quân đội khối Vác xa-va trên lãnh thổ hai nước Ba Lan và Tiệp Khắc.

Ngày 18 tháng 6, cuộc diễn tập bắt đầu với sự tham gia của 10.000 binh sĩ Liên Xô, bao gồm đại diện của tất cả các quân binh chủng quan trọng. Trước đó, một sư đoàn xe tăng Liên Xô đã bí mật hành quân qua lãnh thổ Ba Lan và tiến sâu 40km vào lãnh thổ Tiệp Khắc. Ngày 3 tháng 7, cuộc diễn tập kết thúc sau khi đã đạt được "các mục tiêu dự kiến". Tuy vậy, rất nhiều binh lính Liên Xô vẫn đóng lại trên đất Tiệp Khắc và theo xác nhận của cơ quan tình báo Tiệp Khắc thì việc nghe trộm các cuộc nói chuyện của lãnh đạo cấp cao Tiệp Khắc diễn ra ráo riết, sơ đồ về các mục tiêu quan trọng ở Pra-ha cũng được tình báo Liên Xô vẽ xong. Mối đe doạ đối với "mùa xuân Pra-ha" bắt đầu hiện hình.

Thế nhưng các nhà cải cách Tiệp Khắc có vẻ như không muốn dừng lại. Ngày 27 tháng 6 xuất hiện kiến nghị có chữ ký của 70 nhà hoạt động xã hội, được gọi là "Tuyên ngôn 2000 chữ". Bản kiến nghị bày tỏ sự lo lắng vì "quá nhiều phần tử bảo thủ ủng hộ chế độ chuyên chế cực quyền còn nằm trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản và nhà nước Tiệp Khắc, làm tiến trình phục hưng bị đe doạ"; kêu gọi nhân dân "ủng hộ một Đảng Cộng sản tốt hơn và trung thực hơn, ủng hộ và bảo vệ tiến trình phục hưng dân chủ và đứng dậy cầm vũ khí". "Tuyên ngôn" lập tức gây phản ứng gay gắt của Crem-li. Brê-giơ-nép gọi điện thoại cho Đúp-xếch, chính thức phản đối tuyên ngôn phản cách mạng này và yêu cầu Đảng Cộng sản Tiệp Khắc làm rõ lập trường của họ về vấn đề này. Ngày 8 tháng 7, Brê-giơ-nep gửi thư yêu cầu Đúp-xếch tham gia Hội nghị những người đứng đầu các nước khối Vác-xa-va để thảo luận về "mối đe doạ với Chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc mà Tuyên ngôn 2000 chữ gây ra". Được sự ủng hộ của Đoàn Chủ tịch Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, Đúp-xếch đã khước từ lời mời và đề nghị phải tiến hành hội đàm song phương trước, sau đó mới tiến hành hội nghị cấp cao.

Ngày 15 tháng 7, Hội nghị nguyên thủ khối Vác- xa-va vẫn diễn ra tại thủ đô Ba Lan mà không có đoàn Tiệp Khắc tham gia. Hội nghị thông qua tuyên bố với lời lẽ cứng rắn: "Chúng ta không thể đồng ý để các thế lực thù địch lôi kéo các bạn của chúng ta xa rời con đường Xã hội chủ nghĩa; đây không còn là công việc riêng của các bạn Tiệp Khắc mà là công việc chung của các nước khối Vác- xa-va". Song Pra-ha vẫn tỏ ra ương bướng, không chịu khuất phục. Thay mặt Trung ương Đảng, Đúp-xếch viết thư trả lời "Tuyên bố Vác-xa-va" là Đảng Cộng sản Tiệp Khắc sẽ kiên trì đường lối của mình và rằng ở Tiệp Khắc không có tình hình phản cách mạng như Tuyên bố đề cập.

Tuy vậy, phía Liên Xô vẫn chưa hết kiên nhẫn. Liên tiếp trong 4 ngày, từ 29 tháng 7 đến 1 tháng 8, tại một thị trấn nhỏ của Tiệp Khắc nằm gần biên giới ba nước Xô- Tiệp-Hung, đã diễn ra các cuộc hội đàm căng thẳng giữa Brê-giơ-nép và toàn thể đoàn Chủ tịch Đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Cứ sáng sớm, một đoàn tàu hoả đặc biệt lại chở đoàn Liên Xô đến hội nghị, chiều tối lại chở về. Lập trường hai bên đã ở thế đối đầu, hội nghị bế tắc rồi lại khai thông, suýt tan vỡ rồi lại tái nhóm họp. Brê-giơ-nép lên án Tiệp Khắc phản bội sự nghiệp của Chủ nghĩa cộng sản, phục vụ cho lợi ích của Chủ nghĩa đế quốc; cảnh cáo "tự do báo chí" đang đe doạ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, gây nguy cơ xa rời khối Vác-xa-va và khối SEV... Còn Đúp-xếch một mực nhấn mạnh mục tiêu duy nhất của các cải cách ở Tiệp Khắc là xây dựng "Chủ nghĩa xã hội nhân đạo". Cuối cùng, đến ngày 1 tháng 8 hai bên vẫn ra được thông cáo chung với nội dung rất tẻ nhạt và chung chung như "chống đế quốc, chống xét lại, đoàn kết, trung thực".

Tối hôm đó, trở về Pra-ha, vây quanh bởi các uỷ viên ĐCT mỏi mệt cau có, giọng khản đặc, Đúp-xếch nói với các phóng viên rằng ông ta mang về tin tức tốt lành, mọi người Tiệp có thể ngủ yên. Quả thật, đối với ban lãnh đạo Tiệp Khắc, dường như đây là một thắng lợi cho dù tạm thời. Báo chí phương Tây cũng ầm ĩ lên tiếng ca ngợi thắng lợi của cải cách ở Tiệp Khắc. Người Tiệp đổ ra nước ngoài nghỉ phép, kể cả phó Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao. Bản thân Đúp-xếch cũng hiểu rằng đây chỉ là bước đệm trước khi giông tố xảy ra, song ông ta đã sai lầm về thời gian. Đúp-xếch nói với ban lãnh đạo và bạn bè: "Chúng ta đã giành được 3 đến 6 tháng để xả hơi", nhưng trên thực tế Liên Xô chỉ cho ông ta có 3 tuần.

Ngày 11 tháng 8, Quân đội Liên Xô bắt đầu cuộc diễn tập mới gần phía Đông, Đông Nam và phía Bắc Tiệp Khắc. Ngày 14 tháng 8 các đơn vị Liên Xô đóng tại Cộng hoà dân chủ Đức báo động khẩn cấp. Ngày 16 tháng 8 nguyên soái Liên Xô Ku-li-cốp bay đến Đông Béc-lin và sau đó là Vác-xa-va thị sát tình hình.

Trước đó, trong hai ngày 9 và 10 tháng 8. Tổng thống Nam Tư Ti-tô đến thăm Tiệp Khắc. Vị Tổng thống đã từng dám đối đầu với Mát-xcơ-va và được thủ đô Pra-ha đón tiếp như một vị anh hùng này đã khuyến khích ban lãnh đạo Tiệp Khắc tiếp tục cải cách, dựa nhiều hơn vào Nam Tư cùng các nước Không liên kết và rút khỏi khối Vác xa-va. Vài ngày sau, Pra-ha lại được qua một đêm đầy vui vẻ khi lãnh tụ Ru-ma-ni N.Xê-au-xéc-xku, người thường không chịu lép vế trước ông anh cả Liên Xô, đến thăm và cũng bày tỏ sự đồng tình ủng hộ họ. Nhưng đây là đêm vui vẻ cuối cùng.

Ngày 17 tháng 8 nhà lãnh đạo Hung-ga-ri I.Ka-đa, một người tốt bụng, khẩn cấp mời Đúp-xếch sang thành phố biên giới Kmac-nô hội kiến. Người ta cho rằng động thái này cũng nằm trong kịch bản của Liên Xô nhằm một lần nữa cảnh cáo Đúp-xếch trước khi có hành động dứt khoát. Ka-da trách cứ Đúp-xếch và truyền đạt yêu cầu của Brê-giơ-nép là phải cách chức những người theo phái tự do trong ban lãnh đạo Tiệp Khắc. Ka-đa cũng tiết lộ một cách bóng gió về một cuộc can thiệp quân sự đang được khẩn trương chuẩn bị. Đúp-xếch vẫn không tin; Ka-đa thất vọng nói trước lúc hai người chia tay: "Lẽ nào đồng chí lại không biết đối thủ là người thế nào?".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #53 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 02:57:29 pm »

Đến lúc này thì Đúp-xếch thực sự cảm thấy nguy cơ đã đến gần. Ngay chiều hôm ấy, sau khi từ Kmac-nô trở về, ông ta triệu tập Hội nghị Trung ương. Song đã quá muộn. Trong đêm 17 tháng 8, trong khi Bộ chính trị Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đang họp để thông qua chương trình cho Hội nghị Trung ương sẽ bắt đầu ngày hôm sau thì chiếc máy bay đầu tiên chở các chuyên gia "ổn định trật tự" của Liên Xô đã hạ cánh xuống sân bay Pra-ha.

Ngày 18 tháng 8, Brê-giơ-nép lần lượt gọi điện cho các nhà lãnh đạo Cộng hoà dân chủ Đức, Ba Lan, Hung- ga-ri và Bun-ga-ri là Un-brich, O-mun-ca, Ka-đa và Gip-cốp thông báo báo lãnh đạo Liên Xô đã trả lời cho quân đội tiến vào Tiệp Khắc. Ngày 19 tháng 8, Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô họp khẩn cấp và bí mật, phê chuẩn hành động quân sự này. Cùng ngày Thủ tướng Cô-xư-gin thông báo cho Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn rằng Liên Xô sẵn sàng gặp Mỹ ở cấp cao nhất để thảo luận với Mỹ vấn đề Việt Nam và giải trừ quân bị; đây thực ra chỉ là biện pháp "gây nhiễu" của Crem-li. Ngày 20 tháng 8 năm 1968, Liên Xô bắt đầu triển khai một hành động quân sự được xem là thành công nhất trong lịch sử đương đại.

Chiều đêm đó, sân bay Lu-ki ở Pra-ha nhận được tín hiệu xin hạ cánh khẩn cấp của 2 máy bay dân dụng Liên Xô đang trên đường tới Nam Tư vì lý do trục trặc kỹ thuật. Theo thông lệ quốc tế, vì Lu-ki là sân bay quốc tế nên không thể từ chối những yêu cầu tương tự. Điều kỳ lạ là tất cả hành khách của chuyến bay đều mặc đồng phục màu xanh, nhưng cảnh sát sân bay bỏ qua hiện tượng này vì cho rằng đây là những vận động viên đi thi đấu quốc tế.

Mười một giờ đêm, không có bất cứ thông báo nào, liên quân Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Ba Lan, Hung-ga-ri và Bun-ga-ri bất thình lình tràn vào Tiệp Khắc từ 4 hướng Đông, Nam, Bắc và Đông Bắc, dẫn đầu là sư đoàn cơ giới tinh nhuệ của Liên Xô đã ém sẵn từ đợt diễn tập trước đó. Đồng thời, các "hành khách" trên 2 máy bay bị "trục trặc kỹ thuật" - họ chính là các chiến sĩ đặc nhiệm Liên Xô - lấy vũ khí để sẵn trong các va-li hành lý và nhanh chóng đánh chiếm sân bay. Hai chiếc máy bay "hỏng hóc" bắt đầu hoạt động như những ra-đa. Dưới sự dẫn đường của hai bộ ra-đa này, các máy bay vận tải cỡ lớn AN-2 nhanh chóng hạ cánh cùng xe tăng, xe bọc thép chở quân, đại pháo, xe tải và các nhu yếu phẩm. Những chiếc xe hơi gọn nhẹ chở các nhân viên sứ quán (lúc này đại sứ Liên Xô ở Tiệp Khắc là K.Trec-nen-cô, sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô) dẫn đường cho các đoàn xe bọc thép từ sân bay tiến thẳng đến các mục tiêu quan trọng trong thành phố Pra-ha: dinh Tổng thống, toà nhà Trung ương Đảng và Chính phủ, bưu điện, nhà ga xe lửa, các công trình quân sự quan trọng, cây cầu bắc qua sông... Chưa đầy 24 giờ, Tư lệnh chiến dịch báo cáo về Mát-xcơ-va là các cánh quân với tổng cộng lên đến 500.000 binh sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ, toàn bộ lãnh thổ Tiệp Khác bị đánh chiếm, hầu hết các nhà lãnh đạo "cải cách" chủ chốt bị bắt giữ.

Quân đội các nước Vác-xa-va còn đóng lại ở Tiệp Khắc lại một thời gian nữa, cho đến khi ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc do G.Hu-xắc đứng đầu ổn định được tình hình.

Đêm 20 tháng 8, đúng lúc các binh đoàn xe tăng của khối Vác-xa-va đang tiến vào Tiệp Khắc, đại sứ Liên  Xô tại Oa-sinh-tơn xin gặp Tổng thống Mỹ L. Giôn-xơn và thông báo việc Liên Xô đưa quân vào Tiệp Khắc. Đại sứ  nhấn mạnh đây là công việc nội bộ của phe Xã hội chủ nghĩa, không là mối đe doạ đối với khối NATO. Các nước Anh, Pháp, Trung Quốc và một số quốc gia khác cũng được thông báo về sự kiện này.

Điều thú vị là tình báo NATO không hề hay biết gì về việc điều động quân quy mô lớn cũng như ý đồ đưa quân vào Tiệp Khắc của Liên Xô và đồng minh. Đến đầu tháng 8, khi mọi việc trở nên rõ ràng thì họ lại phán đoán rằng đó chẳng qua chỉ là hành động hù doạ và gây sức ép đối với Đúp-xếch. Ban lãnh đạo Liên Xô đã nhìn thấy trước sai lầm này của NATO; cũng như họ đã nhìn thấy trước phản ứng của Mỹ và NATO khi sự việc đã xảy ra; cùng lắm là "lấy làm tiếc và lên án".

…Tổng thống Giôn-xơn triệu tập Hội đồng an ninh Quốc gia họp suốt đêm. Điều mà Mỹ quan tâm lúc này không còn là Tiệp Khắc nữa, mà liệu Liên Xô có nhân cơ hội này tiến quân tiếp về phía Tây hay không. Ngày hôm sau, Giôn-xơn tuyên bố: "Thật đáng tiếc là Liên Xô và đồng minh đã tiến hành xâm lược một nước không có khả năng tự vệ, đàn áp nhân quyền, và như vậy đã vi phạm Hiến chương Liên Hợp quốc. Nhân danh nhân loại mong muốn hoà bình, tôi yêu cầu Liên Xô và các nước khối Vác-xa-va rút toàn bộ quân đội ra khỏi Tiệp Khắc". Tiếp đó, trong buổi họp báo sáng 22 tháng 8, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ nói: "Hành động này làm tổn hại đến quan hệ Đông-Tây, song chúng tôi chưa xem xét vấn đề trả đũa hay trừng phạt.”

Người Nga đã đúng trong các phán đoán của họ. Nước Mỹ đang để cho 60 vạn tinh binh của họ sa lầy ở Việt Nam, không còn bụng dạ và sức lực nào để đối địch với 50 vạn quân khối Vác-xa-va sung sức và được trang bị hiện đại. Sau này nhiều chuyên gia quân sự cho rằng để đánh chiếm Tiệp Khắc, thực ra không cần đến số quân đông và mạnh đến như vậy. Chẳng qua là Liên Xô không để cho người Tiệp Khắc có ý nghĩ dám kháng cự, đồng thời còn cho phương Tây hiểu rằng nếu họ phát động chiến tranh ở châu Âu thì họ sẽ không có cơ hội chiến thắng. Hơn nữa, lúc này Oa-sinh-tơn lại đang say sưa với liều thuốc mê "hội đàm cấp cao nhất" mà Thủ tướng Cô-xư-ghin mồi cho họ trước đó. Họ đang muốn sự hoà dịu trong quan hệ Đông-Tây, vì thế mà họ muốn quên nhanh đi sự kiện Tiệp Khắc như một đoạn nhạc không vui trong một màn diễn lớn.

Về phía người Tiệp Khắc, thêm một lần nữa họ hiểu "tình hữu nghị" với phương Tây là thế nào đối với họ. Đúng 30 năm trước đó, các ông bạn lớn ở phương Tây cũng đã bỏ mặc họ cho nước Đức quốc xã giày xéo sau Hiệp định Mu-nich. Lúc bấy giờ, Tổng thống Be-nac của Tiệp Khắc đã nói một cách đau khổ với nội các của mình: "Các nước lớn giờ đây không còn coi các nước nhỏ là thành viên bình đẳng. Họ đã phản bội chúng ta. Giờ đây chúng ta hãy tự quyết định lấy vận mệnh của mình."
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #54 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 03:08:37 pm »

AI ĐÃ ĐƯA VỢ CHỒNG RÔ-DEN-BÉC LÊN GHẾ ĐIỆN?

"ONG ĐẤT" BAY VÀO TỔ


Vào một ngày tháng 8 năm 1944, A lêch-xan-đrô Phê-li-xốp - người lãnh đạo tổ điệp báo Liên Xô ở Niu Y-oóc yêu cầu các điệp viên của ông là vợ chồng như bác học Giu-li-út và Ê-ten Rô-den-béc đang làm việc cho Dự án chế tạo bom nguyên tử của Mỹ có mật danh "Man-hát-tan" tìm kiếm một căn hộ gần thành phố Lốt A-la-mốt để làm địa điểm liên lạc và sao chụp các tài liệu mật. Hầu như không cần suy nghĩ lâu, G. Rôden-béc giới thiệu ngôi nhà của vợ chồng người anh rể (anh trai Ê-ten) tên là Đa-vít và Rut Grin-glát, cũng là những nhân viên làm việc cho Chương trình Man-hát-tan. Trả lời câu hỏi của Phê-li-xốp về nhân thân và độ tin cậy của hai người này, Giu-li-út cam đoan và bảo lãnh cho ông anh bà chị: Cũng như Giu-li-út và Ê-ten, hai người này đều là thành viên trẻ tuổi, đều tin tưởng vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội như niềm hy vọng duy nhất của nhân loại, đều mong muốn làm một điều gì đó để giúp đỡ Liên Xô (trước đây Đa-vít thậm chí suýt tình nguyện sang Liên Xô gia nhập Hồng quân). Hơn thế anh em Đa-vít và Ê-ten (vợ G.Rô-den-béc) lại sinh ra trong một gia đình kiều dân Nga, rất có cảm tình với quê cha đất tổ.

Tháng 9, tổ trưởng điệp báo điện về Mát-xcơ-va xin phép tuyển mộ vợ chồng Grin-glát. Đến tháng 12 năm ấy mọi thủ tục tuyển mộ được hoàn tất; Rut được đặt mật danh là Osa, còn Đa-vít trở thành Smel ("Ong đất"). Đa-vít đã thực hiền nhiều nhiệm vụ do người em rể giao phó, thu thập được nhiều tài liệu mật (trong đó có sơ đồ bản vẽ thiết kế quả bom nguyên tử có biệt danh "Thằng Béo" mà sau này được ném xuống Na-ga-sa-ki) và trực tiếp đi Niu Y-oóc một số lần để báo cáo và nhận chỉ thị từ Phê-li-xốp. Còn Rut, chang bao lâu sau, chị đã hoàn thành nhiệm vụ chuyển phát bức điện mật đầu tiên, trong đó ngoài sơ đồ một bản thiết kế vũ khí còn có danh mục họ tên những người trực tiếp tham gia Dự án Man-hat-tan. Vốn thông minh, chỉ đọc qua một lần, Rut đã thuộc lòng nội dung bức điện mà về sau đã góp phần khai tử tổ điệp báo của A. Phê-li-xốp.

TỪ MỘT BỨC ĐIỆN THỜI CHIẾN TRANH

Ngay từ năm 1939, Tình báo điện tử quân đội Mỹ đã chộp được những bức điện báo của tình báo Liên xô, song do yêu cầu tác chiến nên họ chỉ chú ý giải mã các bức điện của đặc vụ Đức và Nhật Bản. Mãi đến tháng 2 năm 1943 , người ta mới tập hợp một số chuyên gia nghiên cứu và cố phá mã các bức điện này (Chương trình "vê-nô-na"). Đây là một công việc cực kỳ khó khăn, vì hệ thống mã khoá của tình báo Xô-viết rất phức tạp; hơn nữa, hệ thống này được sử dụng theo nguyên tắc "Phát và quên", tức mã khoá chỉ dùng trong ngày và không bao giờ được dùng lại. Thế nhưng, trong số các bức điện người Mỹ thu được có một bức mà mã khoá được sử dụng hai lần (bức điện này thu được vào dịp thu đông 1941-1942). Sai lầm chết người này chính là nguyên nhân gián tiếp làm tan vỡ nhiều tổ chức điệp báo của Tình báo Liên Xô. Tuy vậy, phải cần đến sự giúp đỡ đắc lực của nhà toán học kiêm chuyên gia mật mã nổi tiếng Mê-rê-đy Gác-nơ và cũng phải đến tháng 7-1946, cơ quan phản gián tình báo quân sự Mỹ mới đọc được câu đầu tiên và duy nhất trong một bức điện liên quan đến hoạt động của tình báo Liên Xô ở châu Mỹ La Tinh. Thật là của trời cho ! Trên cơ sở mã hoá bức điện đó, đến tháng 12 năm ấy người Mỹ đọc được toàn bộ một bức điện - chính là bức điện do Osa (Rut Grin-glát) phát đi tháng 12 năm 1944, với nội dung tối quan trọng: Tổ điệp báo Liên Xô hoạt động tại Niu Y-oóc chuyển về Mát-xcơ-va danh sách những nhà bác học đang làm việc trong Dự án Man-hát-tan. Kết luận hiển nhiên là: tại Lốt A-la-mốt thuộc bang Niu Mê-hi-cô của nước Mỹ, có thể là ngay trong phòng thí nghiệm chế tạo bom nguyên tử, có một (hoặc nhiều) gián điệp Nga đang (hoặc đã) làm việc? Tuy vậy, ngay cả xác định tên họ của điệp viên (hay các điệp viên) cũng không phải là công việc dễ dàng : trong bức điện, tất cả tên người, địa danh, cơ quan... đều là mật danh. Đành rằng căn cứ vào văn bản bức điện có thể đoán giải được một số tên riêng: tên gọi "Thuyền trưởng" chính là Tổng thống Ru-dơ-ven; "Ba-li-lon" là thành phố Xan phran-xi-xcô; "Tit" là thành phố Niu Y-oóc; Bộ Ngoại giao được gọi là "Ngân hàng", còn Bộ Quốc phòng được mang tên "Thùng thuốc súng" v.v... Còn lại, những tên khác, . những Charlse, Osa, Liberal, thì chẳng thể gợi lên một điều gì hết.

NHỮNG SAI SÓT TRONG KHÂU BẢO MẬT


Tháng 6-1945, trong một bức điện gửi về Mát-xcơ-va, tổ trưởng nhóm điệp báo Niu Y-oóc đề nghị cấp trên xét thưởng cho "Ong đất" số tiền 5.00 USD, một khoản tiền tương đối lớn lúc bấy giờ (tương đương 5.000 USD hiện nay). Cùng nằm trong danh sách xét thưởng còn có Clau-xơ Phốc, một nhà bác học người Đức cũng làm việc cho NKVD (Bộ Nội vụ Liên Xô - tiền thân của KGB). Gia nhập Đảng Cộng sản Đức từ năm 1930, C.Phốc bị bọn Giét-xta-pô truy lùng và buộc phải trốn sang nước Anh. Năm 1941, ngay khi đang làm việc trong Đề án nguyên tử của Anh, Phốc đã đồng ý hợp tác với cơ quan tình báo Liên Xô. Sau đó, theo sự giới thiệu và bảo lãnh của Thủ tướng Anh U.Sớc-sin, C.Phốc được Tổng thống Ph.Ru-dơ-ven nhận về tham gia Chương trình Man-hát-tan... Không rõ là do sơ xuất hay do chủ quan (nhiều người cho rằng do chủ quan, vì hệ thống mật mã của NKVD đã vận hành có hiệu quả trong nhiều năm mà chưa từng bị phát hiện) mà tên thật của em gái nhà bác học này - Cri-xten Phốc lại được để nguyên trong bức điện. Đồng thời, tổ điệp báo Niu Y-oóc còn mắc một sai lầm nữa về mặt nguyên tắc bảo mật đó là phái một nhân viên liên lạc - Ha-ry Gôn, đến gặp hai điệp viên C. Phốc và Đ. Grin-glát ("Ong đất") để trao tiền thưởng và nhận tin.

Trong khi đó, cỗ máy giải mã của cơ quan phản gián tình báo quân. đội Mỹ tiếp tục gia tăng cường độ công việc. Tháng 10-1948, khi M.Gác-nơ đã giải mã được nhiều bức điện của các tổ điệp báo Liên Xô và thu thập được nhiều bằng chứng về hoạt động của họ hướng về Chương trình nguyên tử Man-hát-tan thì sự vụ được chuyển giao cho Cơ quan điều tra liên bang (FBI). Người được giao nhiệm vụ trực tiếp xem xét việc này là điều tra viên Rô-bớt Lam-phơ. Thu thập và nghiên cứu các cứ liệu bổ sung, chẳng bao lâu R. Lam-phơ tìm ra sợi chỉ dẫn đến Clau-xơ Phốc. Tháng 9-1949, C.Phốc - lúc này đã quay trở lại làm việc tại Anh - bị bắt và bị dẫn giải về Mỹ.

Ngày 3 tháng 2 năm 1950, các tờ báo lớn ở Anh và Mỹ đồng loạt đưa tin về vụ bắt giữ C.Phốc. D.Grin-glát đọc được tin này vào lúc nghỉ ăn trưa. Sáng sớm ngày hôm sau, Giu-li-út Rô-den-béc đến gặp vợ chồng người anh rể và thông báo rằng, C. Phốc đã từng tiếp xúc với liên lạc viên Ha-ry Gôn, người mà vào tháng 6 năm 1945 cũng đã đến nhà Grim-glát để trao tiền thưởng và nhận tin. Theo nguyên tắc hoạt động cần phải tuân thủ trong những trường hợp tương tự, Giu-li-út yêu cầu vợ chồng Grim-glát ngừng mọi liên lạc và bỏ trốn. Thế nhưng "Ong đất" từ chối bỏ chạy: theo Đa-vít thì nếu có ai phải "sơ tán" thì đó là liên lạc viên H.Gôn chứ không phải vợ chồng anh ta, vả lại Rút không thích bỏ đi đâu cả.

Ba ngày sau, một bức điện khẩn được gửi từ Tổng hành dinh FBI ở Oa-sinh-tơn đến Lốt A-la-mốt yêu cầu cơ quan điều tra địa phương xác định ai trong số những cộng tác viên Chương trình Man-hát-tan đã từng có chuyến công cán đến Niu Y-oóc vào tháng giêng năm 1945. Bức điện bổ sung chi tiết, rất có thể nhân vật này có bí danh "Ong đất" bị tình nghi là điệp viên của NKVD (lúc này đã đổi tên là Bộ An ninh - MGB). Thoạt đầu, các nhân viên FBI ở Lốt An-la-mốt bị lạc hướng: họ ngờ rằng điệp viên của MGB chính là Et-uốt Te-lơ, sau này là cha đẻ của bom H, vì ông này cũng có quan điểm thiên tả và có quan hệ gần gũi với Phốc. Thế nhưng FBI đã kịp thời sửa sai sau khi Oa-sinh-tơn bổ sung chi tiết: rất có thể "Ong đất" là người có nguồn gốc Nga. Số lượng những người bị tình nghi cuối cùng được gút lại ở con số 6, trong đó Grim-glát đứng thứ hai.

Trong khi đó, Ha-ry Gôn vẫn chưa bị bắt và có vẻ như không ý thức được mối nguy hiểm đang đến gần. Anh vẫn tiến đến điểm hẹn như thoả thuận, song đối tác không xuất hiện, lãnh đạo tổ điệp báo cho rằng Gôn đã bị Phốc tố giác, bị lộ và nay đang đóng vai con mồi làm bẫy cho FBI. Gôn lo lắng, nhưng vẫn đến điểm hẹn lần thứ hai. Lần này, xuất hiện người ăn mặc đúng như dấu hiệu quy định. Từ bên kia đường, anh ta quan sát Gôn hồi lâu qua cặp kính cận dày rồi mới bước sang đường và tiến về phía Gôn. Gôn đợi chờ mật khẩu, nhưng người đó chỉ im lặng nhìn thẳng vào mặt Gôn rồi bỏ đi. Sau này, khi đọc báo, Gôn mới biết rằng người mang kính hôm ấy quả là đối tác của anh và đó chính là Giu-li-út Rô-den-béc.

Đến tháng 5 thì Phốc khai ra Ha-ry Gôn. Trước bằng chứng là bản sơ đồ đường đi mà 5 năm trước anh sử dụng để tìm đến nơi ở của Phốc, Gôn đã phải công nhận: "Vâng, tôi chính là người đã nhận báo cáo về bản đồ án nguyên tử của Calau-xơ Phốc."
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #55 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 03:10:48 pm »

HAI NGƯỜI ANH BẤT HẢO


Ngày 24 tháng 5 năm 1950, J. Rô-den-béc đến nhà Grim-glát và đút dưới cửa tờ "New York Harald Tribun" số mới nhất, ngay trên trang đầu là tin về vụ bắt giữ H.Gôn. Cái tên này không gợi cho vợ chồng "Ong đất" một khái niêm gì cả tuy vậy họ dễ dàng nhận ra người có bức ảnh trong bài báo.

Ngày 29 tháng 5, sự vụ đến tai I. Xta-lin và ông yêu cầu MGB giải trình. Bộ An ninh báo cáo rằng người Anh kết hợp với người Mỹ đã phát hiện ra chìa khoá mật mã của tình báo Liên Xô; số lượng các bức điện được giải mã không nhiều nhưng không may trong số đó có bức điện nêu tên nhà bác học kiêm điệp viên MGB C.Phốc và một số tình tiết khác. Để giảm tổn thất, tất cả các cán bộ tình báo của MGB có liên quan đến điệp vụ đã được lệnh rời Anh và Mỹ.

Theo kế hoạch, vợ chông Grim-glát, tiếp theo là vợ chồng Rô-den-béc trước hết chuyển sang Mê-hi-cô, rồi từ đó đường biển sang Thụy Điển. Kinh phí cho chuyến đi là 10.000 USD. Vợ chồng Grim-glát sau khi nhận phần kinh phí dành cho họ, giả vờ như ra đi; nhưng họ chờ cho vợ chồng Rô-den-béc rời khỏi thành phố lại quay về nhà, cứ như không có chuyện gì xảy ra.

Ngày 2 tháng 6, theo lời khai của Ha-ry Gôn, cảnh sát dễ dàng tìm thấy căn hộ mà 5 năm trước đây anh này đến gặp "Ong đất". Trí nhớ nhà nghề cũng giúp Ha-ry miêu tả đúng trang phục, giọng nói cũng như nhận ra Đa-vít trong một bức ảnh gia đình chụp từ những năm đó. Tiếp theo, việc xác định nhân thân Grim-glát chỉ còn là vấn đề kỹ thuật. Ngày 15 tháng 6, căn hộ nhà Grim-glát bị lục soát, Đa-vít được mời về điều kiện điều tra. Hầu như đã sẵn sàng từ trước rất lâu, Grim-glát ký ngay vào biên bản thừa nhận "người trong ảnh chính là người đã đến nhà tôi nhận tin năm 1945". Đa-vít cũng hứa hẹn sẽ hợp tác với toà án khi diễn ra phiên tòa.Con ong đã dứt khoát quay lại đốt người đã từng tin cậy nó.

Ngày 17 tháng 7, một tháng sau khi "Ong đất" bị bắt, căn cứ vào lời khai của Đa-vít Grim-glát, cảnh sát đã bắt giữ Giu-li-út Rô-den-béc tại nhà riêng của ông. Ngày 11 tháng 8, đến lượt Ê-ten bị bắt. Giữa tháng 8, FBI bắt thêm một thành viên nữa của nhóm Rô-den-béc là Moóc-tơn Xô-ben ngay trên biên giới khi ông này cùng vợ con trở về từ Mê-hi-cô.

Tại phiên toà, nhà bác học thẳng thừng phủ nhận tội danh làm gián điệp cho Liên Xô cũng như việc có quan hệ với Đa-vít. Đúng là ông anh rể đã có lần nói về công việc của anh ta ở Lốt A-la-mốt, nhưng tôi không quan tâm lắm; còn về bom nguyên tử thì chỉ biết đến sau Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki... Rô-den-béc cũng không giấu giếm rằng ông là đảng viên Đảng Cộng sản Mỹ. Khi được chủ toạ phiên toà Ap-ving Cốp-man yêu cầu phát biểu quan điểm về Liên bang Xô-viết. Rô-den-béc đã lên tiếng ca ngợi những thành quả của Liên Xô trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, ca ngợi cống hiến có tính quyết định của Liên Xô trong việc đập tan chủ nghĩa phát-xít. "Ý kiến cá nhân tôi là hãy để nhân dân mỗi nước tự quyết định họ cần một chính thể như thế nào. Nếu người Anh tôn thờ vua thì đó là việc của họ, người Nga thích chủ nghĩa cộng sản cũng là công việc của họ".

FBI cũng không tìm được bằng chứng trực tiếp để buộc tội Ê-ten. Họ liền quay sang thuyết phục bà hợp tác với cơ quan tình báo Mỹ, song bà cũng cự tuyệt. Đến lúc đó, FBI sử dụng một tình tiết trong lời khai của chị dâu bà, Rut Grim-glát để buộc tội Ê-ten: một lần, Đa-vít chuyển cho Giu-li-út một tài liệu quan trọng. Do nét chữ'của Đa-vít rất xấu nên Giu-li-út bảo vợ đánh máy lại tài liệu đó, còn bản thân Rut ngồi bên cạnh em dâu và giúp chỉnh sửa văn phong và lỗi chính tả. Đa-vít Grim-glát hoàn toàn khẳng định lời cung khai của vợ và như vậy đã trực tiếp đưa vợ chồng người em gái lên ghế điện.

Ngày 29 tháng 3 năm 1951, Toà án chính thức buộc tội cả ba người làm gián điệp cho Nga-xô. Ngày 5-4, chánh toà Cốp-man tuyên bố kết án tử hình vợ chồng Rô-den-béc, mặc dù cáo trạng của Viên công tố không đề nghị mức án này. Cốp-man lý giải rằng, "tội danh của hai người còn nặng hơn tội giết người"; ông ta còn đề nghị Quốc hội Mỹ nâng khung hình phạt tội làm gián điệp trong thời bình để "giáo dục răn đe". Moóc-tơn Xô-ben nhận 30 năm tù giam, nhưng chỉ phải ngồi 18 năm rồi được ân xá. Ngày hôm sau, lần dầu tiên kể từ khi bị bắt, hai vợ chồng Rô-den-béc được giam chung một xà lim. Họ cùng nhau hát vang những bài ca cách mạng và a-ri-a Chio Chio San, trích từ vở ô-pê-ra nổi tiếng "Madam Buuerfly".

Ha-ry Gôn cũng chỉ phải ngồi 16 năm tù trong tổng số 30 năm bị kết án. Năm 1966, ông được tha và đến năm 1972 thì chết ngay trên bàn phẫu thuật tim, thọ 60 tuổi. Clau-xơ Phốc ngồi 9 năm trong nhà tù nước Anh. Sau khi ra tù, ông trở về Cộng hoà Dân chủ Đức và trở thành ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng xã hội Thống nhất Đức cho đến khi chết vào năm 1988. Chính phủ Liên Xô đã tha thứ cho ông ta vì tội khai ra Ha-ry Gôn. Chỉ một người không bao giờ tha thứ cho Phốc, đó là điệp viên huyền thoại Kim Phin-bi. Cho đến khi chết, Kim vẫn cho Phốc là kẻ phản bội. Rút Grim-glát được tha bổng. Đa-vít bị kết án 15 năm tù, nhưng đến năm 1960 thì được tha.

LƯƠNG TÂM KHÔNG CẮN RỨT

Đơn kháng án của vợ chồng Rô-den-béc bị bác bỏ, còn Toà án tối cao Mỹ cũng không chấp nhận hoãn thi hành án. Ngày 19-6-1953, hai người bị xử tử trên ghế điện tại nhà tù Sing Sing và đến ngày 21-6 được mai táng tại nghĩa trang ở Long Ai-rơ-len. Chính vào ngày hôm đó, có một cậu bé lên 6 tuổi tên là Sam Rô-bớc đã chứng kiến cảnh đám tang ông bà Rô-den-béc diễn ra trên đường phố Brúc-klin. Nhiều năm sau khi đã là phóng viên tờ "New York Times", Sam đã cố công tìm ra "người hùng" Đa-vít Grim-glát năm xưa nay đã đổi tên và sinh sống tại một khu heo hút của thành phố Niu Y-oóc sầm uất. Năm 1996 Đa-vít đồng ý kể lại cho Sam mọi tình tiết của câu chuyện năm xưa và cho phép Sam toàn quyền sử dụng nội dung hồi ức theo ý muốn, chỉ với một điều kiện là Sam phải cho ông ta tiền... Đa-vít rất cần tiền! Chính trên cơ sở câu chuyện kể của Đa-vít mà nhà báo Rô-bớt đã viết và gần đây cho ra đời cuốn "Người anh trai", kể về tổ điệp báo Man-hát-tan cũng như cái chết bi hùng của vợ chồng Rô-den-béc.

Đa-vít Grim-glát, năm nay bước vào tuổi 80, thú nhận rằng đã dựng chuyện làm hai cô em gái và người em rể. Ông ta không nghĩ là có chuyện Ê-ten đánh máy tài liệu ông ta đánh cắp được; ông ta cũng đã quên lời khai năm 1951; đơn giản là ông ta chỉ nhắc lại như một cái máy và khẳng định lời khai của vợ. "Con ong đất" già nói, ông ta quả thật không ngờ sự việc lại dẫn đến cái chết của hai người em. Tuy nhiên, Đa-vít vẫn còn đủ "tỉnh táo" để cho rằng, nhẽ ra vợ chồng Rô-den-béc đã có thể thoát chết, cũng giống như vợ chồng y, nếu họ chịu cung khai và hợp tác với tình báo Mỹ. Chí ít là Ê-ten, nếu bà đổ hết mọi lội lỗi cho chồng! Hành động dũng cảm của người em gái được Đa-vít đánh giá là "ngu ngốc".

Những dòng cuối cùng trong cuốn "Người anh trai" được nhà báo Rô-bớt dành cho lời bình luận của ông về Đa-vít: "Grim-glát nói với tôi rằng ông ta không hề cảm thấy cắn rứt lương tâm vì chuyện năm xưa. Thật vậy, vì ông ta có lương tâm đâu mà cắn rứt".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #56 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 03:17:09 pm »

DIOMID ĐIỆP VIÊN HUYỀN THOẠI

TUYỂN MỘ

Lần đầu tiên Cơ quan tình báo đối ngoại của Liên Xô để ý đến Blake là tại Bắc Triều Tiên, sau khi ông bị phía Bắc Triều Tiên bắt giữ ở Seoul vào tháng 6-950. Vasily Dozhdalev, một người có khả năng nói thông thạo giá về Blake. Dựa trên bản đánh giá này, Nikolai Borisovich Rodin, biệt danh Korovin, liền được tiếp tục cử sang Triều Tiên và đạt được một thoả thuận với Blake về sự cộng tác trong tương lai cũng như những phương cách duy trì sự tiếp xúc giữa Blake với Tình báo Liên Xô. Các tài liệu mà Blake chuyển giao cho KGB đều dưới mật danh Diomid. Mùa xuân năm 1953, Blake là một trong số những tù binh người Anh được Bình Nhưỡng trao trả cho phía Anh. Sau khi quay trở về Luân Đôn, Blake đã có một kỳ nghỉ hè tại Hà Lan, nơi ông gặp gỡ với Rodin. Tại đó, hai người đã thoả thuận về những cuộc gặp gỡ tiếp theo ở Anh.

Trong khi đó, Tình báo Liên Xô tại Mát-xcơ-va phải lựa chọn người sẽ chịu trách nhiệm phụ trách Blake. Xét đến tầm quan trọng của điệp vụ này, người đó phải là không bị Cơ quan Phản gián Anh biết mặt. Anh ta cũng phải có những kiến thức cơ bản để có thể thực hiện công việc dưới vỏ bọc công khai ở Sứ quán Liên Xô. Đồng thời, người này phải có kinh nghiệm hoạt động chiến địch, nắm vững các kỹ năng giám sát và chống giám sát. Cuối cùng, người được chọn là Sergel Aleksandrovich Kondrashev, một sĩ quan tình báo trẻ tuổi. Để chuẩn bị cho sứ mệnh của mình ở Luân Đôn, Kondrashev phải đọc kỹ các hồ sơ của Diomid, nghiên cứu tỉ mỉ bản đồ thành phố Luân Đôn, xem xét các báo cáo giám sát tại Anh. Công việc của Kondrashev trong việc giám sát Sứ quán Mỹ tại Mát-xcơ-va rất có ích trong trường hợp này, bởi vì cũng như người Mỹ, Kondrashev buộc phải tìm mọi cách để thoát khỏi sự giám sát của đối phương.

Trong cuộc gặp gỡ ở Hà Lan giữa Rodin và Blake, KGB biết rằng Blake sẽ được đưa về làm việc ở Ban Y trong Cục tình báo Anh, theo lời của Blake, là nơi "có thể tiếp cận được với những chiến dịch mật mang tính kỹ thuật chống lại người Nga". Mặc dù dự án xây dựng đường hầm Berlin - được tình báo đặt mật danh là chiến dịch Gold - nhằm lắp đặt các thiết bị nghe lén vào đường cáp thông tin của Liên Xô trên phần lãnh thổ Đông Berlin do Liên Xô kiểm soát của CIA được bảo mật vô cùng kỹ lưỡng nhưng nó đã không thể thoát được cặp mắt của Diomid.

ĐIỆP VIÊN KGB THAM DỰ CUỘC HỌP CỦA CIA

Tháng 10 năm 1953, Kondrashev tới Luân Đôn dưới vỏ bọc Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Liên Xô phụ trách quan hệ văn hoá. Kondrashev làm đủ mọi thứ việc linh tinh, từ sắp xếp lịch biểu diễn cho danh cầm violon nổi tiếng Davitd Oistrakh cho tới việc mua vé cho những nhân vật VIP tới dự các hoạt động thể thao. Kondrashev cũng hoạt động như một nhân viên KGB địa bàn tạm thời cho đến khi Sergel Leonidovich Tikhvinsky tới thay thế cho Nikolai Borisovich Rodin. Nhưng trách nhiệm chính của Kondrashev là chiến dịch liên quan đến Diomid: chỉ có duy nhất Kondrashev biết tên thật cũng như vị trí công tác của nguồn tin quý báu này.

Cuộc gặp đầu tiên của Kondrashev với Diomid diễn ra vào cuối tháng 10 năm 1953. Đây là cuộc gặp gỡ để hai người làm quen với nhau, thoả thuận về những cuộc gặp tiếp theo cũng như bàn cách đáp ứng nhu cầu của Blake muốn có một chiếc máy ảnh để chụp lại những tài liệu mật qua tay ông. Trong cuộc gặp này, Blake đã chuyển cho Kondrashev danh sách sơ bộ những chiến dịch cài đặt máy nghe trộm mà SIS đã tiến hành chống lại những người Xô-viết Trong số này, có cả chiến dịch Silver, cũng là một đường hầm mà SIS đã đào ở Viên, thủ đô nước Áo. Nhưng Blake chưa nắm được chi tiết nào về đường hầm nghe lén sắp được đào ở Berlin.

Việc chỉ đạo hoạt động của Blake ở Luân Đôn không phải là việc dễ dàng. Trung tâm tình báo Mát-xcơ-va kiểm soát mọi bước của chiến dịch, không cho phép nhân viên KGB địa bàn có những sáng kiến hoặc hành động có thể dẫn tới việc làm chệch hướng quá trình đã được hoạch định từ trước. Một lần, Blake không xuất hiện tại cuộc gặp gỡ thường kỳ và cũng không có mặt ở buổi gặp dự bị đã được thoả thuận trước. Khi sự vụ này được báo về Mát-xcơ-va. Trung tâm chỉ thị là hãy chờ cho đến buổi gặp thường kỳ tiếp theo. Khi Blake vẫn không xuất hiện ở buổi gặp này, Kondrashev liền đề nghị cho phép được gặp Blake trên đường Blake đi tới cơ quan. Mát-xcơ-va từ chối và chỉ thị tiếp tục chờ cho tới lần gặp gỡ sau đó. Lần này, Blake hẹn gặp tại một rạp chiếu phim ở Luân Đôn và giải thích cho Kondrashev lý do ông vắng mặt trong mấy buổi gặp trước. Hoá ra Blake lo ngại về việc Petrov, một điệp viên của KGB khi đó vừa mới đào thoát sang Australia, là người biết về mối liên hệ giữa Blake với Tình báo Xô-viết. Blake muốn biết chắc chắn rằng SIS không tiến hành các hoạt động giám sát mình. Ngoại trừ mỗi lần trục trặc này, còn lại Kondrashev đã thường xuyên gặp gỡ với Blake mà không có một sơ sẩy gì cho tới khi Blake rời Luân Đôn vào năm 1955.

Trong những làn đi gặp Blake, Kondrashev luôn tìm được một lý do hợp lý nào đấy để rời khỏi sứ quán nhằm đánh lừa được sự giám sát của SIS. Chẳng hạn để chuẩn bị cho một cuộc gặp quan trọng diễn ra vào ngày 18  tháng 1 năm 1954, là người phụ trách các vấn đề văn hoá ở sứ quán, với lý do tiễn một đoàn vận động viên cờ vua của Liên Xô. Kondrashev hộ tống đoàn vận động viên ra sân bay. Thời gian còn lại trong ngày, Kondrashev đi mua sắm, xem phim. Trong suốt quá trình này, Kondrashev hai lần dùng một nhân viên KGB địa bàn khác kiểm tra xem có sự theo dõi hay không ở những địa điểm đã định trước trên lộ trình của mình. Cuộc gặp với Blake diễn ra ở tầng trên của một chiếc xe buýt. Sau khi nhận được những tài liệu của Blake chuyển cho, Kondrashev còn kiểm tra xem có đuôi bám theo không ở mấy trạm dừng tiếp theo nữa trước khi được một nhân viên KGB đón lên một chiếc xe đỗ ở gần đó.

Blake đã chuyển cho Kondrashev một bản sao chính xác biên bản cuộc họp diễn ra từ ngày 15 đến 18 tháng 12 năm 1953 ở Luân Đôn giữa các đại diện của CIA và SIS bàn về dự án tuyệt mật đường hầm nghe lén ở Berlin, được tình báo Mỹ đặt mật danh là "Gold". Blake nằm trong danh sách những người đại diện cho SIS tham gia cuộc họp này. Bản mã hoá tài liệu về cuộc họp ngay lập tức được chuyển về Mát-xcơ-va, nhưng mãi đến ngày 12 tháng 2 năm 1954, toàn bộ tài liệu mới được đưa ra để xem xét. Đích thân Kondrashev soạn và chụp lại bản báo cáo rồi gửi về Mát-xcơ-va theo đường túi thư ngoại giao dưới dạng phim âm bản. Nhưng đến những bản sao biên bản các cuộc họp sau đó, Blake chuyển cho, do khá rõ nét nên Kondrashev chuyển thẳng chúng về Mát-xcơ-va mà không cần chụp lại nữa. Dưới các bản báo cáo gửi về đều ký mật danh của Kondrashev là Rostov.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #57 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 03:19:33 pm »

CUỘC VƯỢT NGỤC HUYỀN THOẠI

Trong một cuộc phỏng vấn diễn ra vào tháng 5 năm 1995, Blake đã nhắc lại một tuyên bố của ông, vốn đã được thể hiện trong cuốn sách Không có sự lựa chọn nào khác, rằng ông đã rời khỏi Tiểu ban kỹ thuật ở Luân Đôn vào tháng 1 năm 1955, sau đó được cử đến trạm SIS tại Berlin. Ông cũng không đề cập đến dự án đường hầm Berlin, một dự án được thực hiện hết sức bí mật và nằm ngoài tầm kiểm soát của trạm SIS tại Berlin. Blake cho rằng đến giai đoạn đó, dự án này đã hầu như nằm hoàn toàn trong quyền kiểm soát của CIA. Theo như Blake được biết thì các trang thiết bị lắp đặt trong đường hầm không phải được cung cấp tại Berlin mà hằng ngày được máy bay của Anh chở sang từ Luân Đôn. Blake cho rằng tất cả những thông tin tình báo thu thập qua đường hầm Berlin đều được Luân Đôn gửi cho người đứng đầu trạm SIS Berlin là Peter Lunn, người đã biết về dự án đường hầm Berlin ngay từ khi nó mới bắt đầu. Nhưng cũng là hợp lý khi cho rằng, Blake đã báo động cho người Xô-viết biết đường hầm bắt đầu thu thập các thông tin tình báo kể từ tháng 5-1955. Khi tới Berlin, người đầu tiên Blake gặp là Nikolai Borisovich Rodin, sĩ quan KGB đã từng tuyển mộ ông. Rodin bảo Blake là chớ có tiết lộ việc ông biết về đường hầm Berlin với bất kỳ ai, kể cả những điệp viên KGB khác. Sau đó, đến lượt Vasily Alekseevich Dozhdalev tiếp nhận việc chỉ đạo hoạt động của Blake trong thời gian Blake ở Berlin. Sau khi giúp KGB phá vỡ chiến dịch "Gold" trị giá nhiều triệu USD của CIA và SIS, sự nghiệp tình báo của Blake đã trải qua vô số những thăng trầm mà ngay cả các nhà viết tiểu thuyết trinh thám giàu trí tưởng tượng nhất cũng không thể hình dung được. CIA và SIS hoàn toàn không có một mảy may nghi ngờ nào về vai trò của Blake trong sự đổ vỡ của chiến dịch này, ngay cả khi một điệp viên người Đức tại trạm hỗn hợp CIA-SIS ở Berlin tên là Horst Eitner thú nhận rằng anh ta và có thể cả Blake đã làm việc cho KGB. Blake khôn khéo dẹp tan được sự nghi ngờ nhưng vẫn quyết định phải chuyển địa bàn hoạt động. Ông đề nghị với tình báo Anh cho mình chuyển công tác sang Trung Đông. Năm 1960, Cục Tình báo Anh cử Blake tới Liban, chuẩn bị cho việc mở rộng hoạt động của Trạm tình báo của SIS tại Beirut.

Trong thời gian Blake ở Liban, một điệp viên của Cơ quan tình báo Ba Lan tên là Mikhail Golenievski đã bí mật làm việc cho CIA. Trong số những tiết lộ của người này về các điệp viên KGB ở Berlin có tên George Blake. Tháng 1 KGB, chứng thực rằng Blake là một điệp viên của KGB.

Với lý do cần phải thảo luận về vị trí công tác tiếp theo của Blake, SIS gọi Blake về Luân Đôn và bắt giữ ông. Những kết quả điều tra ban đầu của SIS cho thấy, ngoài việc đóng một vai trò chính yếu trong việc phá vỡ chiến dịch "Gold", Blake đã từng giúp KGB bắt giữ nhiều điệp viên quan trọng của Phương Tây, trong đó đặc biệt có Piotr Popov, một đại tá làm việc trong Cơ quan Tình báo quân sự GRU của Liên Xô đã phản bội trong một thời gian dài, bán nhiều bí mật cho Phương Tây.

Năm 1961, một phiên toà của Anh đã kết án Blake 42 năm tù giam, một mức án nặng chưa từng có đối với một điệp viên hoạt động trong thời bình. Khi đó, Blake mới 39 tuổi và những tưởng cuộc đời còn lại của ông sẽ chỉ diễn ra sau những chấn song sắt. Nhưng sau 6 năm trong tù, Blake đã thực hiện một cuộc vượt ngục ly kỳ chưa từng có thoát khỏi một trong những nhà tù được canh gác cẩn mật nhất của nước Anh. Người giúp Blake vượt ngục là Sean Bourke, một bạn tù, đồng thời là thành viên của tổ chức Quân đội Cộng hoà Ireland. KGB đã thành công trong việc đưa Blake thoát khỏi cuộc săn lùng trên quy mô toàn nước Anh. Blake có một ngôi nhà ở Liên Xô và lấy một người vợ Nga (ông có vợ và hai con ở lại Anh).

Năm 1990, trong một cuộc phỏng vấn của truyền hình Liên Xô, Blake cho biết đã giúp KGB phát hiện được khoảng 600 điệp viên của CIA và SIS.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #58 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 03:23:24 pm »

CƠ QUAN RẤT BÍ MẬT CỦA RISƠLIƠ



VỤ KIỆN MỘT XÁC CHẾT


Tôi đã nói đến một số chi tiết về sự vận hành của các cơ quan bí mật trong thế kỷ phân chia giữa khi Elisabeth lên ngôi với cái chết của vua Charles I. Ta cần quay lại đằng sau bởi vì ở châu Âu không chỉ có người Anh hoạt động tình báo và gặt hái được những thành công.

Đồng thời với những chiến công đẹp nhất tại Pháp và nhất là tại Espana của Walssingham, thì hai nước này đã tuyển chọn được một điệp viên đáng sợ để chống lại người Anh: một trong những người kế vị Walssingham tại sứ Pháp đóng tại Paris, Edward Stafford. Ông này đang rất cần nhiều tiền, nên bị Công tước De Guise mua chuộc được và trao cho nhiệm vụ lấy cắp những công văn quan trọng nói về chính sách của Anh tại Hà Lan; 1585, Mendoza, sứ thần Espana tại Pháp, tin tưởng dùng được ông ta.

Trong khi các điệp viên Anh dò xét về hoạt động của Đại hạm đội Espana, thì một điệp viên của Espana điều tra các hoạt động của hai đô đốc Anh Hewerd và Drake. Họ cũng biết chắc về ý đồ của Nữ hoàng Elisabeth muốn ký hiệp ước liên minh với vua Henri 3 của Pháp. Có những suy đoán rằng điệp viên của Espana đó phải là Stafford; nhưng chẳng có chứng cứ; sứ thần không bao giờ bị phát hiện, ít ra khi ông còn sống. Ông trở về và sống bình yên trong lâu đài riêng nhiều năm dài.

Cũng một điệp viên Espana nữa phát hiện cho nước này về liên minh Pháp-Anh chống Espana do Sully tiến hành với vua Jacques 1. Điệp viên này là viên bí thư sứ quán Anh tại Pháp. Bối rối trước triển vọng có thể bị bắt, viên bí thư này nhảy xuống sông Marne. Người ta vớt xác y lên, tô son phấn vào rồi đưa ra toà xét xử.

Đó chỉ là những thắng lợi sáng chói nhưng lẻ tẻ. Ít lâu sau, một cơ quan đặc biệt chính cống sẽ ra đời tại Pháp, gần với thời kỳ tàn lụi của cơ quan tình báo Anh khoảng năm 1625. Tuy không biết thật rõ sức mạnh và "những chiến công" của nó, nhưng ta có thể nói rằng cơ quan này tiến ngang, thậm chí tiến vượt cả cơ quan của Walssingham. Những người sáng lập ra nó là một trong những nhân vật vĩ đại nhất của lịch sử nước Pháp.

MỘT CƠ QUAN RẤT BÍ MẬT


Chính năm 1624 Armand Jean du Plessis, tức Hồng y Richelieu (Risơliơ) tham gia Hội đồng của nhà vua Lui 13, và rồi trở thành thủ trưởng vững chắc của Hội đồng đó. Ông mới ba mươi chín tuổi.

Các sử gia đều nhất trí nhận xét rằng những thành tích đặc biệt của Risơliơ về ngoại giao là do ông có thiên tài về chính trị, được một quân đội nói chung đánh đâu được đấy và nhờ thông tin về mọi quyết định trong các triều đình nước ngoài. Không sử gia nào chối cãi việc Giáo chủ có một cơ quan đặc biệt đứng hàng đầu của thời đại lúc đó. Trong khi ta biết về cơ quan tình báo Anh, từ Walssingham đến Cromwell và những người kế vị sau này, hiểu đến mức ta có thể lên thống kê danh sách điệp viên của họ cũng như lương bổng của chúng, còn điệp viên của Risơliơ thì ta chẳng có nhiều sử liệu. Mặc dù viết lách nhiều nhưng Hồng y không bao giờ đề cập đến chuyện này. Trung thành với lời hứa đối với các điệp viên của mình, ông không hề nêu tên tuổi hoặc nhiệm vụ nào của họ. Tôi đành phải căn cứ vào việc sưu tầm các hồi ký và báo chí thời đó mới có thể tả lại sơ bộ tình hình tổ chức và hoạt động của cơ quan bí mật của Richelieu, chắc đây cũng là việc chưa ai làm.

NHỮNG Ý ĐỒ LỚN CỦA RISƠLIƠ

Những hoạt động của các cơ quan bí mật đó xuất phát từ ba nhiệm vụ của triều đình Pháp mà Hồng y là tể tướng: triệt phá tổ chức đạo Tin Lành tại Pháp, hạ uy thế nhà vua áo và trấn áp các âm mưu khởi nghịch của giai cấp quý tộc có quan hệ với những nước thù địch.

Hồng y không phải là một người theo đạo Thiên Chúa cố chấp. Ông đã từng viết rằng: "Tuy có nhiều người khác tín ngưỡng với chúng ta, nhưng chúng ta vẫn có thể yêu mến nhau được, đó là suy nghĩ của tôi". Chính sách đối ngoại của ông thừa kế tư tưởng của vua Henri 4 khẳng định quan điểm độc lập tôn giáo, bởi vì ông đã từng liên kết với nhiều nước theo đạo Tin Lành để chống chọi lại quân thù theo đạo Thiên Chúa. Nhưng ông không chấp nhận để đạo Tin Lành thành lập một quốc gia nằm trong quốc gia, chiếm đóng những vị trí quân sự mạnh, hoặc bất tuân quyền của nhà vua như La Rochelle chẳng hạn.

Khi Risơliơ tham gia Hội đồng nhà vua là lúc nhà Habsbourg của nước Áo đang mạnh đến cực đỉnh do Charles Quint xây đắp nên.

Trưởng nhánh Áo của nhà này là Ferdinand 2 trị vì các nước Áo, Hung, Bohême, là Hoàng đế nước Đức có quyền cai quản trên lý thuyết tất cả các nước nhỏ nằm trong vùng này.

Trưởng nhánh Espana của nhà Habsbourg là Philippe 5 trị vì trên nước Espana, Bồ Đào Nha, xứ Flandres và xứ Franche-Comté, Milanô, Vương quốc Xixin, Toscane, châu Mỹ. Em gái ông la Hoàng hậu Anne của nước Pháp!

Sức mạnh của đế quốc rộng lớn của gia đình này là một sự đe doạ dáng sợ đối với nước Pháp. Risơliơ tìm mọi cách để phá nó bằng quân sự, chính trị, khi ông tham gia cuộc Chiến tranh Ba mươi năm. Tuy cuộc chiến tranh này bắt đầu từ năm 1618 tức là trước khi ông bước chân vào chính trường và kết thúc năm 1648 sau khi ông mất, ông vẫn là người đập phá chính triều đình Áo được đánh dấu bởi hiệp ước Westphalle.

Suốt thời tham chính của ông, ông phải đối phó với những nhân vật hàng đầu trong nước để thuần hoá họ dưới quyền vua Pháp. Trước hết là dẹp những âm mưu của Thái hậu Marie de Médicis, rồi em vua là Gaston d'Orléans, đôi khi là âm mưu của Hoàng hậu Anne nước Áo, cả Quận công Vendôme, em cùng cha khác mẹ của vua, rồi Quận công Henri de Ronan, thủ lĩnh đạo Tin Lành, công chúa De Condé, Quận công de Soissons, Quận chúa de Chevreuse, Nam tước de Cinq-Mars, và nhiều lãnh chúa nho nhỏ nữa. Số này có người dựa vào thế lực của đạo Tin Lành Pháp và Anh, số khác dựa vào Espana.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #59 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 03:26:10 pm »

CHIẾC ĐỘNG TỐI

Ta thấy cơ quan đặc biệt của Risơliơ gánh vác những nhiệm vụ thật nặng nề. Rất may mắn cho Hồng y và cho nước Pháp nữa, Hồng y đã chọn được một con người xứng đáng với thiên tài của mình để cùng ông chỉ đạo chặt chẽ cơ quan bí mật của Pháp.

Francois Le Clerc du Tremblay sinh năm 1577 , tức là tám năm trước khi Risơliơ ra đời. Cha vị này là một quan toà có tiếng đã từng là sứ thần tại Vơnidơ; mẹ ông họ La Fayette, dòng dõi quý tộc xứ Auvergne. Khi ông hai mươi tuổi, cha mẹ ông gửi ông vào đội quận của Nguyên soái de Montmorency; ông đã trải qua cuộc vây thành Amiens và tỏ ra xuất sắc; nhưng một năm sau, ông vào tu tại dòng thánh Phanxicô với tên là Giôdep.

Sự nghiệp của linh mục Giôdep nổi bật ngay lập tức. Là cha linh hồn của bà Orléans-Longueville, ông được bà cho phép lập nhiều tu viện nữ lấy tên là tu hội Thánh giá. Ông kết thân với giám mục Loudun - sau này là Hồng y Risơliơ. Ông được triều đình yêu mến và đáng ngạc nhiên là ông thừa sức lên chức giám mục nhưng ông cứ mãi là linh mục thôi. Vua phái ông làm sứ thần bên cạnh Giáo hoàng Clément 8 và tại triều đình Espana. Sau khi Quận công de Luynes từ trần, vua Lui 13 quyết định bổ nhiệm Thượng thư có hỏi ý kiến nhà tu hành này, ông đề cử giám mục Loudun.

Risơliơ không quên cái ơn huệ này, cho nên sau khi đã củng cố xong vị trí, ông viết cho linh mục bức thư như sau:

"Vị linh mục là người chủ yếu mà Chúa đã dùng để dẫn tôi đến mọi vinh dự hiện nay, nên tôi có bổn phận phải báo tin vui cho ngài rằng. Nhà vua đã trao cho tôi chức Tể tướng... đồng thời tôi xin ngài sớm đến cùng tôi chia xẻ trách nhiệm điều hành công vụ. Có những việc cấp bách mà tôi không thể trao cho ai hoặc giải quyết nó mà không có ý kiến của ngài. Xin ngài đến đây sớm để nhận những tấm lòng quý trọng của Hồng y Risơliơ đối với ngài".

Linh mục Giôdep đã đến theo lời mời của Hồng y. Từ đây trở đi giữa hai người thiết lập sự cộng tác kéo dài đến khi Giôdep tạ thế.

Sự thân thiết của hai giáo phẩm này, những điều tinh tế về trí tuệ, sự nhất trí về chính trị của họ đến mức mà người ta đã phải ví đó là "hai cái đầu đội chung một chiếc mũ"; sự cộng tác của hai người chặt chẽ đến mức rất khó phân tích được công của ai trong chính sách đối ngoại.

Không phải là Thượng thư, nhưng linh mục Giôdep mạnh hơn bất cứ ông thượng thư nào; sau Hồng y, ông là thủ trưởng của ngoại giao, của công tác bí mật. Đây là hai lĩnh vực ông chỉ đạo với tài năng, thông minh, táo bạo, mưu mẹo và quỷ quyệt. Risơliơ lúc gọi ông là "Ezechily (Ơdisili)", tức là "Cái động tối"; người khác thì gọi ông là "Mưu sĩ"; có kẻ đặt cho ông tên là "Nero và "Paletin". Qua những cái biệt danh đó, ta thấy con người có hai bản lĩnh tiên tri và kẻ khiêu khích, tự tin và quỷ quyệt.

Nhân vật kỳ lạ và độc địa này là một trong những nhân vật có thế lực nhất của Pháp, suốt đời có thời gian biểu là thức giấc từ bốn giờ sáng, đọc kinh làm lễ từ đó đến sáu giờ sáng, ngủ trên một nệm rơm, vào triều chỉ mặc quần áo len nâu thô, khi ra trận thì vận quần áo kị sĩ hoà mình với binh sĩ; hàng tháng vắng mặt mấy ngày để ẩn cư tại nữ tu viện của ông ở phố Thánh Honoré, hoặc tại nữ tu viện Thánh Giá, hoặc đi công tác bí mật theo lối cải trang; liên minh với các nước theo đạo Tin Lành để chống lại nước Áo theo đạo Thiên Chúa, còn ở trong nước thì trấn áp tàn bạo những người theo đạo Tin Lành; sống hoàn toàn khắc khổ, nhưng lại giam anh họ là linh mục de Troies trong ngục Baxti suốt mười năm vì tội đã dám phát biểu rằng "Một tu sĩ dòng Phanxicô không nên tham dự vào những công việc của triều đình". Giôdep bao giờ cũng sống thánh thiện nhưng lại bị kẻ thù công kích là kẻ đã gây ra những tội ác khủng khiếp.

Nhân vật này kỳ lạ ở hành vi và hình thức. Đi chân đất, lưng đầy sẹo do ông tự hành mình và khi ông hạ chiếc mũ trùm đầu xuống ta sẽ thấy một vết sẹo ở gáy vì theo lời thầy thuốc, ông đã dùng thanh sắt nung đỏ dí vào gáy để chữa đôi mắt bị mờ của ông.

Nhân vật kỳ lạ vì ông làm cho người ta vừa kính trọng vừa căm thù chẳng những khi ông còn sống mà cả khi ông nằm xuống. Cả Thủ đô Paris chen nhau dự đám tang của ông, có cả ngàn xe ngựa đi tiễn. Và cả Paris khoái chí về lời châm chọc truy tặng ông, người ta chôn ông bên cạnh Ange là người sáng lập ra nữ tu viện của ông; có kẻ đã viết trên tấm bia của ông.

Người qua đường, đó không có gì lạ
Bằng một con quỷ ở gần một thiên thần đến thế?


Đó là con người của linh mục Giôdep, vị tu sĩ khắc khổ và dữ dằn, tinh tế và đáng lo ngại này, người đã tổ chức cơ quan đặc biệt của Risơliơ. Người ta nói, chính ông ta đã chỉ huy nó. Điều này có phần đúng. Ông đã giải quyết tất cả những công việc sự vụ. Những việc lớn ông hành động với mối quan hệ chặt chẽ với Hồng y, nói cho đúng hơn, đó là sự đồng chỉ huy. Sau khi ông chết, cơ quan đặc biệt tiếp tục hoạt động với hiệu suất và phương pháp như khi ông còn sống, chỉ khác đi là một mình Hồng y chỉ đạo cơ quan này.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM