Ngoài ra, trong các cuộc xung đột vũ trang, các xe tăng cũng bị chiếm như chiến lợi phẩm và nhiều lúc, với số lượng đáng kể.
Trong thời gian khác nhau, T-54/55 đã xuất hiện, đã hoặc đang có mặt trong quân đội các nước: Albania (15 T-54 và 19 “59” – năm 1995”), Algeri, Angola (66T-54B – 1995), Afganistan, Banglades (T-54/55, “59), Bulgaria (T-54, 1145 T-55 – 1991), Bosnia – Hersevovina (T-55), Hungary (T-54, 1139 T-55 – 1991), Việt Nam, Ginea (8 T-54 – 1992), Cộng hòa dân chủ Đức (T-54, 1725 T-55 – 1991), Ai Cập, Zaire (16 “59” – 1995), Zambia (16 “59” – 1995), Israel (chiến lợi phẩm từ Ai Cập), Ấn Độ (500 T-55), Iraq, Iran, Yemen, Campuchia, Trung Quốc (các biến thể “59”, “69”), Congo (T-54), Cuba, Liban, Libia (100T-54 – 1975, T-55), Mavritania (T-54), Myamar (100 “69-II” – 1995), Mozambic, Mông Cổ, Pakistan (1200 “59”, 250 “69-II”, 51 T-55 – 1995), Peru (khoảng 300 T-54/55), Ba Lan, Bắc Triều Tiên, Siry, Somali, Sudan (70 T-54 – 1979), Thái Lan (24 “59” và 110 “69” – 1995), Rumania (T-54, 1786 T-55 bao gồm các phiên bản của Rumani TR-85 và TR-580 – 1991), Tanzania (26 “59” – 1995), Togo, Uganda, Phần Lan (12 T-54 – 1959, 70 T-55 – 1995), Croatia, Cộng hòa Trung Phi, Tiệp Khắc (T-54, 1927 T-55 – 1991), Etiopia, Nam Tư T-54B, T-55AM).
Giai đoạn chủ yếu nhất trong quá trình tham chiến của T-54/55 là ở Trung Đông. Ở đây, trong hơn 30 năm có mặt trong lực lượng tăng chủ lực của các nước Ả rập, chúng đã tham gia vào toàn bộ các cuộc xung đột vũ trang. Ngoài ra, thường đồng thời trong cả hai bên. Trong biên chế quân đội Ai Cập, T-54 bắt đầu gia nhập năm 1953. Tháng 9 năm 1953, Tổng thống Ai Cập Naser đã ký thỏa thuận mua vũ khí từ Tiệp Khắc. Phía sau Tiệp Khắc, rõ ràng là Liên Xô, nước trong nhiều năm là nguồn cung cấp vũ khí chính cho Ai Cập. Theo thỏa thuận năm 1953, Tiệp Khắc sẽ bán khoảng 230 xe tăng, chủ yếu là T-34-85. Ai Cập cũng nhận được số lượng không lớn T-54A, IS-3 và 100 pháo tự hành Su-100.
Không có thông tin về sự tham chiến của các xe tăng T-54 Ai Cập trong thời gian khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956. Trong trường hợp này, mọi thống kê T-54 bị bắn cháy đều không có ý nghĩa. Theo tài liệu của Israel, trong thời gian chiến dịch “Kadesh” (kế hoạch chiến tranh của Israel), quân đội nước này đã bắn cháy 27 T-34-85, 52 “Sherman”, 15 “Valentine”, 40 pháo tự hành “Archer” và 6 Su-100.
Sau khi ký kết ngừng bắn, Ai Cập và Siry tiếp tục tăng cường sức mạnh chiến đấu bằng việc mua vũ khí từ Liên Xô và Tiệp Khắc. Vào năm 1956, Ai Cập đã nhận được 120 xe tăng T-34-85 từ Séc, cho phép họ trang bị lại vào cuối năm (thực tế là thành lập mới) sư đoàn xe tăng số 4 – đã đánh tan trong các trận chiến ở Sinai. Việc cung cấp T-34 được tiếp tục trong những năm 1962-1963. Trong giai đoạn này, Ai Cập đã nhận được 130 T-54A. Trong những năm 1965-1967, đã có khối lượng lớn 150 T-34-85 và T-55, 25 IS-3 và 150 PT-76 được mua. Siry đến năm 1967 đã nhận từ Liên Xô khoảng 750 xe tăng T-34-85 và T-54A. Các xe tăng T-54 được trang bị hoàn toàn cho các lữ đoàn tăng số 14 và 44.
Năm 1967, quân đội phòng vệ Israel cũng như các nước đối phương, về cơ bản, đã hoàn thành việc tái vũ trang và tích cực chuẩn bị chiến tranh. Lực lượng xung kích chính của các lữ đoàn thiết giáp Israel là 385 Centurion (với pháo 105mm) và 250 M48 (chủ yếu là pháo 90mm). Israel chuẩn bị các cuộc tấn công mạnh, mang tính chất phủ đầu (превентивный – đề phòng, phòng ngừa) vào phía Ả rập nhằm giải quyết toàn bộ các vấn đề tranh chấp. Đối thủ chính của Israel là Ai Cập – trên bán đáo Sinai, Naser tập trung 5 sư đoàn tăng (935 xe tăng và pháo tự hành) cùng 2 sư đoàn bộ binh. “Chiến tranh sáu ngày” đã bắt đầu từ mùng 5 tháng 6 bằng loạt không kích của không quân Israel vào các sân bay Ả rập. Các trận không kích diễn ra thành công và chiếm ưu thế tuyệt đối trên không trong vài chục phút. Ngay loạt trận không kích là các cụm thiết giáp với lực lượng chính là các đơn vị xe tăng Centurion tham chiến. Sáng mùng 6 tháng 6, chúng đã tiến vào sâu 25 kilomet trong lãnh thổ Ai Cập và đấu súng với sư đoàn xe tăng Ai Cập số 2. Trong ngày này, Tư lệnh quân đội Ai Cập – tướng Amer đã ra lệnh rút khỏi bán đảo Sinai và rất nhanh chóng, nó trở thành cuộc tháo chạy. Mùng 8 tháng 6, lực lượng thiết giáp Israel đã tới kênh đào Sue. Như quân đội Israel dự kiến, cuộc chiến đã được giải quyết trong 2 ngày đầu tiên. Với quân đội Ai Cập ở Sinai, tất cả đã kết thúc. Trận “blitzkrieg” Sinai, quân đội Israel tổn thất lớn với 122 xe tăng. Tuy nhiên, nó không đáng kể khi so sánh với tổn thật của Ai Cập: 820 trong tổng số 935 xe tăng và pháo tự hành bị phá hủy và trở thành chiến lợi phẩm: 291 T-54A, 82 T-55, 251 T-34-85, 72 IS-2M, khoảng 50 Sherman, 29 PT-76 và 51 pháo tự hành Su-100.
Hướng mặt trận Siry, các cuộc đụng độ chỉ bắt đầu vào mùng 9 tháng 6. Israel tiến hành cuộc tấn công với lực lượng 6 lữ đoàn xe tăng trang bị Centurion. Chống lại các đơn vị này là 2 lữ đoàn xe tăng số 14 và 44, trang bị T-54. Vào cuối ngày, trận địa phòng ngự của Siry bị chọc thủng. Tuy nhiên, cũng trong ngày này, đã có quyết định của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về chấm dứt chiến tranh. Mặt trận Siry là nơi duy nhất là tỷ lệ tổn thất về xe tăng thuộc về Israel: quân đội Siry mất khoảng 80 xe tăng (73 T-54 và T-34-85, 7 Su-100, một số PzKrfw IV và Sutug III), trong khi Israel tổn thất 160 xe tăng.
Cuộc chiến tranh sáu ngày chỉ làm leo thang căng thẳng ở Trung Đông. Israel đã tiếp tục phát triển quân đội khi tập trung trước hết vào việc tăng cường lực lượng thiết giáp. Trong biên chế của họ lúc nào, đã có thêm vài trăm xe tăng T-54/55 chiếm từ phe Ả rập. Trên các xe tăng này đã lắp pháo L7 do Mỹ sản xuất, súng máy bay; trên một số xe tăng cũng thay động cơ diesel bằng động cơ Mỹ. Các xe tăng T-54 nâng cấp trong quân đội Israel gọi là “Tiran”. Các xe tăng lội nước PT-76 được tiếp nhận vào trang bị với việc thay súng máy và khí tài vô tuyến. Tổng cộng, trong trang bị lục quân Israel có 1500 xe tăng do Mỹ, Anh và Pháp sản xuất (M60, M48, Centurion”, AMX-13), cũng như khoảng 200 chiến lợi phẩm T-54/55 và PT-76 do Liên Xô sản xuất.

T-55 chiến lợi phẩm được Israel lắp pháo L7 105mm thay pháo 100mm
Việc tái vũ trang, đúng hơn, là khôi phục sức mạnh chiến đấu của quân đội các nước Ả rập trong giai đoạn 1967-1973 đã diễn ra với tốc độ chưa từng có. Ai Cập trong thời gian này đã nhận được 1260 T-54/55, 400 T-62, 150 xe chiến đấu bộ binh mới nhất BMP-1 và nhiều loại vũ khí khác. Quân đội Siry cũng được vũ trang quy mô lớn không kém. Đầu cuộc chiến, quân đội Ai Cập có 2200 xe tăng và pháo tự hành (trong số đó – 850 T-54/55), Siry – 1350 (chủ yếu là T-54 và T-55).
Ai Cập chuẩn bị chiến tranh ở Sinai năm 1971, kết hoạch cuối cùng được duyệt vào tháng 8 năm 1973. Chiến tranh bắt đầu vào ngày lễ Yom-Kippur của Israel (vì thế, cuộc chiến này gọi là “Chiến tranh Yom Kippur”) – mùng 6 tháng 10 năm 1973. Vào 15.00, quân đội Ai Cập vượt qua kênh đào Sue. Ở bờ tây là hệ thống các công sự của Israel. Mùng 7-8 tháng 10, Israel cố gắng phản công 5 sư đoàn bộ binh Ai Cập với sự yểm trợ của các lữ đoàn tăng thuộc sự đoàn tang số 162 và 252 đang vượt sông. Như vào rạng sáng ngày 7 tháng 10, lữ đoàn xe tăng 460 cơ động yểm trợ hỏa lực tầm xa, đã bắn cháy 67 xe tăng T-55 và T-62 của Ai Cập mà không bị tổn thất. Tuy nhiên, lữ đoàn 460 bị tổn thất nặng vì tên lửa chống tăng điều khiển và súng phóng lựu và phải rút lui.
Trận đấu tăng kịch liệt ở khu vực Kantara kéo dài suốt ngày mùng 8 tháng 10. Trong ngày này, sư đoàn tăng 162 đã tổn thất khoảng 120 xe tăng, sư tăng 252 tổn thất khoảng 170 tăng. Lữ đoàn tăng 600 từ một trong số các cuộc tấn công đã tổn thát 24 xe tăng trong 18 phút – để đối phó với các xe tăng, quân Ai Cập sử dụng 2 phi đội trực thăng Mi-4 trang bị tên lửa chống tăng điều khiển. Trong ngày hôm sau, lữ đoàn tăng 190 thực tế bị tiêu diệt hoàn toàn, Tư lệnh lữ đoàn Asaf Yaturi bị bắt làm tù binh.
Mùng 10 tháng 10, trên chiến trường đã xuất hiện lữ đoàn xe tăng dưới sự chỉ huy của Đại tá Ioel Gonen – cụm chiến thuật “Gonen” trong biên chế có các xe tăng T-54/55 của Ai Cập và Siry chiếm được trong cuộc chiến tranh Sáu ngày. Lữ đoàn này hoạt động trong phạm vi giữa Ismail và El-Firdan tới phía đông bắc cầu Firdan. Ở đây, các xe tăng T-54/55 đã tham gia phòng thủ các cứ điểm quan trọng bố trí trên các đồi cát có tên gọi “Những ngôi nhà của người Anh” (do đóng trên các trại lính Anh cũ trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất). Từ vị trí này có thể quan sát và kiểm soát rất tốt toàn bộ địa hình kéo dài tới kênh đào Suez. Cùng với các xe tăng Centurion và M-48, các T-54/55 của Israel đã tham chiến chống lại các T-55 và Su-100 của Ai Cập tấn công từ hướng kênh đào. Sau chiến tranh tháp lắp pháo L7 105mm của T-55 bị bắn cháy đã được mang về Cairo để nghiên cứu.