Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:56:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng  (Đọc 53851 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #20 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 05:29:17 pm »

“Tôi trở về Phú Yên như người con trở về với gia đình. Tôi rất tự hào được là người con của Phú Yên, một vùng đất anh hùng, nơi lá cờ Đảng đã tung bay từ năm 1930. Tôi đã ở Phú Yên trong thời gian đen tối nhất của cách mạng miền Nam và tận mắt tôi đã chứng kiến Đảng bộ và nhân dân Phú Yên đấu tranh bất khuất kiên cường. Trận đánh tiêu diệt chi khu Củng Sơn để giải thoát tôi năm 1961 chính là trận tiêu diệt chi khu địch đầu tiên ở Trung bộ…” - đó là ý kiến trả lời phỏng vấn của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với Báo Phú Yên trong chuyến về thăm Phú Yên ngày 10-3-1993.

Ngày 11-3-1993, một cụ già 83 tuổi trầm tư dạo bộ trên nhiều đường phố thị xã Tuy Hòa và dừng lại ở khách sạn Vĩnh Đông Á. Nhiều lúc cụ dừng lại chuyện vãn tay bắt mặt mừng. Cụ già ấy là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ – nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên quyền Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang làm một cuộc hành hương về nơi đã cưu mang mình trong những năm tháng bị Mỹ ngụy lưu đày.

Mở đầu bài phát biểu với cán bộ, nhân dân trong buổi mit tinh chào mừng luật sư trở về thăm người xưa chốn cũ Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ bày tỏ niềm xúc động sâu lắng: “Cách đây 32 năm, mảnh đất Phú Yên này đã là nơi kẻ địch quản thúc, giam lỏng tôi và những đồng chí khác trong phong trào hòa bình Sài Gòn – Gia Định, mà người dân Phú Yên vẫn quen gọi là mấy Ông hòa bình. Qua 6 năm trời ròng rã, đến khi tôi được tổ chức mốc nối và được cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Phú Yên giúp đỡ đưa ra vùng căn cứ cách mạng, thì những Củng Sơn, Tuy Hòa, Nhạn Tháp, Chóp Chài, Đà Rằng… với những tấm lòng yêu nước, gắn bó với cách mạng của đồng bào, đồng chí ở đây đã thực sự trở thành một phần tâm hồn tôi.

Hôm nay, tôi bồi hồi xúc động có dịp được thăm lại những chốn cũ, gặp lại những người xưa. Bao nhiêu kỷ niệm của một thời kỳ gian lao mà anh dũng như cuốn phim quay ngược đã làm sống lại trong tôi những hình ảnh thân thiết và những tình cảm không thể phai mờ. Tình cảm đầu tiên của tôi là lòng biết ơn vô hạn đối với nhân dân Phú Yên”.

Ngày 15-11-1954, Mỹ-Diệm bắt luật sư Nguyễn Hữu Thọ và một số đồng chí của ông đưa ra quản thúc tại Phú Yên. Kẻ thù đã lưu đày luật sư ở những nơi hẻo lánh như Hòa Thịnh (huyện Tuy Hòa), thị trấn Củng Sơn (huyện Sơn Hòa), chúng hy vọng đường xa cách trở, dân trí những nơi đó thấp nên sẽ cô lập luật sư với bên ngoài. Nhưng chính ở những nơi hẻo lánh này, nhân dân đã bày tỏ tình cảm quý mến đặc biệt đối với nhà cách mạng bị Mỹ-Diệm lưu đày. Tổ chức Đảng bám tình hình sát sao và luôn tìm cách bắt liên lạc với luật sư.

Sau Nghị quyết 15, việc thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là vấn đề bức thiết nhưng vị chủ tịch đã được Bác Hồ và đồng chí Lê Duẩn lựa chọn lại đang bị địch quản thúc tại Phú Yên. Trung ương giao trách nhiệm cho ông Trần Nam Trung (Trần Lương) – Ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Khu ủy V và Tỉnh ủy Phú Yên thực hiện kế hoạch giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ.

Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng trong chỉ thị của Trung ương và Khu ủy V, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên Trần Suyền giao nhiệm vụ cho đồng chí Công Minh – Bí thư Huyện ủy Tuy Hòa 2 và đồng chí Tâm – cán bộ trinh sát ban quân sự tỉnh tổ chức đưa người vào thị xã bắt liên lạc với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Lúc này luật sư đang chữa bệnh tại bệnh viện Tuy Hòa.

Để có căn cứ làm niêm tin, Trung ương đã chuyển vào Phú Yên lá thư của giáo sư Phạm Huy Thông – người bạn chiến đấu gần gũi của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ trong phong trào hòa bình, lúc đó là Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bà Thừa Hoàng (Phan Thị Bỉnh) cơ sở cách mạng hợp pháp ở thị xã Tuy Hòa trực tiếp chuyển lá thư này đến tay Luật sư Nguyễn Hữu Thọ như ám tín hiệu liên lạc đáng tin cậy.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thổ lộ: “Hôm bà Thừa Hoàng mang lá thư của giáo sư Phạm Huy Thông từ Hà Nội gởi cho tôi, tôi mừng đến run cả người, suốt đêm không ngủ. Tôi thầm phục Trung ương, thán phục sự tinh tế đến từng chi tiết của Bác Hồ. Một lá thư với vài dòng chữ thăm hỏi bình thường nhưng nếu không có lá thư này thì làm sao tôi tin được những người tôi gặp là của Đảng. Và cảm động xiết bao, lá thư thấm bao mồ hôi và cả máu của hàng chục con người để cuối cùng được bà Thừa Hoàng trao cho tôi”.

Sau khi liên lạc với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, đồng chí Công Minh triệu tập ông Nguyễn Sự – cơ sở cách mạng hợp pháp ở thị xã Tuy Hòa lên căn cứ để bàn kế hoạch giải thoát.
Theo kế hoạch đã định, nhóm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ có sẵn hai xe đạp. Ông Thọ đưa tiền cho ông Sự mua chiếc thứ ba. Đến giờ hẹn, nếu có xe đem lại là mọi việc ổn, cứ thế mà lên đường thoát ra vùng căn cứ dọc đường số 7 (nay là Quốc lộ 25 nối liền Phú Yên với Cheo Reo). Một tiểu đội trinh sát cảm tử sẽ đón đoàn tại chùa núi Cam, đưa đến mả Ba Liêm ở bìa rừng phía tây Tuy Hòa. Tại đó có một trung đội quân giải phóng chờ sẵn để bảo vệ đoàn về cơ quan Tỉnh ủy.

Chiều ngày 10-9-1960, địch đánh hơi bố trí cảnh sát dày đặc từ ga xe lửa đến cầu Ông Chừ (điểm mở đầu của đường số 7). Ông Thọ ở bệnh viện chờ mãi không thấy anh Sự trở lại. Tối hôm đó, luật sư mạo hiểm đến nhà ông Sự thì được biết là công việc bị trục trặc.

Sáng 11-9-1960, ông Nguyễn Sự từ thị xã lên núi Sầm (cách thị xã Tuy Hòa 3km) báo cáo đồng chí Công Minh về kế hoạch bị hỏng và xin chỉ thị trở lại. Chưa đến được điểm hẹn, thì công an ngụy đã đuổi theo bắt anh Sự đánh hộc máu mồm và đưa về bệnh viện đặt trước phòng bệnh của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Chúng tra tấn ông Nguyễn Sự vô cùng dã man ngay trước mặt luật sư. Ông Sự kiên cường cắn răng chịu đựng không hé răng khai báo nửa lời và cả hai người giữ vẻ thản nhiên như chưa từng quen biết nhau.
Nhờ vậy, tuy địch có nghi ngờ nhưng chưa moi được điều gì. Kế hoạch giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ vẫn giữ được bí mật. Chúng tức tối đưa luật sư lên quản thúc ở Củng Sơn (Sơn Hòa).

Ngày 20-12-1960, Mặt trận giải phóng dân tộc Việt Nam ra đời nhưng vị Chủ tịch được Đảng chọn vẫn còn nằm trong nanh vuốt của kẻ thù. Việc giải thoát luật sư càng trở nên cấp thiết.

Khu ủy V cử đồng chí Bùi Dinh (Tư Khiêm) Khu ủy viên về Phú Yên cùng đồng chí Nguyễn Lầu – Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban quân sự tỉnh – nghiên cứu tìm phương án tối ưu giải thoát luật sư. Đồng chí Nguyễn Đùng (Ba Suối) cơ sở cách mạng ở Củng Sơn và đồng chí Võ Minh – phụ trách đội công tác A12 đã phát hiện Mỹ-Diệm giam giữ luật sư  trong khu vực chi khu của quận lỵ Củng Sơn. Do địch quản thúc nghiêm ngặt, ta không thể giải thoát luật sư bằng con đường bí mật.
Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên quyết định dùng phương án tập kích quận lỵ Củng Sơn để giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Thường vụ Tỉnh ủy chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Văn Đông – cơ sở cách mạng hợp pháp ở Củng Sơn điều tra trinh sát, vẽ sơ đồ bố trí lực lượng địch ở chi khu quận lỵ Củng Sơn. Phương án tiến công của Tỉnh ủy Phú Yên để giải thoát luật sư được Khu ủy khu V nhất trí phê chuẩn.

Để bảo đảm kế hoạch giải thoát, Khu ủy V tăng cường cho Phú Yên một đại đội của tỉnh Đắc Lắc, một đại đội (thiếu một trung đội) của tỉnh Gia Lai, một tiểu đội đặc công của khu V gồm 6 đồng chí do đồng chí Ý phụ trách, một tổ đặc công Đắc Lắc do đồng chí Hào phụ trách. Lực lượng Phú Yên tham gia trận đánh Củng Sơn có đại đội 375 tăng cường một trung đội của huyện Tuy Hòa 1; một tiểu đội trinh sát do đồng chí Hoan phụ trách, một tổ đặc công tỉnh do đồng chí Thanh phụ trách. Tỉnh thành lập thêm một trung đội để bổ sung vào đại đội thiếu… của Gia Lai. Theo kế hoạch, trận đánh Củng Sơn được thực hiện tháng 5-1961. Đại đội 375 chủ công của tỉnh đang huấn luyện tại Suối Ché thì địch càn quét quy mô lớn lên buôn Ma Phu. Đại đội 375 tổ chức đánh phục kích diệt cả trung đội nhưng do địch có ưu thế về quân số và hỏa lực nên ta hy sinh 17 đồng chí.

Đại đội 375 cần được củng cố bổ sung thêm quân số. Tháng 6-1961, công tác chuẩn bị mọi mặt bảo đảm cho trận đánh Củng Sơn hoàn thành. Phương án này do đồng chí Nguyễn Ánh Hồng chuẩn bị, được đồng chí Tư Khiêm và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua.

Đêm 18 rạng ngày 19-6-1961, trận tập kích quận lỵ Củng Sơn thật dũng mãnh dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Tư Khiêm và đồng chí Nguyễn Lầu, đóng chỉ huy sở ngay tại Hòn Ngang thị trấn Củng Sơn.
Quân ta san bằng chi khu Củng Sơn, tiêu diệt 70 tên địch, thu nhiều vũ khí. Hai tổ đặc công Phú Yên và Đắc Lắc do đồng chí Thanh và đồng chí Hào chỉ huy với sự dẫn đường của cơ sở luồn vào khu vực quản thúc luật sư nhưng một sự cố bất ngờ ngoài dự kiến xảy ra. Chiều hôm trước (18-6-1961), vợ con luật sư từ Sài Gòn ra thăm, địch cho ông về Tuy Hòa gặp vợ con. Cơ sở của ta ở Củng Sơn biết việc này nhưng không báo tin kịp cho chỉ huy sở. Quân giải phóng trân trọng mời các vị trong đoàn hòa bình: giáo sư Nguyễn Văn Hiếu, bác sĩ Phùng Văn Cung ra vùng căn cứ.

Đây là chi khu quân sự đầu tiên ở Trung bộ bị tiêu diệt. Báo cáo của Ty công an ngụy quyền Phú Yên số 4835 ngày 21-6-1961 chua xót thú nhận: “Quận lỵ Sơn Hòa bị tấn công, vị trí này bị thất thủ. Việt cộng gây thiệt hại nặng cho ta về nhân mạng cũng như vũ khí”.
Sau sự kiện Củng Sơn, địch đưa luật sư Nguyễn Hữu Thọ về quản thúc nghiêm ngặt tại thị xã Tuy Hòa.
Qua hai lần giải thoát luật sư không thành. Tỉnh ủy Phú Yên giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Suyền – Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Nguyễn Lầu – Tỉnh đội trưởng lên kế hoạch tổ chức giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Đó là một kế hoạch táo bạo bất ngờ và khá mạo hiểm. Ông Lưu Trọng Điểu và ông Nguyễn Đùng (Ba Suối) là hai cơ sở cách mạng trung kiên được đồng chí Trần Suyền giao nhiệm vụ bắt liên lạc với luật sư, thống nhất kế hoạch và ám tín hiệu.

Điểm hẹn giải thoát đón Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là mả bà Dũ Ký – một ngôi mộ người Hoa bề thế nằm trong khu nghĩa địa Hoa kiều dưới chân núi Chóp Chài ven đường Quốc lộ I, cách thị xã Tuy Hòa 4 km về hướng bắc.
Theo kế hoạch, luật sư mua một chiếc xe đạp chiều chiều đạp xe vòng quanh thị xã như tập thể dục. Lúc đầu bọn mật vụ bám sát từng bước đi nhưng thấy “ông hòa bình” đạp vòng vòng rồi về khách sạn Vĩnh Đông Á (nơi địch quản thúc), bọn địch dần dần lơ là theo dõi. Hàng tháng như vậy, bọn địch mệt mỏi và chỉ còn một hai tên theo dõi lấy lệ.

Trong thời gian này, đồng chí Tỉnh đội trưởng Nguyễn Lầu chọn ba đồng chí đặc công trinh sát gan dạ ở cùng quê của ông ngay dưới chân núi Chóp Chài (điểm hẹn giải thoát) về bám cơ sở địa phương hàng tháng trời để chuẩn bị đón luật sư. Đó là đồng chí Trần Quyền (Trần Nựu), Phan Văn An (Phan Văn Trường), Đàm Viết Thanh (Thái) (cả ba chiến sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ).
Đến ngày hẹn, ta điều trung đội trinh sát, đại đội đặc công 220 và một trung đội vũ trang bố trí ở cánh đồng Màng Màng sau núi Chóp Chài để đánh địch phản kích khi chúng phát hiện luật sư trốn thoát và tổ chức truy lùng. Về phần mình, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tìm cách dò hỏi những người dân tốt ở thị xã như bà giáo Sáu để xác định vị trí điểm hẹn mả bà Dũ Ký. Đúng ngày hẹn, giờ hẹn, 5 giờ chiều ngày 30-10-1961, sau một hồi đạp xe vòng vòng các đường phố trong thị xã, lúc trời chạng vạng luật sư Nguyễn Hữu Thọ tự tin đi xe đạp dọc Quốc lộ I như đi dạo mát.

Các tổ thanh niên mật xã Bình Kiến theo sự phân công của cách mạng bám sát người đàn ông đi xe đạp mặc bộ đồ bà ba trắng. Vừa đến Cổ Rùa (cách điểm hẹn 100 mét) luật sư vào hỏi mả bà Dũ Ký thì lực lượng vũ trang cách mạng ùa ra đón luật sư, tay bắt mặt mừng như thân quen tự thuở nào và đưa lên Eo Gió. Đồng chí Phan Công Thanh chỉ huy tổ đặc công phân công cơ sở chôn chiếc xe đạp xóa dấu vết truy tìm của địch và đưa luật sư vượt núi Chóp Chài, lội đồng Màng Màng ngay trong đêm, mừng rỡ gặp đồng chí Nguyễn Lầu, Đỗ Tiến Vạn cùng đại quân phục sẵn đồng Màng Màng đón tiếp và đưa luật sư về căn cứ an toàn. Đồng chí Trần Suyền cùng các đồng chí trong Tỉnh ủy Phú Yên lòng vui như mở hội, đưa luật sư về căn cứ rừng già Phước Tân (huyện Sơn Hòa). Sau một thời gian ngắn, thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy Phú Yên tổ chức một đơn vị tinh nhuệ hộ tống luật sư theo đường dây về căn cứ Trung ương Cục. Ít lâu sau, Đài phát thanh giải phóng đưa tin Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ba lần giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ là một trong những điểm son trong bản hùng ca chống Mỹ của quân dân Phú Yên. Tỉnh ủy Phú Yên đặt mật danh kế hoạch giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ là kế hoạch “chị Nghĩa”, nghĩa là vì nghĩa cả phải giải thoát bằng được luật sư theo yêu cầu của Đảng và Bác Hồ. Và Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã chọn bí danh là Nghĩa để ghi nhớ một kỷ niệm sắt son trong đời hoạt động. Việc giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ – anh ba Nghĩa đã trở thành chiến công huyền thoại.


PHAN THANH

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #21 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 05:31:17 pm »

Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, nhưng những bài học thực tế của nó vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay. Một ngày đầu năm, Đại tá Trần Văn Mười, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh - năm 1968 là trợ lý tác chiến Tỉnh đội Phú Yên - nhớ lại…

BÀI HỌC THỨ NHẤT: DỄ TRĂM LẦN KHÔNG DÂN CŨNG CHỊU, KHÓ VẠN LẦN DÂN LIỆU CŨNG XONG


Đoàn văn công Phú Yên đến phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần 1
Cuối năm 1967, sau khi phân tích tình hình ta, địch Bộ Chính trị quyết định đã đến lúc đưa cuộc chiến tranh cách mạng phát triển cao nhất bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định. Chiến trường Phú Yên bấy giờ chỉ vỏn vẹn 2 tiểu đoàn cùng với lực lượng vũ trang huyện từ 1-2 trung đội. Trong khi binh lực địch có đến 2 tiểu đoàn bộ binh thuộc lữ dù 173, 1 tiểu đoàn pháo, 2 trung đoàn lính Nam Triều Tiên thuộc sư đoàn Bạch Mã và Mãnh Hổ; 1 trung đoàn quân ngụy, 25 đại đội bảo an, 8 đại đội biệt kích, 24 trung đội biệt kích, 54 tổng đoàn dân vệ, 4 đại đội công an và cảnh sát dã chiến. Cả về binh lực và hỏa lực, địch hơn ta gấp nhiều lần. Nhưng với tinh thần chiến đấu ngoan cường của chiến sĩ và dựa vào sức dân tiếp tế, che chở, trong chiến dịch đầu tiên T25 trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 quân ta đã giành thắng lợi đáng kể. Chỉ trong vòng 1 tuần lễ từ 30-1 đến 5-2, ta đã có lúc làm chủ được nhiều mặt trận, đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.114 tên địch; đã phá hủy một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của Mỹ – ngụy. Nhưng vì tương quan lực lượng, quân ta đành rút lui tiếp tục chuẩn bị cho chiến dịch đợt 2 mang bí số T26.

Đó là một chiến dịch khó khăn hơn bao giờ hết. Quân địch đã tăng cường phòng bị chặt chẽ, ta không thể hành quân đánh thẳng vào thị xã Tuy Hòa mà phải cử 1 tổ công tác đặc biệt trinh sát trước gồm: Tôi, tổ trưởng, trợ lý tác chiến, Thị đội trưởng Mười Hoan, Chính trị viên Nguyễn Út, Đại đội trưởng đặc công 202 Lê Trung Kiên và 2 chiến sĩ đặc công. Lợi dụng sự sơ hở của địch, tổ công tác đã đến được thôn Long Thủy (thuộc xã An Phú, TP Tuy Hòa bây giờ) thì trời sáng, chúng tôi đành phải vào nhà dân trú nhờ qua mắt kẻ địch, tiếp tục nắm tình hình địch trước khi mở màn chiến dịch đợt hai.

Nhà chị Nguyễn Thị Nga, bán hàng tạp hóa trong thôn là điểm trú chân. Biết quân giải phóng, chị Nga nhanh chóng đưa lên rầm nhà (ngày trước thường làm la phông nhà bằng đất trét, gọi là rầm nhà – PV) nhằm ngụy trang lính bảo an tuần tra. 8 giờ sáng bọn lính kéo đến. Cuộc đấu trí giữa cô bán hàng và bọn lính diễn ra nhưng chỉ đúng 1 câu hỏi và trả lời.
- Có Cộng sản trong nhà không? – bọn chúng hất hàm hỏi.
Chị Nga không chút ngần ngại lớn tiếng trả lời:
- Có! Mấy ổng ở trên rầm nhà ấy, mấy ông lên mà bắt.

Thấy thái độ tự tin, dứt khoát của chị Nga, bọn lính bảo an không còn nghi ngờ, sau đó tán tỉnh vài câu rồi đi luôn, trong khi chúng tôi lo đến thót tim và đã sẵn sàng phương án chiến đấu! Nhưng chúng cũng chưa tin hẳn. 3 giờ chiều chúng quay lại và hạch hỏi. Chị Nga vẫn bình tĩnh, trả lời như đùa:
- Hồi sáng nói có, mấy ông không bắt, bây giờ mấy ổng (tổ công tác của chúng tôi – PV) đi rồi!.

Nhờ vậy, tổ công tác đã vào được vòng trong, hoàn thành công tác chuẩn bị cho trận chiến.
Một bài học mà chúng tôi luôn tâm niệm: Phải biết dựa vào dân, được dân giúp sức thì việc gì cũng dễ. Đúng là “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.


BÀI HỌC THỨ HAI: GIÁO DỤC PHẢI BẮT ĐẦU TỪ THỰC TẾ
Đánh! Tiếp tục đánh! Đó không còn là sự lựa chọn mà là mệnh lệnh.
Vì thế sau “Hội nghị Diên Hồng” dưới sự chủ trì kiên quyết của Tư lệnh mặt trận Lư Giang, mọi người vẫn quyết đánh. Dù biết rằng lực lượng ta yếu hơn nhiều so với sự phòng thủ dày đặc của địch. Hơn nữa, yếu tố bất ngờ, táo bạo cũng không còn, vậy mà đánh. Tất cả đều nhất tề, mỗi người đều xung phong nhận những phần việc cam go, nguy hiểm nhất.

Đêm ngày 3 rạng sáng 4-3 đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mở màn. Quân ta triển khai 3 mũi tiến công. Phía xóm Chùa tiểu đoàn 12 tiến công vào Ty cảnh sát, mũi thứ hai gồm tiểu đoàn 85 và đại đội đặc công 202 tiến đánh Chi khu 47, phát triển lên Trung tâm Tỉnh đường. Trung đoàn 10 đánh thọc xuống và chặn đường tháo chạy của địch từ hướng xóm Lẫm (Hòa Trị). Trong chiến dịch lần này, ta bị tổn thất nặng nề. Nhiều đồng chí hy sinh, trong đó có đại đội trưởng Lê Trung Kiên đã ngã xuống khi băng lên dẫn đầu đại đội vượt rào.

Đại tá Trần Văn Mười dừng lại trong xúc động, rồi mới tiếp tục câu chuyện chiến đấu oai hùng với hình ảnh một chiến sĩ tân binh người Hải Phòng mà ông cũng không kịp biết tên.

12 giờ ngày 4-3 thì hầm Chỉ huy mặt trận tiền phương bị công phá dữ dội. Trước tình hình nguy cấp một chiến sĩ mới đã liều chết bám trụ lại. Cùng với thủ pháo và lựu đạn, anh đã chiến đấu tiêu diệt được xe tăng địch. Đồng chí Trần Tất Lưu, Tỉnh đội trưởng, Nguyễn Khánh chính trị viên và rất nhiều đồng chí hy sinh, trong đó có người chiến sĩ trẻ kia không hề tiếc nuối cuộc sống của riêng mình!

Không ai lý giải nổi vì sao lúc ấy chúng tôi đã chiến đấu ngoan cường mà không một chút phân vân, toan tính. Thời ấy những người lính chúng tôi cũng có được học hành nhiều gì đâu, sự giáo dục lý tưởng có chi bài bản như bây giờ? Nhưng khi đứng trước kẻ thù, trước quyền lợi chung của đất nước, dân tộc, không ai mảy may toan tính, nghĩ đến lợi lộc cho riêng mình. Và tất cả đều trưởng thành qua sự tôi rèn của chiến tranh khắc nghiệt ấy.

Còn hôm nay thì sao? Tôi nghĩ giáo dục lý tưởng, nhân cách cho thế hệ trẻ hôm nay cũng phải bắt đầu từ thực tế của truyền thống và hiện tại thôi!

THẾ NHƠN

(ghi chép theo lời kể của Đại tá Trần Văn Mười)
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #22 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 05:33:36 pm »

Nằm ở phía Tây Đồng Xuân, cách huyện lỵ 50km, xã vùng cao Phú Mỡ có các buôn Phú Giang, Phú Tiến, Phú Lợi, Phú Đồng và Phú Hải. Dân số Phú Mỡ hiện có khoảng 3000 người, chủ yếu dân tộc Ba Na, còn lại Chăm Hroi, Giá Rai. Phú Mỡ là một trong những nơi có phong trào cách mạng sớm nhất tỉnh, là căn cứ địa cách mạng, căn cứ hậu cần của chiến tranh nhân dân trong các thời kỳ kháng chiến, là vùng đất ấm áp nghĩa đảng tình dân, vừa mới được nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong 80 năm đô hộ, thực dân Pháp vẫn không chiếm được trái tim của đồng bào xã Phú Mỡ. Nhân dân trong xã đã đoàn kết nhau lại, chọn người có uy tín, đứng ra tự quản lý buôn làng. Cho đến ngày cách mạng tháng tám thành công, bọn thực dân Pháp và tay sai ở La Hai (Phú Yên) vàVân Cảnh (Bình Định) không dám đặt chân lên vùng đất này. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng bào các dân tộc trong dạ một lòng một dạ theo đảng, theo cách Bác Hồ làm cách mạng, là nơi có phong trào tự tạo vũ khí thô sơ đánh giặc có hiệu quả. Dù địch có đưa quân càn quét, khủng bố, dồn dân lập ấp nhiều lần nhưng đồng bào ở đây vẫn cương quyết đấu tranh bám trụ, giữ thế hợp pháp nuôi nấng, che dấu cán bộ, giữ vững đường dây liên lạc bảo vệ an toàn cho cơ quan đầu não của tỉnh.

 
Ảnh: Dương Thanh Xuân

 

Những người lớn tuổi ở Phú Mỡ bây giờ còn nhớ chuyện chủ làng Ma Phôm đã mưu trí và anh dũng thoát hiểm, giữ vững được bí mật của cách mạng. Năm ấy, khi cách mạng còn ở trong thời kỳ cực kỳ đen tối, một hôm, bọn địch càn lên Phú Mỡ. Chúng bắt Ma Phôm dẫn đi tìm dấu vết cán bộ, cụ không chịu. Mãi đến khi chúng rút súng dí vào đầu, Ma Phôm mới giả vờ chịu và suy nghĩ  tìm kế thoát. Khi đi ra khỏi rừng, chọn nơi vắng vẻ, thừa lúc bọn lính sơ ý, Ma Phôm rút mũi chông tre mới vót, đâm vào chân mình. Máu tuôn lai láng, ông kêu la nên bọn lính không thể ép Ma Phôm để làm người dẫn đường để tiếp tục thực hiện cuộc càn quét được nữa. Khi nghị quyết 15 của Trung ương Đảng ra đời vào cuối năm 1959, lực lượng cách mạng bắt đầu phát triển. Cán bộ và bộ đội miền Bắc lần lượt vào Nam, tạm dừng chân tại Phú Mỡ – Thồ Lồ. Thanh niên đồng bằng thoát ly lên căn cứ cũng tạm dừng chân nơi đây, bởi vì lúc này, chỉ có Thồ Lồ – Phú Mỡ là vùng ta làm chủ, còn các nơi khác chưa giải phóng , nhân dân Phú Mỡ lại đùm bọc, cưu mang, nuôi dưỡng cán bộ chiến sĩ, nuôi dưỡng các trạm giao liên Ma Dơi – Ma Dú, đảm bảo khách đi lại an tòan, nuôi dưỡng lực lượng vũ trang đầu tiên của tỉnh (1 đại đội). Từ cuối năm 1959 đến tháng 12 – 1960 giặc liên tục càn đi quét lại nhưng không làm lay chuyển được ý chí kiên cường, tấm lòng trung kiên với đảng của bà con. Một lần, tên Thảo quận trưởng Vân Canh  cùng một trung đoàn lính cộng hòa kéo lên, bắt được hai đảng viên cộng sản Ma Ngoe, Ma Hó.

Hai anh bị nhận nước, bị uống nước xà phòng và chịu nhiều nhục hình dã man khác nhưng vẫn không hé môi khai báo một lời. Nhờ làm tốt công tác binh vận, hai anh được một người lính cởi trói, lại trở về với đảng, với dân, tiếp tục con đường đấu tranh giải phóng. Tháng 10-1960, các buôn làng ở Phú Mỡ thành lập đơn vị vũ trang, các đội công tác, diệt nhiều toán biệt kích ác ôn, phối hợp với các đơn vị bạn đánh vào ấp chiến lược Phú Giang – Cây Vừng. Chỉ trong không đầy nữa giờ chiến đấu khu đồn sụp đổ.

Tên Hưng, đại diện trưởng mất tích, tên phó đại diệ xã bị một lưỡi dao găm vào bụng, ngã gục tại chổ. Một trung đội dân vệ của địch bị đánh tan tành. Phú Mỡ xây dựng chính quyền tự quản ở 5 buôn, mở ra một vùng rộng lớn phía Tây Bắc Phú Yên.

Hàng trăm thanh niên trong xã lên đường nhập ngũ, hàng trăm tấn sắn, lúa, hàng trăm con heo, bò của đồng bào được huy động ủng hộ cách mạng. Ngày 19-2-1965, tại Suối Gấm, dân quân Phú Mỡ cản không cho địch lùa dân, diệt 7 tên lính, thu 5 súng. Ngày 24-6-1965, tại làng Xí, du kích cũng chống càn, làm chết 4 tên Mĩ, khiến địch co cụm lại, không dám lùng sục nữa. Ngày 8-6-1970, tại Cây Vừng, dân quân xã Phú Mỡ lại diệt 7 tên biệt kích, thu 6 cây súng chiến lợi phẩm. Thế là từ đó, địch không dám héo lánh tới Phú Mỡ nữa …

Như thế, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai, quân và dân Phú Mỡ đã đánh tổng số 273 trận, trong đó, 133 trận phối hợp với bộ đội chủ lực, 140 trận độc lập tác chiến, diệt và làm bị thương 972 tên, thu 102 súng các loại. Đồng thời, bắn cháy 2 chiếc máy bay trực thăng đổ độ, đấu tranh chính trị 12 lần địch dồn dân xuống Vân Cảnh, Xuân Lãnh, Xuân Phước, đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang diệt 15 tên ác ổntong xã và các nơi khác đến. Quân và dân Phú Mỡ đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 148 Huân chương kháng chiến hạng nhất, 262 Huân chương giải phóng hạng 2 và 3, 125 Huân chương kháng chiến hạng 3 và nhiều phần thưởng cao quý khác. Mới đây, kỷ niệm 55 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Phú Mỡ lại được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân.

Từ sau ngỳa quê hương giải phóng, Đảng bộ và quân dân xã Phú Mỡ tiếp tục phát huy tốt truyền thống anh hùnh trong kháng chiến. Bí thư xã Ma Dưng cho biết: Nhiều năm liền, Đảng bộ xã được công nhận là đơn vị trong sạch, vững mạnh. Qua các nhiệm kỳ HĐND, chính quyền xã được củng cố, đội ngũ cán bộ cố gắng nâng cao năng lực quản lý, các đoàn thể luôn giữ vững tổ chức... để xây dựng buôn làng ngày càng phát triển, cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Về kinh tế, toàn xã đã có hàng chục nhà xây mái ngói khang trang, 15 máy ép mía, hơn 10 máy xay xát gạo và nhiều phương tiện sinh hoạt có giá trị khác. Về văn hóa xã hội, xã có trường tiểu học và các phân trường tại các điểm dân cư, hàng ngàn trẻ em biết đọc biết viết, công tác phổ cập tiểu học, chống nạn mù chữ đã được triển khai tích cực. Hiện nay, khi lưới điện quốc gia được kéo về, nhiều hộ trong xã đã có điện thắp sáng mở ra nhiều triển vọng phát triển kinh tế – xã hội của Phú Mỡ.

Chương trình 135 của Chính phủ đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn đang được triển khai sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Phú Mỡ đẩy mạnh phát triển sản xuất, xóa đóa giảm nghèo, ngày càng nâng cao đời sống nhiều mặt cho nhân dân. Cũng theo Ma Dưng, tuy đất nước đã hòa bình nhưng các thế kực thù địch vẫn chưa thôi âm mưu, kế hoạch chống phá hòng xóa bỏ sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, chính quyền xã thường xuyên phát động nhân dân xây dựng vững chắc phong trào bảo vệ an ninh trật tự buôn làng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ổn định. Xã đã thành lập một đại đội dân quân tự vệ có một trung đội cơ động, lực lượng này vừa sản xuất, vừa luyện tậpthường xuyên để sẵn sàng chiến đấu. Chính lựuc lượng này đã kết hợp với dân quân tự vệ các xã trong huyện, với công an, huyện đội Đồng Xuân và huyện Vân Cảnh truy quét bọn phản động FULRO, bắt được 5 tên, thu 5 súng, liên tục mở các đợt truy quét làm trong sạch ở địa bàn ở vùng giáp ranh với các tỉnh Bình Định, Gia Lai. Một số tội phạm nguy hiểm trốn trại cải tạo A20 Xuân Phước mò lên Phú Mỡ đã bị dân quân xã mưu trí, dũng cảm tóm gọn giao lại cho trại, giữ vững sự bình yên cho cuộc sống…

Phú Mỡ đất anh hùng ở miền Tây Bắc Phú Yên luôn sáng ngời tình dân nghĩa đảng hôm qua, hôm nay và mai sau.

 

THẠCH BI SƠN
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #23 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 05:37:14 pm »

Có những câu chuyện như huyền thoại xảy ra trong thời đại nguyên tử. Có những thứ vô hình còn mạnh hơn cả vũ khí tối tân. Có người phụ nữ tay không đã đẩy lùi cả đoàn xe tăng địch. Đó là bà mẹ Lê Thị Kính, 75 tuổi, ở xã Hòa Đồng (huyện Tây Hòa).

Những năm đầu thập niên 60, chiến trường Tuy Hòa 1 bước vào giai đoạn quyết liệt. Quân đội ngụy được Mỹ trang bị vũ khí tận răng, xe tăng M.113 hống hách tung hoành như không biết sợ ai trên đời. Lúc bấy giờ bộ đội chưa có vũ khí chống tăng, ai cũng lo lắng: Làm sao cản được M.113 để bớt gây tổn thất cho cách mạng?

Giữa lúc đó có một tin vui làm nức lòng chiến sĩ: các mẹ, các chị ở Hòa Đồng đã dùng hình thức đấu tranh chính trị chặn đường chi viện bằng xe tăng của địch, tạo điều kiện cho bộ đội tiêu diệt giặc ở Hòa Mỹ.

Sáng ngày 28-7-1964, một đoàn xe tăng 7 chiếc khởi hành từ thị trấn Phú Lâm. Vì đường sá đã bị du kích đào phá nên chúng lội nước băng qua cánh đồng thôn Phú Phong, bánh xích hung hãn chà xéo những đám lúa gòn tươi tốt. Lập tức, nhân dân kéo ra phản đối, đi đầu là một bà cụ chống gậy, mái tóc bạc phơ.

Chiếc xe đi đầu vẫn giữ nguyên tốc độ xông thẳng tới cụ trong khi cụ vẫn đứng yên như một pho tượng. Bánh xích đã kịp ngừng khi vừa chạm vào vạt áo của bà. Một tên lính tức giận quát: “Bà muốn chết hay sao hả? Việt Cộng biểu bà chận xe tụi tui phải không?”. Bà nói: “Không có Việt Cộng nào biểu hết. Tại sao mấy ông cho xe giậm nát lúa của đồng bào?”. Tên chỉ huy phân bua: “Mong bà con thông cảm. Tụi tui không còn cách nào khác là phải đi qua đường này. Việt Cộng đánh đàng mình dữ quá nên tụi tui phải tiếp viện gấp. Mong bà con né ra cho”.

Từ lâu, cụ Kính đã căm ghét bọn này, lại nghĩ thân mình đã già, gần đất xa trời, thôi thà chết để đem lại lợi ích cho xóm làng và cách mạng. Thế là cụ nằm dài trước mũi xe tăng. Tên chỉ huy điện về xin ý kiến cấp trên. Người ta thấy khuôn mặt hắn tái nhợt. Nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì rất có thể bị cách chức, mà muốn hoàn thành nhiệm vụ thì ít nhất một mạng người phải ra đi.

Hắn đưa tay sờ khẩu súng col nhưng chợt lạnh người khi nghĩ tới đoàn biểu tình rầm rộ khiêng xác người chết xuống quận lỵ, tỉnh lỵ đòi bồi thường nhân mạng và ra yêu sách này nọ. Hắn đành làm lành, đỡ bà cụ dậy và năn nỉ: “Xin lỗi bác, tụi tui không muốn làm trái ý bác nhưng cũng không dám cãi lời cấp trên. Mong bác né đường cho tụi tui đi rồi chánh quyền sẽ cảm ơn bác”. Mẹ vẫn dứt khoát không nhượng bộ: “Xe cộ thì có đường có sá, mấy ông lên đó mà đi. Còn đây là ruộng lúa do đồng bào khổ cực làm ra, không ai có quyền phá. Các người có giỏi thì đạp lên thân con già này mà đi đi!”.

Tên chỉ huy hầm hầm bước lên xe. Chiếc xe tăng gào rú dữ dội và nhích tới. Mọi người nín thở lo lắng cho vận mệnh bà cụ, nhưng cụ vẫn không chịu lùi. Không thể lay chuyển được ý chí sắt đá của bà cụ, đoàn xe tăng đành thảm hại tháo lui. Có lẽ đây là lần đầu tiên những con mãnh hổ này nếm mùi thất bại.

Hành động dũng cảm của cụ Lê Thị Kính đã mang một ý nghĩa rất lớn. Nó dấy lên phong trào đấu tranh chính trị của đội quân tóc dài các xã miền Tây Tuy Hòa. “Thành tích đó được biểu dương phát huy. Chỉ trong vòng một tháng từ 28-7 đến 29-8-1964, đồng bào 3 xã Hòa Đồng, Hòa Mỹ, Hòa Thịnh đã 28 lần chận xe M.113 trong 11 trận (…).

Gương đấu tranh của đồng bào xã Hòa Đồng và của huyện Tuy Hòa 1 chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo các chủ trương của Tỉnh ủy tại phiên họp Tỉnh ủy mở rộng vào tháng 5-1964” (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Khánh thời chống Mỹ cứu nước, trang 76). “Chiến công của mẹ gần như một câu chuyện thần thoại truyền đi trong nhân dân.
Nó đã trở thành một tấm gương sáng để mọi người học tập” (Tuy Hòa bất khất, tập 1, trang 15). Hình tượng mẹ Hòa Đồng được nhắc đến trong hầu hết các cuốn sách nói về lịch sử cách mạng tỉnh Phú Yên, được thể hiện trong thơ văn, điêu khắc, hội họa. Trong “Bài ca Phú Yên” của nhạc sĩ Văn Chừng có đoạn:


Qua bao năm quân dân chung sức chung lòng

Bừng lên ánh đuốc thắp sáng những đêm đồng khởi từ Hòa Thịnh

Mẹ Hòa Đồng chặn xe tăng, góp phần nên chiến thắng

Quân ta nao nức tiến về giải phóng quê hương.

 

PHẠM NGỌC HIỀN
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #24 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 05:44:08 pm »

Cuối tháng 2/1956, địch ráo riết chuẩn bị cho cuộc bầu cử quốc hội bù nhìn. Anh Sáu được Huyện ủy phân công cùng với các đồng chí Đinh Từ, Phan Ngọc Giáo, Trương Bá Lánh công tác các xã Hòa Mỹ, Hòa Đồng, Hòa Phong và Hòa Thịnh để xây dựng cơ sở và vận động nhân dân chống trò hề bầu cử bịp bợm của địch.

Do một vài cơ sở Hòa Mỹ bị địch bắt nên bọn địch ráo riết truy lùng để bắt anh.
Những tháng cuối năm 1955, đồng chí Trần Suyền, Phó Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên kiểm tra tình hình Huyện ủy Tuy Hòa. Trước khi trở về tỉnh, đồng chí triệu tập cuộc họp Thường vụ Huyện ủy vào cuối tháng 3/1956 để triển khai công tác. Trên đường về thôn Phú Khánh xã Hòa Tân để họp Thường vụ, khi đến thôn Quảng Phú, xã Hòa Mỹ thì trời tối. Thấy bọn lính gác canh phòng cẩn mật, anh tránh vào một nhà cơ sở bên đường nhưng chị cơ sở đi vắng. Thấy người lạ, bọn lính ập đến hỏi giấy, anh Sáu thản nhiên đưa thẻ kiểm tra  cho chúng xem. Vì khả nghi nên chúng giữ anh lại và báo khẩn cấp về xã. Tên Nguyễn Y Chi, Trưởng ban công an xã Hòa Mỹ, là một tên ác ôn khét tiếng, trực tiếp dẫn một trung đội địa phương quân đến áp giải anh về trụ sở xã. Hắn sai lính cởi trói, nói vài câu an ủi để lấy lòng rồi đem bia và thuốc thơm ra mời. Anh Sáu vẫn thản nhiên trước những lời mời mọc của hắn, lắc đầu và nói:

- Tôi không quen uống bia, còn thuốc lá tôi có.

Vừa nói, anh Sáu vừa móc túi lấy gói thuốc ra quấn hút. Tên Chi gọi bọn tay chân dẫn mấy người cơ sở vào gọi là để nhận mặt. Xong hắn đuổi ra ngoài rồi kể lể nào là trước đây hắn cũng là người kháng chiến cũ nhưng hắn đã thấy lỗi thời, nào là hắn đã tìm được cho mình một lối đi thích hợp… Mặc cho hắn lải nhải, anh Sáu ngồi ung dung hút thuốc, nhìn những bóng khói tan dần trong khoảng không và suy nghĩ kế hoạch đối phó với tên ác ôn khét tiếng cáo già.

Bỗng anh quay phắt lại nhìn thẳng vào mặt tên Chi với cái nhìn sắc lạnh và buông giọng mỉa mai:

- Lỗi thời hay không là do suy nghĩ của mỗi người. Các ông làm việc cho quốc gia thì các ông nói cách mạng là lỗi thời. Còn chúng tôi, những người cách mạng đấu tranh cho hòa bình thống nhất, vì lợi ích của nhân dân, chúng tôi cho việc làm của chúng tôi là đúng.

Mặt tên Chi đỏ bừng như vừa bị một cái tát. Mạch máu của hai thái dương hắn co giật liên hồi, hắn đang kiềm chế một cơn thịnh nộ. Không tranh cãi nữa, Chi chuyển sang làm lành, giả vờ rối rít cảm ơn anh Sáu vì đã có lần tha tội chết cho nó. Nhân đó, anh Sáu giải thích cho hắn nghe chính sách của Mặt trận đối với những người đang làm việc trong chính quyền Sài Gòn. Vừa nghe được vài câu, tên Chi hằn học phản kích những điều anh Sáu vừa nói. Hắn lấy tờ truyền đơn của Mặt trận ra đọc và nói bô bô:

- Những điều  nói trong tờ truyền đơn của các ông là bịp bợm, là phi lý. Các ông định gây hoang mang, xúi giục dân chúng nổi lên làm loạn ở cái đất này chứ gì?

- Không! Chính các ông mới là những người làm loạn vì các ông bắt bớ, chém giết, trả thù những người kháng chiến cũ, những người yêu nước, gây hoang mang trong nhân dân. Còn trong tờ truyền đơn của Mặt trận kêu gọi đồng bào chống lại trò hề bịp bợm  của các ông, vì bầu cử là âm mưu chia cắt lâu dài đất nước. Nguyện vọng của nhân dân là muốn sớm có hòa bình, thống nhất nước nhà. Việc các ông làm mới thật sự phi lý và bịp bợm. Nhưng thôi! Chỉ có tôi với ông tranh luận mấy ngày cũng không xong. Muốn biết ai đúng, ai sai thì phải có đồng bào để họ nhận xét. Nếu ông đồng ý ta nên họp nhân dân lại đọc cho họ nghe.

Tên Chi hí hửng như vớ được của rơi. Hắn chấp nhận ngay ý kiến của anh Sáu, cho loan báo mời đồng bào đến. Hơn bốn trăm bà con xã Hòa Mỹ và các xã Hòa Thịnh, Hòa Đồng, Hòa Phong đi chợ Phú Nhiêu kéo đến đứng vây quanh hai cái bàn kê giữa sân trụ sở, mỗi cái cách nhau chừng vài mét. Anh Sáu và tên Chi mỗi người đứng trên một cái bàn cao. Để chiếm thế thượng phong, tên Chi huênh hoang nói trước:

- Thưa đồng bào! Quốc gia bắt được anh Sáu tối hôm qua, anh Sáu sẽ nói chuyện với đồng bào. Còn đây là tờ truyền đơn của Việt cộng - Hắn vừa nói vừa cầm tờ truyền đơn giơ lên cao cho mọi người thấy - Tôi sẽ đọc để đồng bào nghe chung rồi cho ý kiến.

Hắn đọc chậm rãi từ đầu đến cuối, rồi giải thích theo kiểu của hắn. Sau khi giải thích xuyên tạc tờ truyền đơn, hắn giới thiệu anh Sáu phát biểu. Trước bà con của mình, anh Sáu bình tĩnh diễn đạt đầy đủ ý mình cần nói:

- Kính thưa toàn thể đồng bào, thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ, cán bộ, bộ đội ta đã tập kết ra Bắc. Ngày 20/7 sắp đến, hai miền sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất nước nhà. Hôm nay may mắn được gặp đồng bào, tôi xin gửi lời thăm hỏi sức khỏe. Nhân có tờ truyền đơn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi cho đồng bào mà ông Chi vừa đọc, tôi xin giải thích cho đồng bào rõ.

Thứ nhất, anh vạch trần âm mưu của chính quyền miền Nam cố tình chia cắt lâu dài đất nước, không nghiêm chỉnh chấp hành những điều khoản đã ký kết, không đảm bảo các quyền tự do dân chủ, ngăn cấm việc đi lại và thư tín giữa hai miền, giết hại trả thù những người kháng chiến cũ.

Họ từ chối việc hiệp thương tổng tuyển cử tự do để thống nhất hai miền. Đây là nguyện vọng tha thiết nhất của đồng bào, của anh em binh lính và của những người đang làm việc trong chính quyền Sài Gòn. Đến nay họ lại bày trò bầu ra cái gọi là quốc hội ở miền Nam. Để làm gì? Đồng bào nghĩ xem có phải là cố tình chia cắt lâu dài đất nước ta không?

Anh giải thích điểm thứ nhất, đến điểm thứ hai rồi thứ ba. Nhân dân lắng nghe từng câu, từng chữ, còn tên Chi mặt tái xanh, chỉ có hai tai và hai thái dương là đỏ ửng, không hiểu vì xấu hổ hay giận dữ. Hắn giục mấy tên lính đến kéo anh Sáu xuống. Mấy cụ già nói với bọn lính: “Để ổng nói cho chúng tôi nghe chứ sao các ông lại kéo xuống. Ổng giải thích rõ ràng và hay lắm”. Nhân dân công khai bàn luận những điều anh Sáu vừa giải thích. Rồi họ nhích vào nhau làm hàng rào cản đường, không cho mấy tên lính kéo anh Sáu xuống, vì cuộc đấu lý công khai của hắn đã phản tác dụng, lòng dân vẫn hướng về cách mạng.  Cuối cùng tên Chi phải đích thân mời anh xuống.

Dựa vào súng đạn, uy quyền, tên Chi tưởng đâu là cơ hội tốt để đánh đòn tâm lý chiến vào lòng dân. Ngờ đâu hắn bị một vố “hồi mã thương” đau điếng. Chính hắn và đồng bọn đứng ra tổ chức một cuộc mít tinh cho cộng sản. Thật là một trận đánh không có tiếng súng đã diễn ra ác liệt mà phần thắng thuộc về những đảng viên cộng sản đang tồn tại giữa lòng nhân dân. Đến ngày nay nhân dân xã Hòa Mỹ vẫn còn nhắc đến anh Sáu.

Địch cản không cho anh Sáu nói nữa, nhưng làm sao ngăn được ánh sáng của chân lý cách mạng đang thấm sâu vào lòng người như nắng ấm tháng ba chan hòa trên đồng ruộng quê nhà quang hợp cho những mùa vàng trĩu hạt.

Bị thất bại chua cay, Nguyễn Y Chi hiện nguyên hình là tên ác ôn khát máu. Hắn chuyển anh Sáu lên Ty Công an ngụy Phú Yên. Đồng bọn hắn đã giở trò trả thù anh  hèn hạ, dã man với những trận đòn thù chết đi sống lại, nhưng cũng chẳng khai thác được gì! Cuối cùng, Ty Công an ngụy Phú Yên kết luận anh Sáu là một trong những người cộng sản ngoan cố, phải lưu đày ra nhà tù Côn Đảo.

 Anh Sáu còn có tên là anh Mười, tên thật là Trần Quang Hiệu, quê xã Hòa Xuân, huyện Tuy Hòa, là một trong những Huyện ủy viên đầu tiên của Tuy Hòa trong những năm đầu của thời kỳ chống Mỹ cứu nước.


PHAN THANH ghi theo lời kể của đồng chí TRẦN QUANG HIỆU
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #25 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 08:55:59 pm »

Trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, với tinh thần quyết thắng, quân và dân Phú Yên đã đập tan một mũi tiến công chiến lược của địch, làm thất bại âm mưu đánh chiếm vùng tự do các tỉnh Liên khu 5, đẩy địch vào thế bị sa lầy ở Tuy Hòa. Ít ai biết rằng cách xa Điện Biên Phủ hơn 1.500 cây số, ở Phước Hậu - thị xã Tuy Hòa có hai chiến sĩ Điện Biên Phủ, một trực tiếp phục vụ chiến đấu và một trực tiếp chiến đấu tại mặt trận. Đó là đồng chí Nguyễn Chấn - nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên và đồng chí Lê Công Hậu, đại úy pháo binh.

 

Trong vườn hoa xuân ở làng Phước Hậu (TP Tuy Hòa) - Ảnh: D.T.XUÂN

1. Đồng chí Nguyễn Chấn, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên, năm 1951 được Đảng điều động đi học trường Mác-Lênin ở Trung Quốc. Sau khi học xong, đồng chí về nước, được Trung ương điều động phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, làm đoàn phó phụ trách một công đoạn vận chuyển lương thực, vũ khí phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm ấy, đồng chí tròn 40 tuổi. Nhiều đồng chí cùng hoạt động đều có nhận xét là đồng chí Nguyễn Chấn rất dũng cảm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ cho bộ đội chiến đấu.

Lịch sử lại lặp lại, năm 1974, khi tròn 60 tuổi, đồng chí Nguyễn Chấn lại được Hội đồng chi viện Trung ương giao nhiệm vụ tổ chức vận chuyển lương thực, vũ khí chi viện cho miền Nam qua tuyến lửa Liên khu 4, đưa sức người sức của của miền Bắc xã hội chủ nghĩa vào phục vụ cho bộ đội chủ lực của ta chiến đấu, giải phóng hoàn toàn miền Nam mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử xuân 1975.

Năm 1968, theo ý kiến của đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy khu 5, tôi ra Hà Nội xin đồng chí Nguyễn Chấn về phụ trách giao thông vận tải của khu 5. Biết Khu ủy 5 xin vào chiến trường B, đồng chí Nguyễn Chấn nhanh chóng nhận trang bị để đi B. Trước khi đi, đồng chí đến chào đồng chí Phạm Văn Đồng - người anh cả của khu 5 mà đồng chí vô cùng quý mến, thì đồng chí Phạm Văn Đồng giữ lại và nói: “Đồng chí Nguyễn Chấn là một cán bộ giỏi, có năng lực tổ chức thực hiện, để Trung ương sử dụng có lợi hơn ở địa phương”. Do vậy, mong muốn về lại miền Nam, về lại quê hương Phú Yên mà đồng chí Nguyễn Chấn ấp ủ từ lâu không được thực hiện.

Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, đồng chí về hưu ở nhà số 20 Tô Hiến Thành, TP Nha Trang tỉnh Khánh Hòa. Đầu năm 1985, đồng chí lâm bệnh nặng, vào nằm ở bệnh viện Nha Trang. Đồng chí cho người gọi tôi - người học trò mà đồng chí trực tiếp dạy chữ, dạy làm cách mạng trong Cách mạng tháng Tám, vào bệnh viện. Tôi không thể nào quên cái buổi chiều đầy u buồn ấy, đồng chí ôm tôi và khóc sướt mướt. Đồng chí Nguyễn Chấn tâm sự rằng “rất đau khổ về tinh thần” vì Đảng ở Bộ Giao thông - Vận tải hiểu sai đồng chí, đồng chí bị oan, không được công nhận là cán bộ cũ, hoạt động trước Cách mạng tháng Tám. Đêm ấy sau khi ôm ghì tôi vào lòng, đồng chí trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện trong sự trìu mến tiếc thương của nhân dân và Đảng bộ Phú Yên!

2. Đồng chí Lê Công Hậu, đại úy pháo binh, nguyên học sinh trường trung học Lương Văn Chánh. Năm 1949, đồng chí xung phong nhập ngũ. Do có trình độ văn hóa khá và có tinh thần ham học tập, đồng chí  được Quân khu 5 chọn đi học pháo binh ở Trung Quốc. Năm 1954, khi về nước, đồng chí Hậu là trung úy pháo binh phụ trách một khẩu đội pháo 105 ly, tham gia việc “kéo pháo vào và kéo pháo ra”, đã nã hàng trăm viên pháo 105 ly vào đầu quân địch ở Điện Biên Phủ. Năm 1967, binh chủng pháo binh điều động đồng chí tăng cường cho Quân khu 5. Đồng chí chia tay người yêu là cô giáo Dung, người Hà Nội, hẹn sẽ đón cô về Phước Hậu, thị xã Tuy Hòa sau ngày giải phóng. Nhưng mơ ước ấy mãi mãi không thành hiện thực. Trên đường hành quân vào đến địa phận tỉnh Gia Lai, đồng chí hy sinh!

Đồng chí Lê Công Hậu là con một gia đình có 6 người con, 3 anh em trai và 3 chị em gái. Trong đó, có đến 3 anh em trai và 1 em gái hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mẹ là bà Huỳnh Thị Bân, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Nhưng điều day dứt của gia đình là cho đến nay, thi hài đồng chí Lê Công Hậu ở Gia Lai và thi hài người em ruột hy sinh ở Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang) vẫn chưa tìm được.


HUỲNH TRÚC

Nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #26 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 08:57:18 pm »

Lâu nay, khi nói đến Đường Hồ Chí Minh trên biển, người ta thường nghĩ đến Vũng Rô- nơi cập bến của những chuyến tàu chở vũ khí từ Bắc vào Nam. Ít người biết đến một điểm trung chuyển vũ khí vào Nam ngay từ những ngày sau Cách mạng tháng 8/1945 tại Phường 6 (TP Tuy Hòa). Tại đây, nữ tướng Nguyễn Thị Định (cô Ba Định) đã từng hoạt động một thời gian. Góp công lớn trong chuyến vận chuyển vũ khí vào Nam hơn 60 năm trước là những nữ du kích phường 6. Những chuyện chưa biết về nữ tướng Nguyễn Thị Định và các nữ du kích phường 6 ngày ấy, giờ được những cựu chiến binh ở tuổi xưa nay hiếm kể lại.



Nữ tướng Nguyễn Thị Định về thăm điểm xuất phát tàu vận chuyển vũ khí về Nam cuối năm 1946 tại cửa sông Đà Rằng (Phường 6 – TX Tuy Hòa) năm 1982 – Ảnh: TRẦN KHẢ QUANG

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam vừa giành được độc lập, các cường quốc thực dân lấy danh nghĩa giải giáp quân Nhật ồ ạt kéo vào nước ta, âm mưu bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ. Trong khi nhân dân miền Bắc đấu tranh với 20 vạn quân Tàu Tưởng để bảo vệ chính quyền cách mạng, thì nhân dân miền Nam cũng đứng lên đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp.

Trước tình hình đó, ngày 25/10/1945, Xứ ủy Nam kỳ họp mở rộng đề ra những giải pháp cấp bách cho cách mạng miền Nam: Quyết định thành lập Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và hệ thống các ủy ban kháng chiến từ cơ sở trở lên; Tổ chức xây dựng và chấn chỉnh lại lực lượng vũ trang các khu và dân quân du kích địa phương; Thực hiện chiến tranh nhân dân, tiêu hao lực lượng địch, bao vây, chặn từng bước tiến của quân địch.

Thực hiện sự chỉ đạo theo tinh thần của cuộc họp trên, toàn thể nhân dân Nam Bộ đã tổ chức lực lượng và trang bị vũ khí để đánh địch. Đầu năm 1946, một đoàn cán bộ của các tỉnh phía Nam, trong đó có bà Nguyễn Thị Định (sau này là Thiếu tướng Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước CHXHCN Việt Nam) dùng thuyền vượt biển ra miền Trung, sau đó tiếp tục đi bằng tàu hỏa ra miền Bắc gặp Bác Hồ và Chính phủ  xin chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Sau khi làm việc, Trung ương đồng ý chi viện vũ khí và cho phép đoàn của bà Nguyễn Thị Định nhận vũ khí tại Quảng Ngãi rồi vận chuyển bằng tàu lửa vào Phú Yên, để từ đó tiếp tục đi bằng đường biển vào Nam.

Ở Phú Yên, sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, chính quyền cách mạng các cấp được thành lập. Bầu không khí nô nức phấn khởi dâng cao trong mọi tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, khi thực dân Pháp gây chiến ở Nam Bộ thì Phú Yên - với lợi thế là vùng tự do, đã trở thành địa bàn dừng chân cho những đoàn quân Nam tiến và những chuyến hàng chi viện cho chiến trường cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Tại Phường 6 (TX Tuy Hòa, nay là TP Tuy Hòa), cuối tháng 8/1945, chính quyền cách mạng được thành lập. Sau đó các tổ chức chính trị, đoàn thể yêu nước khác cũng lần lượt ra đời, như đội dân quân tự vệ nam, đội dân quân tự vệ nữ, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ và Hội Mẹ, chị chiến sĩ, Hội Phụ lão cứu quốc và đội Bạch đầu quân… Những hoạt động của chính quyền và các tổ chức chính trị đoàn thể đã mang đến một bầu không khí sôi nổi tại địa phương, công tác an ninh chính trị được đảm bảo, khối đại đoàn kết toàn dân được mở rộng, chính quyền nhân dân và thành quả cách mạng được củng cố, giữ vững.

Trong bầu không khí chung đó, khoảng đầu tháng 6/1946, theo lệnh của cấp trên, bà Nguyễn Thị Định đã đến Phường 6, TX Tuy Hòa, để chuẩn bị việc tiếp nhận vũ khí chuyển về Nam. Ông Mai Sanh, ở Phường 6, TP Tuy Hòa, nguyên tiểu đội trưởng du kích thời bấy giờ, kể lại sự kiện bà Nguyễn Thị Định đến phường 6 và hoạt động của tổ du kích nữ thời bấy giờ: “Năm ấy, bà Định được phụ nữ và lãnh đạo thị xã cùng một số cán bộ khác đưa đến phường giới thiệu để sinh hoạt tại đây. Thời gian ở Phường 6, bà Nguyễn Thị Định được bố trí ở tại nhà bà Châu Thị Nghĩa , Hội trưởng Hội Phụ nữ Phường 6 và Hội Mẹ, chị chiến sĩ Phường 6 (nay là số nhà 285, đường Nguyễn Công Trứ). Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Định còn ở nhà bà Phan Thị Nhi, Hội phó Hội Phụ nữ và Hội Mẹ, chị chiến sĩ Phường 6 (nay là số nhà 248 đường Nguyễn Công Trứ). Bà Nguyễn Thị Định sinh hoạt cùng chị em trong Hội Phụ nữ phường. Ban đêm, bà  phổ biến một số chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Đông Dương, tình hình trong nước và thế giới cũng như phong trào cách mạng. Ban ngày bà cùng với trung đội dân quân du kích luyện tập quân sự và tập bơi lội, bơi thúng chai rồi bơi xuồng… Có hôm bà còn đánh liều bơi sang tận gò đất bên kia sông. Tính tình đôn hậu lại dễ gần nên chị em ai cũng mến, xem chị Ba như người trong nhà”.

Trong thời gian công tác ở Phú Yên, cô Ba Định tham gia phát động quần chúng ở nhiều địa phương trong tỉnh.

Sau một thời gian chuẩn bị, số vũ khí do Trung ương cấp đã tập kết đầy đủ tại Phú Yên. Đợi đến mùa gió bấc, bà Nguyễn Thị Định được lệnh xuất phát chở vũ khí về Bến Tre. Trung đội du kích và đội Bạch đầu quân Phường 6 được giao nhiệm vụ bảo vệ và chuyển vũ khí xuống thuyền. Bà Nguyễn Thị Định lưu luyến tạm biệt nhân dân Phường 6 theo con thuyền tiến ra cửa sông Đà Rằng, vượt biển về Nam. Đến cuối năm 1946, con thuyền đã cập bến Thạnh Phong (huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre) an toàn, mang theo 12 tấn vũ khí Trung ương chi viện cho chiến trường Nam Bộ.

Ông Mai Sanh năm nay đã 80 tuổi, vẫn nhớ như in cái đêm đưa cô Ba Định rời bến ra cửa Đà Diễn vào Nam: “Đêm ấy trời tối đen như mực, tầm hơn 2 giờ sáng, một chiếc thuyền từ đằng xa từ từ tiến vào, chúng tôi nhận lệnh từ cấp trên yểm trợ cho chị Ba, một toán khác trong đó có ông Mai Don nay ở Phường 4 trực tiếp chuyển vũ khí xuống thuyền, mọi việc xong xuôi trước 3 giờ và con tàu từ từ nhổ neo rời bến. Nhưng thời ấy việc ai làm người ấy biết, chúng tôi không tiện tìm hiểu. Mãi đến tận sau này tôi mới biết đó là bà Nguyễn Thị Định”.

Bà Lê Thị Thuẫn, năm nay 76 tuổi, là thế hệ du kích nữ phường 6 những năm 1949 đến 1952, tuy không được trực tiếp hoạt động sinh hoạt cùng nữ tướng Nguyễn Thị Định, nhưng với bà và những chị em thời đó, chính tấm gương chiến đấu của bà Định đã cổ vũ tinh thần của chị em tích cực tham gia kháng chiến và bảo vệ thôn xóm, phấn đấu học tập, tôi luyện. Những phụ nữ Phường 6 giờ đây mãi tự hào về lịch sử một thời, ngày mà họ thâu đêm tuần canh, ban ngày đan lưới, sản xuất và góp công cùng nữ tướng năm xưa làm nên lịch sử, mở ra một bến vận chuyển vũ khí vào Nam từ những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám ngay tại cửa sông Đà Rằng.

 
NGUYỄN DANH HẠNH
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #27 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 08:58:58 pm »

Ngục Trà Kê (thôn Tân Hội, xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa) là nơi từng ghi dấu tinh thần đấu tranh, học tập, rèn luyện của các chiến sĩ cách mạng. Di tích này đang được Bảo tàng Phú Yên lập hồ sơ đề nghị tỉnh công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh.

Đầu thập niên 30 thế kỷ XX, Đảng ra đời. Dưới sự  lãnh đạo của Đảng phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam ở khắp nơi diễn ra mạnh mẽ. Trước sự lớn mạnh của phong trào, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, khủng bố, truy lùng, bắt bớ các cán bộ cách mạng, đảng viên cộng sản. Trong thời gian này, thực dân Pháp đẩy mạnh việc xây dựng nhà tù, trại giam trên khắp đất nước Việt Nam để giam hãm các nhà yêu nước và chiến sĩ cộng sản. Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, bên cạnh những địa điểm giam cầm nổi tiếng như nhà ngục Lao Bảo, ngục Kon Tum, nhà đày Buôn Ma Thuột... là hàng loạt trại tập trung an trí bắt buộc (thực chất là nhà tù).


Trong bối cảnh đó, năm 1940, thực dân Pháp thành lập ở Phú Yên trại an trí Trà Kê, còn gọi là ngục Trà Kê (vị trí ngục Trà Kê nay thuộc thôn Tân Hội, xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa). Bên cạnh ngục Trà Kê có đồn  lính khố xanh với quân số có mặt thường xuyên trên dưới 100, do một viên sĩ quan người Pháp cấp bậc thiếu úy làm đồn trưởng. Trại an trí Trà Kê tồn tại trong 5 năm, giải tán vào tháng 3/1945, sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Trong thời gian 5 năm đó, Trà Kê trải qua sự cai quản khắc nghiệt của 3 tên đồn trưởng là Sampave, Renun và Bazia. Theo hồi ký ngục Trà Kê của  đồng chí Huỳnh Lắm, Phan Sung, ngục Trà Kê xây dựng trên một đồi trọc, có nhiều cỏ tranh, chung quanh có nhiều cụm rừng, dân cư thưa thớt… Trại làm bằng tranh tre, vách đất, dài khoảng 100m, ngang 15m, quanh trại có hàng rào dây thép gai, có đường hào cắm chông tre, có sạp nằm bằng tre. Ở phía đông nhà lớn có một phòng cách ly, giam những người bị bệnh truyền nhiễm, ở phía tây nhà lớn là nhà ăn chung cho cả trại giam.

Trước trại có một cửa ra vào, 20 lính luân phiên canh gác cả ngày lẫn đêm. Ngục Trà Kê lúc cao điểm có hơn 100 tù nhân, thành phần chủ yếu là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong đó, một số đã hết hạn tù giam ở nhà lao Buôn Ma Thuột, Côn Đảo hoặc các nhà lao khác, nhưng địch không thả về quê hương mà chuyển đến giam giữ lại đây như các đồng chí Hà Huy Giáp, Bùi Công Trừng, Nguyễn Hưng, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Duy Hài. Một số khác, sau khi đi tù về, hoặc mới tham gia phong trào dân chủ cũng bị địch bắt tập trung ở đây như: Phan Sung, Huỳnh Lắm, Trần Chí Hiền, Trần Đình Tri, Lưu Quí Kỳ… Mục đích của thực dân Pháp là kìm hãm, cách ly những cán bộ hoạt động cách mạng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong tù còn có một số ít là những phần tử thân Nhật, Cao Đài và những can phạm khác…

Ngục Trà Kê theo cách gọi của thực dân Pháp là trại an trí, nhưng thực chất đây là nhà tù. Những người bị giam tại đây về danh nghĩa là người lao động đặc biệt, nhưng thực ra đó là lao động cưỡng bách, bắt buộc. Thực dân Pháp rất coi thường phẩm giá và tính mạng của tù nhân, ra sức bóc lột những người tù dưới mọi hình thức. Chúng bắt tù nhân phải đốn gỗ, cắt tranh, hái củi, làm ruộng, đan đát, làm bàn ghế, rèn dao, cuốc, làm vườn nhà cho tây đồn…

Tại ngục Trà Kê này, các đồng chí cách mạng đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh. Ban đầu là đòi cải thiện sinh hoạt, chăm sóc sức khoẻ, về sau là đòi đáp ứng yêu cầu về tinh thần như nắm bắt thông tin qua sách báo, nội bộ trại tù được tổ chức học tập chính trị, văn hóa… Tuy bị đánh đập, trừng phạt, nhưng về cơ bản, những cuộc đấu tranh đó đều giành được thắng lợi, phía thực dân quản trại phải nhượng bộ và từng bước đáp ứng yêu cầu của các đồng chí cách mạng.

Sau những lần kiên trì đấu tranh và thắng lợi, những cán bộ cách mạng trong tù có điều kiện để hỗ trợ lẫn nhau hơn, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, kinh nghiệm công tác cách mạng, kiến thức văn hóa, lòng tin vào sự thắng lợi của cách mạng. Qua quá trình học tập, rèn luyện đó, bản lĩnh của những người cách mạng càng được tôi luyện, và khi thoát khỏi trại giam của địch, họ trở thành những người ưu tú phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, phát xít Nhật tiếp tục sử dụng ngục Trà Kê để giam cầm những người yêu nước. Sau khi Nhật hoàng đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện ngày 15/8/1945, các đồng chí trong trại giam Trà Kê đã tự giải thoát. Sau khi thoát khỏi sự kiểm soát của địch, những cán bộ cách mạng và đảng viên cộng sản tỏa về nhiều hướng. Có người trở về quê cũ hoạt động, người đi xây dựng cơ sở cách mạng ở nhiều nơi, người ở lại tiếp tục hoạt động tại Phú Yên. Họ đã góp phần quan trọng trong việc củng cố các cơ sở Đảng, tuyên truyền vận động xây dựng lực lượng khởi nghĩa, làm nên thắng lợi to lớn của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Ngục Trà Kê là chứng tích tội ác của thực dân Pháp, đây cũng là trường học của những chiến sĩ cách mạng trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù. Nếu được tôn tạo và phát huy, chắc chắn di tích này sẽ là một địa chỉ quan trọng để giáo dục truyền thống đối với thế hệ trẻ và cũng có thể là điểm du lịch lịch sử, tìm về cội nguồn.

 

AN CHI
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #28 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:00:47 pm »

Đời người có những việc mà bụi thời gian không bao giờ che phủ được. Với tôi, việc tham gia giải thoát đồng chí Lê Đài (Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên) bị địch bắt là một dấu ấn hằn sâu vào ký ức. Và nhà lao Ngọc Lãng cũng để lại biết bao chuyện khó quên.

 

VỤ GIẢI THOÁT KHÔNG THÀNH

 

Đồng chí Lê Đài bị địch bắt  ngày 29/12/1945 tại thôn Lãnh Trường,  xã Xuân Lãnh (huyện Đồng Xuân). Chúng chuyển đồng chí về giam tại Ty Công an Phú Yên (đóng tại cuối đường Phan Đình Phùng, phường 1, thị xã Tuy Hòa). Đồng chí bị địch tra tấn chết đi sống lại nhưng vẫn kiên cường,  không hề hé lộ các đầu mối cơ sở… Sau đó, chúng dùng kế nhốt chung tên Đặng Văn Cảnh, nguyên là bộ đội Tỉnh đội Phú Yên ra chiêu hồi (sau này tôi mới biết) vào biệt phòng với đồng chí Lê Đài. Ban ngày, chúng cho tên Cảnh đi ra ngoài hành dịch, tối về giả vờ chăm sóc đồng chí  để tạo lòng tin, để đồng chí viết thư liên lạc cho cơ sở bên ngoài.

 



Bà Võ Thị Hồng Giác (hiện ở phường 1, TP Tuy Hòa), nữ chiến sĩ cách mạng kiên cường đã từng ở nhà lao Ngọc Lãng - Ảnh: MINH NGUYỆT


Hồi đó,  Ban cán sự Đảng thị xã Tuy Hoà do ông Đặng Chuyển (Hậu Sanh) làm Bí thư, bà Võ Thị Kim Đính làm Phó Bí thư, các ủy viên là Trần Thị Cháu, Võ Oai (Giáo Sáu) và Diệp Bảo Giang (tức Gấm). Ban cán sự được thông báo tin đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Lê Đài bị bắt và trên chỉ đạo phải tìm cách giải thoát đồng chí.

Khi tên Cảnh chuyển thư của Lê Đài cho Trần Thị Cháu, chị đã liên lạc với Võ Thị Kim Đính bàn kế hoạch gởi thuốc men cho đồng chí Lê Đài. Thư ra thư vào đều bị tên Cảnh trình cho địch trước khi chuyển. Sau đó, phương án giải thoát cho đồng chí Lê Đài đã được cơ sở lập.

Giờ G hành động là 0 giờ ngày 20/1 rạng ngày 21/1/1956 nhằm ngày 8 tháng Chạp âm lịch, ngày lễ Phật Thích Ca, tín đồ Phật giáo sẽ đến chùa dự lễ. Số trực gác ở Ty về khuya sẽ ngủ say, tên Cảnh mở cửa phòng giam đồng chí Lê Đài ra  cửa Ty.

20 giờ, chúng tôi tập kết tại nhà chị Võ Thị Hồng Giác. Tên Cảnh nói là nhân xin phép ra ngoài mua thuốc lá, ghé lại để gặp cho chắc ăn. Cảnh và tôi so lại 2 đồng hồ của nhau cho khớp. Trong căn buồng ngủ, chúng tôi duyệt lại kế hoạch lần cuối. Tên Cảnh  trở về Ty, còn chúng tôi ém lại chờ giờ xuất phát.

23 giờ 40 phút, giờ  hành động đã điểm, tất cả lên đường. Chị Võ Thị Kim Đính và tôi là mũi xung kích tiến về phía đối diện Ty Công an, anh Trần Châu mang võng đòn khiêng đi sau. Khi đồng chí Lê Đài vượt ra khỏi cửa Ty, tôi và chị Đính sẽ khiêng anh đi về phía ngã 3 đường Phan Đình Phùng  - Tản Đà, Trần Châu sẽ chặn hậu. Từ ngã 3 này, chị Võ Thị Hồng Giác, anh Nguyễn Tài Soa sẽ khiêng tiếp lên ngã tư Diên Hồng, tôi và chị Đính chặn hậu. Từ Diên Hồng, các chị Trần Thị Cháu, Lê Thị Cụt sẽ khiêng tiếp đồng chí Đài lên cầu Ông Chừ. Từ buổi chiều, chị Hà Thị Vận, Hà Thị Lý (cơ sở ở Hoà Trị) đã đưa 2 chiếc  sõng  xuống neo tại cầu Ông Chừ  giả làm sõng đánh cá của dân. Theo kế hoạch,  cơ sở ở thị xã sẽ chuyển đồng chí Đài xuống sõng và cơ sở ở Hoà Trị sẽ đưa về bến Lội, rồi từ đó đưa tiếp đồng chí Đài lên núi. Ám hiệu liên lạc là dùng đèn pin 3 màu. Màu trắng là an toàn, màu vàng là chờ đợi và màu đỏ là báo động có nguy hiểm.

Đêm ấy  trời tối mịt, cách hai bước chân  là không nhìn rõ mặt nhau. Lúc 0 giờ ngày 21/1/1956,  cửa Ty Công an hé mở nhẹ nhàng. Chúng tôi thấy 2 bóng đen dìu  nhau đi khập khiễng từng bước một. Những năm đó, thị xã Tuy Hoà  chưa có điện đường, đêm lại đầy sương mù, chúng tôi chỉ thấy hai  bóng  mờ mờ  đỡ nhau tiến sang điểm hẹn. Tôi và chị Đính áp sát vào đồng chí Lê Đài và tên Cảnh. Bỗng “Lê Đài” vung tay chĩa  2 họng súng côn vào mang tai tôi và chị Đính! Thì ra chúng đóng giả Lê Đài. Tôi  vội bấm đèn bin màu đỏ ra sau báo động thì bị chúng bẻ quặt hai tay. Tôi và chị Đính bị chúng thúc súng  vào lưng đưa vào Ty Công an.  Khi nhận được ám hiệu báo động, biết bị lộ, các anh chị Châu, Soa, Giác, Cháu, tìm đường rút. Nhưng vì tên Cảnh biết trước kế hoạch, báo cáo nên địch đã đón  lỏng bắt hết. Khi tất cả bị nhốt vào phòng giam chờ khai thác, tôi nhìn thấy ống quần chị Giác, anh Châu, Soa đều có dấu đạn xuyên qua, may  mắn là không ai bị thương.

Vậy là kế hoạch giải thoát đồng chí Lê Đài không thành, cơ sở đồng chí Võ Thị Kim Đính bị bắt gọn. Chỉ riêng cơ sở ở Hoà Trị của Hà Thị Vận không bị lộ vì những người bị địch bắt đã  không hề khai báo…

NHỮNG NGÀY CƠ CỰC Ở NHÀ LAO NGỌC LÃNG


Nhà lao Ngọc Lãng là nhà lao đầu tiên của Mỹ-Diệm xây dựng ở Phú Yên, còn Ty Công an ngụy hồi đó đóng tạm tại nhà cô mụ Hỷ. Cả hai nơi đều là “địa ngục trần gian” của những người tù chính trị. Bọn địch gọi nơi đây là Cải hối thất Ngọc Lãng. Nhưng chúng tôi gọi là nhà lao chứ  không  gọi là “Cải hối thất”, vì tuy bị chúng giam giữ nhưng chúng tôi không hề có tội. Đã không có tội thì cần chi phải cải hối!

Lúc đầu chúng tôi  bị giam ở Ty Công an và bị chúng đánh đập suốt cả tháng ròng. Ban ngày, chúng nhốt tất cả vào biệt giam tối mò mò. Đợi sau 1 giờ khuya, chúng mới lần lượt đưa đến phòng tra tấn. Ban ngày bị nhốt trong bóng tối, khuya lại bị đưa ra dưới ngọn đèn điện mấy ngàn oát, chúng tôi đều bị choáng. Rồi bị thúc cùi chỏ, lên đầu  gối, “ăn” cây sắt, roi  gân bò, “được” cho uống nước xà phòng , “trói cảm tưởng”(*),  móc điện vào các bộ phận sinh dục  (bất kể nam hay nữ để tra tấn hòng tìm ra sự thật), cứ như lũ hung thần xâu xé con mồi!  Đứa này tra tấn mỏi tay, đứa khác thay vào, thậm chí còn “tra hội đồng” (tức nhiều đứa đánh một người). Cứ người này chết giấc, chúng cho khiêng về biệt phòng, rồi đưa người khác đến để  tra tiếp. Chúng tôi vẫn một lòng một dạ không  hé lộ bất cứ thông tin gì ngoài việc bị bắt tại chỗ, do vậy  phải   nhận đủ những trận đòn tàn bạo. Nhiều lần, các anh chị em phải thay phiên  chăm sóc lẫn nhau. Mấy lần khiêng chị Giác về phòng chỉ còn thoi thóp thở, các chị phải  cởi áo quần ra lau sạch máu trên người rồi xoa dầu. Có lần, phải mượn đũa cạy miệng chị Đính ra mới mớm được một ít sữa vào…

Sau đó, chúng tôi bị chuyển sang nhà lao Ngọc Lãng. Những tưởng đến trại giam mới này sẽ không còn bị đánh đập, tra tấn nữa, nào ngờ hàng ngày,  bọn thẩm vấn bên Ty Công an vẫn  mò sang,  muốn đánh lúc nào là kéo chúng tôi ra đánh lúc ấy. Chúng liệt cả nhóm vào “loại cứng đầu” nên luôn giam giữ  ở các phòng giam đặc  biệt. Hết bị cùm, chúng lại xiềng chung  hai người lại với nhau. Đấu tranh không chào cờ là bị đánh, bị phơi nắng giữa sân. Đấu tranh  không học tập, lại bị đánh, bị “trói cảm tưởng” cúp khẩu phần ăn, cúp luôn nước uống.

Ở nhà lao Ngọc Lãng bấy giờ, mấy ngàn người bị nhốt vào  dãy nhà chữ U như bầy vịt. Từ dưới đất lên tận trính nhà, phải treo đến 5, 7 lớp  võng để nằm. Đêm tiểu tiện, đại tiện đều phải ở trong phòng, “đi’’ vào các ấm đất, nồi đất, đợi sáng mai khi chúng lùa ra sông Chùa rửa mặt, mới đem đổ. Khi đó, bốn  cây đại liên chúng đặt bốn góc. Cả mấy ngàn người xuống sông lấy nước, súc miệng, rửa mặt. Tắm giặt mỗi tuần được một lần, cũng kiểu tắm chung như vậy. Còn đại tiện cũng ngồi  hàng ngang trên  bãi cát…

Ban đêm, người nằm võng phía trên lỡ “chột bụng” đi đại tiện nhiều lần hoặc thường tiểu tiện thì  mấy người nằm lớp võng phía dưới không ngủ được. Vì người trên cứ đạp đầu võng người nằm dưới để xuống đất giải quyết “việc” rất người kia.

Đến bữa,  chúng chỉ cho ăn lưng bát cơm hẩm với vài cọng rau muống luộc chấm  nước mắm. Thỉnh thoảng có  canh thì chỉ toàn là nước, chia mỗi người một miếng thịt mỡ cỡ ngón tay với miếng cơm cháy vét ở đít chảo để ăn …

Nhà tù cũng là trường học của những người đi theo con đường cách mạng. Bởi vào đây, được gần gũi với các đồng chí đảng viên, được sự động viên giáo dục của các đồng chí, một số quần chúng cơ sở được giác ngộ. Khi ra tù, chúng tôi tiếp tục hoạt động, nhiều người sau này trở thành những đảng viên cộng sản kiên trung. Tôi được cùm  chung với đồng chí Bùi Hoá - nguyên là Chánh văn phòng Ty Công an Phú Yên, được anh yêu thương, động viên, kèm cặp. Thấy tôi nhỏ tuổi nhất nên các đồng chí Nguyễn Đình Thành, Nguyễn Như, Lương Thúc Quý thường gần gũi trò chuyện. Sự gan dạ của các đồng chí Lê Quyết Chiến, Lương Thúc Quý… đã tiếp thêm sức mạnh, ý chí cho tôi.  Sự  yêu  thương, che chở của các chị Võ Thị Kim Đính, Võ Thị Hồng Giác, Phạm Thị Lành và nhiều anh  chị em khác đã giúp cho chúng tôi trưởng thành sau này.

Từ Ngọc Lãng, sau khi được trả tự do, nhiều anh chị em lại tiếp tục hoạt động. Một số là cơ sở trong các đường dây liên lạc  khắp tỉnh, một  bộ phận thoát ly lên căn cứ. Nhiều đồng chí khác bị địch chuyển đến các nhà lao Phú Lợi, Côn Đảo.

Bài viết nhỏ  này của tôi, người tù mang số hiệu 1130, mong được đến với bạn bè, đồng chí từng  có thời “ăn cơm chảo” ở nhà lao Ngọc Lãng, để nhớ về cái thuở không thể nào quên…

* “Trói cảm tưởng”: trói giật cánh khuỷu, quặt chặt hai  tay ra sau lưng.

 

LÊ KHÁNH NAM

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #29 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:02:48 pm »

Chỉ một tháng sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 23/9/1945 thực dân Pháp núp bóng quân Anh gây chiến tranh với dã tâm chiếm đóng Nam Bộ. Ngày 23/10/1945, thực dân Pháp chiếm đóng Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trở thành vùng địch tạm chiếm. Từ Khánh Hòa, thực dân Pháp tiến công và tạm chiếm Tây Nguyên. Tỉnh Phú Yên bị địch uy hiếp ba mặt: tuyến biển, phía nam và phía tây. Phú Yên là tỉnh địa đầu của vùng tự do Liên khu V, bị địch liên tục tấn công.

 


Lính Pháp tuần tra hầm Đèo Cả năm 1946, nơi mà sau đó, quân ta đã đánh chúng tan tác trong cuộc kháng chiến toàn quốc  – Ảnh: Tư liệu
Ngày 12/6/1946, quân Pháp tập trung một trung đoàn bộ binh cơ giới từ Nha Trang theo quốc lộ 1 đánh ra Tu Bông và cho một tiểu đoàn đổ bộ lên Đại Lãnh (Vạn Ninh-Khánh Hoà) đánh lên tuyến Đèo Cả, mở đường ra Phú Yên. Tiếp đó, ngày 22/6/1946, ở hướng Tây, một tiểu đoàn lính Âu- Phi từ Mađrắc tiến đánh Củng Sơn (Sơn Hoà). Như vậy là quân Pháp tập trung gần 2 trung đoàn cùng lúc tấn công Phú Yên từ hai hướng phía Nam  và phía Tây.

Quân dân Phú Yên đã chuẩn bị sẵn sàng thế trận nên kịp thời chặn đánh địch ngay từ đầu. Các phòng tuyến của quân ta tại Tu Bông, đèo Cổ Mã chặn đánh quân Pháp từ Nha Trang gây ra thiệt hại nặng nề. Cánh quân Pháp đổ bộ lên Đại Lãnh cũng bị một bộ phận trung đoàn 79 của ta đánh đòn phủ đầu khi chúng chưa kịp tiến lên đèo. Bị thiệt hại nặng, quân Pháp phải vội vàng tháo chạy, mặt trận Đèo Cả được giữ vững. Nhà thơ Hữu Loan, đến mặt trận Đèo Cả vào những ngày này đã viết:

 

Giặc từ Vũng Rô bắn tới

Giặc từ trong tràn ra

Nhưng Đèo Cả vẫn đứng vững

Đèo Cả Nam

máu gặc

mấy lần

nắng khô
…


Ở hướng Tây Phú Yên, tiểu đoàn “Cao Thắng” chặn đánh địch tại Cà Lúi, Chấn Dơn, buôn Xã Ninh, Lỗ Dương tiêu diệt sinh lực địch. Quân Pháp không thực hiện được kế hoạch chiếm đóng Củng Sơn, phải lui về cụm lại ở Cà Lúi, Bà Lá… Kế hoạch từng bước đánh chiếm Phú Yên của quân Pháp bước đầu đã bị quân dân Phú Yên đánh bại. Quân dân Phú Yên phấn khởi, ra sức lao động sản xuất, xây dựng lực lượng mọi mặt sẵn sàng chiến đấu đánh bại những cuộc tiến công mới của quân Pháp, nhất là củng cố các tuyến phòng thủ tại mặt trận Đèo Cả và mặt trận Củng Sơn.

Đầu tháng 12/1946, Uỷ ban kháng chiến miền Nam tổ chức phòng liên lạc Nam bộ đóng quân ở Tuy Hoà. Công tác vận chuyển bằng đường biển vào các chiến trường cực Nam Trung bộ được đẩy mạnh. Tỉnh tổ chức đóng thêm nhiều ghe bầu đi biển trọng tải hàng chục tấn. Chuyến thuyền vượt biển đầu tiên vào Nam bộ xuất phát từ Hoà Hiệp (bây giờ thuộc huyện Đông Hoà), đưa đồng chí Nguyễn Thị Định và một số vũ khí của Trung ương chi viện đã vượt qua các tuyến kiểm soát, phong toả nghiêm ngặt của giặc, vào đến Nam bộ an toàn.

Ngày 18/12/1946, Tỉnh uỷ nhận được điện của Trung ương: “Theo tình hình bên Pháp và lòng tham của thực dân Pháp, chỉ có một cuộc chiến tranh toàn diện, lâu dài, găy gắt, khó khăn mới giải quyết được chủ quyền của Việt Nam. Chủ trương của Đảng đã nhất định gấp rút chuẩn bị. Tình hình rất căng thẳng. Phải cho đồng chí và dân chúng hay. Nhận rõ trường kỳ kháng chiến, thế nào thắng lợi cũng về ta”.

Quân và dân Phú Yên trước đó đã cương quyết kháng chiến, giờ đây càng tỏ rõ quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cả nước nắm chắc vũ khí, xiết chặt hàng ngũ xung quanh Trung ương Đảng và Bác Hồ, quyết chiến và quyết thắng.
Kháng chiến bùng nổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến.
Theo lời kêu gọi của Người, nhân dân Phú Yên thấy rõ trước thảm hoạ Tổ quốc bị xâm lăng, cần thiết phải phá hoại để địch không thể lợi dụng đánh lại ta. Đồng thời, tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Ở mặt trận đèo Cả và miền Tây tiếp giáp với vùng tạm chiếm, bộ đội và nhân dân xây dựng các tuyến bố phòng, phá hoại cầu đường, nhà kiên cố, đào hào giao thông, đắp ụ cản xe địch. Dọc bờ biển, dân quân dựng các bồ canh gác trên các điểm cao theo dõi tàu chiến và máy bay địch.

Nhân dân thị xã Tuy Hoà tản cư về nông thôn tham gia sản xuất, các trục đường lớn đều bị đào phá thành hầm, hào chống xe cơ giới, tháo gỡ đường ray, đắp ụ cản… Các đội dân quân và thanh niên dùng xà beng, búa tạ kéo đổ các nhà kiên cố như Băng-gô-la, kể cả các nhà dân như Dũ Ký, Dũ Khương…

Các thị trấn và các làng ven biển trục đường giao thông nhân dân đều phân tán, đào hầm cất giấu tài sản, lương thực, chỉ để lại ít đồ dùng thiết yếu và lương thực. Nhân dân quyết làm cho giặc Pháp đi đến đâu cũng thấy đô thị tan hoang, nông thôn vườn không nhà trống. Hàng ngàn cây tre được vót nhọn cắm trên hầu hết các  cánh đồng, đồi trọc để chống quân nhảy dù. Công cuộc phá hoại để kháng chiến, chuẩn bị kháng chiến được tất cả mọi người, mọi lứa tuổi dốc sức tham gia không kể ngày đêm. Đây là một thành công lớn mang tính quần chúng tự giác rộng rãi, thể hiện lòng yêu nước cao độ và lòng căm thù giặc sâu sắc của nhân dân Phú Yên. Đây còn là sự thành công trong lãnh đạo của Tỉnh uỷ và Đảng bộ, các cơ quan trong tỉnh. Các lực lượng vũ trang nhân dân đều cùng chí hướng, đoàn kết một lòng, cương quyết kháng chiến, giành thắng lợi.

 

TRẦN VĂN
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM