Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:34:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng  (Đọc 53855 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #50 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:37:44 pm »

Quê hương yêu dấu mà “mỗi người chỉ một” của tôi là Phước Hậu, thuộc thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Phú Yên là tỉnh duyên hải miền Trung, có biển một bên còn ba bên là núi. Danh xưng Phú Yên có từ năm 1611, lúc đầu là phủ sau là dinh (1692), rồi trấn (1808), đạo (1853) và tỉnh (1888). Đến năm 2011 Phú Yên sẽ mừng sinh nhật lần thứ 400 danh xưng của mình.

 

Một góc Phước Hậu Bình Kiến - Ảnh: LÊ MINH

 

Tôi đã viết được mấy bài về quê hương Phú Yên đăng trên báo và tạp chí:

Phú Yên tên có tự bao giờ?

Phú Yên thời mở cõi.

Phú Yên – Sông dài, biển rộng.

“Cầu Đà Rằng dài theo nỗi nhớ”.

Bên mộ cha.

Dọc đường 25.

Dọc đường thiên lý…


Nay tôi đang là chủ nhiệm đề tài khoa học nghiên cứu “Lịch sử Phú Yên thế kỷ XVII - XVIII”. Càng biết nhiều, càng tự hào về quê hương Phú Yên.


Danh xưng Tuy Hòa cũng xuất hiện từ năm 1611. Đó là một trong hai huyện của phủ Phú Yên: Tuy Hòa và Đồng Xuân. Vùng đất Tuy Hòa đó nay là ba huyện  (Phú Hòa, Tây Hòa, Đông Hòa) và Thành phố Tuy Hòa.

Nơi “cắt rốn chôn nhau” mà tôi mang nặng ơn sâu cả cuộc đời này và hết lòng yêu dấu là làng Phước Hậu.


Danh xưng Phước Hậu có khá lâu, khi lập địa bạ vào đời Gia Long (1815) đã thấy ghi, nhưng làng này hình thành từ giữa thế kỷ XVII, trước gọi là Pháp Đông của Phước Toàn xã.

Một tên gọi dân dã trước đây còn được biết  tới là “Xóm Sủng”. Ngữ âm và ngữ nghĩa của danh xưng này phản ánh địa bàn không bằng phẳng của Phước Hậu. Tên các xóm (Ngoài, Giũa, Trong, Lẫm, Đường, Quán, Hóc, Rừng, Mới…), các gò (Thủ Kỳ, Thượng Điền, Ông Dõi), các dốc (Cây Châu, Cây Sanh, Ông In, Ông Quỡn…), Các giồng (Điếm), các động cát… cho thấy bức tranh địa mạo của làng Phước Hậu. Nhà tôi ở Xóm Đường, gần dốc Cây Sanh.

Phước Hậu không xa biển lắm. Quốc lộ 1A và đường xe lửa Bắc Nam chạy ngang qua ngôi làng ở ngay sát chân núi Chóp Chài (cao 390m) này. Thuở ấu thơ, tôi nhìn thấy Chóp Chài hằng ngày. Lớn lên, khi về ngoại ở làng Liên Trì, cách Phước Hậu độ hai cây số, cũng chỉ là đi từ chân núi góc Đông – Nam sang chân núi Phía Đông. Ở gần quá nên tôi thường không thấy cả hòn núi, ít khi nhìn thấy đỉnh núi nhưng hình ảnh Chóp Chài sâu đậm trong ký ức tôi và lúc đi xa thì nhớ nhiều.

Phước Hậu là một làng ven Đô. “Cây số 3” là cách chỉ đường dễ nhìn nhất cho những ai ở xa muốn đến Phước Hậu. Từ Chợ Dinh (Trung tâm đô thị Tuy Hòa) ra “Cây số 3” trước đây đi xe ngựa, xe kéo hoặc đi bộ cũng dễ dàng. Gần đô thị, nên dân làng Phước Hậu có nhiều người đi học, nhưng chỉ đến hết tiểu học. Học cao hơn nữa phải đi xa: Sông Cầu, Qui Nhơn, Huế… Khi trường trung học đầu tiên mở ở Tuy Hòa (tại Lò Tre) năm 1950 thì tôi là một trong những học sinh đầu tiên.

Phước Hậu vón là một thôn nông, dân làng hầu hết là nông dân, nguồn sống chính là nông nghiệp, một số hộ làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ. Dân làng Phước Hậu chất phác, cần cù, lao động giỏi. Cánh đồng Phước Hậu rộng hơn 260 ha (chiếm 2/3 diện tích cả làng) có mương dẫn nước từ đập Đồng Cam, nên dọi là “Đồng Thủy”. Mỗi năm hai vụ lúa. “Cày sâu, cuốc bẫm”, bón phân nhiều, làm cỏ kỹ… Kỹ thuật thâm canh của người dân mang lại năng suất cho cánh đồng cao sản Phước Hậu. Mùa cày, trên khắp cánh đồng, những cặp trâu to khỏe cần mẫn kéo cày vỡ đất theo tiếng “dí, thá” của người cầm cày đội chiếc nón cời. Mùa lúa chín, từng tốp thợ gặt từ Tuy An, từ Bình Định vào, đến khi về ai cũng gánh hai bao đầy lúa. Có người vào Phước Hậu để mót lúa cũng đủ gánh nặng.


Vườn tược ở Phước Hậu toàn đất cát nên cày, cuốc không nặng công lắm, nhưng tưới nước thì mất nhiều sức. Cả xóm chỉ có một giếng nước, toàn làng chưa đến 20 giếng nước, sâu đến hàng chục sải dây gàu. Vậy mà từng gánh nước, đi thật xa, múc từng gáo tưới cho từng gốc cây thuốc lá hoặc lãnh rau, rò hành hay vồng sắn nước… Làm thâu đêm, cần cù và nhẫn nại. Thế nhưng, “thuốc lá xóm Sủng” ngon nổi tiếng, “sắn nước Phước Hậu” ngọt mà giá rất rẻ.

Nghề phụ thì có làm võng. Tối đến hoặc lúc nông nhàn phụ nữ thường làm võng. Những bó sợi cây trân hoặc chỉ thơm tàu, qua đôi tay thoăn thoắt trên một bắp chân được bôi chút ít dầu rái, các chị xe sợi, đan võng. Làm nôi cho trẻ thơ, làm chỗ ngã lưng nghỉ trưa cho người già… là những chiếc võng được sản sinh ở đây.

Chợ Phước Hậu xưa nhóm họp ở đầu dốc Cây Sanh nên gọi chợ Cây Sanh. Không to bằng Chợ Dinh, cũng không lớn như chợ phiên Màng Màng, chợ Sơn Triều… nhưng là ngôi chợ làng lâu dời.

Dân làng Phước Hậu rất yêu thích văn nghệ. Ban đêm, tiếng hò khoan vang lên khắp các xóm. Ở những sân có nhiều cô gái xe võng, con trai làng và cả ngoai làng kéo đến hò đối đáp thâu đêm. Ở những cối giã gạo nam nữ cùng nhau vừa giã gạo vừa hò khoan, có khi hết gạo đổ trấu vào giã, kéo dài cuộc hò. Hô bài chòi thường được tổ chức ở Giồng Điếm, Xóm Lẫm. Đây là lễ hội vui mà hấp dẫn đông người nhất. Hát bội thôi thúc mọi người trong làng bằng tiến trống chầu, kéo nhau đến chen chúc xem vui vẻ. Ở Phước Hậu có những bà cụ già không biết chữ mà đọc diễn ngâm cả truyện kiều Lục Vân Tiên. Có những ông cụ say mê gảy đờn kềm, kéo đờn cò, những nhạc cụ nhiều nhà có sẵn.

Dân làng Phước Hậu rất yêu nước, có truyền thống cách mạng đáng tự hào. Những trang sử của làng Phước Hậu từ khi có Đảng đến nay thật vẻ vang. Phước Hậu đã có chi bộ Đảng đầu tiên từ ngày 20-10-1935 với ba đảng viên trong làng: Nguyễn Quốc Thoại, Nguyễn Chấn, Đỗ Tương. Năm 1938 dân làng  Phước Hậu đã bầu những đảng viên cộng sản làm lý trưởng, hương hộ cho làng mình. Phước Hậu là cái nôi cách mạng khi khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945. Ủy ban Việt Minh lâm thời Phủ Tuy Hòa ra đời  ở đây (4-1945). Đại hội thành lập Mặt trận Việt Minh tỉnh Phú Yên cũng tổ chức ở đây (17-7-1945). Ngày khởi nghĩa 25-8-1945 Ban chỉ huy khởi nghĩa phủ Tuy Hòa do Nguyễn Quốc Thoại làm trưởng ban cùng đại đội tự vệ từ Phước Hậu ra đi cướp chính quyền ở Phủ Tuy Hòa thắng lợi. Hàng chục người được công nhận là niềm tự hào của làng Phước Hậu.

Trong kháng chiến chống pháp, có 27 liệt sĩ là con em Phước Hậu. Con số liệt sĩ trong kháng chiến chống Mỹ là 92 và có năm bà mẹ được công nhận là bà mẹ Việt Nam anh hùng.

 

PGS.TS NGUYỄN QUỐC LỘC
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #51 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:42:24 pm »

Thôn Phú Hội ở về hướng đông bắc của huyện Tuy An, có đầm và con sông nhỏ trước mặt, sau lưng là dãy núi  Động Giả, phía tây bắc là cửa sông Bình Bá đổ ra vịnh Xuân Đài.

Thôn có chùa Long Phú, có nhà thờ Thiên Chúa giáo ở xóm Đồng Quao, có cảng cá, có đồng ruộng làm hai vụ, có núi đồi làm rẫy, làm vườn.

Thôn Phú Hội có 1.135 hộ, 4.787 dân, sống chủ yếu bằng nghề nông, nghề biển và buôn bán nhỏ.

Phú Hội có hai chợ: chợ Cầu và chợ Bến. Chợ Cầu nay chuyển xuống phía đông thoáng mát rộng rãi, họp một tháng 6 phiên và buổi chiều hàng ngày, chợ Bến họp buổi sáng hàng ngày. Nhờ có chợ Cầu và chợ Bến, bà con buôn bán làm ăn thuận lợi.

Thôn Phú Hội thời trước không có trường công, chỉ có hai trường tư ở xóm Chùa do thầy Hai (người Huế) mở dạy, Thầy Nguyễn Văn Hiển mở lớp ở xóm Đồng Quao. Hai thầy dạy chữ Quốc ngữ đến hết cấp một, dạy chữ Nho viết hàng năm hàng sáu. Nhờ hai trường tư này, con, em ở địa phương biết được cái chữ, sau trở thành cán bộ phục vụ cho kháng chiến chống Pháp.

Thôn Phú Hội có một số ít gia đình khá giả, còn đa số là nghèo, phải lĩnh canh, làm thuê mướn chịu tô thuế nặng nên rất nghèo khổ. Thời Pháp thuộc có một số người làm lý hương tranh giành quyền lợi cá nhân nên hay kiện nhau. Do đó người ta thường nói “Phú Hội Kiện Làng”.

Trước Cách mạng Tháng Tám, những người lớn tuổi đi học, làm ăn xa như các ông Nguyễn Thanh Kiết, Đỗ Ngô Đồng, Mai Xuân Liễu, Nguyễn Phước… sớm giác ngộ cách mạng và lãnh đạo nhân dân vùng lên giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945.

Sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Phú Hội nô nức xây dựng cuộc sống mới, ra sức bảo vệ chính quyền cách mạng. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, thôn Phú Hội cũng như các nơi khác chuẩn bị mọi mặt để trường kỳ kháng chiến.

Phú Hội là vùng tự do của xã An Ninh, huyện Tuy An. Địch âm mưu đánh chiếm vùng tự do Phú Yên nên chúng thường dùng máy bay oanh tạc, sử dụng tàu chiến, đổ bộ lên vùng biển thôn Phú Hội bắn phá, đốt làng, giết hại nhân dân. Phong trào du kích chiến tranh ở Phú Hội phát triển khá mạnh, ngăn chặn có hiệu quả các cuộc tiến công của địch. Phú Hội có địa thế tốt, ở sát cửa biển, thuận tiện cho tàu thuyền ra vào, nên Ban tiếp tế miền Nam (Nam Bộ) làm việc ở đây, như các đồng chí Hoàng Minh Châu, Phạm Văn Bạch, Nguyễn Thị Định. Nơi ở làm việc của Ủy ban kháng chiến miền Nam là nhà các ông Đỗ Ngô Đồng, Nguyễn Thanh Kiết, Nguyễn Mỹ Thuật. Phú Hội là nơi chuẩn bị vật chất, lương thực, tiền, vũ khí chuyển vào Nam. Phú Hội có một số người làm thủy thủ đưa tàu thuyền ra vào Nam Bộ như ông An và nhiều người khác.

Trong kháng chiến chống Pháp, thôn Phú Hội phát triển sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân và phát triển mạnh công tác giáo dục, y tế, giữ vững an ninh trật tự.

Trong kháng chiến chống Pháp, Chi bộ Đảng Phú Hội có 50 đồng chí và nhiều người trở thành cán bộ chủ chốt như các đồng chí: Đỗ Ngô Đồng, Đỗ Ngô Công, Huỳnh Định, Huỳnh Tịnh, Huỳnh Lơ, Huỳnh Là, Nguyễn Tài (Thử), Nguyễn Phước (Bông), Nguyễn Dụng, Nguyễn Tưởng, Phạm Giói, Nguyễn Tám (Sỹ), Nguyễn Dư, Nguyễn Phước, Nguyễn Đức, Thị Sáu (Bà Phúc), Mai Xuân Liễu, Trần Phú, Lương Bụi, Nguyễn Lượng, Nguyễn Cườm, Nguyễn Nhuận, Nguyễn Đức Phổ, Huỳnh Tống Ngọc, Quỳnh, Nguyễn Thị Lượng, Thị Liên, Nguyễn Thị Cứ, Phạm Mua, Nguyễn Tú, Nguyễn Hiền, Nguyễn Mỹ Thuật, Nguyễt Phát…

Nhờ đội ngũ cán bộ đảng viên ưu tú nên chi bộ Đảng đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng ở địa phương. Nhiều đồng chí thoát ly làm công tác ở huyện, tỉnh như: Nguyễn Thanh Kiết, Mai Xuân Liễu, Huỳnh Là, Nguyễn Đức Phổ, Nguyễn Phước, Nguyễn Đức, Nguyễn Biện, Đỗ Ngô Công, Nguyễn Cườm.

Một số học sinh trường Lương Văn Chánh tham gia bộ đội, tập kết ra miền Bắc được đào tạo trở thành trí thức như: Mai Bá Thiện, kỹ sư Nguyễn Phước, Nguyễn Thanh Cưu.

Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thôn Phú Hội có nhiều cán bộ hoạt động chín năm kháng chiến, nên sau đình chiến chính quyền Ngô Đình Diệm bắt bớ, giam cầm, đánh đập rất dã man những người kháng chiến cũ. Nhiều đồng chí bị bắt tra tấn hết sức tàn nhẫn như đồng chí Võ Văn Tư, Nguyễn Đức Phổ, Nguyễn Thị Cứ, Huỳnh Tịnh… Có đồng chí lợi dụng sơ hở của địch để trốn thoát, có đồng chí đấu tranh với đối phương nhờ Ủy ban quốc tế can thiệp để đưa ra Bắc như đồng chí Nguyễn Văn Tư. Nhiều đồng chí ở lại bị tù đày, bị thương tật.

Chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng nhà lao Phú Nhuận để giam cầm những người kháng chiến rất khắc nghiệt. Bọn chúng gây nhiều đau thương tang tóc trong các cuộc tố cộng.

Cuối năm 1959, thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhân dân vùng lên đấu tranh với địch bằng chính trị kết hợp với vũ trang. Ở thôn Phú Hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đứng lên lật đổ tên đại diện ác ôn Huỳnh Kim Anh. Chính quyền ngụy ở địa phương tan rã, cách mạng lập Ủy ban nhân dân tự quản.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền cách mạng, nhân dân bám trụ quần nhau với địch, bảo vệ quê hương.

Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lớp cán bộ, đảng viên bị đàn áp khủng bố đều hăng hái hoạt động cách mạng. Có nhiều đồng chí thoát ly đi lên căn cứ học tập đường lối chủ trương nhiệm vụ và về lại quê hương hoạt động như Nguyễn Thị Thỏi, Nguyễn Phát, Trần Đức…

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, cán bộ miền Nam ở thôn Phú Hội tập kết lần lượt trở về Nam hoạt động. Đợt đầu năm 1959, các đồng chí Hai Văn (Huỳnh Là), và sau đó là các đồng chí Nguyễn Độ (Phước), đồng chí Quyết Tâm (Biện), đồng chí Huỳnh Lo… trở về quê hương chiến đấu.

Nhờ cán bộ Trung ương tăng cường về và cán bộ tại chỗ thoát ly như đồng chí Mai Văn Minh, Nguyễn Tám (Sỹ), Nguyễn Văn Làm (Hoài Phương), Huỳnh Lửng, Nguyễn Thị Ngọc (Hiện), Nguyễn Thị Hảo, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Văn Dũng, Huỳnh Khanh, Đào Thị Kim Xuân…, phong trào cách mạng ở Phú Hội phát triển khá mạnh

Thời kỳ Việt Nam hóa chiến tranh, địch bố trí ở Phú Hội một đại đội, có lúc lên đến tiểu đoàn quân ngụy, quân Nam Triều Tiên và địa phương quân đóng chốt các đồi núi cao như Hòn Bù, đồi Bà Cánh để đánh phá, đàn áp phong trào cách mạng. Tuy địch đóng chốt đánh phá như vậy, nhân dân và cán bộ vẫn đấu tranh anh dũng, bảo vệ cách mạng; chi bộ và nhân dân Phú Hội làm công tác chính trị binh địch vận để hạn chế hành động gian ác của địch, nhờ vậy tạo thế và xây dựng lực lượng, góp phần cùng xã, huyện giải phóng tỉnh nhà vào ngày 1/4/1975.

Qua 64 năm đấu tranh và xây dựng, thôn Phú Hội có nhiều người con hy sinh bảo vệ Tổ quốc, có 7 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và hàng trăm gia đình có công cách mạng.


Từ sau ngày 1/4/1975 đến nay, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, nhân dân thôn Phú Hội ra sức khôi phục phát triển sản xuất nâng cao đời sống. Công tác giáo dục, y tế phát triển, công tác an ninh quân sự được bảo đảm vững chắc. Phú Hội đã có nhiều công trình mới như đường sá, trường học, cảng cá Tiên Châu.
Thôn Phú Hội đã và đang vững bước đi lên trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới ấm no, hạnh phúc.


QUYẾT TÂM

(Nguyên Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy kể,

              PHƯƠNG VÂN ghi
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #52 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:43:50 pm »

Mới đây, nhiều người dân đi rà phế liệu ở xã Xuân Quang 2 (huyện Đồng Xuân) đã phát hiện một địa đạo dài khoảng 100m trên đỉnh núi Hòn Trung. Địa đạo vẫn còn khá nguyên vẹn với bếp Hoàng Cầm, những ngách giao thông nối với nhau ngoằn ngoèo trong lòng đất như một trận địa liên hoàn.

 


Cửa vào địa đạo trên núi Hòn Trung - Ảnh: V.TÀI

 

Sau khi xem lại hình ảnh mà phóng viên Báo Phú Yên thực hiện tại địa đạo, ông Trần Ngọc Quế, cán bộ lão thành ở thôn Triêm Đức (xã Xuân Quang 2) khẳng định: Lúc đó, tôi là cán bộ kinh tài của huyện và địa đạo là nơi đóng quân của Tiểu đoàn 13, Trung đoàn Ngô Quyền được đào những năm mùa khô 1965-1966 để đối phó với chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ trên vùng đất Khu V lúc bấy giờ. Sau khi kết thúc chiến tranh, không mấy ai để ý đến vấn đề này. Bây giờ, việc phát hiện địa đạo trên núi Hòn Trung rất có ý nghĩa lịch sử. Các cấp có thẩm quyền nên sớm có kế hoạch khảo sát, trùng tu địa đạo để giáo dục truyền thống cho lớp con cháu sau này. 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #53 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:45:46 pm »

Ông sống bình dị, chan hòa trong một khu phố nhỏ gần ga Tuy Hòa.  Bà con khu phố chỉ biết ông là cán bộ về hưu và quen gọi ông là ông già Quảng Nam. Ít ai biết rằng, ông là một trong số 500 chiến sĩ đầu tiên của Đoàn 559, mở những lối mòn đầu tiên của đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền thoại.

 
Ông Trương Bình Trọng với những kỷ vật về đường Trường Sơn năm xưa – Ảnh: X.LUẬT


CHUYẾN HÀNH QUÂN LỊCH SỬ

Sinh năm 1932 tại xã Duy Phương, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, 15 tuổi, cậu thiếu niên Trương Bình Trọng đã xin vào bộ đội đánh Tây. Ông đã từng tham gia nhiều trận đánh lớn, lập nhiều chiến công, đặc biệt là thành tích dùng bộc phá ống đánh 3 tầng thép gai trong trận hạ đồn Măng-đen (Gia Lai). Với chiến công này, ông Trọng được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì. Sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông Trương Bình Trọng là thành viên trong Sư đoàn 305 tập kết ra Bắc.

Trò chuyện cùng chúng tôi trong ngôi nhà ấm áp tại đường Nguyễn Huệ, phường 2, TP Tuy Hòa, ông nói, sống trên miền Bắc thanh bình, nhưng ruột gan ông như lửa đốt, lúc nào cũng nhớ về miền Nam, nhớ về làng lụa Mã Châu xinh đẹp. Nơi đó có ba, mẹ và những người thân yêu nhất đang rên xiết dưới gót giày Mỹ - Diệm. Ông vẫn linh cảm sẽ có ngày được trở về miền Nam chiến đấu, nhưng không biết là lúc nào. Rồi ngày đó cũng đến, nhưng đến trong một hoàn cảnh đặc biệt ông không ngờ tới. Hôm đó, như mọi ngày, ông đang tập luyện ngoài thao trường thì được lệnh lên xe về tại nông trường Vân Lĩnh, tỉnh Phú Thọ. Lên đến  đó, ông thấy rất nhiều bộ đội từ nhiều đơn vị, đông tới 500 người, tất cả đều là con em các tỉnh miền Nam: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên…Mọi người được cấp trên phổ biến là chuẩn bị sang Liên Xô học tập. Rồi tất cả lên những chiếc xe tải bịt kín, chạy suốt ngày đêm. Ông không biết xe chạy theo hướng nào, về đâu. Chỉ đến khi vào Vĩnh Linh, xuống đi bộ ông mới biết mình đang vinh dự được làm một nhiệm vụ vô cùng đặc biệt: đưa thuốc men, vũ khí vào Nam. Ông nói, ngày xuất phát là 19/5/1959, vào đúng sinh nhật lần thứ 69 của Bác và đoàn gồm 500 người, vì thế mà có tên là Đoàn 559.

KÝ ỨC HÀO HÙNG

500 chiến sĩ đầu tiên của Đoàn 559 dựng lều tại những nơi hẻo lánh, hầu như không có người qua lại. Để bảo đảm bí mật, đồ dùng cá nhân đều phải xóa  hết mọi dấu hiệu xuất xứ từ miền Bắc hay các nước XHCN… Nhiệm vụ là bằng sức người, cõng thuốc men, đạn dược sang bờ Nam sông Bến Hải, giao hàng cho đường dây phía bên kia sông. Những chuyến hàng cho miền Nam ruột thịt chỉ được thực hiện âm thầm trong đêm. Không thể nào tả hết hiểm nguy, khó khăn, gian khổ. Cõng hàng trong  mưa. Cõng hàng qua những con dốc cao thăm thẳm. Cõng hàng qua suối sâu cuồn cuộn nước lũ. Cõng hàng trong giá rét. Bàn chân bật máu, thịt da gai cào. Nhưng, tất cả vì miền Nam ruột thịt, không một ai chùn bước. Đã không ít đồng đội ngã xuống trong những chuyến hàng như thế. “Ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, hơn ở đâu hết, kỷ luật của những chuyến hàng vào Nam được tuân thủ vô cùng nghiêm ngặt. 5 giờ chiều xuất phát, bằng mọi giá phải về bờ Bắc trước khi trời  sáng. Việc giao hàng chỉ bằng ám hiệu; kiểm tra hàng, bắt tay nhau, thế là xong, không được phép biết tên nhau. Phải bảo đảm bí mật tuyệt đối. Trước khi về đến căn cứ, phải xuống suối, lau rửa sạch sẽ, dùng thanh nứa gạt hết sên, vắt, bôi thuốc, không để lại một chút dấu vết.

Ông Trương Bình Trọng còn nhớ một kỷ niệm không bao giờ quên. Lần ấy, tổ của ông đang vượt đường 9 thì một đoàn xe của địch từ Quảng Trị chạy lên. Gặp địch, nhưng may mắn là có chiếc cống bắc qua đường, anh em chui ngay vào. Không ngờ, khi đến đúng địa điểm anh em đang ẩn nấp, một chiếc xe địch chết máy dừng lại. Cách địch  trong gang tấc, chỉ một tiếng động nhỏ là chúng phát hiện ra ngay. Mặc cho đỉa bám đầy người, nước lạnh cắt da cắt thịt, anh em vẫn chịu đựng nằm im đến hơn nửa tiếng đồng hồ, chờ  chúng sửa xe xong. Ông Trọng nói thêm, lên bờ rồi lại còn phải xóa sạch dấu vết, nếu không, cả một chủ trương lớn của ta có thể bị lộ chỉ vì một sơ suất nhỏ.

Cho đến bây giờ, ông Trọng cũng không nhớ mình đã cõng bao nhiêu chuyến hàng, nhưng ông cho biết, chỉ trừ sốt rét vật xuống không thể dậy nổi, còn ông và đồng đội không bỏ một chuyến hàng nào. Mỗi đêm mỗi người chỉ có thể cõng được nhiều nhất là 10 khẩu súng trường hoặc cơ số đạn, thuốc men, quân nhu chừng 30 kg. Nhưng “kiến tha lâu đầy tổ”, cứ như thế, ròng rã hơn nửa năm trời,  họ âm thầm cõng những chuyến hàng vào Nam,  tất cả vì miền Nam ruột thịt.

 


Bộ đội xây dựng cầu trên đường Trường Sơn


NHỚ VỀ ĐỒNG ĐỘI

Vạn sự khởi đầu nan, sau này đường Trường Sơn thông về phía nam, thay vì phải gùi, phải cõng là xe đạp thồ, hàng được vận chuyển bằng ô tô; trên đường còn có cả đường ống xăng dầu… Nhưng ông Trọng nhớ nhất là những ngày đầu tiên cùng 500 chiến sĩ mở lối mòn đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Ông vẫn tiếp tục gắn bó với tuyến đường Trường Sơn trong một đơn vị bảo vệ tuyến đường. Có hồi ông được ra Bắc làm nhiệm vụ huấn luyện, nhưng rồi lại dẫn quân vào  Trường Sơn và tiếp tục chiến đấu trên tuyến đường này.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, như một cơ duyên, Phú Yên trở thành quê hương thứ hai của ông Trọng và ông gắn bó với mảnh đất này từ đó đến nay. Ông tham gia Đảng ủy, HĐND phường 2 và làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường nhiều  năm liền.


Bây giờ ông Trọng đã gần tuổi bát tuần. Vật bất ly thân mà ông còn giữ được là đôi dép cao su và chiếc hăng-gô một thời Trường Sơn. Ông cho biết: Trong 500 chiến sĩ Trường Sơn năm xưa, bây giờ số anh em còn sống không còn nhiều. Tất cả đều đã ở tuổi “xưa nay hiếm”. Người thủ trưởng đầu tiên của Đoàn 559, thiếu tướng Võ Bẩm cũng đã vĩnh biệt đồng đội. Trong giấc mơ hằng đêm, những đồng đội cũ vẫn luôn hiện về, ông gọi tên từng người: những Tuyên, Thản, Quyền, Sát, Tơ… Họ đã mãi mãi nằm lại với đại ngàn Trường Sơn. Ước mong của ông Trọng là được một lần gặp lại những chiến sĩ đầu tiên của Đoàn 559 hiện còn sống. “Với tôi, đó chính là điều hạnh phúc lớn nhất trong quãng đời còn lại” – ông bộc bạch.

PHAN XUÂN LUẬT

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #54 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2010, 10:52:30 pm »

Ngày 12/8, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng duyên hải Nam Trung Bộ gồm bốn tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận với diện tích tự nhiên 21.432km2. Theo đó, từ nay đến năm 2025, vùng duyên hải Nam Trung Bộ được xây dựng theo hướng kinh tế tổng hợp, là cửa ngõ hướng biển của các tỉnh vùng Tây Nguyên, các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan, được cụ thể hoá qua từng giai đoạn với nhiều chính sách khác nhau. Tựu chung là xác định theo hướng tận dụng thế mạnh của mỗi tỉnh gắn liền với phát triển ba vùng văn hóa văn hoá biển, văn hoá đồng bằng, văn hoá bán sơn địa và miền núi. Tỉnh Phú Yên nằm trong khu vực trên, ở vị trí đặc biệt là cửa ngõ phía Bắc tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm – Trung Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên, là đầu mối giao thông quan trọng thúc đẩy việc giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Với vị trí có ý nghĩa về giao lưu vùng và khu vực, Thủ tướng chính phủ quyết định đầu tư nâng cấp cảng Vũng Rô, xây dựng tuyến đường sắt Phú Hiệp – Buôn Ma Thuột phục vụ vận chuyển hàng hóa cho vùng Tây Nguyên và ba nước láng giềng Lào, Campuchia, Thái Lan. Nhân sự kiện này, chúng tôi gửi đến bạn đọc báo bài viết với niềm suy tư ôn cố tri tân về thời Pháp thuộc với những chính sách khai thác thuộc địa trên đất Phú Yên.

 



Bản đồ quy hoạch các ga và trạm chờ của đoạn đường sắt xuyên Việt qua địa phận tỉnh Phú Yên (1936). Nguồn : Projet de classement des routes d’accés au gares du chemin de fer. 1936. RSA/HC 3327, tại Trung tâm lưu trữ quốc gia IV.
Việc du nhập loại hình giao thông đường sắt vào Việt Nam thời Pháp thuộc ban đầu chỉ phục vụ cho quyền lợi thực dân là phục vụ công cuộc khai thác, vơ vét bóc lột thuộc địa, nhưng về sau có ý nghĩa tạo ra những cú hích về mặt giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các vùng miền trong cả nước. Cho đến cuối chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), tổng số chiều dài đường sắt được xây dựng 1.300km, gồm các tuyến Hà Nội – Đồng Đăng, Sài Gòn – Mỹ Tho và Hà Nội – Sài Gòn. Tuyến đường sắt Bắc Nam hoàn thành với tổng chiều dài 906km với 3 đoạn: Hà Nội – Vinh, Đông Hà – Đà Nẵng, Nha Trang – Sài Gòn(1). Trong quá trình thám sát xây dựng đoạn đường sắt Sài Gòn – Nha Trang, người Pháp cũng có những dự án nghiên cứu về việc nối ray ra vùng Tuy Hoà. Năm 1900, chính quyền Pháp giao cho Đại úy Dunal (Capitaine de Dunal) chịu trách nhiệm nghiên cứu, thăm dò việc xây dựng đường sắt ở Phú Yên(2). Nội dung của dự án như hoạch định về số lượng nhân công từ 500 – 600 nhân công cho một ngày do phòng Giám binh Sông Cầu chịu trách nhiệm, khảo sát địa hình, quy hoạch hướng và các tuyến đường sắt cùng với đó là xây dựng đường sá cầu cống, đồng thời dự án cũng nêu lên lợi ích và tính cần thiết của việc xây dựng đường sắt ở Phú Yên. Dự án quy hoạch, khảo sát trên phân làm ba khu vực: phía nam từ khu vực Đèo Cả đến Tuy Hòa, phía bắc từ Cù Mông đến phủ Tuy An và vùng trung tâm tỉnh.

Năm 1901, thực dân Pháp nghiên cứu khu vực phía nam chủ yếu đoạn Đèo Cả và dọc bờ tả sông Ba đến M’Drăk (Đắk Lắk), dự tính nối đường sắt từ Ninh Hòa đến Tuy Hòa và Tuy Hòa lên Đắc Lắk(3), tạo thành tam giác vận chuyển và trao đổi hàng hoá giữa Cao Nguyên, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Tại đây đoàn khảo sát do Trung uý Kerler (Lieutenant Kerler) dẫn đầu nghiên cứu khá kỹ khu vực Củng Sơn (Phú Yên), đoàn mở rộng thám sát lên khu vực Đắc Lắc và Lang Biang(4). Tiếp đó vào năm 1904, đoàn kỹ sư người Pháp khảo sát khu vực phía bắc tỉnh, họ dự trù trong tương lai con đường sắt nối tỉnh Phú Yên với Bình Định sẽ đi theo ngã La Hai đến Vân Canh (Bình Định)(5). Nhưng tất cả những dự án trên dừng lại ở mức thể nghiệm, thăm dò chứ chưa được triển khai thực hiện trong thời gian này, nguyên nhân của tình trạng này như lời báo cáo của Đại úy Dunal (Capitaine de Dunal) khi tiến hành khảo sát khu vực phía nam: “Đường sắt chạy qua khu vực Đắc Lắc, khu vực người dân tộc thiểu số không thể thực hiện được do những khó khăn đang diễn ra; qua Đèo Cả và bờ biển thì chúng tôi cử nhân viên khảo sát ở nhiều địa phương và tình trạng của những con đường, kết luận là không thể khai thông con đường vượt qua đèo”(6).

Tình hình trên phù hợp với khả năng tài chính cũng như bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp không muốn đầu tư những cái gì tốn kém về kinh phí, công sức. Nếu như người Pháp triển khai dự án nối ray Tuy Hoà với Sài Gòn trong giai đoạn này sẽ giúp cho nhà cầm quyền khai thác được các nguồn lợi lớn không những ở Phú Yên mà bao gồm cả vùng Cao Nguyên. Trong thời kỳ khai thác thuộc địa lần I (1897 – 1914), chính quyền thực dân Pháp mở rộng xuất khẩu các mặt hàng nông thổ sản ở Phú Yên, đặc biệt là xuất khẩu lượng lớn trâu bò sang Philippin, mà theo thống kê sở Thương chính vào năm 1908 đạt hơn 4,1 triệu tấn. Số lượng gia súc đáp ứng như cầu khai thác trên tập trung chủ yếu ở các đồn điền lớn như Montpezat, Lyard, Duval, Dombret.. (7)phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực phía tây nam tỉnh Phú Yên, nên việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn. Cuối cùng người Pháp lựa chọn giải pháp phát triển hệ thống vận chuyển đường thủy với hai cảng chính yếu là Cù Mông và Vũng Lắm. Thêm vào đó, người Pháp thể hiện ý đồ chính trị trong việc triển khai đường sắt Tuy Hòa – Đắk Lắk đã được thể hiện trong chính sách biến Phú Yên trở thành địa bàn “Tây tiến”, với những nhiệm vụ hậu thuẫn, bảo vệ những nhà thầu người Âu đầu tư lập đồn điền và khai thác khoáng sản; quản lý việc trao đổi buôn bán giữa người Kinh với người dân tộc thiểu số; bình định, thu phục các cuộc nổi dậy của người dân tộc thiểu số. Mặc dù những kế hoạch xây dựng đường sắt không được triển khai, nhưng điều này thể hiện người Pháp đã có những nghiên cứu đến việc thiết lập loại hình giao thông hiện đại nhất thời bấy giờ ở Phú Yên từ đầu thế kỷ XX và những dự án nghiên cứu trên là tiền đề định hướng cho việc xây dựng đường sắt vào đầu những năm 30 thế kỷ XX.

 



Tấm bia đá ghi dấu sự kiện hợp long đường sắt tại ga Hảo Sơn (huyện Đông Hòa)  - Ảnh: D.T.XUÂN


Sau chiến tranh thế giới lần thứ I (1918), tư bản Pháp tiếp tục xây dựng một số tuyến đường sắt mới ở Việt Nam và Đông Dương, nhằm hoàn thành hệ thống đường xuyên Đông Dương để phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1918 – 1939). Các tuyến đường sắt được xây dựng trong thời kỳ này gồm: Tuyến Krôngpha – Đà Lạt dài 43 km; Tân Ấp – Xóm Cục – Banaphao (Lào) dài 59km; Sài Gòn – Lộc Ninh dài 140km và tuyến đường sắt xuyên Việt (Lạng Sơn – Mỹ Tho). Trong đó tuyến đường sắt xuyên Việt được hoàn thiện với hai đoạn bỏ dở là Vinh – Đông Hà và Đà Nẵng – Nha Trang. Đoạn Vinh – Đông Hà khởi công xây dựng vào năm 1922 và hoàn thành năm 1927, dài 299 km với tổng kinh phí 34 triệu frăng. Năm 1931, chính quyền thực dân Pháp khởi công xây dựng đoạn đường sắt xuyên Việt cuối cùng từ Đà Nẵng đi Nha Trang và đến năm 1936 hoàn thành với chiều dài 524km, chi phí hết 38 triệu frăng(Cool.

Chính quyền thực dân Pháp phác họa đoạn đường sắt xuyên Việt chạy qua địa phận tỉnh Phú Yên chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu khảo sát của Đại uý Dunal tiến hành từ năm 1900 – 1904 với chiều dài hơn 100km vượt qua hai dãy núi Cù Mông, đèo Cả và nhiều sông, suối (sông Cái, Đà Rằng, Bàn Thạch…). Đến cuối năm 1928, dự án xây dựng đường sắt đi qua địa phận Phú Yên được phê duyệt, đoạn đường sắt ở phía bắc tỉnh Phú Yên thiết kế chạy dọc theo đường liên tỉnh Chí Thạnh – Phước Lãnh, men theo sông Cái và thung lũng sông Cô, vượt qua đường hầm Đèo Thị đến Vân Canh (Bình Định), đoạn đường sắt này dài trên 30km, km 1134 (ga Mục Thịnh) đến Km 1171 (ga Chính Thạnh) chạy qua các ga Mục Thịnh, Phước Lãnh, La Hai, Hà Bằng, Phong Niên và Chí Thạnh. Đoạn đường sắt ở vùng trung tâm tỉnh từ Chí Thạnh đến Tuy Hòa (từ Km 1171 đến Km 1198) được xây dựng dọc theo đường thuộc địa, đi qua các ga và nhà chờ Phú Tân, Mỹ Phú, Hòa Đa, Chính Nghĩa, Minh Chính và Tuy Hòa. Đến đoạn đường sắt ở phía nam tỉnh đi qua hai cửa sông lớn Đà Rằng và Đà Nông, đặc biệt phải đi qua dãy núi Đèo Cả, người Pháp đã xây dựng 3 cây cầu bắc qua sông Chùa, Đà Rằng và Bàn Thạch, được thiết kế dùng chung cho đường bộ và đường, đoạn đường sắt chui qua bảy đường hầm tại vùng núi Đại Lãnh và một đường hầm dài trên 1km vượt qua dãy núi Đèo Cả. Đến ngày 2-9-1936, tuyến đường sắt Bắc – Nam làm lễ nối ray tại Km 1222 phía nam ga Hảo Sơn. Hoạt động vận chuyển đường sắt qua địa phận Phú Yên chính thức từ ngày 29/9/1936 với lịch tàu Hà Nội – Tuy Hoà và ngày 1/10/1936 chuyến tàu đầu tiên từ Hà Nội đến ga Tuy Hòa vào lúc 11 giờ 30 phút. Như vậy đoạn đường sắt xuyên Việt qua địa phận tỉnh Phú Yên đi qua 18 ga và nhà chờ gồm: Mục Thịnh (Km 1134), Phước Lãnh (Km 1140), Phước Long (halte, Km 1145), La Hai (Km 1155), Hà Bằng (Km 1160), Phong Niên (Km 1166), Chí Thạnh (Km 1171), Phú Tân (Km 1174), Mỹ Phú (1179), Hoà Đa (Km 1184), Chính Nghĩa (halte, Km 1189), Minh Chính (halte, Km1193), Tuy Hoà (Km 1198), Phú Lâm, Đông Mỹ (halte), Phú Hiệp, Thạch Tuấn và Hảo Sơn(9).

Sau tuyến đường sắt xuyên Việt, người Pháp lập dự án thiết kế tuyến đường hoả xa nối Tuy Hoà với vùng Tây Nguyên, tuyến đường này chạy qua Củng Sơn theo thung lũng sông Ba tới Cheo Reo, rồi theo sông Ea Ayan đi lên Gia Lai, Kon Tum. Dự án cũng dự định nối đường sắt từ Củng Sơn qua Buôn Ma Thuột rồi tới Bù Đốp và Lộc Ninh, tại đây có đường hoả xa qua Thủ Dầu Một đến Sài Gòn. Dự án chỉ mới bước đầu trù liệu, đến năm 1939 chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp đã thôi đầu tư xây dựng. Cũng trong thời kỳ này, tư bản Pháp còn xây dựng đoạn đường sắt từ Nhà mày đường Việt Nam (1927) đến Phú Thuận (nay thôn Phú Thuận, Hòa Mỹ), đoạn đường sắt này phục vụ việc vận chuyển mía về nhà máy.

Việc hoàn thành đoạn đường sắt xuyên Việt đánh dấu bước chuyển biến lớn trong lĩnh vực giao thông nói riêng và lĩnh vực kinh tế - xã hội Phú Yên nói chung trong giai đoạn Pháp thuộc, dịch vụ vận tải đường sắt và đường bộ phát triển, mang lại sự giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội và giáo dục giữa Phú Yên với các vùng miền trong cả nước, từ đây Phú Yên mở rộng gắn kết với các xứ bên ngoài mà trước đây được xem là “một cái phòng rộng ba bề kín mít”(10). Ngày nay với cách nhìn mới thông qua việc mô tả, tái hiện lại thời Pháp thuộc với những chính sách mà họ đã triển khai trong suốt thời gian cai trị ở Phú Yên (1887 – 1945) để ngẫm nghĩ về quy hoạch xây dựng Phú Yên nói riêng và khu vực duyên hải Nam Trung Bộ nói chung trong thời đại toàn cầu hóa.


_____________


(1),(Cool. Nguyễn Văn Khánh. 2000. Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945). Hà Nội: Nxb. Đại học quốc gia,  tr.45, tr.110.
(2). Rapporte Economique province de Phu yen, Residence de Song Cau, anée 1900, TVHP/VV 319, tr.23.

(3),(6). Rapporte Economique province de Phu yen, Residence de Song Cau, anée 1901, TVHP/VV 323, tr.18.

(4) Chemen de fer: Khanh Hoa - Tourane - Hue, Phan Thiet. Main d’oeuvre - Indeminite de déguerrissement. Rapporte des cheysa de mission d’etude. 1901 - 1903. RSA/HC 594.

(5) . Rapporte Economique province de Phu yen, Residence de Song Cau, anée 1904, TVHP/VV 325, tr.23.
(7) Ngô Minh Sang. Những chuyển biến kinh tế - xã hội Phú Yên thời Pháp thuộc (1887- 1945). Luận văn thạc sỹ Lịch sử, Đại học Đà Lạt, tr.51.

(9) Projet de classement des routes d’accés au gares du chemin de fer. 1936. RSA/HC 3327.

(10)  Nguyễn Đình Cầm, Trần Sĩ. 1937. Địa dư tỉnh Phú Yên. Qui Nhơn, tr.3.


NGÔ MINH SANG

(Phòng Quản lý khoa học Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ)


Tin, bài liên quan


- Đường sắt Phú Hiệp- Buôn Ma Thuột sẽ vận chuyển hàng hóa cho Tây Nguyên, Campuchia, Thái Lan, Nam Lào

- Giấc mơ “vượt ngàn” đang thành hiện thực
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #55 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2010, 11:20:05 am »

Chào bạn tuanquoc19!
Mình vừa có một chuyến đi "chớp nhoáng" tới Tuy Hòa.
Thật tiếc là không có điều kiện để liên hệ gặp được TQ!
Mặc dù không nhiều thời gian nhưng ấn tượng về một Tuy Hòa xinh đẹp, mến khách thì rất sâu đậm.

Bên ghềnh Đá Đĩa:



Với Nhạn Tháp:



Tận thấy Vũng Rô (hơi tếc vì người ta đang xây dựng lại khu tưởng niệm nên bia cũ đã bị dỡ đi):


Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #56 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2010, 05:13:00 pm »

cảm ơn bạn nhiều, mong mọi người đóng góp cho ý kiến về vùng đất Phú Yên
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #57 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2010, 07:25:51 pm »

Trong hai năm 1960-1961, lực lượng cách mạng phát triển nhưng trong kho không có hạt muối. Mỗi bữa ăn phải dùng lá chua cây chành ngạnh thay muối, nuốt không trôi nhưng ai cũng phải ráng. Rồi anh em lấy rễ tranh đốt thay muối mặn. Mỗi lần đi công tác xuống làng đồng bào dân tộc thiểu số ở buôn Ma Lố, trưởng buôn nói: “Cách mạng ơi! Cán bộ ơi! Cho chúng làng viên thuốc mặn. Trẻ em khóc thâu đêm cả làng đau bệnh bị chết thôi, chết không phải do bom đạn địch mà do không có muối”. Tôi có lần gặp đồng chí Tám Yên (tức Lương Thúc Mậu)- Tỉnh ủy viên, Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh Phú Yên, đồng chí  nói: “Ái ơi cho tao hột muối để trong chân răng the the mằn mặn cái mồm”.       

Lòng càng day dứt trăn trở khi hàng nghìn cán bộ, bộ đội, nhân dân vùng căn cứ hàng ngày hàng giờ trông chờ hạt muối. Nếu khai thông được cửa khẩu thì mới có đủ muối ăn.

Nhớ lại trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Phú Yên sản xuất hàng vạn tấn muối, không chỉ đủ ăn mà còn dự trữ, ngoài ra còn chi viện cho Đắc Lắc, Khánh Hòa, nam Gia Lai. Bây giờ tìm hột muối khó quá!

Đồng chí Văn Công bàn với tôi: Ta lên Khu 7 Gia Lai mượn tạm một ít về ăn cho đỡ ngặt. Tôi, với đồng chí  Tư Nóc (Nguyễn Thẳng), Trưởng tiểu ban sản xuất đi cùng với hai cán bộ nữa. Định mượn cho được 5 tạ, nhưng các đồng chí Kinh tài Khu 7 chỉ cho mượn 1 tạ. Bốn anh em mang về. Cán bộ nghe có muối thì rất  mừng.

Địch phong tỏa, đánh phá dai dẳng các hành lang từ căn cứ xuống vùng giáp ranh đồng bằng nên việc đi lại giao lưu giữa hai vùng càng khó khăn. Tháng 4-1962, Ban Tài mậu tỉnh tổ chức đội vận chuyển muối gồm 15 thanh niên khỏe mạnh, biết bơi, người huyện Tuy Hòa 1, thạo đường sá đi lại, trang bị mỗi người một bao bột mì, phân chia hai toán. Đồng chí  Nguyễn Kỳ Viết, quê ở thôn Phú Lạc, xã Hòa Hiệp làm trưởng đoàn. Từ căn cứ Phước Tân, anh em theo đường giao liên đường 7, sông Ba, sông Chống Gậy, sông Bánh Lái men theo dãy núi Tuy Hòa 1, bắc đèo Cả, vượt Quốc lộ 1, đường sắt xuyên Việt và các đồn bốt địch để đến Bãi Xép -  căn cứ lõm của xã Hòa Hiệp nhận muối do cơ sở vận động bà con Phú Lạc ủng hộ. Mỗi chuyến mang về Phước Tân được 500 ký, phân chia cho mỗi cán bộ, bộ đội 3/4 lon sữa bò, đồng bào vùng căn cứ 1/4 lon sữa bò ăn cho đỡ lạt miệng. Mỗi chuyến đi và về mất 10 hôm, nếu gặp địch càn thì mất cả tháng.

Bà cụ Thừa Hoàng ở Văn phòng Tỉnh ủy nhận được 3/4 lon muối, bèn  lấy thìa US lường 3/4 lon muối để ăn trong một tháng. Nhiều cuộc hội nghị ở tỉnh bao giờ cũng có câu “Phải mang theo muối ăn”.

Một quyết định, táo bạo được thực hiện ngay để gỡ bí. Ban Tài mậu cử đồng chí Dương Thành Dũng, cán bộ thương nghiệp xuống bám dân ở vùng 1 An Định (Tuy An) và ấp Rượu, Xuân Sơn (Đồng Xuân) xây dựng cơ sở tiểu  thương từ vùng địch kiểm soát đưa hàng hóa lên vùng giáp ranh. Gạo, mắm, muối, cá, vải, thuốc chữa bệnh được đưa lên từ đó. Ta mua hàng ngày 10 ký rồi 20 ký, 30 ký. Chuyện lạt muối đã được giải quyết ổn thỏa hơn.

Rút kinh nghiệm từ thực tiễn ở cửa khẩu vùng 1 An Định và cửa khẩu ấp Rượu Xuân Sơn, ngành thương nghiệp triển khai ở các cửa khẩu Tuy Hòa 1, Tuy Hòa 2, đồng thời xoi luồng đưa muối từ đồng muối Tuyết Diêm (Xuân Lộc), Lệ Uyên, Trung Trinh (Xuân Phương) lên. Số chuyển bằng đường biển, số đi theo đường bộ, lượng muối khá và có đều ở các cửa khẩu.

Đến năm 1964- 1965, Phú Yên giải phóng rộng, thu hẹp phạm vi kiểm soát của địch chỉ còn 8 cụm cheo leo (thị xã, thị trấn, quận lỵ). Chiến lược chiến tranh đặc biệt đã bị phá sản. Tỉnh kịp thời có chủ trương: tận dụng thời cơ khai thông cửa khẩu muối Tuyết Diêm, Lệ Uyên, Trung Trinh; huy động mọi lực lượng: bộ đội, cán bộ các ngành Dân, Chính, Đảng xuống tận ruộng muối lấy muối về ăn và dự trữ  cho đơn vị mình. Lực lượng vận chuyển thương nghiệp chuyên lo thu mua vận chuyển muối về căn cứ dự trữ lâu dài. Các đồng chí ở huyện Vân Canh (Bình Định) cũng lấy muối ở đồng Tuyết Diêm, tổ chức một số đồng bào ở Tầm Tướng, Đa Lộc… xuống đồi Dốc Tranh, Lệ Uyên nhận muối do đoàn vận chuyển của thương nghiệp giao, mang về ăn và san sẻ cho đồng bào ở địa phương. Để bảo đảm an toàn cho lực lượng lấy muối, bộ đội chốt giữ 2 đầu ở Xuân Lộc vào Tuyết Diêm và thị trấn Sông Cầu ra đồng muối Lệ Uyên, Trung Trinh.

Trong một thời gian, ta huy động hàng trăm tấn muối cho tỉnh có ăn, có dự trữ và còn giúp Đắc Lắc, Khánh Hòa, nam Gia Lai, Vân Canh. Cách mạng đã giải quyết cơ bản nạn đói muối. Đồng bào, cán bộ, lực lượng vũ trang rất phấn khởi, bỏ chế độ tiêu chuẩn khắc nghiệt 3/4 lon, 1/4 lon. Bây giờ muối ăn được dự trữ để cán bộ chiến sĩ đối phó với thời kỳ chiến tranh cục bộ và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của địch.

Hạt muối trong thời kỳ chiến tranh phải đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả xương máu. Nhiều đồng chí đã hy sinh như Trương Liễm, Nguyễn Văn Thắng, Lê Hồng Ca, Hồ Thi, Nguyễn Kiên, Lê Bác, Nguyễn Thang, Nguyễn Mai, Nguyễn Hồng Sơn, Đỗ Đức Nhuận...

 

                                      NGUYỄN HỮU ÁI

(Nguyên Trưởng ban Kinh tài Tỉnh ủy Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ)
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #58 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2010, 07:36:21 pm »

Ngày 20/11/1946, thực dân Pháp đánh chiếm thành phố Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn, mở rộng qui mô chiến tranh xâm lược trên đất nước ta và toàn Đông Dương.

 

Trước sự uy hiếp nghiêm trọng của địch, chủ tịch Hồ Chí Minh viết văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” chỉ đạo: “Công việc khẩn cấp là kháng chiến và kiến quốc: một mặt phá hoại, một mặt kiến thiết. Phá hoại để ngăn địch, kiến thiết để đánh địch… ta phải hiểu và phải cho dân hiểu rằng: cuộc kháng chiến sẽ rất gay go, cực khổ”.

 



Cắm chông rào làng – Ảnh tư liệu


Chấp hành chỉ thị của TW Đảng, Chính phủ và Ủy ban hành chính Trung bộ, tháng 11/1946 toàn tỉnh Phú Yên được chia thành 6 chiến khu:

Chiến khu 1 gồmcác xã phía nam sông Đà Rằng (hiện nay là huyện Đông Hòa và Tây Hòa). Chiến khu 2 gồm các xã phía bắc sông Đà Rằng (hiện nay là huyện Phú Hòa và thành phố Tuy Hòa); Chiến khu 3 gồm các xã huyện Tuy An; Chiến khu 4 gồm các xã huyện Sơn Hòa; Chiến khu 5 gồm các xã phía tây huyện Đồng Xuân; Chiến khu 6 gồm các xã phía đông huyện Đồng Xuân (nay là huyện Sông Cầu).

Mỗi chiến khu có Ủy ban kháng chiến khu. Nhiệm vụ Ủy ban kháng chiến khu là động viên chỉ đạo trực tiếp các công tác chuẩn bị và sẵn sàng đánh địch, tổ chức huấn luyện dân quân tự vệ, sản xuất vũ khí, phá hoại đường sá, tiêu thổ kháng chiến xây dựng làng chiến đấu, bảo vệ vùng tự do.

Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Thực dân Pháp ra sức đánh chiếm tỉnh Phú Yên – điểm địa đầu của vùng tự do Liên khu V, hậu phương trực tiếp của chiến trường Tây Nguyên và Khánh Hòa.

Vào thời điểm này, bộ đội tập trung trên đất Phú Yên có 3 trung đoàn: trung đoàn 80 đứng chân ở phía nam tỉnh; trung đoàn 79 đứng chân ở miền Tây (giáp Đăk Lăk); trung đoàn 83 mới thành lập, quân số 700 đứng chân ở phía bắc tỉnh (Sau một thời gian, trung đoàn 79 hợp nhất với tiểu đoàn N1 Trang-Lơng thành Trung đoàn 84 phụ trách chiến trường Đăk Lăk, trung đoàn 80 chuyển vào Khánh Hòa, tại Phú Yên chỉ còn trung đoàn 83). Ngoài các đơn vị chủ lực, Phú Yên có bộ đội địa phương, dân quân du kích hình thành thế trận chiến tranh nhân dân.

Ngày 13/1/1947, Pháp huy động hai trung đoàn từ Khánh Hòa tấn công phòng tuyến Đèo Cả bằng hai ngả chính diện và truông Gia Long (phía tây đèo Cả). Trung đoàn 80 cùng bộ đội địa phương và dân quân chiến khu 1 chặn đánh ác liệt. Ngày 15/1/1947, quân ta phản công chiếm lại một số vị trí ở nam Đèo Cả.

Ngày 16/1/1947, quân Pháp huy động thêm một trung đoàn đổ bộ lên Bãi Xép (Hòa Hiệp) đánh bọc sau lưng bộ đội ta, phối hợp với hai cánh quân trên Đèo Cả và truông Gia Long. Địch huy động cả máy bay và tàu chiến hỗ trợ. Để bảo toàn lực lượng, bộ đội ta rút khỏi đèo Cả về bố phòng ở Đông Mỹ (Hòa Vinh); Phú Lương, Cảnh Phước (xã Hòa Tân). Ngày 18/1, địch tiến quân dọc Quốc lộ I. Quân ta chặn đánh ác liệt. Gần hai ngày, địch mới tiến ra được thị trấn Phú Lâm. Cầu Đà Rằng, bị ta phá sập trước đó, nên địch không thể tiến ra thị xã Tuy Hòa.

Ngày 19/1, quân ta tập trung lực lượng phản công.

14 giờ ngày 19/1, tiểu đoàn Ba Dương (tiểu đoàn của Nam Bộ ra Phú Yên củng cố, đang trên đường trở về Nam Bộ) phối hợp với một bộ phận trung đoàn 80 và dân quân chiến khu 1 tập kích cụm quân địch ở Phú Lâm, tiêu diệt tên quan tư chỉ huy và hàng trăm lính địch, đuổi địch chạy dài qua bờ nam sông Bàn Thạch.

Địch lập đồn bót ở núi Hiềm và co cụm ở đó.

Bộ đội ta tiếp tục bao vây đánh địch ở núi Hiềm.

Tháng 2/1947, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Côn về Hòa Xuân chỉ đạo “không nên bao vây địch bằng lập phòng tuyến mà cần chuyển sang đánh du kích bao vây, liên tục tấn công địch”. Các tổ biệt động nhiều lần cải trang đột nhập đồn địch giữa ban ngày diệt tề, bắn tỉa, làm rung chuyển đồn Hiềm.
Tháng 6/1947, thực dân Pháp huy động một trung đoàn mở cuộc càn quét chiến khu 1 nhằm giải tỏa áp lực bao vây của quân dân ta đối với đồn Hiềm. Quân dân ta chặn đánh địch ở Phú Lâm, Hòa Thành, Hòa Bình, Hòa Tân, ga Gò Mầm…

Sau 5 ngày bị chặn đánh liên tục, địch tổn thất nặng nề phải rút quân, không thực hiện được âm mưu mở rộng chiếm đóng chiến khu 1.

Phong trào chiến tranh du kích vùng tạm chiếm Hòa Xuân và các xã nam sông Đà Rằng phát triển mạnh mẽ. Bộ đội huyện phát triển quy mô đại đội cùng với lực lượng du kích các xã xây dựng làng chiến đấu, bao vây chặt đồn Hiềm, làm cho địch phải dùng máy bay tiếp tế.

Ở miền Tây Phú Yên, giữa năm 1946 địch đóng một hệ thống cứ điểm ở vùng giáp ranh Phú Yên – Đắk Lắk và Phú Yên – Gia Lai nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng. Ở vùng giáp ranh M’Drak địch đóng đồn A-ê-riêng (nay là thị trấn Hai Riêng). Ở vùng giáp ranh Cheo Reo, địch đóng quân ở đồn B’Lá Ai Nu. Ở Sơn Hòa địch đóng đồn ở Cà Lúi. Các xã Krông Pa, Cà Lúi, Suối Trai bị địch uy hiếp nhưng địch không lập được tề. Địch nhiều lần tiến công Củng Sơn nhưng đều thất bại phải rút về co cụm ở đồn Cà Lúi. Tình hình tạm ổn, vùng tự do Phú Yên vẫn giữ vững. Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Phú Yên bỏ cấp chiến khu, thống nhất ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến, xây dựng lại cấp huyện như cũ gọi là Ủy ban hành chính kháng chiến.


NGUYỄN HỮU ÁI

 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #59 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2010, 04:54:26 pm »

Hồi tưởng lại chặng đường qua 60 năm từ cuộc kháng chiến toàn quốc, tên tuổi và từng bước thăng trầm đều có những ký ức đáng nhớ và kỷ niệm khó quên.
 
Qua cuộc kháng chiến 9 năm đầy gian khổ và thật hào hùng, Tuy Hòa - thành phố của Phú Yên, khi đó chỉ là một thị xã nhỏ nằm án ngự bên này đèo Cả, đã không cho thực dân Pháp từ Khánh Hòa càn lấn qua. Những cuộc đổ bộ của địch từ biển lên, từ đất liền ra đều bị đánh lùi và thất bại. Tuy Hòa vẫn giữ danh xưng là vùng “tự do” nằm trong bốn tỉnh “tự do” của Liên khu 5: Nam, Ngãi, Bình, Phú  cho đến tận Hiệp định Geneve năm 1954.
 
 
Đại liên 20 ly đại đội Trợ chiến hạ chiếc máy bay Morane của Pháp tại đập Đồng Cam, 1950
Suốt 9 mùa kháng chiến, thị xã nhỏ mà xưa kia, trong sách giáo khoa về địa lý có câu: “Sông Cầu là bà già lão luyện, Tuy Hòa là một thiếu nữ xuân xanh”. Hay có ca dao ngợi ca “Gái Phú Yên như Tiên Lầu Cát…”. Quả là như vậy, vì nơi đây, những ai đã từng trải qua cùng đồng bào, đồng chí thì quên sao được khí thế hừng hực, nhiệt huyết dâng trào của ngày phát khởi mệnh lệnh “Toàn dân, toàn diện, toàn quốc kháng chiến” của Bác Hồ. Cùng với đồng bào cả nước, nhân dân thị xã Tuy Hòa cùng đồng bào cả tỉnh Phú Yên một lòng một dạ hưởng ứng. Thị xã Tuy Hòa lúc bấy giờ đã trở thành nơi hội tụ các lực lượng vũ trang “Nam tiến” từ Bắc, từ Bình Trị Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi tiến vào. Ngày, đêm vui như hội. Các đoàn quân Nam tiến của Chi đội Vi Dân, của Thu Sơn, của Chi đội “du kích Ba Tơ” còn có danh xưng bộ đội Lê Trung Đình, bộ đội Thái Phiên từ Quảng Nam, Quảng Ngãi vang khúc quân hành trên các đoàn tàu hỏa ngày ngày tiếp nối vào. Những đoàn quân mà “quân phục không đồng loạt, vũ khí không đồng chủng, tiếng nói không đồng âm” thế mà nhất tề nhất loạt tuân thủ răm rắp mệnh lệnh chỉ huy. Ga Tuy Hòa là ga cuối để chuyển tải quân từ phía Bắc vào. Và Tuy Hòa là nơi được tôn vinh “thánh địa” làm nhiệm vụ phân phối, điều quân vào các chiến trường Bắc Khánh, Tây Nguyên… Cấp tập, rập ràng như một trục ly tâm giữa chiến trường và hậu phương. Ngoài lực lượng dân quân tỉnh, khi ấy lực lượng vũ trang chính quy có Chi đội 4, sau đó biên chế thành Đại đoàn 27 trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tiểu đoàn I Độc Lập và các Tiểu đoàn Trần Tạo dần dần được chính quy hóa để hình thành các Trung đoàn Chủ lực 803, trung đoàn 84 Tây Nguyên. Cùng phối hợp với chiến trường cả nước, những trung đoàn chủ lực đã hợp đồng tác chiến cùng các lực lượng binh đoàn chính quy lập nên những thành tích lớn như chiến dịch Cao Bắc Lạng, Điện Biên Phủ mà ngày nay biên niên sử quân đội ta vẫn còn ghi lại những chiến tích hào hùng của Bộ đội Liên khu 5. Đó là bước trưởng thành chính quy hiện đại trong các chiến dịch Bắc Khánh, Nam Tây Nguyên, Hè 52 phá tan các cuộc càn quét của địch trong chiến dịch Atlant, Latérit, Tahiti. Tên tuổi của các đơn vị anh hùng lập công vang dội như Tiểu đoàn 365 (thường gọi là “Bộ đội lá mít”, của Tiểu đoàn 5 Nha Trang, của Tiểu đoàn 39… còn đậm dấu son trong lòng người dân Tuy Hòa. Từ sự lớn lên trong thời kỳ đánh địch theo đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung tiến tới trung đoàn chính quy, trận địa chiến.
 
Hồi tưởng lại thời kỳ còn phôi phai, trứng nước của những 1940 – 1946 thì hình tượng tình “quân với dân như cá với nước” của đồng bào và quân đội nhân dân ta là trường tồn và sức mạnh phi thường. Sự hợp sức đồng tâm của dân và quân từng bước trong cuộc chiến tranh nhân dân thật kỳ vĩ. Vùng lên từ đơn vị nhỏ, với dao găm, mã tấu, thực thi triệt để mệnh lệnh “tiêu thổ kháng chiến” thì chỉ trong khoảnh khắc thời gian ngắn, những khu nhà ngói đồ sộ, những ngôi nhà tường vách kiên cố trong thị xã đã đục vách, khoan tường lập thành chiến lũy xuyên từ tuyến này với tuyến kia để hợp đồng tác chiến. Trên các cánh đồng lúa mới gặt xong đã loang loáng những thân tre vót nhọn chống quân nhảy dù. Con đường lớn từ thị xã đi ra Màng Màng, Mỹ Á, tận Hòa Đa, Chí Thạnh đã ngày đêm xẻ dọc xẻ ngang chữ I chữ T nhằm không cho xe cơ giới của giặc tiến quân. Từ xóm này rẽ đường sang xóm khác đã nhanh chóng hình thành “làng chiến đấu”, liên hoàn dọc theo các giao thông hào. Chỉ có người dân trong xóm mới tường tận đường đi lối thoát. Đâu đâu cũng có tai mắt của dân giám sát và cảnh giác tại mỗi trạm gác đầu xóm, đầu làng. Cùng một lúc củng cố lực lượng vũ trang chiến đấu, các đoàn thể quần chúng, thanh niên, phụ nữ. Mẹ chị chiến sỹ được tăng cường và phát triển mạnh mẽ. Tất cả các hội và đoàn thể tích cực hoạt động. Các phong trào “Diệt giặc ngoại xâm, diệt giặc đói, diệt giặc dốt” phát triển rầm rộ. Đêm đêm, anh Bộ đội Cụ Hồ đến lớp dạy bình dân học vụ. Các vị bô lão, các chị các mẹ chiến sỹ cùngnhau vận động cho “hủ gạo nuôi quân”, “chiếc khăn tay kỷ niệm”… Ngoài ra, còn phát động phong trào “Không dùng hàng ngoại hóa” tạo thành một sức mạnh tổng hợp, tổng hóa làm nên chiến thắng chiến dịch Hồ Chí Minh năm1975, thống nhất nước nhà.
 
Mỗi lần trở lại thăm Tuy Hòa, là người lính trẻ của thời ấy, một đội viên trẻ nhất của đội súng máy 20 ly và 12 ky 7 gác trên đỉnh núi Nhạn Tháp với nhiệm vụ khi tàu bay địch xuất hiện thì gõ “tà vẹt” báo động, khi tàu thủy địch xuất hiện giữa biển khơi thì kéo “bồ”* để làm dấu hiệu cho bà con đánh cá ngoài khơi dạt vào nơi đánh giặc. Lòng tôi tràn ngập nhiều ấn tượng về hào khí và nghĩa tình sâu nặng giữa đồng bào và quân đội trên đất Tuy Hòa, Phú Yên một thời gắn bó bảo vệ đất nước. Chắc hẳn bà con Tuy Hòa không bao giờ quên những người con thân yêu của mình thời ấy, tuy chưa gặp lại hay có người đã ra đi vì hy sinh, vì giá yếu như các đồng chí Cao Văn Khánh – nguyên Đại đoàn trưởng Đại đoàn 27, Phan Hàm – Trung đoàn trưởng, Lư Giang – nguyên Truung đoàn trưởng Trung đoàn 803, Nguyễn Bân – nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn I – Độc Lập và Hà Vi Tùng – Tiểu đoàn “Lá mít” 365 đã từng làm cho quân giặc kinh hồn khiếp vía. Tình cảm quân dân ruột rà, gắn bó ấy mãi mãi thấm đượm và khắc sâu trong lòng mỗi người chúng ta, cho con cháu chúng ta khi hồi tưởng lại những ngày đầu Tuy Hòa bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc cùng với toàn dân làm nên chiến thắng vẻ vang trong trang sử hồng của dân tộc.
 
* “Bồ”: Cái bồ đan bằng tre cật lợp lá buông treo cao để báo hiệu cho ngư dân ngoài biển xa
 
MINH LƯƠNG
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM