Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:21:19 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng  (Đọc 53907 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #30 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:04:54 pm »

Bộ Chỉ huy Quân sự Phú Yên vừa xuất bản tập 2 cuốn sách “Những trận đánh tiêu biểu” của Lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Tập sách dày 200 trang, gồm 25 trận đánh tiêu biểu của quân và dân Phú Yên. Dưới đây, xin giới thiệu một trận đánh với bạn đọc...


Khu căn cứ Đông Tác  - Hòa Hiệp được xác định là khu vực quan trọng trong chiến đấu cũng như tháo lui của địch. Mỹ - ngụy đã thiết lập một hệ thống ống dẫn từ cảng Vũng Rô dọc theo đường sắt chạy thẳng về đây. Mặt khác, từ quốc lộ 1A chúng cho mở đường ô tô nối liền bến cảng để vận chuyển hàng hoá, vũ khí từ các chuyến tàu về căn cứ. Trên đoạn đường này có một chiếc cầu gọi là cầu Lớn, dài 20 mét. Do tính chất vô cùng quan trọng của tuyến giao thông huyết mạnh và quần thể căn cứ Đông Tác - Hoà Hiệp -  Vũng Rô nên địch bố trí lực lượng dày để chốt giữ cẩn thận.

Thực hiện chiến dịch Xuân – Hè 1971, ta tiến công liên tục, dồn địch vào thế bị động. Mục tiêu đầu tiên là phải cắt đứt tuyến giao thông vận chuyển hàng hoá và hệ thống ống dẫn dầu của địch vào căn cứ Hoà Hiệp - Vũng Rô. Lực lượng đảm nhiệm chính là Đại đội K65 Công binh của tỉnh trực thuộc Tiểu đoàn 14 Đặc công. Đại đội được tổ chức thành 3 mũi tấn công. Mũi thứ nhất  gồm 8 đồng chí được trang bị 6 súng AK, 80 kíp thuốc nổ, có nhiệm vụ phục kích đánh sập cầu Lớn, cắt đứt giao thông. Mũi thứ hai gồm 9 đồng chí được trang bị 6 súng AK, 1 M79, 2 B40, 2 quả mìn ĐH 10, có nhiệm vụ phục kích đánh địch, giải toả phía nam đồi Pi - đông khu vực đèo Cả. Mũi tiến công thứ 3 có 6 đồng chí được trang bị 4 súng AK, 1 M79 và 14 kg thuốc nổ, có nhiệm vụ phá hệ thống ống dẫn dầu vào căn cứ của định.

Đúng 0 giờ ngày 16-3-1971, các bộ phận phục kích của ta đã hoàn tất việc đặt mìn, thuốc nổ ở các mục tiêu đã định, chờ lệnh phát hoả. 5 phút sau, một tiếng nổ  lớn vang lên ở khu vực cầu Lớn, rung chuyển cả khu vực bắc Vũng Rô. Tiếp theo là tiếng nổ  phá đường ống dẫn dầu dọc theo tuyến đường sắt. Lửa khói bốc cao đến hơn 20 mét và cháy lớn đến 5 giờ sáng ngày 17-3. Cầu Lớn bị sập hoàn toàn, đường ống dẫn dầu bị phá huỷ. Hai bộ phận làm xong nhiệm vụ rút quân về nơi ẩn tránh.

Đúng như dự kiến, 2 tiếng nổ vừa dứt, trận địa pháo của địch ở Trung đoàn 28 Bạch Mã và đồi Bằng - Vũng Rô bắn hàng ngàn quả pháo 105 và 155 dọc theo sườn núi phía nam quốc lộ 1A từ nam Hảo Sơn đến đồi Pi-đông và dọc tuyến đường sắt. Đồng thời, địch tăng cường máy bay quần đảo quan sát thả bom cày xới. 7 giờ sáng ngày 17-3, một trung đội lính Nam Triều Tiên, 6 chiếc thiết giáp và 5 xe chở 1 đại đội lính Mỹ vào giải toả khu vực cầu Lớn. Vừa đến nơi, chúng đã lọt vào trận địa phục kích. Ta lập tức lệnh bấm mìn, nổ súng, một tốp lính Nam Triều Tiên chết ngay tại chỗ.

Chỉ trong vòng chưa đầy 8 giờ đồng hồ, 3 mũi tấn công của Đại đội K65 đã phá sập hoàn toàn cầu Lớn, làm tắc nghẽn giao thông 2 ngày; phá 20 mét đường ống dẫn dầu, đốt cháy hàng vạn lít xăng, tiêu diệt 11 tên lính Nam Triều Tiên, thu được 1 khẩu M79, 2 súng AR15, 12 quả lựu đạn. Phía ta không thương vong.
Trận đánh cắt đứt giao thông đèo Cả, phá đường ống dẫn dầu của địch  thắng lợi hoàn toàn góp phần lớn làm tiêu hao sinh lực địch, phá phương tiện chiến tranh, làm rối loạn hậu cứ địch, buộc phải đối phó phòng giữ rơi vào thế bị động. Ta giành lấy thế chủ động cho những chiến dịch tiếp theo.

 
TRẦN QUỚI (giới thiệu)

 
Logged
haanh
Thượng tá
*
Bài viết: 5795


HOT nhất forum


« Trả lời #31 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:25:39 pm »

hehe spam tí , nghe nhắc tới Phú Yên nhớ đồng đội quá , lính PY đánh nhau rất gan lì lại sống có tình nghĩa với đồng đội , đồng hương . Quê hương PY thật đáng tự hào có những người con như thế .
Logged

NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ .
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #32 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2010, 04:14:33 am »

Chiều 27/10/1986, khi tôi và anh Phạm Uyển – Quận đội trưởng Lê Chân đang ngồi trao đổi công việc thì đồng chí văn thư đưa báo tới. Báo Quân Đội Nhân Dân hôm ấy đăng ảnh một người đàn ông chụp chung với vợ và hai con nhỏ kèm theo mấy dòng chữ nhắn tìm thân nhân người liệt sĩ trong ảnh. Người nhắn tin là ông Lê Vy Tân ở huyện Tuy Hòa, Phú Khánh (nay thuộc tỉnh Phú Yên).

 
Nghĩa trang Liệt sĩ Đông Tác, nơi an nghỉ của những anh hùng đã xả thân vì nền độc lập của Tổ quốc, trong đó có nhiều chiến sĩ miền Bắc – Ảnh: DƯƠNG THANH XUÂN


Vừa thoáng nhìn, anh Uyển đã thảng thốt kêu lên: “Trời! Đúng anh Hùng”. Rồi anh cho tôi biết người trong ảnh chính là đại úy Phạm Việt Hùng, nguyên Trưởng ban Huấn luyện Quận đội Lê Chân, sau đó là Trưởng ban Tác huấn phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh 350 - Hải Phòng, đi B từ năm 1966 và đã hy sinh.
Hồi đó, tôi là lính của Quân đoàn 2 mới được điều về làm Quận đội phó nên không biết anh Hùng. Song tôi biết rõ chị Mỹ, vợ anh – một đối tượng chính sách rất quen thân với Quận đội Lê Chân chúng tôi. Người phụ nữ trong ảnh còn trẻ nhưng đúng là chị Mỹ. Chỉ khác là chị Mỹ bấy giờ đã có ba con, cháu nhỏ nhất cũng đã 20 tuổi.

Ngay chiều hôm đó, hai anh em chúng tôi rủ nhau đạp xe đến nhà chị Mỹ. Mấy chục năm đằng đẵng thờ chồng, một mình tần tảo nuôi con, người phụ nữ xinh đẹp trong ảnh này đã khác xưa nhiều lắm. Mắt chị đã lòa không nhìn rõ nữa, nhưng các con chị đều nhận ra bố mẹ và bản thân mình trong bức ảnh hơn 20 năm trước. Ôm tờ báo, nơi có bóng hình của người chồng thân yêu vào lòng, chị Mỹ nước mắt rưng rưng kể lại:

- Đầu năm 1966, khi anh Hùng được lệnh đi B thì tôi đang mang thai cháu thứ ba bây giờ. Mấy ngày phép ngắn ngủi anh dành trọn cho vợ con. Anh kéo cả nhà đi chụp ảnh kỷ niệm. Rồi anh lên đường ra mặt trận mang theo bức ảnh gia đình. Đến năm 1969, tôi nhận được tin anh hy sinh. Trong giấy báo tử, cấp trên chỉ cho biết chồng tôi đã hy sinh anh dũng ở chiến trường. Từ đó đến nay tôi vẫn canh cánh trong lòng vì không biết anh đã ngã xuống nơi đâu. May nhờ tấm lòng của bà con cô bác Tuy Hòa, nhờ Báo Quân Đội Nhân Dân mà nay mẹ con tôi đã biết được nơi anh yên nghỉ.
Nét mặt, cử chỉ và câu chuyện đầy nước mắt của người vợ liệt sĩ khiến anh em chúng tôi vô cùng xúc động.

Sáng hôm sau, anh Uyển giao tôi thảo công văn gửi về Tòa soạn Báo Quân Đội Nhân Dân trả lời rằng đã có địa chỉ của người liệt sĩ, đồng thời gửi thư cảm ơn đồng chí Lê Vy Tân ở số nhà 137 quốc lộ 1 Tuy Hòa. Chúng tôi cũng báo cáo ngay việc này với Bộ Chỉ huy quân sự TP Hải Phòng và Bộ Tư lệnh Quân khu. Ít ngày sau, chúng tôi nhận được thư của đồng chí Lê Vy Tân. Bức thư cho biết rõ: Người có công chôn cất liệt sĩ và giữ gìn tấm ảnh là bà Hai Hòa, chị ruột của đồng chí ở Hòa Vinh.

Chuyện về bức ảnh liệt sĩ Phạm Việt Hùng và lời nhắn tìm thân nhân liệt sĩ từ Tuy Hòa xa xôi nhanh chóng gây xúc động lớn cho nhân dân Lê Chân và nhân dân thành phố cảng Hải Phòng; làm ấm lòng các mẹ, các chị có người thân đi chiến đấu mãi mãi không về. Chúng tôi đề nghị với Quận ủy, UBND quận Lê Chân và Bộ Chỉ huy quân sự TP Hải Phòng tổ chức một đoàn đại biểu đưa mẹ con chị Mỹ vào Tuy Hòa để nhận mộ anh Hùng, đồng thời cảm ơn má Hai Hòa, cảm ơn lòng dân Tuy Hòa đối với những người con miền Bắc đã vì Tổ quốc hy sinh trên mảnh đất miền Nam yêu dấu. Đề nghị đó của chúng tôi được cấp trên hoan nghênh và nhiệt thành ủng hộ. Chúng tôi đặc biệt xúc động khi được Quân khu báo cho biết, đại tướng Nguyễn Quyết, lúc đó là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đã chỉ thị cho Xưởng phim Quân đội cử một bộ phận đi theo đoàn để ghi lại hình ảnh về tấm lòng của một bà mẹ miền Nam đối với anh bộ đội Cụ Hồ, đối với hậu phương miền Bắc. Bộ phim tài liệu thời sự Những ngôi sao không tắt nói về chuyến đi này về sau đã nhận được giải thưởng lớn trong một liên hoan phim.

Ngày 20/5/1987, đoàn đại biểu quân – dân – chính – đảng quận Lê Chân do đồng chí Nguyễn Văn Quy, Phó Chủ tịch UBND quận làm trưởng đoàn, lên đường. Tôi là phó đoàn, lo tổ chức, dẫn đường. Cùng đi còn có chị Mỹ và con trai, con rể của chị.

Dọc đường đi, đoàn vào thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, thắp hương kính viếng hương hồn các liệt sĩ ở khắp mọi miền đất nước, trong đó có các liệt sĩ Hải Phòng đã ngã xuống trên tuyến đường mang tên Bác Hồ vĩ đại.

Chiều 23/5/1987, đoàn vào tới Tuy Hòa. Xe dừng trước cơ quan Huyện ủy và UBND huyện. Tôi được giao nhiệm vụ vào báo cáo trước với các đồng chí lãnh đạo địa phương. Người tôi gặp đầu tiên là đồng chí Phó Bí thư thường trực Huyện ủy. Tôi nói:


- Thưa đồng chí, Thành ủy, UBND, Bộ Chỉ huy Quân sự TP Hải Phòng và lãnh đạo quận Lê Chân cử chúng tôi vào đây nhận mộ anh Hùng và cám ơn tấm lòng của má Hai Hòa, nhân dân Tuy Hòa đối với các chiến sĩ miền Bắc, trong đó có Hải Phòng, đã vào chiến đấu ở trong này. Đoàn cũng mong ước được hiểu thêm truyền thống cách mạng của Đảng bộ, nhân dân địa phương.

Vừa nghe tôi báo cáo, nước cắt đồng chí Phó Bí  thư thường trực Huyện ủy đã trào ra. Anh ôm chặt lấy tôi mãi không rời. Rồi anh chạy vội ra sân đón đoàn và đích thân dắt chị Mỹ bước vào phòng khách. Anh nghẹn ngào nói về những ngày đất nước cách chia và máu lửa, về tấm lòng của miền Bắc đối với miền Nam, về các học sinh miền Nam trên đất Bắc, được đồng bào miền Bắc, đồng bào Hải Phòng nuôi dưỡng, nay đã trưởng thành.

Tin đoàn đại biểu quận Lê Chân vào thăm Tuy Hòa nhanh chóng truyền đi. Các cơ quan, ban, ngành và nhân dân huyện Tuy Hòa đều xúc động. Tối hôm ấy, các đồng chí Bí thư Huyện ủy và Chủ tịch UBND huyện vừa đi họp ở tỉnh về đã đến ngay nhà khách gặp đoàn. Như thể những người ruột thịt xa nhau lâu ngày, chuyện miền Bắc, miền Nam, chuyện gia đình, phố phường, làng xóm kéo dài đến canh khuya không dứt.

Sáng 24/5/1987 đã diễn ra cuộc gặp gỡ đậm đà tình nghĩa giữa đoàn đại biểu quận Lê Chân với đại biểu các cơ quan, ban, ngành và nhân dân Tuy Hòa. Sau lời phát biểu của đồng chí Phó Chủ tịch quận Lê Chân, đồng chí Bí thư Huyện ủy Tuy Hòa phát biểu đáp từ. Ông là một chiến sĩ cách mạng đã ở tuổi 60, từng bị địch bắt đày đi Côn Đảo. Ông vừa nói vừa khóc:

- Vì miền Nam, vì Tổ quốc đã có biết bao thanh niên miền Bắc, thanh niên Hải Phòng ngã xuống trên mảnh đất này. Mỗi xóm làng ở tỉnh Phú Khánh này, cũng như ở khắp miền Nam, đâu đâu cũng có những nấm mồ người chiến sĩ miền Bắc. Nghĩa tình miền Bắc sống mãi trong lòng miền Nam. Nhân dân Tuy Hòa, nhân dân miền Nam còn nhiều điều ân hận vì chưa tìm được hết địa chỉ của các nấm mồ liệt sĩ để mời các bà má và người thân miền Bắc vô để nhận mộ người thân.

Bài phát biểu của người chiến sĩ cách mạng kiên cường khiến đoàn Lê Chân và các đại biểu dự cuộc gặp mặt đều vô cùng xúc động.
Trong tiếng vỗ tay không dứt, trong nước mắt chứa chan, đồng chí Bí thư Huyện ủy lần lượt ôm hôn mẹ con chị Mỹ và các thành viên trong đoàn đại biểu quận Lê Chân. Hiếm có cuộc đón tiếp nào cảm động đầy nước mắt đến như thế!

Đồng chí trưởng đoàn đại biểu quận Lê Chân trao tặng huyện Tuy Hòa bức tranh sơn mài mang hình vị nữ tướng Lê Chân, biểu tượng tự hào của thành phố cảng Hải Phòng. Huyện ủy, UBND Tuy Hòa tặng Quận ủy, UBND Lê Chân bức tranh sơn dầu có mô hình trạm điện mới xây, biểu tượng của Tuy Hòa đi lên chủ nghĩa xã hội và tặng vật kỷ niệm cho mẹ con chị Mỹ – những người ruột thịt của liệt sĩ Phạm Việt Hùng.
Chiều 24/5/1987, đồng chí Bí thư Huyện ủy đích thân dẫn đoàn đến đặt vòng hoa tại nghĩa trang Đông Tác, nơi đặt phần mộ anh Hùng. Chúng tôi thành kính đặt vòng hoa và làm lễ dâng hương. Những nén hương ngào ngạt thắp lên những nấm mồ liệt sĩ, đem tấm lòng của người dân đất Cảng đến với các chị, các anh. Với lòng mến thương vô hạn, má Hai Hòa dẫn mẹ con chị Mỹ quỳ trước mộ chồng, mộ cha, nước mắt đầm đìa trong bâng khuâng thương nhớ. Chị Mỹ nắm tay má Hai và bác Lê Vy Tân, em trai của má, nói trong tiếng nấc:

- Nhờ có má mà mẹ con con hôm nay mới được nhận mộ chồng, mộ cha của mình. Ơn má, trọn đời gia đình con không sao quên được...

Là một người lính đã mấy chục năm lăn lộn trên các chiến trường, đã từng tiễn biệt nhiều đồng đội hy sinh trong chiến đấu, nhưng suốt đời tôi không quên cảm giác khi thắp nén hương rồi đặt chiếc mũ có gắn quân hiệu của mình lên phần mộ người đồng đội mà tôi chưa một lần gặp mặt. Cho đến hôm nay, mỗi khi nghĩ lại giây phút ấy, tôi vẫn cảm thấy như có mùi hương ngào ngạt và làn gió nhẹ gai người thổi qua, như thể vong linh người liệt sĩ về quanh quẩn đâu đây chứng giám tấm lòng thành của vợ con, của nhân dân và đồng đội.

Rời nghĩa trang Đông Tác, má Hai Hòa dẫn chúng tôi về xã Hòa Vinh. Từ tối hôm trước, được tin đoàn Lê Chân vào, má Hai cho người đi báo tất cả cháu con ở các nơi về sum họp rồi mới lên huyện gặp mẹ con chị Mỹ cùng anh em trong đoàn. Bây giờ, ở giữa nhà má, cả mẹ con chị Mỹ và chúng tôi đều ôm lấy nhau mà khóc. Má Hai chỉ lên bàn thờ rồi nói:

- Từ sau Tết Mậu Thân, nhà má có ba bát nhang. Bát nhang ở giữa thờ gia tiên, bát nhang bên phải dành cho con trai má, còn bát nhang bên trái dành hương khói cho thằng Hùng!
Rồi giữa cả nhà đông đủ, má Hai vừa khóc vừa kể về những ngày chống Mỹ gian lao, kể về ngày anh Hùng hy sinh trên mảnh đất Hòa Vinh. Đó là ngày mồng 2 Tết Mậu Thân. Hôm đó má Hai Hòa lang thang khắp nơi tìm người con trai là bộ đội địa phương mà má được tin vừa hy sinh hồi đêm. Khi đến một căn nhà đổ, má thấy một chiến sĩ đã hy sinh, bên cạnh anh là khẩu súng AK. Trước lúc đưa anh đi chôn, má tìm thấy trong túi áo người chiến sĩ đó có một bức ảnh gia đình, có lẽ là đôi vợ chồng và hai con nhỏ. Má Hai giữ lại bức ảnh rồi tìm một tảng đá đặt lên mộ để làm dấu. Sau ngày chiến thắng, theo sự chỉ dẫn của má, hài cốt của người chiến sĩ miền Bắc đã được bà con đưa vào nghĩa trang liệt sĩ địa phương. Còn má Hai vẫn giữ tấm ảnh chờ mong có dịp báo được cho người thân của anh. Cho đến tháng 10/1986, khi em trai của má là đồng chí Lê Vy Tân có dịp ra Hà Nội, má gửi bức ảnh nhờ Báo Quân Đội Nhân Dân tìm giúp địa chỉ của thân nhân người liệt sĩ. Cuộc gặp gỡ hôm nay đã toại nguyện niềm ước ao của má, toại nguyện tấm lòng bao la của má.

Cả nhà chị Mỹ nghẹn ngào thắp nhang lên bàn thờ của con trai má Hai, của chồng và cha thân yêu của mình. Chiếc bàn thờ mà suốt 20 năm, má Hai vẫn đều đặn thắp nhang lúc ngày rằm, khi đầu tháng. Chị Mỹ thành kính trao tặng má Hai chiếc quần sa tanh Nam Định, chiếc áo lụa Hà Đông – quà của cơ quan quân sự quận Lê Chân cùng quà kỷ niệm của nhân dân trong quận và của mẹ con chị. Con trai chị Mỹ treo bức chân dung của bố lên bàn thờ, rồi thưa với má Hai trong nước mắt:

- Bà ơi! Mẹ con cháu ở xa, phần trông nom mộ bố cháu xin gửi nhờ bà. 20 năm qua bố cháu có bà chăm sóc, từ nay về sau bố cháu vẫn được sống trong tình thương của bà...

Má Hai Hòa lại khóc. Bà ôm mẹ con chị Mỹ vào lòng:

- Bay về, nhưng thỉnh thoảng vô thăm. Mộ chồng con, cha con, má sẽ trông nom như con trai má, như mọi người đã hy sinh cho Tổ quốc ở đây. Nếu má qua đời thì còn cháu má, còn nhân dân Hòa Vinh. Thấy cháu con mạnh khỏe lớn khôn, má nhẹ lòng và vui thay ba cháu...

Lời bà má miền Nam đã ngót 80 tuổi khiến cả đoàn Lê Chân, cả những người có mặt ở đó không ai kìm được xúc động.

Tạm biệt gia đình má Hai Hòa, chúng tôi tới dự cuộc gặp mặt thân mật với Đảng ủy, UBND và những người có công với cách mạng ở xã Hòa Vinh, thăm tượng đài và phòng truyền thống của xã. Sau đó, đoàn về gặp gỡ các đồng chí trong Ban Chỉ huy Quân sự huyện Tuy Hòa. Thay mặt lực lượng vũ trang quận Lê Chân, tôi trao tặng lực lượng vũ trang huyện Tuy Hòa lá cờ truyền thống của quân dân Hải Phòng mang dòng chữ “Trung dũng Quyết thắng” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng. Các đồng chí trong cơ quan quân sự Tuy Hòa trao tặng lực lượng vũ trang quận Lê Chân khẩu súng AR15 chiến lợi phẩm đã ghi nhiều chiến công trong những năm đánh Mỹ.

Mấy ngày đến với Tuy Hòa, nơi yên nghỉ của liệt sĩ Phạm Việt Hùng, chúng tôi đem đến Tuy Hòa nghĩa tình sâu nặng của miền Bắc hậu phương. Các đồng chí lãnh đạo và bà con Tuy Hòa đón chúng tôi như đón người thân trở về.  Từ đó đến nay, Tuy Hòa - Lê Chân trở thành hai địa phương kết nghĩa, càng làm gần thêm tình Nam nghĩa Bắc, làm gần gũi thêm tình cảm sâu nặng của gia đình chị Mỹ với má Hai Hòa và bà con cô bác Hòa Vinh.

Hơn 20 năm đã trôi qua, song những kỷ niệm nồng thắm của chuyến đi vẫn còn mãi trong lòng cán bộ chiến sĩ cơ quan quân sự quận Lê Chân, còn mãi trong lòng cán bộ chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự Hải Phòng, giúp chúng tôi càng hiểu thêm nghĩa tình non nước, nghĩa tình Nam – Bắc, nghĩa tình của dân. Nghĩa tình ấy là cội nguồn tạo nên sức mạnh của quân đội ta, giúp người lính yên lòng hành quân, vượt qua mọi gian lao thử thách, sẵn sàng hy sinh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.

                         
Đại tá HỒ LUYỆN

Nguyên Phó Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng (kể)

VŨ TANG BỒNG (ghi)

Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #33 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2010, 04:16:23 am »

Đầu năm 1964, sau khi chương trình “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng bị phá sản, đế quốc Mỹ chuyển sang kế hoạch Mắc Na-ma-ra, nhằm “bình định” miền Nam trong vòng  hai năm. Riêng các tỉnh đồng bằng liên Khu 5, chúng đặt kế hoạch trong 12 tháng sẽ “bình định” xong. Ở Phú Yên, địch ra sức tập trung quân cơ động, đánh phá liên tục, dài ngày, có trọng điểm vào căn cứ ta, tăng cường mật độ hoạt động phi pháo, rải chất độc hóa học phá hoại sản xuất ở vùng giải phóng... Giữa lúc cuộc chiến chống quân xâm lược diễn ra vô cùng gay go và ác liệt, ngày 28/2/1964, Đại đội Đặc công 202 được thành lập.




Chiến sĩ đơn vị HO2 hoá trang chuẩn bị luyện tập

 

 QUÁ KHỨ VẺ VANG


Ngay trận đầu ra quân tập kích cứ điểm Phú Cần (xã An Thọ, huyện Tuy An), Đại đội Đặc công 202 (H02) đã phối hợp với Tiểu đoàn 85 lập công đầu xuất sắc, tiêu diệt gọn Đại đội Bảo an 945 ngụy trong công sự vững chắc và một trung đội dân vệ đứng trong ấp, diệt và bắt hơn 70 tên địch, thu toàn bộ vũ khí của chúng.


Ra quân trăm trận trăm thắng. Chiến công tiếp nối chiến công. Từ ngày thành lập đến khi nước nhà thống nhất, đơn vị H02 đã tham gia đánh hơn 200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 4.500 tên địch, trong đó có 1.150 tên Mỹ và chư hầu; diệt gọn 22 đại đội, thu 500 súng, phá hủy 2 máy bay… Đặc biệt, trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đơn vị đã nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, khắc phục khó khăn, không ngại hy sinh, ác liệt, ba lần tấn công vào thị xã Tuy Hoà, lập công hiển hách, làm cho kẻ thù kinh hoàng, khiếp vía.

Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đơn vị đã được tặng nhiều phần thưởng, huân chương các loại. Ngày 20/9/1971, H02 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Liệt sĩ Lê Trung Kiên, liệt sĩ Lương Tấn Thịnh – hai tấm gương sáng của H02 - cũng được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý này.

 


Các chiến sĩ đơn vị H02 diễn tập

 

HIỆN TẠI XỨNG ĐÁNG

Trong thời bình, đơn vị H02 làm nhiệm vụ A2 trên phạm vi toàn tỉnh. Phát huy truyền thống của đơn vị anh hùng trong chiến tranh chống Mỹ, với bất kỳ nhiệm vụ và hoàn cảnh nào, trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tăng gia sản xuất, làm công tác dân vận… đơn vị luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trung úy Lê Văn Nhơn, Chính trị viên đại đội, tự hào cho biết: Mới đây, qua kiểm tra công tác huấn luyện chiến đấu, Quân khu đã xếp đơn vị vào loại khá, riêng huấn luyện chuyên ngành trinh sát và bắn súng đạt loại giỏi. Tham gia huấn luyện chiến đấu, giáo dục chính trị và các đợt tập huấn do Phòng Tham mưu, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và Quân khu tổ chức, đơn vị đều đạt khá, giỏi.

Để đạt được những kết quả đó, đơn vị luôn chủ động lập đầy đủ các kế hoạch và tổ chức thực hiện, luyện tập theo phương án đã được duyệt. Đơn vị cũng đã thực hiện tốt kế hoạch trực chiến đấu, trực chỉ huy, trực chiến và bảo vệ an toàn các mục tiêu, đồng thời làm tốt nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát địa bàn; nắm tình hình theo kế hoạch của trên, không để lộ bí mật; nắm chắc tình hình hoạt động của địch và kịp thời xử lý các tình huống không để bị động bất ngờ.

Một trong những việc làm của đơn vị trong thời gian qua được chính quyền các cấp và lãnh đạo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đánh giá cao là công tác dân vận. Mỗi năm đơn vị tổ chức 2-3 đợt hành quân đến các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số giúp dân tu sửa đường giao thông, tăng gia sản xuất, làm đẹp cảnh quan môi trường; sẵn sàng ứng cứu, giúp dân phòng tránh lụt bão. Trong mùa mưa bão 2007, đơn vị đã có mặt kịp thời giúp hàng trăm hộ dân ở xã Hòa An (Phú Hòa) chạy lũ đến nơi an toàn; cùng với các đơn vị lực lượng vũ trang hỗ trợ bà con làng biển Long Thủy (An Phú, TP Tuy Hòa) khắc phục hậu quả triều cường… Vì vậy, không người dân nào không bịn rịn khi đơn vị rút quân.

Năm 2007, đơn vị H02 chuyển vị trí đóng quân nên củng cố lại doanh trại là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác chính quy, rèn luyện kỷ luật. Đây cũng là năm đầu thực hiện “Năm Điều lệnh”. Nhờ triển khai quán triệt tốt các nghị quyết, kế hoạch của trên và của chi bộ, thực hiện nghiêm kỷ luật quân đội nên trong năm không có trường hợp nào bị kỷ luật phải xử lý. Đơn vị đạt đơn vị tiên tiến, một đồng chí được công nhận Chiến sĩ thi đua, 11 đồng chí được công nhận Chiến sĩ tiên tiến, ba đồng chí được tặng giấy khen, 4 đoàn viên ưu tú vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Bên cạnh chăm lo đời sống vật chất, bảo đảm đúng, đủ tiền ăn, tiền lương cho bộ đội theo chế độ…, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị quan tâm và thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, sinh hoạt giao lưu với các đơn vị kết nghĩa nên 100% cán bộ chiến sĩ yên tâm công tác và thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

 

LẠC VIỆT
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #34 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2010, 04:19:07 am »

Cuối năm 1954, tôi đang dự hội nghị Tổng kết công tác cải cách ruộng đất đợt 1 tại Tam Đảo, được Ban tổ chức Trung ương quyết định điều động về lại miền Nam công tác. Đoàn có 12 đồng chí ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.

 



Trong ảnh là nhà lao Tuy Hòa, một trong những trung tâm giam giữ và tra tấn, nhục hình cán bộ, đồng bào yêu nước Phú Yên trong thời Mỹ - ngụy. Trong những ngày tháng ác liệt đó, nhiều cán bộ cách mạng tù đày đã học thuộc nằm lòng “Kinh nhật tụng” - Ảnh tư liệu

 

Tỉnh Phú Yên có tôi, đồng chí Công Minh và cụ Huỳnh Lưu – người cao tuổi nhất đoàn, là đảng viên trước Cách mạng tháng Tám 1945. Cụ rất giản dị, vui tính, hay ngâm thơ, thường chỉ cho anh em những bài thơ cách mạng, gọi là Kinh nhật tụng. Tôi được tiếp thu Kinh nhật tụng từ cụ Huỳnh Lưu, nội dung dễ hiểu. Vì vậy, cả đoàn ai cũng thích thú học và động viên nhau lên đường làm nhiệm vụ.

 

Ban tổ chức cử cụ Nguyễn Văn Chi (Khánh Hoà) tiễn chúng tôi xuống Sầm Sơn lên tàu thủy về Quy Nhơn (Bình Định), được bộ phận thường trực Khu ủy 5 tiếp nhận, tổ chức học tập tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam và chuẩn bị bố trí công tác. Tôi được chuyển về Phú Yên và được Tỉnh ủy quyết định bổ sung vào Huyện ủy Tuy Hòa. Tôi lên đường nhận nhiệm vụ với khí thế sẵn sàng.

 

Trong những năm công tác gian khổ ở miền Nam, Kinh nhật tụng đã giáo dục động viên, tiếp sức cho tôi vượt qua những lúc hiểm nguy, nhất là đấu tranh chống địch trong các nhà tù Mỹ ngụy.

 

Khi bị địch bắt vào tháng 3/1956, bị Ban bảo an dân vệ giải về xã, tôi vừa đi vừa suy nghĩ: “Khi sa vào tay địch phải chịu đựng gian khổ hy sinh” và đầu óc gợi lên những câu Kinh nhật tụng:

 

Người chiến sĩ trung với nước, hiếu với dân

Vì dân vì nước quên thân quên nhà

Người chiến sĩ phải là khí tiết

Khinh gian nguy không thiết công lao

 

Tôi xác định phải chiến đấu và chiến thắng. Bọn ngụy giải tôi đến trụ sở xã Hoà Mỹ Đông, tấn công tôi với lời lẽ bán nước, buộc tôi lên đài kêu gọi đồng bào chống cộng sản. Thoáng nghe mấy câu thơ Tố Hữu:

 

Giữa lúc giặc hằm hằm tay lắp đạn

Anh hùng lên tấm ván vẫn hiên ngang

Vẫn oai nghi như bao thuở đường hoàng

Hồn chiến sĩ vẫn rền vang dõng dạc

…

Quyết hy sinh phá tan hết gông xiềng

Cho Tổ quốc muôn năm độc lập

 

Không một phút chần chừ, với tư thế là một cán bộ cách mạng, tôi bước mạnh lên khán đài, kêu gọi đồng bào đoàn kết đấu tranh đòi ngụy quyền miền Nam thi hành hiệp định Geneve, thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đồng bào phấn khởi hoan hô. Kẻ thù dao động trước thất bại cay đắng, lập tức chúng áp giải tôi lên Ty Công an ngụy khai thác và giam tại nhà lao Ngọc Lãng. Chúng dùng đủ cực hình liên tục tra khảo, những lúc ấy trong tôi lại sáng lên những dòng Kinh nhật tụng:

 

Vì rủi phải mắc vòng xiềng xích

Đành cắn răng một chịu chết không khai

Chết là cái chết hình hài

Sắt son một tấm gương đời treo cao

 

Gần 5 tháng bị cùm xiềng cầm cố, bị đánh đập tàn nhẫn nhưng tôi thường xuyên nhận được sự động viên, trợ lực của tập thể và liên tục cảnh giác, đối phó âm mưu tấn công của địch. Tôi không tiết lộ điều gì gây hại cho Đảng và phong trào cách mạng ở địa phương. Kết thúc bản cung, bọn Ty Công an ngụy ghi vào hồ sơ: “Tên cộng sản ngoan cố phải lưu đày biệt xứ”!

 

Những năm lưu đày ở Côn Đảo, sau trận đấu tranh không ký kiến nghị ủng hộ Ngô Đình Diệm ngày 7/7/1957 của anh em tù chính trị, bọn chúa đảo thẳng  tay trả thù, mặc sức đàn áp man rợ, giam biệt phòng, cắt nước, giảm cơm, khổ sai nặng nhọc… Phấn khởi trước thắng lợi, những lời ca, tiếng hát, câu thơ liên tục vang lên. Nhiều đồng chí có trách nhiệm của các tỉnh có dịp phổ biến Kinh nhật tụng. Một lần nữa, Kinh nhật tụng lại đến với tôi từ cụ Tôn Diêm (Quảng Ngãi). Câu này tiếp đến câu khác, hàng ngày cứ rộn lên trong các phòng cầm cố:

 

Thuở nô lệ dân ta nước mất

Cảnh cơ hàn trời đất tối tăm

Cuộc đời đau suốt trăm năm

Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao…

 

Từ đây, việc học Kinh nhật tụng và thơ ca cách mạng được kết hợp với việc học chính trị, văn hoá…trở thành một sinh hoạt chính trị thường nhật trong tù, động viên chúng tôi vững vàng vươn lên, tiếp tục đấu tranh chống chào cờ ngụy, chống ly khai…

 

Hơn 8 tháng cầm cố tại chuồng cọp, tôi không thể nào quên cảnh đói cơm lạt muối, thiếu nước, thiếu chỗ nằm, hằng ngày bị đánh đập, hành hạ tàn nhẫn, bị rải vôi bột, xối nước lạnh…, anh  Lê Quyết Chiến lạnh cóng, bị ngất xỉu phải đi cấp cứu. Mỗi lần bọn ác ôn mở cửa là chúng đánh anh Nguyễn Đình Thành tới tấp, thùng cầu bị đổ ướt cả người. Tôi cùng các anh Thái Thọ Dưỡng,  Bùi Cương vừa ra cửa nhận cơm liền bị chúng đánh đổ hết, thế là anh em đành phải nhịn đói. Những cảnh khủng khiếp cứ diễn ra triền miên tại Côn Đảo. Căm thù, ngậm đắng nuốt cay nhưng anh em vẫn lạc quan với những câu Kinh nhật tụng, những dòng thơ cách mạng và luôn động viên nhau:

 

Đừng để giặc đè đầu cỡi cổ

Tám mươi năm đô hộ sờ sờ

Mưu xưa dại nước cờ

Một lần há dại, bây giờ nữa ư?

 

Không thể nữa lưng chừng hay tính toán

Trọn đời ta rút gọn ở giờ này

Bão đã rốc thời già trên biển loạn

Sống là đây mà chết cũng là đây

 

Chính những dòng Kinh nhật tụng và thơ cách mạng đã phát động lòng căm thù và đã động viên anh em tăng  thêm sức chiến đấu trong những giờ phút gay go ác liệt. Anh em vẫn tiếp tục đấu tranh, buộc bọn chúa đảo phải thả ra khỏi chuồng cọp trở lại phòng để được chăm sóc.

 

Sau khi ra tù, về lại đời thường đến nay, tôi luôn tâm đắc với Kinh nhật tụng thâm thuý:

 

Với Tổ quốc trọn đời yêu quý

Hơn cha mẹ sinh đẻ cù lao

Mẹ cha ơn nặng nghĩa cao

Đất nuôi, nước dạy xiết bao công tình

 

Với tôi, Kinh nhật tụng là cẩm nang tinh thần, tăng sức chiến đấu của người chiến sĩ cách mạng.

 

TRẦN QUANG HIỆU
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #35 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2010, 04:19:54 am »

Tôi được Trung ương điều vào Phú Yên công tác trong những năm tháng đen tối nhất của cách mạng miền Nam. Lực lượng vũ trang cũng như cán bộ các ngành, tỉnh thiếu muối, thiếu gạo. Nhân dân vùng được giải phóng, nhất là vùng có bà con dân tộc sinh sống đói muối gay gắt, ăn tro tranh thay muối.

 

Tỉnh ủy có cuộc họp mở rộng để bàn phá thế bao vây của địch, mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh lân cận và vùng địch còn tạm chiếm.

 

Trong cuộc họp đó lãnh đạo giao trọng trách cho tôi nhiệm vụ Trưởng tiểu ban Mậu dịch gồm: tiểu ban lương thực và tiểu ban động viên khai thác vùng giải phóng.

 

Khi xã Xuân Quang được giải phóng từ Phú Mỡ đến Kỳ Lộ, cấp trên điều tôi và anh Chín Rụng, Ba Cao xuống kết hợp cán bộ Đồng Xuân động viên lương thực. Địch càn lấn chiếm vùng giải phóng, ba anh em chạy ngược lên Phú Mỡ, không gạo, không bắp, không muối, ăn trái sung cho đỡ đói qua ngày.

 

Tôi bàn với anh em cùng đi khảo sát địa hình, địa bàn của các huyện và để mở các cửa khẩu Sơn Thành, An Nghiệp, An Định.

 

Về lại Sơn Long, tôi may mắn được gặp anh Sáu Suyền đang ở nhà anh Bốn Khảo thôn Trung Trinh, báo cáo kết quả khảo sát hướng mở khẩu.

 

Và trở về căn cứ đóng (Suối Rễ) bàn bạc lại cụ thể. Trên đường vào Tuy Hòa I, các anh Chín Rụng, Ba Cao, Thắng, Tân, Liên, Bốn Lùn cho biết có con đường chuyển muối từ Tuy Hòa I lên  Miền Tây, muốn xuống đó phải có tiền mới mua được hàng.

 

Đồng chí Liễm hỏi: “Tỉnh không tiền à”. Tôi trả lời: “Nay chưa có, mà sẽ có”.

 

Liễm nói với tôi: “Em có hai lượng vàng vợ mới gởi lên. Tôi hỏi: “Vàng đâu nhiều thế”. Liễm bảo vợ bán ruộng được 5 lượng gởi lên 2 lượng vàng để em bồi dưỡng. Nay anh cần em cho anh mượn. Tôi viết giấy mượn đưa cho Liễm bảo cất cho kỹ sau này có gì xảy ra thì Liễm đưa cho Ban lãnh đạo giải quyết. Trong kháng chiến sống chết không ai lường trước được.

 

Nhờ 2 cây vàng của Liễm tôi tổ chức lực lượng xung kích xuống Tuy Hòa I, tranh thủ ghé vào vùng Đất Bằng, Quang Hiển.

 

Tôi có mang theo khoảng 3 ký muối xin được của Hai Văn (Tuy An), chia từng gói nhỏ để biếu bà con dân tộc làm ngoại giao. Đêm ở buôn Đất Bằng, tôi nghe trẻ con khóc. Già làng bảo nó đói muối nên khóc đấy.

 

Tôi hỏi đây thiếu muối thế sao không bán bò mua muối.

 

Già làng bảo ai mua mà bán, bán lấy tiền để làm gì?

 

- Ai có muối thì đổi bò.

 

- Tôi nói với già làng, sẵn đi công tác qua đây có đem theo ít muối hộ thân, vậy nay xin giúp dân.

 

- Vậy buôn này bao nhiêu bếp. Già làng bấm tay nói: 31 bếp. Trong ba lô tôi có 50 gói muối. Tôi tặng riêng già làng 2 gói và tặng cho buôn 31 gói. Già làng gọi bà con đến chia muối. Bà con nhận muối, mở ngay ra bốc từng hạt muối bỏ vào miệng nhắp một cách ngon lành.

 

Đêm ấy trẻ không khóc nữa. Sáng ra già làng cho biết nhờ có muối của cán bộ Cụ Hồ nên trẻ con không khóc nữa.

 

Tôi xuống Tuy Hòa I gặp Sáu Lục và đồng chí Chín Cao bàn bạc mở cửa khẩu Hòa Thịnh và về lại Sơn Thành bám lực lượng địa phương tìm cách bán hai lượng vàng được 10.000 đồng. Tôi tổ chức móc nối cơ sở mua muối tại chợ Phú Thứ (muối 2đ/1kg). Chúng tôi mua được 2 thùng muối và một số gạo, đi 3 ngày lên Đất Bằng - Quang Hiển đổi được 5 con bò, dắt thẳng xuống Sơn Định, Sơn Long, Vân Hòa nhờ anh Bảy Long, Trưởng ban Kinh tài Tuy Hòa II tiêu thụ hộ, bán bình quân 1 con bò 15.000đ, tổng cộng 75.000đ. Tôi mua lại hai cây vàng 11.000đ trả cho Liễm, còn lại 64.000đ.

 

Các anh cấp trên hỏi tôi: Làm như thế có ảnh hưởng với nhân dân vùng giải phóng không?

 

Tôi trả lời, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với mục đích vì dân, do dân và của dân, bên bộ phận thương nghiệp chúng tôi làm như thế vì lợi ích tập thể, không dính dáng gì lợi ích cá nhân cả.

 

Dân thừa bò cần muối, ta có muối đổi bò, trên cơ sở dân định giá trước hai bên đều có lợi. Dân có muối ăn đỡ thiếu lại tiêu thụ được bò, nếu để địch bắn chết thì dân có gì.

 

Ta có công tiêu thụ, của một đồng công một lượng, của này do tỉnh quản lý, còn anh em chúng tôi một mặt tự túc, thiếu thì xin trên phụ cấp thêm về lương thực, công bằng như cán bộ khác.

 

Được cấp trên nhất trí, tôi mở rộng ra hoạt động: mua muối đổi gạo cho Đắc Lắc, 1kg muối = 3kg gạo, còn bò thì tùy nhỏ, lớn, cái, đực miễn là có sự thỏa thuận của chủ bò.

 

Bộ phận thương nghiệp chúng tôi làm nhiệm vụ cái gì dân thừa thì đổi cho dân, cái gì dân cần và thiếu thì trao đổi, không mua bán bằng tiền với dân vùng giải phóng.

 

Từ đó, đổi muối lấy gạo với Đắc Lắc, đổi muối lấy bò với Gia Lai, đổi muối lấy bắp chi viện cho Bắc Khánh Hòa, Nam Bình Định.

 

Nhờ vậy, 4 tỉnh lân cận cảm ơn Phú Yên, Ban Kinh tài Khu V khen ngợi ngành Tài mậu Phú Yên có nhiều sáng tạo để giải quyết hậu cần tại chỗ.

 

LÊ HỒNG CHUYÊN

(Nguyên Trưởng ban Kinh tài huyện Sơn Hòa)

 

 

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #36 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2010, 04:20:48 am »

Sau Cách mạng Tháng Tám, một trong những công việc đặc biệt quan trọng của chính quyền cách mạng non trẻ tỉnh Phú Yên là nỗ lực xây dựng một trường trung học để nâng cao dân trí, đào tạo cán bộ, bồi dưỡng nhân tài.

 

Sau hơn một năm chuẩn bị, trường trung học đầu tiên của tỉnh Phú Yên mang tên Lương Văn Chánh – vị tiền hiền mở đất Phú Yên cuối thế kỷ XVI – chính thức khai giảng tại thị xã Tuy Hòa (nay là Trường trung học cơ sở Lê Lợi, 77 Lê Lợi, TP Tuy Hòa).

 

Năm học đầu tiên có trên 200 học sinh đăng ký theo học nhưng do mới thành lập, nhà trường chỉ tuyển 90 học sinh chính thức và 10 học sinh dự bị.

 

Là ngôi trường trung học đầu tiên (thời Pháp thuộc trước 1945, muốn học trung học – lớp 6 trở lên – phải ra Quy Nhơn hoặc Huế, Hà Nội), những người thầy của trường là những vị trí thức tiêu biểu nhất của tỉnh Phú Yên thời bấy giờ.

 

Đó là các vị: đốc học Trần Sĩ – Hiệu trưởng, cựu sinh viên Đại học Canh nông năm thứ 3 Trần Suyền, kỹ sư nông học Lê Duy Trinh (Chủ tịch tỉnh), nhà giáo Bùi Xuân Các (tốt nghiệp Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương – Trưởng ty thông tin tuyên truyền), cử nhân Hán học Phạm Đàm (đã từng là tri huyện),v.v…

 

Vừa khai giảng được hơn hai tháng, kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

 

Với phương châm trường kỳ kháng chiến, toàn diện kháng chiến, kháng chiến để kiến quốc, kiến quốc để kháng chiến, lãnh đạo tỉnh Phú Yên vẫn cố gắng duy trì trường trung học Lương Văn Chánh dù là trong khói lửa ác liệt của cuộc chiến tranh.

 

Chủ tịch tỉnh Phú Yên – kỹ sư nông học Lê Duy Trinh đánh giá rất cao vai trò của tri thức trong công cuộc kháng chiến kiến quốc nên đã tạo mọi điều kiện để thầy và trò Trường Lương Văn Chánh tiếp tục duy trì dạy và học dù cho hoàn cảnh chiến tranh có khắc nghiệt đến đâu.

 

Được Chủ tịch giao nhiệm vụ và cổ vũ động viên, thầy Trần Sĩ đã dời trường từ Tuy Hòa về thôn Định Phong xã An Nghiệp – quê hương của thầy Hiệu trưởng. Lúc này, toàn tỉnh chia thành 6 chiến khu, khói lửa chiến tranh cũng tràn về An Nghiệp. Cũng như các địa phương khác trong toàn tỉnh, An Nghiệp cũng tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống.

 

Để duy trì trường lớp, thầy Trần Sĩ lại phải dời trường về Hóc Lá (vùng 2 xã An Nghiệp) học trong nhà mượn của dân chỉ đủ kê 5 bộ bàn ghế học sinh.

 

Chiến tranh nổ ra, học sinh tản mác, chỉ còn độ 20 học sinh theo thầy hiệu trưởng về Hóc Lá kiếm cái chữ. Thầy và trò như một gia đình, tự lo ăn ở, học hành và hoàn thành lớp đệ nhất niên trung học đầu tiên của năm học đầu tiên. Thầy Hiệu trưởng Trần Sĩ xứng danh với mỹ từ “con cọp vùng Hóc Lá” của lãnh đạo, nhân dân, phụ huynh và học sinh khen tặng.

 

Dù trong hoàn cảnh kháng chiến ác liệt, lớp học đầu tiên của Trường trung học Lương Văn Chánh năm học 1946 – 1947 vẫn được duy trì với một đội ngũ giáo sư chính thức và kiêm nhiệm đức độ và tài hoa, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục như Trần Sĩ, Bùi Xuân Các, Trần Suyền, Đinh Nho Bát...

 

Đầu tháng 7-1947, lãnh đạo tỉnh Phú Yên quyết định làm lễ bế giảng năm học đầu tiên nhân dịp Đại hội văn hóa cứu quốc tỉnh.

 

Lễ bế giảng này được tổ chức cực kỳ long trọng với sự có mặt của Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam Phạm Văn Bạch (đang công tác ở Phú Yên), lãnh đạo tỉnh Phú Yên, nhà thơ Trần Mai Ninh (Nguyễn Thường Khanh) và nhiều vị khác.

 

Trường Lương Văn Chánh vinh dự tham gia Đại hội văn hóa cứu quốc tỉnh Phú Yên và công bố bế giảng năm học đầu tiên bằng vở kịch tự biên tự diễn “Lê Lai liều mình cứu chúa”, được các đại biểu và nhân dân nồng nhiệt hoan nghênh.

 

Trong điều kiện “Toàn quốc kháng chiến” cực kỳ khó khăn gian khổ, Trường Lương Văn Chánh vẫn vượt qua lửa đạn, đứng vững và hoàn thành năm học đầu tiên, năm học lịch sử đầy bi tráng và vinh quang của một ngôi trường cách mạng.

 

THÀNH NAM

(Ghi theo lời kể của thầy Bùi Xuân Các)
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #37 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2010, 04:21:48 am »

Ngày 13/1/1947, từ vùng tạm chiếm Khánh Hoà, thực dân Pháp tập trung hai trung đoàn chủ lực tinh nhuệ chia làm hai cánh quân ồ ạt tiến công ra mặt trận Đèo Cả nhằm thực hiện âm mưu chiếm đóng vựa lúa Tuy Hoà (dạ dày của vùng tự do liên khu V)

 

Bị quân ta chặn đánh quyết liệt, ngày 16/1/1947, giặc Pháp đổ một trung đoàn vào Vũng Rô và Bãi Xép kết hợp với cánh quân theo đường quốc lộ I và truông Gia Long có máy bay và pháo binh yểm trợ tiến công chiến khu II. Để bảo tồn lực lượng, quân dân ta vừa đánh địch vừa rút lui ra tuyến sau.

 

Chọc thủng mặt trận Đèo Cả, giặc Pháp hí hửng tiến quân ra ven quốc lộ I. Ngày 19/1/1947, quân dân ta mở nhiều đợt phản công ở thị trấn Phú Lâm, ga Gò Mầm đến cầu Bàn Thạch, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Giặc Pháp tháo chạy về Hoà Xuân, lập cứ điểm tại núi Hiềm và co cụm ở đó.

 

Giặc Pháp bắt đầu lập bót, xây đồn thành lập ngụy quyền, khống chế nhân dân. Hoà Xuân trở thành vùng tạm chiếm.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Hoà Xuân xây dựng làng chiến đấu, tổ chức phá đường, canh gác, bám địch, tổ chức nhiều hoạt động quấy phá địch, làm cho chúng nơm nớp lo sợ khi ra khỏi đồn.

 

Ngày 24/1/1947, du kích Hoà Xuân do đồng chí Phan Tiên Nam chỉ huy đã phục kích đánh một toán quân Pháp từ chợ Xéo làm cho một tên quan tư Pháp bị thương nặng.

 

 Ngày 27/1/1947, một bộ phận trung đoàn 80 phối hợp cùng du kích tấn công đồn cầu Bàn Nham, đánh địch tiếp viện tại chợ Xéo. Trung đội địch canh giữ bị tiêu diệt, chỉ còn vài tên sống sót tháo chạy vào cứ điểm núi Hiềm.

 

Cuối tháng 3/1947, hơn 6.000 dân bị o ép trong vùng tạm chiếm Hoà Xuân đồng loạt tản cư qua vùng tự do ở Hoà Thịnh, Hoà Đồng, Hoà Tân, Hoà Vinh, Hoà Hiệp… một số rút vào Đồng Nẩy để tránh giặc và sản xuất lương thực phục vụ kháng chiến lâu dài. Riêng lực lượng du kích vẫn bám trụ tại Hoà Xuân quấy rối, tấn công địch.

 

Tháng 5/1947, du kích Hoà Xuân phối hợp với đại đội Cảm tử quân của trung đoàn 80 tập kích địch đồn Bầu Lãng. Chính trị viên đại đội Nguyễn Ngọc Thọ (người con của quê hương Hoà Xuân) vượt lên diệt ổ súng máy, dập tắt hoả điểm của địch và anh dũng hy sinh. Giặc Pháp kinh hoàng khiếp sợ phải rút khỏi đồn Bầu Lãng. Đại đội Cảm tử quân mang tên liệt sĩ Nguyễn Ngọc Thọ trong suốt cuộc chiến tranh chống Pháp.

 

Tiếp đó, bộ đội và du kích Hoà Xuân liên tục phối hợp luồn sâu vào đèo Cả đánh giao thông diệt những đoàn xe địch trên đường đèo, liên tiếp tập kích đồn Pê-tí trên đỉnh đèo Cả, phá cầu Sông Lớn.

 

Tháng 6/1947, giặc Pháp mở rộng càn quét các xã phía nam sông Đà Rằng. Tỉnh chủ trương cho đồng bào Hoà Xuân hồi cư, bám trụ, đồng thời đẩy mạnh công tác diệt tề, trừ gian. Nhân dân lần lượt trở về bám làng để sản xuất, tổ chức đào hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, du kích, bộ đội. Lực lượng ta liên tiếp đánh địch đồn cầu Sông Tra, cầu Sông Ván, phục kích đánh Pháp đến lấy nước ở suối Hóc Vườn, Hóc Ao, Hóc Cây Xoài…

 

Giặc Pháp tìm mọi cách kiểm soát dân. Chúng buộc bà con ta phải vào đồn Hiềm lãnh  cạc (card), ai có cạc mới được  vào đồng sản xuất và nộp tranh tre cho chúng. Du kích Hoà Xuân đã tổ chức đánh vào nơi địch phát cạc, giết chết tên thông ngôn. Âm mưu phát cạc  của thực dân Pháp bị phá sản.

 

Ngày 3/1/1948, du kích Hoà Xuân kết hợp cùng lực lượng chủ lực 224 (đại đội độc lập của Liên khu 5, chịu trách nhiệm mặt trận Nam Đà Rằng) đánh địch tại chợ Xéo, đánh tạc đạn vào xe địch, diệt nhiều tên. Quân dân Hoà Xuân tổ chức phá đường, đánh giao thông đoạn từ chợ Xéo đến cầu Bàn Thạch ngăn chặn địch cơ động bằng cơ giới, đồng thời rào làng chiến đấu, tăng cường canh gác bố phòng.

 

Ngày 4/1/1948, giặc Pháp ở đồn Hiềm rải truyền đơn hăm dọa đồng bào ta. Sau đợt rải truyền đơn, chúng mở các đợt càn quét lớn vào Bàn Thạch-Bàn Nham bằng xe bọc thép để gom dân lập tề.

 

Tỉnh tăng cường đội công an xung phong về Hoà Xuân trừ gian diệt ác, tổ chức diệt chánh tổng hội tề và nhiều tên khác, ném lựu đạn vào trụ sở phát căn cước của địch và phá tan âm mưu địch lập chợ ở núi Hiềm.

 

 Đầu năm 1948, du kích Hoà Xuân phát triển thành trung đội tập trung do đồng chí Lê Đức Tâm làm trung đội trưởng và tôi (Trần Quang Hiệu) làm chính trị viên. Một thời gian sau trung đội du kích tập trung phát triển thành đại đội.

 

Tháng 4/1948, bộ đội và du kích bẻ gãy cuộc càn quét của địch ra các xã tự do phía bắc sông Bàn Thạch. Những tên địch vượt qua cầu Lưới Gõ đều bị  tiêu diệt.

 

Tháng 7/1948, giặc Pháp huy động một tiểu đoàn từ Bắc Khánh Hoà phối hợp với đồn Hiềm tổ chức càn quét cướp lúa, trâu bò của dân. Quân ta phục kích và tập kích ở nhiều nơi, đồng thời tổ chức đánh địch ở trại Hội, đuổi chúng chạy thục mạng, thu lại trâu bò, lúa gạo.

 

 Tháng 3/1949, giặc Pháp cướp lúa ở Phước Giang bị du kích phục kích tại Gò Đình giết một tên quan hai

 

Tháng 8/1949, lực lượng ta, gồm du kích Hoà Xuân và tiểu đoàn 365, do đồng chí Hà Vi Tùng chỉ huy đánh trận Nhà Dù (Phú Khê), tiêu diệt một trung đội lính Pháp và nhiều tề nguỵ có nợ máu với nhân dân.

 

Tháng 7/1949, lực lượng ta nhờ tai mắt của  nhân dân tóm gọn 127 tên gián điệp làm tay sai cho Pháp.

 

Tháng 11/1949, lực lượng ta đánh tiêu diệt một trung đội công binh Pháp tại xóm Quán.

 

Năm 1950, cấp trên bố trí tiểu đoàn 365 do đồng chí Hà Vi Tùng chỉ huy về đóng ở phía bắc sông Bàn Thạch phối hợp cùng đại đội du kích tập trung xã Hoà Xuân và 5 trung đội dân quân thường trực của 5 thôn Nam Bình, Thạch Tuân, Thạch Chẩm, Phú Khê, Bàn Nham liên tục tấn công bao vây địch ở căn cứ núi Hiềm, tổ chức đánh lẻ giặc Pháp ở đồn Pê-tí, Py-đông (Cầu Lớn), tháp canh Cầu Mới, sông Ván, sông Tra; phục kích đánh địch đi lấy nước ở Hóc Lựu, tiêu diệt 3 tên…

 

Ngoài việc tấn công trực diện bằng lực lượng vũ trang, diệt tề điệp, cắt đứt nguồn tin tức của giặc Pháp, lực lượng ta còn tổ chức mạng lưới điệp báo để nắm tình hình địch. Công tác địch vận cũng được đẩy mạnh. Quân ta tổ chức rải truyền đơn, phát loa kêu gọi lính ngụy và vận động cha mẹ vợ con họ vào đồn Hiềm đòi chồng con về với gia đình.

 

Do những thất bại liên tiếp và bị bao vây nhiều ngày, giặc Pháp ở núi Hiềm hoang mang dao động tột độ. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, chúng phải tháo chạy khỏi núi Hiềm ngày 5/12/1950.

 

Bản hùng ca chiến công núi Hiềm đã bóp nát tham vọng của giặc Pháp coi đây là tiền đồn làm bàn đạp đánh chiếm tỉnh tự do Phú Yên.

 

TRẦN QUANG HIỆU
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #38 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2010, 04:25:16 am »

Vào những ngày này cách đây 32 năm, vào đêm 18 rạng ngày 19-7-1974, đại đội 3, tiểu đoàn 96 (nay thuộc tiểu đoàn 85 anh hùng) đã bất ngờ tấn công vào cứ điểm Suối Trầu (Xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân) - căn cứ quân sự của địch, làm nên chiến công vang dội Quân khu 5: diệt gọn một trung đội Bảo an, một sở chỉ huy tiểu đoàn, một ban chỉ huy đại đội, một trung đội pháo binh 105 mm, một trung đội thông tin, thu nhiều quân trang quân dụng.

 

Trận đánh ấy đã góp phần điểm tô thêm trang sử vẻ vang của lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên và là một trong những trận đánh hay, tiêu biểu của quân và dân Quân khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ. Đến nay nhiều người trong cuộc vẫn còn nhớ về trận đánh nổi tiếng này.

 

Điểm suối Trầu dài khoảng 90 mét, rộng 60 mét, nằm giữa cánh đồng Xuân Phước, cách quận lỵ-chi khu La Hai khoảng 10 km, phía Đông có Suối Trầu vắt ngang, phía Bắc giáp đường 6 và sân bay. Địch trong điểm có một trung đội bộ binh, một sở chỉ huy tiểu đoàn, một ban chỉ huy đại đội, một trung đội pháo binh hai khẩu 105mm và một trung đội thông tin. Cấu trúc công sự điểm này có lô cốt, hầm ngầm, thông hào, hố chiến đấu, nhà làm nửa chìm nửa nổi. Quanh điểm có ba hàng rào bùng nhùng và một hàng rào đơn, giữa các hàng rào gài mìn, lựu đạn. Ban đêm địch tuần tra canh gác, chiếu đèn quan sát thường xuyên và dùng M79, AR15 bắn ra xung quanh bất kể lúc nào. Buổi sáng hàng ngày, chúng kiểm tra phát hiện từng dấu vết của ta.

 

Nhìn chung, điểm Suối Trầu có hệ thống công sự chướng ngại tương đối vững chắc, nằm trong cụm cứ điểm Xuân Phước nên được sự chi viện của các điểm chốt lân cận của địch, là “cái gai” mà ta cần phải nhổ.

 

Trong chiến dịch Thu 1974 của tỉnh, điểm Suối Trầu được xác định là một trong hai điểm then chốt của trọng điểm chiến dịch. Tỉnh đội giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 96 diệt điểm Suối Trầu bằng hình thức chiến thuật tập kích hiệp đồng binh chủng. Thực hiện mệnh lệnh trên giao và để đánh điểm này, tiểu đoàn sử dụng đại đội 3, gồm 50 đồng chí; trang bị một cối 60mm, hai cối 82mm, hai ĐKZ75mm, hai B41, một trọng liên, một đại liên và 10 đồng chí bộ binh làm lực lượng dự bị. Lực lượng tập kích trên hai hướng:

 

Hướng chủ yếu gồm 33 đồng chí, trang bị ba B40, một trọng liên còn lại AK, lựu đạn, thủ pháo do ban chỉ huy đại đội trực tiếp chỉ huy, triển khai ở Tây Nam chia làm bốn tổ: Tổ mở cửa đánh chiếm đầu cầu 6 đồng chí; tổ thọc sâu năm đồng chí; tổ phát triển bên phải năm đồng chí; tổ phát triển bên trái ba đồng chí.

 

Hướng thứ yếu 18 đồng chí, trang bị ba B40, AK, lựu đạn, thủ pháo do đồng chí đại đội phó chỉ huy, chia làm ba tổ từ phía Bắc đánh vào: Tổ mở cửa đánh chiếm đầu cầu sáu đồng chí; tổ phát triển bên  phải bốn đồng chí; tổ phát triển bên trái ba đồng chí. Lực lượng dự bị năm đồng chí.

 

Bộ phận hoả lực ĐKZ75mm, cối 82mm, cối 60mm và ba khẩu B41 bố trí trên hướng chủ yếu.

 

Mười đồng chí trên tăng cường có nhiệm vụ đánh chiếm lô cốt ngoại vi, chặn đường địch tháo chạy và làm lực lượng dự bị.

 

Đúng 1 giờ 15 phút (ngày 19 tháng 7), được lệnh nổ súng, hoả lực ĐKZ75mm, cối 82mm, cối 60mm, đại liên, B41, B40  của ta trên hai hướng, đồng loạt bắn vào các mục tiêu quy định. Sau ba phút, các mục tiêu ngoại vi và một số mục tiêu quan trọng trung tâm bị tiêu diệt, đồng thời hướng chủ yếu nổ mìn mở cửa và xung phong đánh chiếm đầu cầu. Địch ở lô cốt số 1 trên hướng cửa  mở bắn ra, ta phải dùng B40 tiêu diệt hoả điểm địch và tiếp tục xung phong chiếm lô cốt đầu cầu và hai nhà lính. Cùng lúc, tổ thọc sâu đánh thẳng vào khu trung tâm chiếm nhà số 10 và lô cốt 11. Tại đây, chiến sĩ ta phát hiện hầm ngầm, dùng bộc phá đánh tiêu diệt địch trong đó và đánh chiếm chiến hào. Địch dùng đại liên bắn ra, đại đội lệnh cho chiến sĩ giữ B41 tiếp cận tiêu diệt. Hiệp đồng với tổ thọc sâu, tổ bên phải, bên trái cũng nhanh chóng đánh chiếm nhà, lô cốt và tảo trừ địch dưới chiến hào.

 

Ở hướng thứ yếu, khi được lệnh nổ súng tiến hành mở cửa, gặp hoả lực địch ngăn chặn, ta  phải tổ chức hoả lực B41, B40 và trung, đại liên tiêu diệt rồi tiếp tục kiềm chế địch, nhanh chóng dùng bộc phá liên tục phá rào, đánh chiếm đầu cầu, phá huỷ hai lô cốt, một nhà. Lúc này theo hiệp đồng, tổ cánh trái phải vào nhưng bị mất liên lạc. Do vậy, tổ đánh chiếm đầu cầu phải tiếp tục phát triển tiêu diệt lô cốt thứ ba, đánh nhà gác, tảo trừ địch và bắt liên lạc được với mũi chủ yếu.

 

Sau 15 phút chiến đấu, ta làm chủ trận địa, tiếp tục phá huỷ công sự, hầm ngầm, xe pháo địch, giải quyết thương binh, tử sĩ, thu chiến lợi phẩm và hành quân về Phước Hoà làm nhiệm vụ mới.

 

N.V.V
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #39 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2010, 04:32:49 am »

Từ những năm 1960 cho đến mãi bây giờ, điệu bài chòi ngợi ca tấm gương hy sinh anh dũng của “anh Tiến Thọ Lâm Hòa Hiệp” vẫn vang vọng mãi trong lòng nhiều người ở đất Phú Yên. Anh Tiến là ai mà câu bài chòi về anh sống mãi? Chúng tôi đã tìm lại chân dung người liệt sĩ  đã vang danh đó.

 

MỘT CHUYỆN LẠ LÙNG

 

Quê anh Tiến: Thọ Lâm, Hòa Hiệp,

Gia đình anh mẹ mất sớm còn cha

Chị Bốn anh đã có tư gia

Còn đàn em dại sống qua ngày tháng.ư

Anh vẫn biết làm trai trong thời loạn

Không thể ngồi yên nhìn bầy quạ đen xâu xé nước non nhà.

Thế là anh từ giã quê cha

Nhập vào lực lượng giải phóng ta cho trọn tình.

Ngày đêm công tác quên mình

Người anh vui vẻ, tính tình dễ thương.

Chấp hành nghị quyết, chủ trương

Đánh bọn tổng dân vệ phá trục đường số năm.

Mọi người đều hạ quyết tâm,

Bắt đầu xuất phát tìm hành tới nơi.

Aùnh trăng sáng tỏ thấy người

Nhưng nhờ kỹ thuật tuyệt vời của ta

Anh vào trong nổ súng đánh ra

Bốn tổng dân vệ chạy đà thất kinh.

Rủi thay anh Tiến của mình

Viên đạn của địch vô tình nó trúng xuyên qua

Ngực anh máu chảy trở ra

Anh liền ráng sức kêu mà anh Long.

Vào băng mới đã vừa xong,

Thì anh tắt thở không nói năng một lời.

Anh Tiến ơi! Anh đã qua đời,

Gia đình anh mất một người con ngoan,

Chúng tôi mất một bạn vàng

Cùng chung chiến đấu giữ làng giành dân.

Nhớ anh công tác xa gần

Anh đều tích cực không ngần ngại chi

Thanh nhàn nhớ buổi lâm ly

Nhớ anh công tác ở khi trên rừng già

Hành quân leo dốc đường xa,

Xuyên rừng, lội suối, băng qua cánh đầm lầy

Giờ đây thấy cảnh thế này

Anh em ca hát vui vầy thiếu anh

Thiếu người chiến sĩ trung thành

Vì dân vì Đảng anh đấu tranh cho đến cùng

Xứng danh quân đội anh hùng

Chúng tôi nhớ Tiến muôn đời là phai không phai.
“Quê anh Tiến: Thọ Lâm, Hòa Hiệp/ Gia đình anh mẹ chết sớm còn cha…”. Lẽ ra, chúng tôi phải “vin” vào lời mở đầu của câu bài chòi ấy mà tìm về quê của liệt sĩ Tiến để hỏi thăm. Thế nhưng, khi đang chuẩn bị cho chuyến đi tìm tư liệu về người liệt sĩ vang danh đó thì chúng tôi nhận được một bức thư của Nhà giáo ưu tú Nam Đà gởi. “Vừa mới đây thôi, trong khi tôi và anh Nguyễn Ngọc Thanh, một cựu chiến binh đang sống ở Hòa Bình 2 (huyện Tây Hòa), nghỉ dưỡng tại Long Thủy thì nghe một chị thai (hát) bài chòi “Tấm gương anh Huỳnh Tiến sáng ngời”. Bởi anh Thanh là đồng đội cùng đơn vị của anh Tiến nên đã hỏi thăm thì được người phụ nữ này cho hay: Đó là bài chòi các đồng đội viết để ngợi ca chồng chị. Chị cho biết tên là Nguyễn Thị Tưởng, người ở xã Hòa Đồng (huyện Tây Hòa). Chị Tưởng nói rằng hồi anh Tiến hy sinh, chị 24 tuổi, con trai được 2 tuổi. Hiện nay, con trai chị là Huỳnh Long, một kỹ sư xây dựng, con dâu là Nguyễn Thị Hường, giáo viên trường THPT Lê Hồng Phong, các cháu là Huỳnh Hiếu, Huỳnh Trung, Huỳnh Quang và Huỳnh Tèo...” – cụ Nam Đà viết.

Vậy là, chúng tôi quyết định về Hòa Đồng để tìm gặp người vợ anh Tiến. Thật tình mà nói, chúng tôi không biết cụ thể anh Tiến họ gì, bởi trong bài chòi không nói rõ. Tại UBND xã Hòa Đồng, anh Đinh Ngọc Sum, cán bộ phụ trách công tác thương binh – xã hội xã, tỏ vẻ ngạc nhiên khi chúng tôi hỏi thăm về “bà Nguyễn Thị Tưởng, vợ liệt sĩ Huỳnh Tiến”. Giở sổ chỉ cho chúng tôi xem, anh Sum bảo: “Ở xã chúng tôi, tại thôn Vinh Ba đúng là có bà Nguyễn Thị Tưởng, nhưng bà là vợ liệt sĩ Huỳnh Giảng, người ở khu vực này, vừa được công nhận liệt sĩ năm 2002 thôi, đâu phải vợ liệt sĩ Tiến?”. Dù vậy, tôi và anh Sum vẫn tìm đến nhà của bà Nguyễn Thị Tưởng để tìm hiểu rõ hơn. Không may, bà Tưởng đang đi nghỉ dưỡng tại Long Thủy. Nhưng trong nhà bà rõ ràng đang treo Bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Huỳnh Giảng, không phải Huỳnh Tiến. Anh Huỳnh Thắng (không phải Huỳnh Long như bà Tưởng nói với cụ Nam Đà), con trai duy nhất của liệt sĩ Giảng và bà Tưởng, sinh năm 1961, khẳng định rằng chưa hề nghe mẹ anh nói cha anh có một bí danh nào liên quan đến tên Tiến. Và cha anh quê quán ở Hòa Bình, không phải ở Thọ Lâm, Hòa Hiệp! Còn vợ anh Thắng thì thú thật với chúng tôi rằng gần đây chị có nghe câu chuyện giống hệt như thư Nhà giáo ưu tú Nam Đà viết và khẳng định: “Bà già tôi còn minh mẫn, chỉ có điều hay nói giỡn lắm. Tôi nghĩ đó chỉ là một chuyện bà nghĩ ra vậy thôi”.

Dù hết sức thất vọng, nhưng chúng tôi cũng cố tìm thêm một “chứng cớ” khác: cô giáo Nguyễn Thị Hường. Vậy nhưng, một giáo viên thâm niên ở Trường THPT Lê Hồng Phong là anh Đỗ Ngọc Lãm khẳng định rằng ở trường anh không có cô giáo nào tên Hường cả!

 

Đúng là một chuyện lạ lùng hết sức!

 

CHÂN DUNG ANH TIẾN TỪ “CHỊ BỐN”

 

“Chị Bốn” – Trần Thị Dân: “Sinh thời, Tiến không có cơ hội để chụp hình, nên cho đến giờ vẫn phải lấy Bằng Tổ quốc ghi công để thờ”

Chỉ tự trách mình ham tìm “ngọn” mà không chịu truy từ “gốc”, chúng tôi đã quyết định đến xã Hòa Hiệp Nam (huyện Đông Hòa), nơi có thôn Thọ Lâm – quê hương anh Tiến. Tại UBND xã, anh cán bộ phụ trách thương binh – xã hội và một số cán bộ khác, dù rất rành điệu bài chòi có câu khởi đầu “Quê anh Tiến: Thọ Lâm, Hòa Hiệp...”, nhưng lại không rõ anh Tiến này họ gì vì ở Thọ Lâm có rất nhiều liệt sĩ tên Tiến! Cuối cùng, sau khi cũng khá tích cực hỏi thăm những người khác, anh cán bộ thương binh – xã hội Hòa Hiệp Nam nói với chúng tôi: “Có lẽ đó là liệt sĩ Nguyễn Tiến. Nhà đó có hai liệt sĩ, ngoài anh tiến còn có liệt sĩ Nguyễn Tỏ. Mẹ của họ vẫn còn sống đấy!”. Tôi quay ngược từ trụ sở xã ở thôn Đa Ngư, về thôn Thọ Lâm với suy nghĩ hơi... hoang mang: Không biết mẹ anh Tiến hiện bao nhiêu tuổi, chắc là bà già lắm, biết còn có nhớ nhiều điều không. Tôi quyết định ghé vào nhà của một người quen, thương binh Phạm Văn Quyết ở thôn Thọ Lâm. Ngay sau khi nghe tôi hỏi về liệt sĩ Tiến trong điệu bài chòi, may mắn thay, chú Quyết biết khá rõ: “Ổng là anh bà con với tôi đó, tên chính xác là Trần Tiến. Ngoài anh Tiến, gia đình còn có hai liệt sĩ nữa là các anh Trần Ba và Trần Văn Nghĩa. Nhưng ngôi nhà ngày trước mà anh Tiến sinh trưởng đã bị bán rồi. Bây giờ chỉ có em ông ấy ở đây là anh Trần Xã”. Nói rồi chú Quyết dắt tôi đến nhà ông Xã. Một ngôi nhà cấp bốn cũ kỹ, cửa đóng im ỉm, đầy vẻ hoang vắng. Chú Quyết bảo: “Nhà anh Xã nghèo lắm, luôn thuộc diện cứu đói. Vợ con anh phải đi làm mướn, bán vé số cả ngày, anh thì cũng lo việc đồng áng, việc này việc nọ, hiếm khi có ở nhà lắm”. Rồi chú nói thêm: “Ông Xã là em sinh sau này, sợ không biết nhiều về anh Tiến. Tốt hơn là chú về thôn Vũng Tàu (xã Hòa Hiệp Nam), tìm chị Bốn Dân đi, đó là “nhân vật” chị Bốn trong bài chòi về anh Tiến đó. Chị Bốn nhớ chuyện rất lớp lang”.

 

Cuối cùng thì tôi cũng tìm được “chị Bốn” – Trần Thị Dân. Nghe chúng tôi hỏi thăm về liệt sĩ Tiến, bà nhớ lại chuyện trong nỗi xúc động nghẹn ngào. “Nhà tôi có đến 7 chị em. Tôi thứ bốn, nhưng là người con đầu của gia đình, còn Tiến thứ năm. Tôi sanh năm 1939, Tiến nhỏ hơn tôi 2 tuổi. Mẹ chúng tôi mất năm Tiến 12 tuổi, cha thì đau bệnh liên miên, mấy chị em phải đùm bọc nhau mà sống. Vì gia cảnh khó khăn quá, thậm chí một đứa em sinh đôi với cậu Xã phải cho người ta nuôi,  nên tôi lấy chồng sớm để nhà đỡ miệng ăn. Còn Tiến thì đến 18 tuổi đã thoát ly theo cách mạng. Hiếm khi Tiến về nhà, ngoại trừ những chuyến công tác ở khu vực này. Mỗi lần về, cậu ấy đều ghé thăm tôi. Thương em, mỗi lần tiến về, tôi đều mua cho cậu những món đồ thiết yếu: khi dăm sợi dây dù mắc võng, lúc cái đồng hồ, khi bộ quần áo. Thương nhất là Tiến ước ao có một chiếc bi đông đựng nước thay mấy cái ống tre vướng víu. Khi tôi mua được cái bi đông, chưa gởi được thì cậu Năm đã hy sinh...”. Bà Bốn Dân nhớ chính xác ngày hy sinh của liệt sĩ Trần Tiến là 14-6-1964 (âm lịch). “Cậu ấy hy sinh mà cả tháng sau nhà tôi mới biết. Chúng tôi chạy giặc vô Vạn Giã (huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa), sau đó trên đường trở về nhà, nghe có người thai câu bài chòi về Tiến, hỏi thăm mới biết đó là bài hát ca ngợi em mình! Người báo tin Tiến hy sinh đầu tiên cho tôi là bạn gái thân thiết của cậu ấy ở thôn Đa Ngư này. Vài ngày sau, cậu Nghĩa, người thôn Xóm Rẫy (Hòa Hiệp Nam), mang kỷ vật của Tiến về và báo với gia đình rằng cậu ấy đã hy sinh khi đánh tổng dân vệ ở Hòa Bình”.

 

Bà Bốn Dân khóc và kể với chúng tôi rằng cho đến nay, phần mộ của liệt sĩ Trần Tiến vẫn chưa được tìm thấy. Còn ngày giỗ, theo lời bà, phải giỗ chung với ông nội bởi người em trai còn lại của liệt sĩ Tiến quá khó khăn. “Thậm chí, một bức di ảnh của em tôi cũng không có, vì sinh thời, cậu ấy đâu có cơ hội chụp bức ảnh nào, đành phải thờ bằng tấm bằng Tổ quốc ghi công” – bà Bốn Dân tràn nước mắt, nói.

 

VÀ TỪ MỘT ĐỒNG ĐỘI CŨ

 

Nhà của thương binh Nguyễn Ngọc Thanh nằm tận vùng xóm soi của thôn Phước Mỹ Tây (xã Hòa Bình 2, huyện Tây Hòa). Ông Thanh năm nay 65 tuổi, là một trong những đồng đội hiếm hoi của liệt sĩ Trần Tiến còn sống đến bây giờ. Ông Thanh kể: “Chúng tôi ở chung đại đội 377 của Huyện đội Tuy Hòa, khi đó thường gọi là lực lượng 84. Đại đội chúng tôi có nhiệm vụ “cắm” ở những vùng bị địch chiếm đóng, tìm cách giải phóng được nhiều chừng nào hay chừng đó để vừa gây thanh thế, vừa tiêu hao sinh lực địch. Địa bàn hoạt động của chúng tôi khá rộng, bao trùm khắp Hòa Hiệp, Hòa Tân, Hòa Mỹ, Hòa Định, Hòa Phong, Sơn Thành...”.

 

Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Thanh: “1 tuần sau khi Tiến mất, chúng tôi đã sáng tác câu bài chòi để nhớ đến anh”

 

Cùng sống chung, ăn ở và chiến đấu với Trần Tiến, ông Thanh nhớ khá nhiều về liệt sĩ vang danh này. “Tiến rất năng động, công tác thì tuyệt vời. Cấp trên giao nhiệm vụ gì cậu ấy cũng hoàn thành xuất sắc. Tôi, Tiến, anh Long y tá, anh Nghĩa (còn có bí danh là Quy) đại đội trưởng... rất thân với nhau. Tiến hát bài chòi cũng khá lắm”. Về hoàn cảnh hy sinh của Trần Tiến, ông Thanh nhớ lại: “Đó đúng là ngày 14-6-1964 âm lịch. Tại khu vực ga Gò Mầm tập trung bốn tổng dân vệ của địch (tương đương một đại đội). Ban ngày, chúng tổ chức càn quét khắp nơi, tối thì trở về ăn ngủ tại đó. Nếu đánh sập được đồn này, thì mọi con đường tiếp tế của địch đến khu vực này đều bị cắt đứt. Nghiên cứu kỹ quy luật hoạt động của chúng, chỉ huy đại đội quyết định đánh đồn này một cách bất ngờ, đúng vào thời điểm bọn dân vệ vừa đi càn về, chưa ăn uống, còn mệt mỏi. Khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi triển khai lực lượng, chia làm 4 mũi tấn công: Mũi của Trần Tiến đánh trực diện ở trục đường số 5, tôi thì ở mũi Bầu Bèo (Phú Nông, Hòa Bình), một mũi khác triển khai ở Hòa Thịnh nhằm chặn đánh địch về Phú Thứ và mũi còn lại chốt ở Hòa Tân. Trận này, chúng ta thắng dòn giã. Sau 2 giờ chiến đấu, địch tan tác hết. Bốn mũi tấn công họp lại, hành quân về đơn vị. Khi chúng tôi đang đi trên con đường giáp giới giữa hai xã Hòa Tân và Hòa Bình, anh Tiến đang đi giữa đoàn thì bất ngờ một tiếng súng nổ lên: một tên dân vệ nấp ở dưới lù đã nhắm bắn anh. Tiến chỉ bị một viên đạn duy nhất vào ngực. Chính tôi là người đã ẵm Tiến để anh Long y tá băng bó tạm vết thương. Ngay lập tức, chúng tôi đã khiêng anh vô Hòa Đồng để giao cho dân công đưa Tiến về trạm xá của huyện đội đặt tại đồng Cỏ Ống thuộc xã Hòa Thịnh. Nhưng ngày hôm sau, chúng tôi đau đớn nhận được tin rằng Tiến đã trút hơi thở cuối cùng khi còn đang trên đường đưa đến trạm xá”.

 

Một tuần sau khi Trần Tiến hy sinh, một đêm khuya trăng mờ, ông Thanh cùng các đồng chí thân thiết như Long, Thoại, Tỏa, Trường... đã ngồi lại và góp mỗi người vài câu, làm nên câu bài chòi “Quê anh Tiến: Thọ Lâm, Hòa Hiệp...” nổi tiếng cho đến bây giờ.

 

VĨ THANH

 

Trong quá trình đi tìm chân dung liệt sĩ Trần Tiến, chúng tôi tình cờ gặp cựu chiến binh Lê Tiến Thành ở thôn Mỹ Lệ, xã Hòa Bình 2. Ông Thành nổi tiếng vùng này bởi là người thuộc nhiều thơ ca hò vè. Ông đọc cho tôi chép lại nguyên văn bài chòi về anh Tiến (chúng tôi xin đăng lại, có hiệu đính của đồng tác giả Nguyễn Ngọc Thanh), rồi nói: “Không ai dạy tôi đâu. Hồi tôi còn nhỏ, tôi nghe các anh bộ đội hát câu bài chòi này trong một đêm văn nghệ được tổ chức ở Gò Điếm (thôn Phú Thứ, xã Hòa Bình) và thuộc nằm lòng cho đến nay. Thời của chúng tôi, chỉ cần nghe những câu ca như vậy là nhiều thanh niên ngay lập tức xung phong vào bộ đội đánh giặc. Cùng với bài chòi về anh Tiến, tôi còn nhớ các bài ngợi ca những liệt sĩ anh dũng khác như Lê Văn Ngọc, Nguyễn Trọng Tía, anh Lưu công binh... Họ, tuy không được công nhận là anh hùng, nhưng trong lòng mọi người, họ là những người hùng đích thực”.

 

NGUYỄN QUỐC KHƯƠNG
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM