Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:10:29 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tạp văn QĐND  (Đọc 32894 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2008, 09:40:49 pm »


NGƯỜI Ở HÀ NỘI


Trái đất của ngày nay, nhan nhản chỗ nào cũng chỉ toàn người là người. Không còn hoang đảo, không còn cô sơn. Những thủy thủ bất hạnh kiểu như Robinson Crusoe sẽ càng bất hạnh vì nếu có lỡ bị đắm tàu thì vừa mới bò lên bờ đã tấp nập gặp không những đám thổ dân Thứ Sáu, Thứ Bảy mà còn thấy bạt ngàn bọn hoa hậu, người mẫu theo chân các đại gia dư dật đang xếchxi nằm ườn hưởng thú hoang dã trong khu “rì dọt” sinh thái. So với chưa lâu lắm ngày xưa, quả thật khác xa. Thỉnh thoảng ở những đỉnh núi cao, người tử tế vẫn gặp được thần. Và trong hang sâu rừng thẳm, đám bất lương đôi khi vẫn bị gặp quỷ. Còn bây giờ, tuyệt vọng đành chịu.

Hà Nội hiện tại thì cũng thế thôi. Làm gì còn âm thầm tiếng sấu rụng, làm gì còn tĩnh mịch tiếng rao khuya. Tất cả bị lẩn bị lẫn, bị đè bẹp gí trong cơ man những ồn ào của đông nghịt tiếng người. Hoặc mất trật tự chen lấn nhau, hoặc ngăn nắp xếp hàng hai, hàng bốn, mặt ai nấy đều phừng phừng sinh lực quyết liệt đua tranh mưu sinh. Khoảng ba chục năm gần đây, do xô đẩy từ lịch sử, người ở Hà Nội luôn có nét lẫn lộn của nhiều vùng miền. Tất nhiên, không phải vùng miền nào cũng mang tới Hà Nội một kiểu sâu sắc văn hóa. Vì thế người ở Hà Nội đương đại hằn đậm vô số những thói quen có vẻ không Hà Nội. Điều này làm phong phú thêm bản sắc của “đây Đông Đô, đây Thăng Long”. Vài học giả đáng kính người ngoại tỉnh, xa xưa được tốt nghiệp đại học ở ngoại thành khẳng định là như vậy.

Cuốn “Hà Nội địa dư” bản in năm Tự Đức thứ tư (1852) phần phong tục có viết “Đất Long Đỗ, đàn ông chuộng lễ nghĩa, đàn bà chăm chỉ vá may. Lớp trí thức phần nhiều ghét chuyện tranh giành, hạng dốt nát cũng biết liêm sỉ mà không phạm tội”. Có được liêm sỉ, chuyện không dễ nhưng là lẽ đương nhiên. Còn giữ được liêm sỉ mới là điều tuyệt khó. May thay, người ở Hà Nội giờ đây, tuy chưa hết vất vả nhưng vẫn luôn cố giữ gìn liêm sỉ. Cuốn “Đồng Khánh địa dư chí” cụ thể hơn. “Người trong tỉnh Hà Nội có nơi chất phác, ít chuộng văn hoa, có nơi hào hoa phù phiếm. Cũng có nơi bướng bỉnh điêu bạc, cũng có nơi người dân hung hãn. Đặc biệt dân các mặt phố thuộc Thọ Xương, Vĩnh Thiện thì thói tục chuộng xa xỉ quá đáng.”.

Người xưa khi nói thường không bàn chuyện đúng sai, chỉ chú trọng vào họa phúc, hay dỡ. Hơn nữa thời thế có khúc, có đoạn, đến mây trên trời lang thang vô tư mà còn có lúc hình rồng (vân long) lúc hình chó (vân cẩu), huống nữa là thói đời. Người đã ở Hà Nội trên chục năm đã khang khác, trên ba chục năm lại càng khác. Thực ra, khái niệm “người Hà Nội” là trong trắng nhưng sâu xa có đôi phần mập mờ. Điều trân trọng đáng quý là khi đứng trước cái khái niệm mờ ảo này, người ta đều khao khát rồi tự tước đi những dung tục. Nỗi mong muốn trở thành một người Hà Nội là một cố gắng rất thật. Nó phảng phất ở văn ở thơ ở cách ăn cách mặc. Về nhiều mặt, Hà Nội có một vị thế tạm gọi là trũng. Chỗ trũng thì nước đọng. Nhưng cho dù là đọng nhưng tuyệt đối cũng không tạp. Làm gì có phong khí bán hàng “cháo thì chửi, phở thì quát” như vài bài phóng sự của mấy cô cậu tuổi trẻ vừa tốt nghiệp khỏi khu kí túc xá ngoại ô. Họ nhầm tưởng đấy là nét kiêu bạc của Tràng An đô thị. Đã thật là người Hà Nội thì đương nhiên kiêu bạc nhưng tinh tế thuần hậu. Và nếu cái ông bà “Hà Nội gốc” hàng phở, hàng cháo nào đó có “quát chửi” thì cũng lựa mặt khách. Ai đời đi “Le xợt”, đi Honda 3.0 đỗ xuống mà đòi ăn phở ngan hoặc gọi cháo gà bắt kèm theo bát rau sống to tổ đùng. Thực khách như thế thì chủ quán sẽ như thế. Trước đây làm gì có quán (kể cả hàng rong) đề biển bán “phở bún bò ngan vịt”, dòng dưới cùng là bún riêu. Thảm thay. Mươi năm gần đây, hầu hết các bát bún riêu còn có thêm đỏ lòm một lạng tái bò. “Thôi đành, có cầu là phải có cung”, chị hàng bún mỗi bát lấy hai chục nghìn, hớn hở thanh minh thế. Gánh bún ba đời nhà chị nằm ở ngã tư nhìn ra mặt hồ Hoàn Kiếm nhấp nhô mái ngói nâu trầm, nếu còn bà ngoại hay bà mẹ, chắc các cụ sẽ chua chát thở dài.

Sau hết xin kể một chuyện nhỏ. Là người vô tích sự, vợ đảm bận kiếm tiền nên thường bị sai đi chợ. Quanh quẩn lối quen, hay đến chợ Hàng Bè hoặc chợ Hàng Da. Có lần gặp một thiếu phụ trẻ đi Vespa LX mặc quần áo hàng hiệu. Đang mùa vịt, nàng sành điệu mua một con, đưa cả tờ tiền chẵn kiêu sa không lấy lại tiền lẻ. Bà cụ bán măng ngồi cạnh, khẽ khàng tư vấn”Cô mua vịt thì nên mua thêm mấy mớ húng Láng”. Nàng trịch thượng quay sang, giọng thanh thanh của vùng đồng chiêm trũng “Người Hà Nội chỉ ăn húng Hà Nội chứ ai lại ăn húng Láng”.

Đại loại bây giờ, người ở Hà Nội thừa tiền mua nhà phố cổ, thường có kiểu tinh tế như vậy.

Trần Khôi Việt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2008, 09:19:16 pm »


MÙA THU VÀ ĐÀN ÔNG

      “Một lá ngô đồng rụng, thiên hạ biết là Thu”. Với đa số đàn ông đã mệt mỏi nhớ, đã vất vả yêu, có đôi chút đau đớn thì mùa lá rụng thường là mùa bị thao thức day dứt nhiều nhất. Phức cảm tội lỗi về những việc đã làm chợt nhiên quấy rầy. Tự soi vào gương thấy cái mặt của mình vừa đáng thương vừa đáng tởm. Người xưa bảo, “Xuân sinh Hạ trưởng Thu liễm Đông tàng”. Vạn vật nẩy nở trong tiết xuân, trưởng thành trong nắng hè, cô đơn trong đông lạnh. Còn chữ “liễm”, từ điển khô khan giải thích “Kết tụ lại – giảm bớt xuống”. Đây là một trạng thái cảm xúc đặc biệt oái oăm, nó vừa hiu hắt chán vừa mênh mông buồn, vừa gắng gượng vui. Thật là một mùa quái lạ, hiện diện cả chính, cả tà, cả thiện, cả ác. Đại loại ở sâu xa, mùa Thu giống hệt như một tiếng thở dài cố nén.

      Không phải ngẫu nhiên mà ở mùa này, đàn ông thường thích làm thơ và thích đánh nhau. Mùa Thu thuộc hành Kim, xa xưa là mùa người ta hay hành quyết tử tội. Ở những thời đỉnh cao của tử tế, văn minh, chiến tranh, hầu hết các bậc minh quân đều chọn ngày khởi binh là ngày Thu. Gió Thu, mưa Thu não nề dầm dề sát khí, nên nhỡ có giết nhầm phải ai đó thì lương tâm cũng chỉ khe khẽ cắn dứt một tí tẹo. Khí Thu làm cảnh sắc nhầu nhĩ tiêu điều, chẳng cần chứng khoán phải xuống, chẳng cần giá vàng phải lên. Thậm chí, chẳng cần bạn hiền mưu mô bán rẻ, chẳng cần người tình quắt quay phản bội, chỉ cần quanh quẩn ngồi ở những quán dọc sông Hồng hay bên hồ Tây ngắm mưa phùn heo may là vô số đàn ông nhạy cảm đã tự nhiên rưng rưng bi lụy, khát khao tự tử. Thi hào người Tàu Bạch Cư Dị có bài “sông Thu tiễn khách” khét tiếng.

                  “Mông mông nhuận y vũ.
                  Mạc mạc mạo phàm vân
                  Bất túy Tầm Dương tửu
                  Yên ba sầu sát nhân”

                  (Mưa lâm râm bay thấm ướt áo
                  Mây u ám đè thấp cánh buồm
                  Rượu Tầm Dương uống chẳng thấy say
                  Khói sóng sông làm lòng người buốn chết)

Chao ôi, có mùa nào kinh dị như mùa Thu. Sinh viên đang thất tình, thương gia đang thua lỗ, đạo diễn đang chờ làm phim “cúng cụ”, hoa hậu đang bị xì căng đan, những lúc trời đang sắp sửa vào Thu thì tuyệt đối đừng nghe hoặc đọc thơ ông Bạch.

      Ngoài lê thê mưa, ngoài rền rĩ gió, mùa Thu rợn lạnh như vậy vì nó thường có trăng. Trăng Thu là biểu tượng rõ ràng nhất của Thái Âm, nó vừa tròn đầy vừa sáng trắng, cô liêu tích tụ  cuồn cuộn âm khí. Những vụ án xẩy ra dưới ánh trăng bàng bạc ma quái, tất thẩy đều kinh hoàng tội ác, sát thủ như có thêm máu lạnh phóng túng thẳng tay giết người bất cần nguyên cớ. Chính vì thế, lễ cúng rằm đêm Thu đàn ông phương Đông tuyệt không bái nguyệt. Mặt Trăng lúc ấy là lãng mạn với đàn bà với trẻ con với quan chức chứ với đạo đức đàn ông nó vô cùng nguy hại. Chỉ trăng mà thề, ngoài lừa lọc Sở Khanh, ngoài liều lĩnh Chí Phèo thì chẳng đàn ông lương thiện nào lấy đấy là nguyện ước trăm năm. Chỗ âm khí dầy chặt như thế mà đột nhiên có thằng con trai thì từ xưa đến nay duy nhất chỉ có thằng Cuội. Cái thằng này xuất thân chăn trâu, bản tính quen lừa các bà các cô ăn tục nói phét bay bổng thành thần. Đàn bà nông nổi mê trăng thề lắm, nên những lúc vượt quá lẳng lơ thì dân gian hay gọi đám phụ nữ ấy là “đồ trăng gió”.

      Tuy nhiên, mùa Thu vẫn là một mùa nhân hậu đẹp tuyệt vời. Bởi đơn giản, cái buông bỏ thê lương của nó làm người ta tự có một khoảng lùi để sám hối lại mình. Các mùa khác, kể cả mùa Đông, thường làm người ta ăn nhanh ngủ kĩ, tỉnh dậy là hừng hực đua tranh giẫm đạp nhau kiếm sống. Vào mùa Thu, thức ăn fast food đều bị ế, các hoạt động cơ bắp đều bị chùng. Trong lịch sử thể thao không có đại hội Ô-lim-pích mùa Thu, ở tiết trời ấy đàn ông cô đơn cùng lắm chỉ đi câu. Trong bài “Thu điếu” đại thi hào người Việt Nguyễn Khuyến buông cặp câu tình thế tuyệt vọng.

                  “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
                  Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

Phải là hoang mang mùa Thu mới cho đàn ông một cảm thán lắng đọng vô hạn đến thế. Có lẽ do vậy, để được gọi là thi sĩ thì bất cứ đàn ông nào cũng phải làm cho được ba bài thơ Thu.

      Vì có những phẩm chất ưu tú độc đáo, mùa Thu được bọn đàn ông thích lắm, đặc biệt là đám tham nhũng đang kiếm bổng lộc nhờ hoạn lộ. Đám này ao ước bốn mùa cả năm đều là mùa Thu, đừng bao giờ là mùa chi. Và trong mùa Thu, ngày đáng yêu nhất không phải là “Trung Thu” hay “Thu phân” mà là những ngày bội thu.

Trần Khôi Việt
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2008, 11:19:59 pm »


THIẾU PHỤ VÀ MÙA THU


Trong bốn mùa có ở quanh năm, thì mùa Hè giống như trai trẻ, mùa Đông giống như cụ già, mùa Xuân giống như thiếu nữ. Thế còn mùa Thu, cái mùa có đỏng đảnh điệu đà heo may, có u uẩn vẩn vơ mây xám, có buồn bã lá vàng rơi của sang trọng suy tàn, sao mà nó giống hệt như một thiếu phụ. Theo từ điển giải thích thì thiếu phụ là đàn bà đã có chồng, cho dù tuổi đời còn rất trẻ, tiếng Tây kêu là jeune femme. Tất nhiên thỉnh thoảng cũng có vài thiếu nữ chẳng bao giờ chịu đi qua hôn nhân nhưng do vẫn phải ăn phải ngủ phải già rồi bị thời gian rêu phong đè nét nhầu nhĩ vào mặt, trông “mợ” quá, thì cũng vẫn được xã hội kính trọng gọi là thiếu phụ.

Mùa Xuân đương nhiên khác mùa Thu, thiếu phụ khác thiếu nữ nhiều lắm. Phong tục của người Thái cho phép thiếu phụ tự phân biệt để khẳng định mình bằng cách búi tóc cao, gọi là tằng cẩu. Trong tiếng Việt, không cần phải tỉ mỉ đi sâu vào nội hàm chỉ cần nghe phát âm suông chữ “thiếu phụ” thôi đã thấy tự nhiên rưng rưng buồn hơn rất nhiều so với chữ “thiếu nữ”. Thiếu nữ do ngây thơ chưa quen lao động nên được đông đảo người khác yêu mến cho tiền, vì thế thường tung tăng hồn nhiên, nhí nhảnh đôi khi nông nổi làm bậy khiến cho bố mẹ, ông bà hoặc người tình nhăn nhó rức đầu. Thiếu phụ thì ngược hẳn lại, họ đã phải chấp chới loay hoay kiếm kế mưu sinh để nuôi mình, nuôi con, nuôi chồng, thậm chí nếu số đen, phải nuôi cả người tình nên thường man mác mệt mỏi u sầu. Có lẽ bản chất là vậy, nên ở những nơi vui chơi vô tư kiểu như vũ trường hay động lắc, khi xẩy ra chuyện linh tinh tiêu cực, các cơ quan bảo vệ pháp luật rất hiếm khi bắt được những thiếu phụ.

Mùa Thu với mưa phùn thê lương mịn bay mặt hồ, với thân cây gầy guộc lác đác chút lá xanh. Lòng đường như sẫm hơn mái phố như nâu hơn, cái cảnh sắc cô quạnh hiu hắt ấy dễ làm người ta liên tưởng tới một mĩ nhân có lưng lửng tuổi. Không phải ngẫu nhiên mà thi ca viết về mùa Thu ngập đầy các “khuê trung thiếu phụ”. Bài thơ theo trường phái lãng mạn “Tiếng Thu” của cố thi sĩ Lưu Trọng Lư chẳng hạn. “Em không nghe mùa Thu. Dưới trăng mờ thổn thức. Em không nghe rạo rực. Hình ảnh kẻ chinh phu. Trong lòng người cô phụ”. Hai câu kết âu yếm ví thiếu phụ thơ ngây giống như con nai. Đám thiếu nữ nhà báo 8x bây giờ hơi hơi nghi ngờ đố kị có sửa lại thành “Con nai vàng ngơ ngác. Đạp chết bác thợ săn”. Hỡi ôi, không biết mất bao nhiêu mùa lá rụng thì một thiếu nữ lương thiện mới hoang mang trở thành một thiếu phụ đạp giỏi như thế.

Nhân đây cũng xin bàn rộng thêm một tí. Vì trót đã có chồng, phần đông các thiếu phụ đại loại chia thành hai kiểu dạng. Nếu có chồng đi xa, ví như trấn thủ lưu đồn biên viễn, nhưng vẫn có hi vọng được về và thực tế thỉnh thoảng vẫn về thì người đàn bà nhấp nhổm ngong ngóng đứng chờ đấy được gọi là chinh phụ. Kiệt tác văn chương “Chinh phụ ngâm” của ông Đặng Trần Côn (người làng Mọc, huyện Thanh Trì phía Tây thành Thăng Long) được bà Đoàn Thị Điểm (tuy hiệu là Hồng Hà nữ sĩ nhưng chịu làm lẽ ông tiến sĩ Nguyễn Kiều) phiên sang quốc âm xúc động kể về nỗi lòng người vợ chờ chồng đi xa: “Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa. Gái tơ mấy lúc xẩy ra nạ dòng”. Còn nếu cũng có chồng đi xa, nhưng quá xa tới mức sang thế giới bên kia thì thường gọi là sương phụ, quả phụ hoặc nôm na là góa phụ. Chinh phụ và sương phụ tuy xa chồng nhưng khi sống nghiêm cẩn giữ được tiết hạnh thì gọi là tiết phụ. Một vài học giả trẻ lúc bàn về văn hóa ẩm thực có nhầm đấy là tên một loại thức ăn, kiểu như đậu phụ, thật là lỗi lẫn lộn rất lớn. Thuở xa xưa phong kiến, tiết phụ thường là những phụ nữ được vua ban sắc “Tiết hạnh khả phong” cao quý vô chừng. Ở ta thời Nguyễn mạt, tây tàu nhố nhăng, thiếu phụ me tây Tư Hồng cũng được vua ban sắc phong này. Cụ Nguyễn Khuyến có gửi bài thơ mừng, câu kết là “Nghìn năm danh giá của bà to”. Giai thoại kể rằng, tiết phụ Tư Hồng sướng lắm, cứ một dịp Thu về lại đem chữ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ ra khoe. Mãi về sau một kẻ sĩ say rượu thấy buồn cười quá, mới giải thích nghĩa chữ “của” trong tiếng Việt nó là cái giống gì. Bà này vừa ngượng nhưng vừa ngấm ngầm tự hào, đơn giản bà có khoảng vài đời chồng và ba vạn chín nghìn nhân tình.

Giống như hồng phấn và giai nhân, kiếm báu và hiệp sĩ, thiếu phụ và mùa Thu đã đạt tới phẩm cấp đôi lứa tuyệt xứng, trên đời còn gì hợp và lạ lùng quyến rũ đến thế. Một nhà thơ ham làm thể lục bát đã dựa vào ca dao cảm thán: “Còn trời còn nước còn non. Cứ còn thiếu phụ là còn mùa Thu”.


Trần Hà Quyên
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2008, 08:16:43 pm »


XEM BÓI Ở ĐÀN ÔNG

Khoảng mươi năm lại đây, ở bên Tàu cũng như bên ta, vô số các nam đại gia ở đủ mọi nghề, bỗng nhiên bị cơ quan pháp luật chính danh đến bắt. Khi khám nhà riêng hoặc xét nơi công sở, thì ở phí sâu trong riêng tư két sắt người ta hay tìm thấy vàng, đô-la và bao cao su là thỉnh thoảng vài tờ sớ hoặc lá số tử vi. Các đại gia này đều đắm đuối tin vào mệnh số. Ra trước công đường bọn họ đồng thanh thành thật khai, đã kiêng đã cữ đã chăm chú giữ gìn ví như không ăn ba ba rang muối vào ngày sóc, không ăn thịt chó vào ngày vọng. Thậm chí, đã giải đen bỏ hàng chục triệu tìm mua thứ “trinh” thứ thiệt. Vậy mà không hiểu sao, vẫn cứ “đáo tụng đình”.

Hơn hai nghìn năm trước, Khổng phu tử than “đã đắc tội với trời thì cầu cúng mà làm gì”. Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo giã (Luận ngữ-bát dật).

Nghề bói vốn là một nghề thuộc loại lâu đời nhất của lịch sử nhân loại. Quyển sách vĩ đại Kinh Dịch, được trân trọng gọi “quần thủ chi thư” (vua của các sách), có xuất xứ khởi nguyên là một cuốn sách bói. Các vương triều hùng mạnh cả Đông lẫn Tây đều chân thành thích sử dụng bói toán. Việc lớn như khai mở chiến tranh, dời đô lập thành v.v.. Việc nhỏ như lấy vợ cho hoàng tử, gả chồng cho công chúa, không gieo quẻ hoặc cầu đồng là không yên tâm. Ở Hy Lạp cổ đại, người nói lời tiên tri thường là các nữ tư tế trụ trì ở các đền lớn. Ở Trung Quốc cổ đại, nhân vật nắm sự khai thông giữ thần và người, nữ thì gọi là “vu”, nam thì gọi là “nghiễn”. Vu, Nghiễn thường dùng hai loại kỹ thuật đặc biệt để thăm dò ý thần. Đó là “chiêm” (xem điềm đoán tốt xấu) và “bốc” (đốt mu rùa để bói). Đến thời nhà Chu thì chuyên môn hóa hẳn một viên quan phụ trách gọi là “thái bốc”. Trong dân gian địa vị thầy bói cũng cao lắm, không kém gì thầy thuốc. Hai nghề này thường ít người dám theo, bởi đơn giản cổ nhân xác định “Nhân nhi vô hằng bất khả dĩ tác vu y”, nôm na là, làm bói và làm thầy thuốc phải có đức hạnh cực kỳ bền vững. Có lẽ do một nghề thì sờ nắn chỉnh sửa cơ thể người ta. Còn một nghề thì sờ nắn chỉnh sửa tinh thần người ta, nếu không đủ sức, rất dễ mang nhục. Vì thế xã hội có mạt người đời cũng không quá khinh rẻ, cho dù đấy là thầy bói giả hay thầy thuốc giả. Giống như nhà văn giả, bọn họ đều có đôi chút thực tài.

Đàn ông say mê xem bói bởi bản chất vốn trong trắng hay vội vả sốt ruột. Cái vấn nạn mà bọn trẻ con bi bô hát, biết ra sao ngày sau, làm họ day dứt nhức đầu. Thật ra, tương lai cũng chính là hiện tại mà hiện tại lại là đương nhiên quá khứ. Sự đời trôi chảy tự nhiên, thăng hay trầm đều do tâm mình cả. Được làm con rể ông lớn cũng không nên lấy làm mừng. Bố vợ thứ trưởng có đi tù cũng không nên lấy làm lo. Toàn chuyện hai lần hai là bốn. Thầy bói bây giờ ở các đô thị lớn thường phán, ở bên cạnh nhà ông có đứa dở hơi. Hỡi ơi đúng quá. Xã hội chật hẹp chen chúc giành nhau san sát sống, mới cơi nới thêm một tí đã đánh nhau vỡ đầu thì bọn hàng xóm đương nhiên phải dở hơi chứ sáng suốt làm sao được.

Đàn ông bị xem bói đã thê thảm, đàn ông vớ vẩn chủ động đi bói lại càng thê thảm hơn. Đầu tiên đơn giản chỉ là tán gái, sau đó mon men kiếm tiền rồi liều lĩnh kiếm danh. Đạo trời “hốt hề hoảng hề” thâm sâu cao viễn, đâu dễ dàng cho phép phàm tục hiển lộ. Thế mà, cậy chút thông minh đọc dăm quyển sách, bốc đồng lên nói toạc cả huyền cơ. Bởi vậy, Quản Lộ vốn bốc sư đại tài tự biết nghiệp chướng của nghề nên đoán mình yểu thọ. Quách Phác, tổ sư phong thủy, điểm huyệt dò long mạch cho người khác như thần nhưng âm thầm thấy tổn đức tự xác định mình sẽ chết vào thế “phát địa hàm đao”. Do đó, nghề bói ngày xưa miễn cưỡng phải truyền thừa thì cực kỳ cẩn thận lựa người nối nghiệp. Ngày nay, mọi sự bỗng như đùa nên mới có người đem Dịch lý đi gieo quẻ đoán tỷ số bóng đá. Hào 1 là thủ môn, hào 2 là hậu vệ. Ý áo xanh thuộc “mộc” thì hiển nhiên khắc “thổ” sẽ thắng Bra-xin áo vàng. Kết quả lộn ngược thì thanh minh rằng, tại cái tiền đạo Ý ăn mừng bàn thắng đột ngột cởi trần. Da thằng này trắng quá nên thuộc hành Kim, số bỗng đảo lại hại chính đội nhà.

Kết thúc dông dài xin kể một chuyện. Chồng chung thủy có vợ đi công tác xa, lo lắng xã hội bây giờ nhố nhăng dễ làm vợ mình nghiêng ngả. Muốn vậy phải làm sao vợ toàn nóng ruột chỉ nhớ tới chồng. Sửa chữa bữa rượu mời thầy đến tư vấn, thầy bảo tốt nhất đem nội y của vợ mà rang lên. Chồng khấp khởi phê phê mở tủ lấy nhầm quần “sịp” của chính mình cho vào chảo. Kể từ đấy, 24/24 giờ lòng lúc nào cũng như lửa đốt.

Bài học nho nhỏ rút ra, đàn ông xem bói chỉ nên mua quần đùi.

Nguyễn Việt Hà
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2008, 11:14:13 pm »


HÔN NHÂN LÀ GÌ?

Ở nghi lễ văn minh phương Đông, việc một người đàn ông tử tế bỗng lo lắng bối rối rồi chính thức đi cưới hỏi một người đàn bà thì trên chữ nghĩa người ta hay gọi cái sự nghiêm trọng đấy là hôn nhân. Thời tít tắp chân thật của các bộ lạc xa xưa, hôn nhân không quá rườm rà lích kích mang vẻ thùng thình đạo đức giống như thời tối tân gần đây bây giờ. Theo sách “Ngữ lâm thú thoại”, thoạt kỳ thủy, chữ “hôn” trong “kết hôn” của Hán tự được trong sáng viết giống hệt chữ “hôn” trong “hoàng hôn”. Đấy là do con trai hồi ấy khi lấy vợ thì tiệc cưới thường tổ chức vào lúc nhá nhem hoàng hôn chiều muộn. Cùng với lễ nghĩa hình thức lăng nhăng phát triển, để tỏ vẻ phân biệt minh bạch người ta thêm chữ “nữ” vào trước chữ “hôn” nguyên thủy nhằm chỉ việc gia tộc bên nam cưới vợ cho con trai. Tiếp đến thời vị thế đàn bà được nâng hơn một tý (Xuân Thu Chiến Quốc 722 – 221 tr.CN) ngoài chữ “hôn” thì có thêm chữ “thú” (dùng cho nhà giai) và chữ “giá” (dùng cho nhà gái).

Tại sao đàn ông ở thời trong veo ngày xưa nhất thiết lại tổ chức lấy vợ vào lúc hoàng hôn. Cũng sách trên cho rằng, đây là hệ quả của tập tục cướp vợ trong thời kỳ quá độ, xã hội đang chuyển từ chế độ mẫu quyền sang chế độ phụ quyền. Để khẳng định vị thế nghênh ngang của mình, đàn ông hay hung hăng thích đi cướp. Và đã là cướp giật thì ai chả chọn lúc tranh tối tranh sáng. Tuy nhiên khổ một nỗi, giá đấy là vàng là bạc là công danh là sự nghiệp thì còn đỡ, đây hoàn toàn thuần chỉ là đàn bà, cái của ăn cướp được này đích đáng là của bất hạnh. Đàn ông sau khi liều lĩnh khênh cái của nợ ấy về nhà rồi thì hối hận lắm. Ở phương Tây, nơi văn minh đẫm đầy tư tưởng Thiên Chúa giáo còn cực đoan hơn, việc ly hôn tuyệt đối bị cấm. “Sự gì Thiên Chúa kết hợp, con người không được phép phân ly” (Kinh Thánh). Bí tích hôn phối là một trong bảy bi tích thiêng liêng nhất. Trong hôn lễ trang trọng tại nhà thờ, vì sợ chú rể rồi đây tỉnh táo sẽ tháo chạy, người ta thường bắt cả hai bên đương sự đeo nhẫn cưới vào ngón tay áp út, một biểu tượng tế nhị của sự ràng buộc xiềng xích. Theo Tiến sĩ Lê Vương Văn Vệ, Giám đốc trung tâm Nam học và hiếm muộn Hà Nội thì “nhẫn cưới là nguyên nhân gây ra những rối loạn về khả năng tình dục, thậm chí làm đàn ông “bất lực”. Đây là kết luận trong đề tài khao học nghiêm túc của bác sĩ Seigei Gagarin người Belarus”. (Báo điện tử giadinh.netvn ngày 17-5-2008).

Nhiều thành tựu của ngành khảo cổ học cho thấy rằng hôn nhân đã có từ rất lâu, lâu không kém gì nếu so với những tai họa mà nhân loại hay phải gánh chịu kiểu như hỏa hoạn hay tai nạn giao thông, những tai họa không được gọi là thiên tai mà thường là do sự nông nổi chủ quan bất cẩn của con người. Sử liệu thời phong kiến cũng cho thấy lễ nghi cưới hỏi hồi ấy lằng nhằng lắm, đại loại là phải có đủ “tam thư lục lễ”. Tam thư là ba lá thư do nhà trai gửi sang thông báo về việc chuẩn bị sắp xếp hôn lễ. Còn lục lễ thì theo học giả Phan Kế Bính, gồm “Nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kỳ, thân nghênh. Có chữ rằng, lục lễ bất trị trinh nữ bất hành. Nghĩa là sáu lễ không đủ thì người gái trinh không đi. Sáu lễ ấy đái khái phiên nôm sang ta mà thành lễ Dạm, lễ Hỏi, lễ Sêu, lễ Cưới…”. (Việt Nam phong tục – trang 178-NXB Văn Học). Ở thời bây giờ các lễ này được gộp lại và đơn giản hơn.

Hôn nhân vốn là một đại sự, và vì là việc lớn nên đương nhiên trong nó ẩn nấp nhiều gian nan nguy hiểm, rất dể gây cho đám chú rể những tuyệt vọng không đáng có. Tiểu thuyết gia kiếm hiệp Cổ Long cả đời độc thân vài lần suýt lấy vợ có cảm thán: “Hôn nhân giống như nghĩa khí, biết là chuyện không đáng làm nhưng không thể không làm”.

Không phải ngẫu nhiên mà tất cả đàn ông trong ngày cưới đều phảng phất có vẻ của kẻ trượng phu đại hiệp.

Trần Khôi Việt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2008, 06:10:18 pm »


ĐÀN BÀ ĐỌC TAM QUỐC

Đàn bà nói chung là những người ham đọc sách, có người đọc xong thì còn chăm chỉ viết, không phải ngẫu nhiên mà gần đây trên văn đàn của Tây của Tầu của Ta có rất nhiều lừng lẫy nữ sĩ. Thế nhưng theo một khảo sát nông nổi sinh viên, không hiểu sao rất ít, thậm chí tuyệt hiếm đàn bà bỏ công đi đọc trọn bộ “Tam Quốc diễn nghĩa”. Lý thì phức tạp nhưng lẽ thì đơn giản. Với hầu hết nữ độc giả, đã là kiệt tác văn chương thì đương nhiên phải mang đậm đà thiên tính nữ. Thị trường đương đại văn đàn bà ở Trung Quốc, sách best-seller vẫn là “Hễ sướng thì hét lên” của Trì Lợi, hoặc “Xin lỗi em chỉ là con đĩ” của Tào Đình. Ở ta điều này càng hiện rõ. Từ tủn mủn truyện ngắn đoản thi đến rộng dài trường ca tiểu thuyết, luôn luôn có ảnh hình của một người mẹ, một người chị, một người tình gái. Sở dĩ tác phẩm kinh điển “Truyện Kiều” trở thành vĩ đại là một phần nhờ nhân vật chính vốn xuất thân tiểu thư kỹ nữ, nếu chẳng may Kiều mà là hảo hán thì chưa chắc 3.564 câu lục bát ấy đã thành quốc bảo. Truyền thống ưu tú này vẫn được giữ tới ngày hôm nay, giải thưởng cao quý của hội nhà văn thường trao cho những tác phẩm phảng phất nồng nàn dịu dàng âm khí.

Với “Tam Quốc” thì mọi chuyện bỗng dưng ngược hẳn lại. Văn “Tam Quốc” là thứ văn thuần dương hằn đậm kiêu ngạo phóng khoáng nam tính. Suốt từ hồi 1 “Tiệc vườn đào anh hùng kết nghĩa” đến hồi 120 “Bắt Tôn Hạo hợp nhất tam phân”, người ta chỉ thấy toàn đàn ông là đàn ông. Hoặc cao thượng thông minh, hoặc đê tiện ngu xuẩn. Hoặc chí lớn trùm trăng sao, hoặc hèn nhát hơn giun dế. Có lẽ do chiến tranh không mang khuôn mặt của đàn bà nên “Tam Quốc” hầm hập nóng mùi đàn ông. Nó liên miên đau đớn kể về những trận đánh ngùn ngụt binh đao sát khí, ở đấy chỉ có “Hạ Hầu Đôn rút tên nuốt con ngươi. Quan Vân Trường cạo xương chữa thuốc”. Chữ nghĩa rừng rực lạnh lùng thẳng băng như mũi thương đầu giáo. Tuyệt không xếchxi, tuyệt không ướt mi, tuyệt không mếu máo đoan trang thề bồi, tuyệt không dùng dằng hẹn ước bịn rịn. Thảng thốt nếu có phụ nữ thì bét nhất cũng phải tiết phụ khả kính, liệt nữ phi thường. Hoặc đấy là từ mẫu tuẫn tiết để rèn dạy nhân cách con trai, hoặc đấy là hiền thê trẫm mình để trinh bạch thủ nghĩa với chồng. Những thao tác sống mà những quý bà quý cô của thời bây giờ quen chơi cổ phiếu, quen đi xe hơi 3.0, quen tung tăng nghỉ “rì dọt” không sao hiểu và không thể chia sẻ. Đàn bà đương đại chán đọc “Tam Quốc” là vì vậy.

Tuy nhiên, không nên quá cao đạo hóa giới tính ở sự thích và không thích. Một nam đại gia phê bình của văn đàn Tầu là Kim Thánh Thán (ông này bị Thanh Thế Tổ chặt đầu vào năm 1661) cũng chưa bao giờ đánh giá cao tiểu thuyết “Tam Quốc diễn nghĩa”. Khi xếp chỗ cho văn chương, họ Kim có thuật ngữ “lục tài tử thư” (đại loại như kiểu tóp 6) bỏ “Tam Quốc” mà thay vào đấy bằng truyện tình lâm ly “Tây sương ký”. Truyện này hao hao giống như đàn bầu ở ta chỉ có một dây nên mang vẻ thuần âm, tình thì đơn điệu rầu rĩ, tiếng thì day dứt nhu buồn. Có phải do vậy mà các cụ nhà ta đề nghị “Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”.

Văn nghệ ở ta dạo này nhiều đàn bầu quá. Vì thế mà hơn tháng gần đây, để thêm tính cương mãnh, trên một kênh truyền hình thời thượng đã phát lại bộ phim dài tập “Tam Quốc diễn nghĩa”. So với phim nhựa “Xích Bích” của Ngô Vũ Sâm làm nịnh Tây thì phim tivi này cũng chẳng lỗi lạc hơn gì, đa phần chỉ minh họa cho tiểu thuyết. Nhưng với các chị em đang tò mò thèm hiểu biết thì thế là phấn khởi rồi. Đã vậy, sau mỗi tập lại còn có người bình. Một người trẻ xinh giai thì tung, một người già kháu lão thì hứng. Bình ngựa Xích Thố thì khen là chạy nhanh, bình Gia Cát Lượng thì khen là lắm kế. Kỹ thuật tán học theo ca dao “Nửa đêm giờ tí canh ba. Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi”. Tam Quốc diễn nghĩa vốn là kỳ thư, mỗi hồi mỗi điển của nó là chắt lọc không biết bao nhiêu thăng hoa trải nghiệm của vất vả sống, nhiều kẻ sĩ đã nương vào nó mà thoát khỏi tuyệt lộ của dung tục. Phi là kỳ nhân, người tử tế bình thường đọc nó xong là ngậm khẩu. Có phải thế chăng mà gian hùng Tào Tháo, lúc được các mưu sĩ vớ vẩn tán tụng, thường hay hô hố cười “Đúng là thứ kiến thức đàn bà”. Tào A Man ngược ngạo khinh rẻ phụ nữ như vậy nên khi xem phim xong, các quý bà, quý cô đang phấn đấu khoe khôn mong thành doanh nhân đều cáu kỉnh bực mình căm ghét.

Cổ nhân bảo “Có trí hơn chim thì bắt được chim. Có trí hơn người thì bắt được người”. Đức Chúa Giê-su tuy ở gần biển nhưng không đánh lưới bắt cá mà đan lưới “bắt” người. Nhà văn La Quán Trung cũng làm một chuyện hao hao như thế. Vài trăm năm lại đây, vô số độc giả đã rơi vào lưới “Tam Quốc”, duy chỉ đám chị em hầu hết là thoát.

Điều này lý giải cho việc, tại sao đàn bà thường vô minh và văn minh hơn đàn ông.


Trần Khôi Việt
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2008, 05:54:20 pm »

THỜI GIAN Ở PHỤ NỮ

Với hầu hết phụ nữ, thời gian là một khái niệm luôn ám ảnh và quấy rầy. Nó quan trọng không kém gì mĩ phẩm và thời trang, thậm chí ở mức độ nào đấy nó còn hơn cả chuyện ái tình. Thiếu phụ Nam Xương chờ chồng, nàng Tô Thị vọng phu, cái thời gian ướt đẫm mang khuôn mặt thủy chung đàn bà này chỉ có thể đo được bằng nước mắt.

Khi yêu, phụ nữ thường mong mỏi là yêu được thật lâu và nhỡ có bất hạnh đau đớn, tan vỡ thì họ sẽ day dứt lạc quan an ủi “Rồi thời gian sẽ là liều thuốc tuyệt vời để chữa”. Cố nhiên, do cấu trúc cơ địa, họ trịnh thượng không thèm để ý cho lắm đến một số đặc tính siêu hình mang vẻ triết học của thời gian. Ví như nó có mấy chiều hoặc nó khởi nguồn từ đâu. Bể dâu biến đổi thương hải tang điền, liệu hệ số giãn nở của nó có tung tăng giống như sự lên xuống của giá vàng hay sự thăng trầm của giá đô. Có lẽ vì thế, nên lúc miễn cưỡng phải giải thích những thuật ngữ rắc rối cao siêu của khái niệm “thời gian tương đối”, vật lí gia lỗi lạc vừa có vợ vừa có người tình Anh-xtanh đã dịu dàng đem phụ nữ ra minh họa. Ông nói rằng, cái thời gian mà đang được ôm rồi được hôn một hoa hậu một siêu mẫu một nữ minh tinh nổi tiếng, luôn là ngắn hơn cái thời gian  phải nhọc nhằn rồi lảm nhảm ngồi viết một bài báo để kiếm tiền. Anh-xtanh đã dùng toán học chứng minh, đây không hề là hệ lụy của một thứ thuần túy cảm giác tâm lí mà là một hiện tượng vật lí rất thật. Trong một khoảng không gian đặc biệt nào đó thì thời gian luôn có một độ giãn nở tương ứng. Luận cứ này hình như bị nhiều phụ nữ ở phương Đông cho là nghiêm trọng hóa vớ vẩn. Với họ, việc một chàng trai háu gái si tình kiểu như Kim Trọng thì thời gian ngong ngóng tăm tia mĩ nhân của anh ta có bị nén “ba thu dồn lại một ngày dài ghê” cũng là lẽ đương nhiên. Nó từa tựa như bây giờ các bà, các chị đi gửi tiền tiết kiệm ngắn hạn có lãi suất cao. Vẫn cái tuần ấy, tháng ấy, vậy mà ngày đáo hạn bỗng nở ra thăm thẳm dài.

Cũng bởi bản chất vị tha tần tảo yêu lao động, đa phần phụ nữ khi miệt mài cống hiến tuổi thanh xuân cho gia đình, cho xã hội, họ thường không kịp nhớ đến những bước đi của thời gian. Trừ vài quý cô quá đảnh đót đanh đá hoặc quá kém may mắn bị thời gian cho việt vị như ca dao tường thuật “Đi đâu mà chẳng lấy chồng. Người ta lấy hết chổng mông mà gào” thì tất thảy phụ nữ đều tuần tự nhi tiến từ ngây thơ người tình, lên đảm đang người vợ, rồi thành thiêng liêng người mẹ. Trong dòng chảy bận rộn mải miết của đời sống, họ bỗng đột ngột bàng hoàng khi một gã đàn ông ngốc nghếch, nông nổi hỏi năm sinh của họ. Choáng váng nình lại bờ vai, nhìn lại cần cổ, họ không thể nào tin nổi màu thời gian đã vô tình quệt lên vài nét nghệch ngoạc nhăn nheo rêu phong. Nhất là ở cái thời bây giờ, nhan nhản nhiều các thẩm mĩ viện, các shop thời trang thì vô số thiếu phụ vẫn luôn loay hoay nghĩ, hình như mình đang còn hoang mang thiếu nữ. Họ nhí nhảnh mặc áo rộng ngực, bối rối cắn móng tay, rồi tự tin phong phanh đứng trước chồng hoặc người tình. Tuy nhiên, chính sử bên Tàu nghiêm túc có chép, mấy phụ nữ càng có tuổi lại càng đẹp. Ví như nàng Hạ Cơ ở nước Trần thời Xuân Thu chẳng hạn, Võ Tắc Thiên hoàng hậu rồi thành hoàng đế đời Đường (684-705) chẳng hạn. Họ ở tuổi lục thập mà vẫn “không khác đóa hoa lê ở dưới bóng trăng, chùm mai nhị ở trong đám tuyết, quyến rũ không biết nhường nào”. Tất nhiên, với dung nhan ma mị bất chấp thời gian theo kiểu yêu khí này, cả hai người đàn bà đấy đã đẩy vương triều thời họ vào thế tiêu vong tuyệt lộ.

Đại văn hào người Nga Đốt-xtôi-ép-xki đã hơn một lần nồng nhiệt ngợi ca nhan sắc của một thiếu phụ “Tuy đã bốn mươi ba tuổi nhưng bà vẫn giữ được những nét kiều diễm của ngày xưa, bà trẻ hơn tuổi rất nhiều. Những người đàn bà đã già mà vẫn giữ mãi được sự trong sáng của tâm hồn, những tình cảm tươi mát, tấm nhiệt tình chân thật và thanh cao thường hay có vẻ đẹp đó. Và nhờ giữ được tất cả những đức tính này, họ không bao giờ bị mất vẻ đẹp ngay cả khi đã nhiều tuổi” (Tội ác và hình phạt – NXB Văn học – trang 253)

Đốt là một nhà văn vĩ đại, ông đã sáng tạo nên những chân dung phụ nữ tuyệt vời đoan trang kiêu hãnh và đằm thắm. Văn của ông chân xác và thẳm sâu tinh tế, các bà các cô trên toàn thế giới đều kính trọng và tin tưởng ở nơi ông. Vì thế, những phụ nữ muốn đương đầu rồi khuất phục thời gian thường kiên nhẫn gìn giữ sự trong sáng sự tươi mát sự chân thật và  thanh cao.

Trần Hà Quyên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2008, 11:55:12 pm »


KHI ĐÀN ÔNG CÓ TUỔI

Đức Phật lúc chưa ngộ đạo, tuy tuổi đang còn trẻ nhưng đã hơn một lần hoang mang siêu việt nhận thấy “già” là một trong bốn nỗi khổ rất lớn, Sinh Lão Bệnh Tử. Mặc dầu sau đó chính Đức Phật đã thậm hậu giảng thuyết theo hướng chân thực giải thoát, nhưng đa phần tục nhân vẫn nông nổi vật chất hiểu khái niệm “lão” như một mặc cảm có phần buồn bã. Nói chung, tới một ngày nào đó, bỗng tự nhận ra rằng mình đã có tuổi thì hầu hết cảm khái thở dài. Thi hào đời Đường, Lưu Vũ Tích có bài thơ kiệt tác. Kim nhật hoa tiền ẩm. Cam tâm túy sổ bôi. Đãn sầu hoa hữu ngữ. Bất vị lão nhân khai. Dịch giả Tương Như phiên thành lục bát. Hôm nay uống rượu bên hoa. Cạn dăm ba chén gọi là mua vui. Chỉ e hoa nói nên lời. Em không chịu nở cho người già nua.

Thật ra, khác với những phụ nữ, thỉnh thoảng ở đàn ông lại có nhiều người muốn già. Lí do cũng không đến nỗi quá bí hiểm phức tạp. Nhà văn Nguyên Hồng lúc đang viết sung sức được nhiều bạn văn và độc giả trân trọng mến bởi cái sở thích hồn nhiên ham uống rượu. Do vài ba nguyên cớ có vẻ “lăng nhăng”, đại loại to thì như cuộc đời xô đẩy, bé thì như lương thiện mưu sinh nên mới ngoài bốn mươi ông Nguyên Hồng đã đem cả gia đình về chỗ cũ Nhã Nam vất vả ở. Nhã Nam là vùng trung du, đất và đá hình như đều cằn làm cho rượu ở đấy hiếm khi ngon. Vì thế, nhà văn trong lúc tiện thể đi công tác ngược xuôi thì có lọ mọ tìm kiếm cầm theo một ít hảo tửu. Vào hồi ấy, nước ta còn nghèo và đang đói, nên Chính phủ có quy định cấm những loại rượu nấu từ gạo, đại khái gọi chung là “rượu lậu”. Để tránh những phiền toái không đáng, nhà văn đành phải để râu mà già. Phòng thuế công an chấp gì cái ông lão nhà quê đem theo bong bóng rượu, hoặc là thỉnh thoảng để ngắm hoặc là thỉnh thoảng để uống. Cát bụi chân ai của ông Tô Hoài có đoạn “Cán bộ thuế khám, Nguyên Hồng hạ chiếc bị trên vai áo nâu bạc xuống, một tay khoành lại đấm lưng, một tay lôi hũ rượu. “Đau lưng, đau lưng, phải có thang thuốc ngâm gia truyền này mới được. Anh thông cảm”. Không biết trên bộ râu ngụy trang, hai con mắt nhanh như chớp”. Nguyên Hồng nổi tiếng bần bạch, và tất nhiên khi ông chơi râu để chứng tỏ già thì không hẳn là chuyện rượu, đại loại ông còn muốn khỏa lấp phủ che vài nỗi rưng rức đau lòng khác, nó hoàn toàn khác xa cái ông cụ cố trong hoạt kê tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng. “Chí bình sinh của cụ chỉ là muốn được làm một cụ Cố. Cho nên chưa năm mươi tuổi, cụ đã làm ra vẻ già cả sắp chết: ra phố cụ phải mặc áo bông, chưa đến mùa rét cụ đã khoác cái áo ba đờ xuy dày xù; trước khi trả tiền phu xe, cụ phải ôm ngực ho rũ rượi hàng năm phút và đếm nhầm một xu để phu xe tưởng cụ đã lẫn lộn. Nằm dài bên khay thuốc phiện, nghe ai nói chuyện, cụ cũng nhắm nghiền mắt lại, nhăn mặt khẽ gắt “Biết rồi, biết rồi, khổ lắm, nói mãi” mặc dầu cụ chưa hiểu đầu đuôi ra làm sao, mặc dầu cụ vẫn vui lòng lắng tai nghe”. Cài cụ cố này khát khao được già vì nghĩ rằng thế là “oách”. Trọng xỉ, kính lão đương nhiên là truyền thống phải giữ, bởi tuổi già luôn là sự thăng hoa của kiến thức, của kinh nghiệm. Nhưng nói như Khổng Tử, cái gì “quá” cũng dễ  dẫn đến “tệ”. Ở thời quân chủ xa xưa thói quen “trọng nam khinh nữ” thì có nhiều “cụ cố” được lùng tùng tôn kính. “Nếu chỉ tính râu dài thì những con dê xồm xứng đáng là học giả”. Một triết gia Hy Lạp cổ đã cay đắng thốt.

Đàn ông trẻ của ngày hôm nay, ở bất cứ đâu, ở bất cứ chỗ nào cũng luôn chân thành sùng kính tôn trọng những đàn ông già, những người đã đúng là cha là anh của họ vì thế, họ sẽ vô cùng đau đớn khi có vài đàn ông có tuổi quá lo “Hoa không chịu nở cho người già nua” mà bỉ ổi đê tiện bỏ tiền đi bứt hoa. Một khuôn viên sẽ là tuyệt vời đẹp khi bên những luống hoa mơn mởn là những cây đại thụ trang nghiêm nhân hậu rủ bóng.


Trần Hà Quyên
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 01 Tháng Giêng, 2009, 12:30:23 am »


THIẾU NỮ ĐÁNH CỜ

Có một cuốn tiểu thuyết Tầu đang rất thời thượng ở Pháp, từng đoạt giải Goncourt dành cho giới trẻ năm 2001, tên chính xác là “Thiếu nữ đánh cờ vây” (bản Việt ngữ của NXB Văn học). Tac sgiar là Sơn Táp, một thiếu nữ sinh năm 1972 tại Bắc Kinh.

Không hiểu sao từ xưa tới nay, phụ nữ đã mê chơi cờ thì hầu hết tuổi đời đều rất trẻ. Có lẽ do niềm say mê kỳ lạ đó chỉ có thể nuôi dưỡng bằng sự ngây thơ lầm lạc mang nữ tính trong trắng. Khi đã lớn và đã già, phụ nữ bỗng đau đáu quay sang quan tâm vài thứ thiêng liêng khác, ví như vàng bốn số chín hay sổ đỏ nhà đất chẳng hạn. Cuốn sách của Sơn Táp có bối cảnh Không – Thời gian cũ kỹ ở vùng Mãn Châu, tình tiết quanh co dữ dội lằng nhằng, đại loại kể về một cô bé quý tộc sa sút mười sáu tuổi vừa chơi cờ (cờ vây hay còn gọi vi kỳ, rất thịnh hành tại Nhật Bản và Trung Quốc) vừa hoang mang yêu rồi bi thảm trưởng thành làm đàn bà. Đối thủ của cô bé là một sỹ quan tình báo Nhật  Hoàng, bản tính sâu sắc rắn lạnh. Qua liên tiếp nhiều ván cờ, cả hai vô thức chập chờn yêu nhau. (Một điều rất khó xẩy ra nếu đôi này chung vốn đầu tư chơi cổ phiếu chứng khoán). Bọn họ đồng một quan niệm “Tôi mê cờ vì các mê lộ của nó. Mỗi nước cờ là một bước dấn sâu vào lối xuống của tâm hồn, vô cùng khó lường trước. Giống như biến động của cuồn cuộn tầng mây, mỗi thế cờ là một sự phản bội”. (sách đã dẫn). Quan niệm này kể ra cũng khá tiêu cực, nhưng biết sao được, lúc ấy cô bé đang bải hoải rơi vào tuyệt lộ. Còn nếu cứ nhí nhảnh vô tư như đám 8X, 9X bây giờ thì chẳng có ma nào lại đi tìm đến cờ cả. Hoặc sẽ ngây ngô ngồi nhà xem truyền hình “Cô gái xấu xí” rồi “Bỗng dưng muốn khóc”, hoặc sẽ tưng tưng đi vào vũ trường mà lúc lắc vật vã.

Do vài thói quen văn hóa, các thiếu nữ ở ta không có nhiều người ham mê chơi cờ. Nhưng cũng giống như việc uống rượu, người nào đã ham thì thăng hoa thành luôn cao thủ. Hồi Hà Nội bao cấp, ở đầu phố Phùng Hưng rẽ sang Hàng Bông có một nữ kỳ thủ độc thân mắt xếch chừng 27-28 tuổi tên Loan, xuất thân phe tem phiếu ở chợ Hàng Da, lừng danh vỉa hè với chiêu khai cuộc Pháo đầu Mã đội. Đây là một thế cờ thiên về công, rất hợp với đàn bà vừa lắm mồm vừa hấp tấp. Và không may gặp phải đối thủ điềm đạm chơi Bình phong Mã, thì khi lui về thường vỡ trận. Cờ độ rong dạo khó khăn ấy giải không quá to, quy ra thóc ước khoảng chục bát phở bò, nhưng liên miên thua thì cũng đại thảm họa. Loan cô nương chơi ăn gian cực kỳ, nạn nhân đa phần là mấy gà trung niên ngoại tỉnh ngồi chờ tầu điện. Dưới mạn dốc Thọ Lão gần cửa hàng bán dầu hỏa cũng có một tay cờ nữ trẻ chơi Pháo tuần hà hay lắm, đàn ông thua cả mớ. Tất nhiên, cũng khét tiếng giang hồ là tay tháu cáy. Nói như vậy không có nghĩa, cứ thiếu nữ chơi cờ đều tủn mủn ăn gian, ở  lịch sử cờ tướng Việt có không ít nữ danh kỳ trẻ lẫy lừng minh bạch. Đặc cấp quốc tế Đại sư Lê Thị Hương ở thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn. Lúc chưa lập gia đình, Hương trấn kỳ đàn quốc gia hơn chục năm ròng. Đám kỹ thủ đàn ông sợ xanh mặt, tâm phục khẩu phục tôn xưng cô là Diệt Tuyệt sư thái. Ngoài Lê Thị Hương, làng cờ nữ Việt còn hai Quốc tế Đại sư đáng kể, Ngô Lan Hương sinh 1979 và Hoàng Hải Bình sinh 1977.

Cờ tướng đang thịnh hành ở ta có xuất sứ bên Tầu với tên gốc là Tượng kỳ. Lịch sử hình thành rồi hoàn thiện nó đẫm đấy không biết bao nhiêu công sức tâm huyết của kỳ sư và kỳ thủ. Bọn họ hầu hết là cao nhân dị sĩ, khi gặp phải hiểm trá của công danh, bạc bẽo của lợi lộc thì chán ngán thế sự quay về ngồi nhà qua cờ mà cao ngạo nhìn đời. Vì ở cờ cũng có giả dối loanh quanh Tướng, cũng có gian giảo lầm lũi Sĩ. Hoặc xông xáo nghênh ngang như Xe, hoặc lắt léo tiến thoái như Mã. Cái đắc thời của Tốt qua sông vừa tiểu nhân tiểu khí lại vừa cần mẫn chăm chỉ. Cái bơ vơ của Pháo không ngòi sao mà giống sự bi tráng của anh hùng mạt lộ. Không phải ngẫu nhiên cờ được xếp vào tứ đại cao nhã “Cầm Kỳ Thi Họa”, bởi qua nó con người ta phát tiết được tận cùng những niềm vui những nỗi buồn. Các thiếu nữ thế gia vọng tộc, sau khi đã giỏi đàn giỏi thơ giỏi họa, bắt buộc phải thật giỏi cờ. Người xưa cho rằng, chơi cờ sẽ khử bớt được hấp tấp ham hố kiểu đàn bà, các thiếu nữ cao cờ sẽ không sốt ruột mà nhẫn nhịn yên tâm ngồi chờ ngày cưới.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, hồi chưa đi làm lẽ tương truyền là tay cao cờ cực kỳ. Thơ bà phồn thực nhan nhản những là Tướng Sĩ Tượng. Bài “Đánh cờ người” của bà  xếch xi đến mức các văn bản chính danh đều lưỡng lự đạo đức để ở phần tồn nghi. “Mới vào đầu chàng liền nhẩy ngựa. Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên…”. Thực ra trò đánh cờ người rất được chuộng ở các lễ hội làng quê Bắc bộ. Nhiều nơi, quân cờ là những thiếu nữ ngăm ngăm xinh đẹp tuyệt vời. Cờ bàn xem đã thú, cờ người xem thú vị gấp trăm lần. Hiềm một nỗi, trò này cần một bãi đất rộng có “viu” đẹp. Vài năm gần đây, những bãi đất xôi mật kiểu đấy đã bị chuyển thành sân gôn thành chung cư cao cấp.

Trò đánh cờ người có nguy cơ tuyệt tích, hình như chỉ có phảng phất đâu đấy trong ký ức của vài thiếu nữ muộn chồng.

Trần Khôi Việt
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2009, 11:21:25 am »


THĂNG TRẦM PHONG THỦY

Trong vô số tinh hoa có phảng phất mơ hồ do những lớp người đi trước văn minh để lại, thì thuật phong thủy đáng kể là thứ cực kỳ vất vả thăng trầm. “Từ Nguyên” viết phong thủy là cách xem địa thế phương hướng đất nhà ở hoặc đất phần mộ. Người ta căn cứ vào đó để luận lành dữ tốt xấu về nhân sự. Xưa cũng như nay, nhân sự quan trọng vào bậc nhất vẫn là danh vọng, là tiền tài. Phong thủy được nhiều người khát khao tin bởi nó là cái thuật tương đối chú trọng vào việc dò tìm ra cách phát phú phát quý, ngõ hầu nhanh chóng biến một người bình thường trở thành vinh hoa khác thường. Tất nhiên, ở những thời loạn lạc lung linh sinh tử, phong thủy cũng bi đát bế tác lắm. Các “kham dư gia” (một cách gọi khác cho các nhà phong thủy học) lang thang nhớn nhác đi lại đầy đường, gần giống các nam nữ diễn viên đi dự liên hoan phim chưa được ban tổ chức kịp thời bố trí khách sạn. Ở vào cái thời mạt của bần hàn ấy, mạng người là nhất. Cơm chỉ mong đủ no, áo chỉ mong đủ mặc. Binh lửa thiêu đốt khắp nơi, nhà cửa hoang tán phiêu dạt, dương trạch lồ lộ còn không người sở hữu nói gì đến âm phần ở sâu ba thước đất. Thế rồi hết động thì đến tĩnh, con người dịu dàng trở lại bình hòa an cư, mà an cư vững chắc nhất không gì bằng được một cái nhà. Gia đình bé thì căn phòng, công ty lớn thì trụ sở. Chung cư cao cấp mọc lên như nấm, vừa lừa vừa bán chưa kịp sây đã hết chỗ đặt mua. Giá đất mặt tiền đường Đồng Khởi một mét vọt lên xấp xỉ gần trăm triệu. Người sống đã mê man sướng rồi thì người chết hiển nhiên cũng phải khang trang. Dân tình nhiều vùng cằn cỗi bão lụt, vẫn hoàng tráng xây cả một thành phố nghĩa địa. Cũng trệt cũng lầu, cũng tả Thanh Long ốp đá xanh cũng hữu Bạch Hổ gắn cẩm thạch trắng. Trên cái nền rừng rực của danh vọng tiền tài ấy, đương nhiên phong thủy vùn vụt lên ngôi.

Thực ra công năng của phong thủy là khá rộng, tuy nó không đi dò tìm long mạch của tình yêu, tình bạn, nhưng nó đâu chỉ bó hẹp trong danh lợi của dăm ba đời người. Hơn hết, nó thăng hoa bao quát cả một đạo lý. “Thuyết văn giải tự” nói “Kham là thiên đạo. Dư là địa đạo”. Thể của nó là khí. Dụng của nó là nước là gió. Kể cả ở hai cảnh giới âm dương, bất cứ một sinh thể trong trắng lành mạnh nào muốn tồn tại bắt buộc phải thanh thoát tụ khí. Mà muốn đắc khí (có thể hiểu là Đạo) thì không gì bằng điều hòa cho được phong hoặc thủy. Con người ta sống bám nhờ tự nhiên, hoặc nương thế đất hoặc theo hình trời. Sâu xa, phong thủy không phải là chuyện vớ vẩn huyền hoặc.

Phong thủy hoàn toàn không phải là đặc sản chuyên biệt của Tầu, Tây cũng có mà ta cũng có. Kim tự tháp Ai Cập trục chính luôn chạy đúng theo hướng Nam Bắc. Các linh trụ chấn yểm Obelisk từ lâu đã xuất hiện trên vùng đất người Maya cổ đại. Trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ, Lầu Năm góc khét tiếng là đồ hình bắt quái đổ lật ngửa. Tuy xuất xứ từ Trung Quốc, nhưng phong thủy học vào ta đã được Việt hóa một cách thượng thặng tinh tế. Đời nhà Lê, ông Nguyễn Đức Huyên người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân (Nghệ Tĩnh) lừng danh là thầy địa lý cực giỏi. Chứng kiến ông chọn đất điểm huyệt, nhiều thầy Tàu lăn ra mà tâm phục khẩu phục. Tương truyền, sách ông Tả Ao viết hay không kém gì kinh “Thanh Nang” đời Tần, bộ “Bình xa ngọc xích” đời Hán, nó chỉ hơi thiếu uyên bác kỹ lưỡng nếu so với kiệt tác “Táng Kinh” của đại tông sư Quách Phác nhà Tấn mà thôi. Và cũng giống như đa phần các thiêng liêng kinh điển, sách của ông Tả Ao đã thất truyền. Là cát bụi lại trở về cát bụi. Ngày nay, đám lăng nhăng hậu sinh hành nghề địa lý, đi đến đâu kiếm ăn cũng lấp lửng khoe là trong tráp có giấu giếm sách này, cốt huyênh hoang dụ xôi dụ thịt. Ca dao Việt bật cười: “Hòn đất mà biết nói năng. Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn”.

Bây giờ thái bình thịnh trị, xã hội nhan nhản người tài, nhỡ có vào hiệu sách lớn nào là mênh mông thấy lòe loẹt sách phong thủy xanh đỏ. Chưa ra đến cửa, đã rầm rập gặp “phong thủy gia”, com lê com táo cao đạo, ca táp lích kích những là thước Lỗ Ban rồi tróc long, rồi la bàn. Nhà chung cư xây đã có khuôn, ban công ngó thẳng vào ô vang hàng xóm cũng bày đặt chuyện Minh Đường tụ thủy. Hỡi ơi, lăng Ly Sơn của Tần Thủy Hoàng quy mô to lớn phương vị tuyệt đúng. Tiền Chu Tước có dòng sông Vị cuồn cuộn chảy, hậu Huyền Vũ có núi xanh mướt nghìn trượng cao. Mỗi ngách mỗi cửa có bạt ngàn bùa chú trấn yểm. Thế nhưng nó được xây trên xương máu của bảy mươi vạn dân công binh lính nên cái giấc mộng vạn thế đế vương chưa đầy hai đời đã tuyệt hậu.

Ông Trương Tử Phòng, ngoài chuyện là một chính trị gia lỗi lạc, còn là một nhà phong thủy cao tay ấn đã từng khuyên Tiên tích đức, hậu tầm long (Chứa đức trước đã rồi sau hãy tìm đất). Lời khuyên đơn giản này bị các doanh nhân đang trúng cổ phiếu lùng sục đi mua biệt thự hoặc các quan chức thăng tiến đang hồ hởi xây sửa lại mộ ông bà coi là lời vớ vẩn lạc hậu bàn lùi.


Nguyễn Việt Hà
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM