Eurocopter Tiger
(vndefence.info, quocphongbaodatviet.vn)Eurocopter Tiger là biểu tượng của tinh thần hợp tác châu Âu.
Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, các nước châu Âu, đặc biệt là Pháp, Đức, Tây Ban Nha... luôn là tiền đồn của khối NATO trong việc chống lại các mối nguy cơ đến từ phía Đông. Đặc biệt, trước đối thủ là Liên Xô có ưu thế tuyệt đối về lực lượng tăng thiết giáp, việc sử dụng không quân, đặc biệt là trực thăng vũ trang (gunship) là giải pháp hữu hiệu nhất để khắc chế điểm mạnh này của đối phương.
Các loại trực thăng vũ trang mà những nước này sử dụng thường do Mỹ viện trợ như AH-1 Cobra, AH-64 Apache hoặc một số loại kém tính năng hơn, do các nước châu Âu tự sản xuất, như: Agusta Mangusta của Italia.
Cuối những năm 1990, một phần vì Liên Xô sụp đổ, một phần muốn tách khỏi sự lệ thuộc về vũ khí vào Mỹ; và tăng cường sự hợp tác của các quốc gia trong khu vực, liên minh châu Âu đã bắt tay chia sẻ công nghệ để sản xuất nhiều loại vũ khí của riêng mình. Đáp ứng yêu cầu về một loại trực thăng vũ trang ưu việt, hiện đại, Eurocopter Tiger đã ra đời.
Eurocopter Tiger được ba nước Pháp, Tây Ban Nha và Đức hợp tác sản xuất. Các công ty công nghiệp hàng không DaimlerChrysler Aerospace của Đức, Aerospatiale Matra của Pháp và CASA của Tây Ban Nha đảm nhiệm việc thiết kế và sản xuất Eurocopter Tiger. Có tới 4 biến thể Tiger được chế tạo cho ba nước này và xuất khẩu.
Bề ngoài của Eurocopter Tiger khá giống trực thăng vũ trang AH-1 Cobra của Mỹ
Từ 2003 trở đi, Eurocopter Tiger lần lượt được đưa vào biên chế quân đội các nước đã tham gia sản xuất ra nó : Đức - 80 chiếc, Pháp - 80 chiếc và Tây Ban Nha – 24 chiếc.
Giá thành của Tiger ở mức rất cao, làm chùn bước hầu hết các nước có nền kinh tế kém phát triển có ý định xem xét loại trực thăng này. Với đơn giá 35 - 43 triệu USD tùy biến thể, Tiger chỉ rẻ hơn AH-64D Apache Longbow (48 - 52 triệu USD), và đắt hơn rất nhiều so với các loại trực thăng vũ trang cùng loại khác như AH-64A Apache (18 triệu USD), Ka-50 Black Shark (15 triệu USD) hay Mi-28 Havoc (16,9 triệu USD). Vì mức giá đắt đỏ này, ngoài các nước tham gia chế tạo, mới chỉ có 22 chiếc Tiger được xuất khẩu cho quân đội Australia. Chính phủ Arabia Saudi từng ký hợp đồng mua 12 chiếc Tiger vào tháng 7/2006, nhưng hợp đồng này nhanh chóng đổ vỡ do Nga đã chào hàng những chiếc trực thăng với tính năng không kém nhưng rẻ hơn rất nhiều của họ.
Nhiệm vụ của Eurocopter Tiger là diệt tăng, chiến đấu và do thám, nên vỏ của nó được làm từ 80% là composite, 11 % là nhôm và 6% là titan và các nguyên liệu khác. Vì vậy, máy bay có khối lượng khá nhẹ, có tính cơ động cao trong chiến trường hẹp và có khả năng chống chịu tốt các loại đạn súng máy phòng không 12,7 mm, 14,5 mm lắp trên xe tăng và đạn pháo phòng không 23 mm (ví dụ như của pháo phòng không tự hành ZSU-23-4 Shilka của Nga).
Do làm bằng các vật liệu nhẹ nên Eurocopter Tiger có khả năng cơ động khá cao so với các trực thăng cùng loại.
Cánh quạt của Tiger cũng được làm bằng sợi thủy tinh, nhờ đó, có thể chống chịu tốt với các va đập và ảnh hưởng của vũ khí điện từ. Thiết kế hình dạng ngoài của Tiger cùng lớp sơn phủ hấp thụ sóng radar cũng khiến nó giảm khả năng bị phát hiện và có nhiều cơ hội "sống sót" trên chiến trường hơn.
Với mục đích chiến đấu đa nhiệm và do thám nên nó được trang bị các thiết bị điện tử và dò tìm cực kỳ tối tân. Các thiết bị điện tử trên Tiger cũng là sự hội tụ của những công nghệ tinh túy nhất châu Âu. Eurocopter Tiger được bố trí hai chỗ ngồi bao gồm một lái chính và một xạ thủ. Lái chính kiêm luôn hoa tiêu và chỉ điểm cho xạ thủ. Trên mũ phi công có gắn hệ thống màn hình hiển thị nhỏ kiêm kính ngắm - TopOwl HMSD của Thales Avionics hay HMSD của BAE systems.
Trên buồng lái được trang bị màn hình hiển thị được cung cấp bởi Thales Avionique và VDO Luftfahrtgerate Werk GmbH, để hiển thị về thông tin vũ khí, đường bay...., thiết bị cảnh báo radar, cảnh báo chiếu xạ laser, hệ thống cảnh báo tên lửa MILDS của Đức, bộ vi xử lý trung tâm của Thales, thiết bị thả mồi bẫy chống tên lửa tự dẫn hồng ngoại SAPHIR-M do công ty MBDA của Anh sản xuất.
Hệ thống định vị của Tiger cũng là sản phẩm của sự hợp tác công nghệ như hệ thống con quay laser hồi chuyển ba chiều của Thales, các loại radar đa kênh Doppler, hệ thống định vị vệ tinh cùng các thiết bị hỗ trợ phi công khác.
Về trang bị vũ khí và động cơ, Tiger có nhiều sự khác biệt giữa các biến thể: Tiger HAP cho Pháp, UHT cho Đức, HAD cho Tây Ban Nha và ARH để xuất khẩu cho Australia. Trừ loại HAD hiện đại nhất được trang bị động cơ MTR-390E 1.094 kW. Các biến thể còn lại chỉ trang bị động cơ của MTU, Turbomeca hay Roll-Royce MTR-390 với công suất 960 kW.
Vì thế Tiger có tốc độ tối đa thua kém khá nhiều so với các loại trực thăng cùng chức năng của Mỹ và Nga. Tiger chỉ có thể đạt tốc độ tối đa 315 km/h (khi không mang vũ khí), kém xa Apache của Mỹ (365 km/h) hay Mi-28 (324 km/h) và Ka-50 (390 km/h) của Nga.
Đổi lại, Tiger có khả năng cơ động và tầm hoạt động (800 km) khá tốt, cho dù vẫn chưa thể so được với trực thăng Ka-50 của Nga.
Là trực thăng hạng trung, Tiger chỉ mang được lượng vũ khí khá hạn chế - tối đa 1.860 kg - lắp trên 4 điểm treo cứng hay dưới cánh, trong khi Apache có thể mang đến 3.000 kg hay 2.300 kg đối với Ka-50 của Nga.
Một số loại vũ khí trang bị cho Eurocopter Tiger: Tên lửa chống tăng AGM-114 Hellfire (1), PARS3-LR (2), Tên lửa không-đối-không Mistral (3), Rocket 70 mm Hydra (4), Rocket 68 mm SNEB (5).
Vũ khí của Tiger được trang bị tùy theo biển thế và quốc gia sử dụng.
1. Dùng cho nhiệm vụ tự vệ và tiêu diệt bộ binh : ở mũi máy bay được trang bị 1 khẩu pháo tự động 30mm loại Rheinmetall của Đức hoặc GIAT của Pháp. Ngoài ra còn có thể thay thế bằng các loại 12.7mm hoặc 20mm tùy theo từng nhiệm vụ.
2. Dùng cho nhiệm vụ không chiến : Tiger có thể mang theo 2 tên lửa không-đối-không AIM - 92 Stinger (Mỹ) hoặc Mistral (Pháp).
3. Dùng cho nhiệm vụ chống tăng tiêu diệt công sự : Tiger còn có thể mang theo các loại rocket 70 mm Hydra (Mỹ), 68 mm SNEB (Pháp); tên lửa chống tăng AGM – 114 Hellfire (Mỹ), Rafael Spike-ER (Israel), PARS-3LR (Đức).
Hai loại tên lửa không-đối-không trên Eurocopter Tiger (Mistral bên trái và Stinger bên phải).
Trực thăng Eurocopter Tiger của Không quân Đức.
- Phiên bản chiến đấu : Tiger HAP, Tiger HAD
- Phiên bản do thám: Tiger ARH
- Phiên bản diệt tăng : UH Tiger (Unterstützungshubschrauber Tiger)
Thông số chung:
- Phi hành đoàn: 2
- Dài: 14.08 m fuselage
- Cánh quạt: 13.00 m
- Cao: 3.83 m
- Diện tích bề mặt: 133 m²
- Trọng lượng rỗng: 3,060 kg
- Trọng lượng cất cánh tối đat: 6,000 kg
- Khối lượng nhiên liệu nạp: 1,080 kg
- Động cơ: 2× Rolls-Royce/Turbomeca/MTU MTR390 turboshafts, 873 kW
- Tốc độ tối đa: 290 km/h
- Tầm bay: 800 km
- Trần bay: 4,000 m
- Tốc độ lên: 10.7 m/s