Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:01:03 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử phát triển và giới thiệu các dòng xe tăng chủ lực (MBT)  (Đọc 290695 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #370 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2013, 12:31:25 am »

Thông số kỹ thuật

Khối lượng chiến đấu, kg: 35 500

Kíp xe, người: 4

Các kích thước

Chiều dài với pháo chính, mm: 9000

Chiều rộng, mm 3270

Chiều cao,mm: 2400

Khoảng sáng (độ) cách đất,mm: 425

Vũ khí: pháo 100mm DT-10T, 2 súng 7,62mm SGMT; súng máy 12,7mm DShKM

Động cơ: V-54/diesel, công suất 520 sức ngựa

Tốc độ trên đường nhựa: 50km/h

Tầm hoạt động trên đường nhựa,km: 330

Khả năng vượt chướng ngại vật

Tường cao, mét: 0,8

Hố rộng, mét: 2,85

Hố sâu, mét: 1,4.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #371 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2013, 12:02:02 am »

Tổng quan


Được chế tạo dưới tên gọi “Công trình 155” bởi phòng thiết kế Hạ Tagil dưới sự chỉ đạ của L.P.Kartsev. Xe tăng được tiếp nhận vào trang bị theo Mệnh lệnh của Bộ quốc phòng Liên Xô ngày 24 tháng 5 năm 1958. Việc sản xuất hàng loạt được thực hiện ở Kharcov, Hạ Tagil và Omsk từ năm 1958 đến 1962.

Trên xe tăng này đã áp dụng các điểm mới: tăng cường công suất động cơ từ 520 lên 580 sức ngựa; sử dụng thùng – bệ để tăng khối lượng nhiên liệu và cơ số đạn, lắp máy nén khí để đảm bảo hơn việc khởi động động cơ, duy trì tuổi thọ pin ắc quy và loại trừ sự cần thiết thay thế các bình không khí đã qua sử dụng để nạp điện, lắp hệ thống cứu nạn (PAZ), hệ thống khói nhiệt (TDA) để tạo thành màn khói từ sự bốc hơi của nhiên liệu, thải ra từ ống xả, hệ thống chữa cháy tự động, khí tài quan sát thủy khí của lái xe và bộ truyền động hành tinh mang theo.

Giải pháp bố cục khác thường là lắp ở phần mũi xe hai thùng – bệ đã được chấp nhận trên xe tăng thí nghiệm T-54M. Trong đố bố trí 18 đạn pháo và 300 lít nhiên liệu. Nhờ bố cục này đã tăng tổng thể tích bọc thép cho các thùng nhiên liệu lên 680 lít, chiếm 50% tổng khối lượng nhiên liệu mang theo. Ngoài ra, cơ số đạn xe tăng từ 34 tăng lên 43 phát bắn.

Khác với T-54B, T-55 không có súng phòng không. Cơ số đạn pháo D-10T2S là 43 phát bắn đồng nhất. Khả năng xuyên giáp của đạn xuyên lõm theo giáp đứng là 290mm, còn đạn dưới cỡ ở tầm xa 2000 mét – 275mm.

Giáp phòng thủ chịu những thay đổi không đáng kể do giảm nhẹ độ dàu giáp sau thân xe. Động cơ V-55 có hộp bánh răng được làm nóng và trang bị máy li tâm dầu, máy làm sạch không khí hai cấp VTI-4 và côn thủy lực dẫn động máy phát điện.

Xe tăng có hệ thống chống vũ khí hủy diệt hàng loạt, thiết bị khói nhiệt và hệ thống chữa cháy tự động ba cấp hiệu quả hơn axit cacbonic chữa cháy bằng thành phần “3,5”.

Khí tài vượt sông hiện đại hóa bảo đảm vượt chướng ngại vật nước rộng 1000 mét. Trong bộ truyền động của xe tăng sử dụng bộ truyền động mang theo hai hàng hỗn hợp, trong đó, một hàng là hành tinh.

Bắt đầu từ năm 1960, trong thiết kế xe tăng đã có những thay đổi nhằm tăng cường các tính năng kỹ thuật: lắp bộ dẫn động thủy khí nhân đôi điều khiển bộ ly hợp ma sát chính 19 bánh (đĩa), lắp khí tài lăng kính cho pháo thủ và hệ thống làm sạch bằng khí lỏng cho khí tài quan sát của lái xe.

Năm 1965, đã lắp băng xích với bản lề cao su – kim loại và vì thể đã thay đổi thiết kế vành tháo lắp các bánh dẫn động. Từ năm 1969, trên xe tăng lắp súng phòng không DShKM, còn năm 1974, lắp máy đo xa laze KDT-1 và thước ngắm TShS-32PM cho pháo thủ.

Trên cơ sở xe tăng T-55 đã chế tạo xe tăng chỉ huy T-55K và xe tăng phun lửa TO-55 (OT-55). Xe tăng chỉ huy T-55K được tiếp nhận vào trang bị năm 1959. T-55K được sản xuất hàng loạt và khác ở sự bổ sung đài vô tuyến bước sóng ngắn R-112, tổ hợp chạy điện bằng xăng (бензоэлектрический агрегат), giảm 6 phát bắn trong cơ số đạn pháo chính, không có súng máy bộ binh.

Trên khung gầm T-55 đã chế tạo xe làm cầu MTU-20. Trên một số xe tăng có khả năng lắp lưới quét mình PT-55, máy ủi BTU-55 và cầu phao PTS-63. Trên các xe tăng T-55 thí nghiệm đã tiến hành các công việc thiết kế - thí nghiệm và nghiên cứu khoa học về sử dụng vũ khí điều khiển, các màn chắn chống đạn xuyên lõm dạng lưới trên nòng pháo, động cơ tuabin khí và khí tài ảnh nhiệt.

Xe tăng T-55 và biến thể T-55A được xuất khẩu tới 40 nước trên thế giới. Ngoài ra, T-55 còn được chế tạo theo giấy phép sản xuất ở Tiệp Khắc và Ba Lan.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #372 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2013, 12:03:37 am »

Xe tăng hạng trung T-55A

Được chế tạo trên cơ sở T-55 ở Phòng thiết kế Hạ Tagil dưới sự chỉ đạo của L.N.Kartsev và có tên gọi “Công trình 155A”. Xe tăng được tiếp nhận vào biên chế theo Mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng Liên Xô ngày 16 tháng 7 năm 1962 và được sản xuất hàng loạt từ năm 1963 đến 1977.

T-55A khác ở sự tăng cường mức độ chống vũ khí hủy diệt hàng loạt theo việc lắp các vật liệu chống phóng xạ ở ngoài và trong các buồng có người ở. Đồng thời, không có súng máy hạng nhẹ.

Trên cơ sở T-55A, từ năm 1962, đã sản xuất xe tăng chỉ huy T-55AK, khác với T-55K ở khả năng chống phóng xạ cao hơn.

Xe tăng hạng trung thí nghiệm T-55 với khí tài “Almaz”

Được chế tạo với mục đích nghiên cứu khả năng sử dụng vô tuyến trên các xe chiến đấu điều khiển vô tuyến, cũng như để đảm bảo việc lái xe tăng, bắn và quan sát trong các điều kiện không thể sử dụng các khí tài quang học thông thường. Xe tăng được chế tạo ở Leningrad năm 1959 trong dạng hình mẫu, không được tiếp nhận vào trang bị.

Khác với xe tăng được chế tạo hàng loạt, kíp xe tăng có 3 người. Trưởng xe ngồi bên phải mũi xe, nơi để các thùng nhiên liệu, giá chứa đạn và súng máy hạng nhẹ cũng như lắp các khí tài vô tuyến. Giải pháo bố cục này giảm các tính năng cơ động và hỏa lực của T-55 và không được phát triển tiếp.

Thiết bị “Almaz” gồm có khí tài vô tuyến quan sát và ngắm, hoạt động từ nguồn điện độc lập. Trong thân xe lắp máy quay phim vô tuyến của lái xe, 2 khí tài quan sát vô tuyến, bảng điều khiển từ xa cho người điều khiển, trên tháp pháo – máy ngắm và máy quan sát. Toàn bộ các máy quay có thể kết nối tới hai khí tài quan sát vô tuyến bất kỳ bố trí gần các thành viên kíp xe.

Thiết bị vô tuyến cho phép bắn trong điều kiện ban ngày ở cự ly 1500 mét và quan sát từ xe tăng ở cự ly 2500 mét. Khí tài vô tuyến của lái xe chỉ bảo đảm quan sát địa hình ban ngày ở cự ly 100 mét.

Xe tăng hạng trung T-55 thí nghiệm với hệ thống phòng thủ phức hợp

Được chế tạo năm 1964. Hệ thống màn màn bảo vệ phức hợp gồm có lưới kim loại ZET-1 ở đầu xe, lắp trên pháo rãnh xoắn 100mm và các màn chắn cục bộ ở bên từ ddurra. Hệ thống phòng thủ tương tự đối với xe tăng T-62 và pháo nòng trơn 115mm khác ở kích thước đường kính trong so với màn chắn ZET-1, được cố định trên nòng pháo.

Hệ thống phòng thủ phức hợp cũng được lắp trên xe tăng T-54. Nó bảm đảm phòng thủ xe tăng khỏi đạn xuyên lõm từ ba hướng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #373 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2013, 12:05:10 am »

Xe tăng hạng trung T-55 thí nghiệm với khí tài “Uran”

Nằm trong tổ hợp ba xe chiến đấu (BTR-50PU, UAZ-69) được trang bị khí tài vô tuyến. Xe tăng được chế tạo ở Leningrad năm 1958 và dùng để trinh sát chiến thuật trên chiến trường, quan sát, hiệu chỉnh hỏa lực và điều khiển tại chỗ các đơn vị cách xe tăng truyền tải 12-15 kilomet.

Khác với T-55, ngoài khí tài vô tuyến truyền tải (phát), còn lắp tổ hợp nguồn điện độc lập. Cơ số đạn trong tháp pháo, giảm một nữa.

Khí tài vô tuyến tuyền phát gồm có máy quay phim (camera) lắp trên tháp pháo và bộ phận cân bằng dọc, bảng điều khiển với thiết bị kiểm tra (kiểm soát) vô tuyến, hệ thống định vị và máy thu vô tuyến. Với sự hỗ trợ của khí tài này, bảo đảm nhận dạng các mục tiêu ở cự ly 2-2,5 kilomet.

Tổ hợp được chế tạo trong dạng thí nghiệm, không được sản xuất và tiếp nhận vào trang bị.

Xe tăng phun lửa TO-55

Được chế tạo ở xưởng chế tạo xe máy vận tải mang tên Malưshev thuộc phòng thiết kế ở Kharcov dưới sự chỉ đạo của A.A.Morozov năm 1957. TO-55 được chế tạo trên cơ sở T-55 và có tên gọi “Công trình 482”. Xe tăng được tiếp nhận vào biên chế theo Mệnh lệnh của Bộ quốc phòng Liên Xô ngày 17 tháng 1 năm 1960. Xe tăng được sản xuất hàng loạt từ năm 1968.

Xe tăng là sự phát triển tiếp từ TO-54 và khác ở cơ sở mới và súng phun lửa. Súng phun lửa tự động ATO-200 lắp trên tháp pháo thay súng máy đồng trục, được cân bằng cùng pháo chính theo hai hướng. So với TO-54, có thể bắn súng phun lửa khi dừng và di chuyển với tốc độ 8 phát bắn/phút.

Tầm bắn tối đa – 200 mét. Thể tích phát bắn lửa tăng lên 35 lít, còn quá trình bắn lửa được tự động hóa toàn toàn. Thùng chứa hỗn hợp cháy có thể tích 460 lít được bố trí ở mũi xe thay cho thùng – bệ.

Để dẫn hỗn hợp cháy tới tháp pháo ở giữa thân, trên đáy (gầm) có thiết bị quay chất lỏng. Cơ số đạn tăng – 25 phát bắn cho pháo chính, 12 phát bắn cho súng phun lửa và 750 đạn súng máy. Các thông số chiến đấu và kỹ thuật còn lại tương tự xe tăng T-55.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #374 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2013, 12:07:43 am »

Các biến thể

T-55A – tăng cường khả năng chống vũ khí hủy diệt hàng loạt (chống hạt nhân)

T-55K – xe tăng chỉ huy T-55, bổ sung R-112, tổ hợp nạp điện AB-1-P/30, tháo súng máy đồng trục.

TO-55 – T-55 với súng phun lưa rATO-200.

T-55M – Công trình 155M (T-55AM – Công trình 155M) – sự nâng cấp T-55 và T-55A. Diềm chắn giáp hỗn hợp nhiều lớp trên tháo pháo, diềm chắn hông cao su – kim loại, bổ sung giáp đáy, đạn xuyên lõm 9K116 “Bastion”, máy đo xa laze KTD-2, máy tính đường đạn BV-55

T-55AMK – Công trình 155AMK – xe tăng chỉ huy T-55AM. Bổ sung R-134, tổ hợp nạp điện AB-1-P/30

T-55M-1 – Công trình 155M – lắp động cơ V-46-5M trên T-55M và T-55AM tương ứng

T-55AD – Công trình 155AD (T-55MD – Công trình 155MD, T-55AMD – Công trình 155AMD) – lắp giáp phòng thủ chủ động “Drozd” trên T-55A, T-55M và T-55AM tương ứng

Hệ thống phòng thủ chủ động "Drozd" trên T-55AD

T-55MV – Công trình 155MV (T-55AMV – Công trình 155AMV) – lắp giáp nổ lên T-55M và T-55AM.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Năm, 2013, 01:04:35 am gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #375 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2013, 12:08:10 am »

Thông số kỹ thuật

Khối lượng chiến đấu, kg: 36 000

Kíp xe, người: 4

Các kích thước

Chiều dài với pháo chính, mm: 9000

Chiều rộng, mm 3270

Chiều cao,mm: 2350

Khoảng sáng (độ) cách đất,mm: 425

Vũ khí: pháo 100mm DT-10T2S, 2 súng 7,62mm SGMT

Động cơ: V-54/diesel, công suất 580 sức ngựa

Tốc độ trên đường nhựa: 50km/h

Tầm hoạt động trên đường nhựa,km: 500

Khả năng vượt chướng ngại vật

Tường cao, mét: 0,8

Hố rộng, mét: 2,85

Hố sâu, mét: 1,4 (với khí tài vượt chướng ngại vật nước – 5).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #376 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2013, 12:04:25 am »

Ứng dụng, tham gia chiến đấu của dòng xe tăng T-54/55 và các biến thể

Trong biên chế Quân đội Liên Xô, các xe tăng T-54 được sử dụng khi các đơn vị quân đội tiến vào Hungary năm 1956. Năm 1968, cùng với T-55, các xe tăng T-54 đã dập tắt “những sai trái trong xây dựng chủ nghĩa xã hội” ở Tiệp Khắc. Các xe tăng dòng này cũng nằm trong biên chế lực lượng quân đội Liên Xô ở Afganistan.

Năm 1956, ở Hungary, các xe tăng T-54 đã chiến đấu cùng các xe tăng “kỳ cựu” T-34-85. Tại Budapets, phe nổi loạn đã chiếm 5 T-54 của quân đội nhân dân Hungary và sau đó đã tham gia chiến đấu chống lại quân đội Liên Xô. Sư đoàn cơ giới Cận vệ số 2 trong biên chế quân đoàn Đặc biệt thuộc quân đội Liên Xô ở Hungary, ngày 24 tháng 10 là đơn vị đầu tiên tiến vào Budapets và bị tổn thất 4 xe tăng. Vào cuối ngày, số lượng quân đội Liên Xô trong thủ đô Hungary là khoảng 6000 người và 290 xe tăng thuộc trung đoàn tăng số 83 và trung đoàn tăng Cận vệ số 37. Thành phố được đặt trong tình trạng khẩn cấp.

Cuối tháng 10, theo yêu cầu của chính phủ Imre Nagy, các đơn vị quân đội Liên Xô đã rút khỏi Budapets, nhưng cụm quân ở Hungary tiếp tục tăng lên. Cụ thể, sư đoàn xe tăng số 31 được trang bị các xe tăng T-54 đã được đưa tới đây.

Mùng 4 tháng 11, bắt đầu chiến dịch “Vikhr” (Gió lốc), lập lại trật tự trên toàn lãnh thổ Hungary. Đến ngày 11 tháng 11, sự phản kháng vũ trang của phe nổi loạn bị dập tắt, trong đó có cả thủ đô Budapets. Trong thời gian tham chiến, sư đoàn cơ giới Cận vệ số 33 chỉ mất 14 xe tăng và pháo tự hành.

Đêm từ 20 đến 21 tháng 8 năm 1968, chiến dịch “Dunai” – được chuẩn bị tiến hành từ mùa thu -  đã bắt đầu – các đơn vị quân đội Khối Hiệp ước Vác sa va (Warsaw) tiến vào Tiệp Khắc. Nhiệm vụ chính được giao cho các đơn vị xe tăng Liên Xô: sư đoàn số 9, sư đoàn cận vệ 11, 13, 15, 31. Khoảng 2000 xe tăng (chủ yếu là T-54 và T-55) đã xuất hiện trên đường phố Tiệp Khắc. Sau khi tràn qua biên giới 5 tiếng đồng hồ, đã tới Praha. Quân đội Tiếp Khắc không chống cự, vì thế không xảy ra tổn thất lớn.

Trong giai đoạn chiến tranh ở Afganistan, các xe tăng T-55 trong các biến thể khác nhau đã có mặt trong trang bị các đơn vị xe tăng và “lực lượng hạn chế” được biên chế từ các trung đoàn xe tăng rút ra từ quân khu Turkestan và quân khu Trung Á thuộc ba sư đoàn bộ binh cơ giới: các trung đoàn xe tăng Cận vệ số 24, 285 234, cũng như các tiểu đoàn xe tưng thuộc các trung đoàn, lữ đoàn bộ binh cơ giới. Việc sử dụng ở đây số lượng tương đối lớn các xe tăng cũ thế hệ đầu tiên được giảm thích theo nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, phần lớn các xe tăng hiện đại được tập trung trong các sư đoàn thuộc cụm quân phía Tây, còn bộ phận triển khai ở phía nam Liên Xô trong giai đoạn này gồm có T-55 và T-62. Thứ hai, lực lượng Mujaheedin trong toàn bộ cuộc chiến không có xe tăng, chỉ có số lượng vũ khí chống tăng hạn chế, chủ yếu là RPG và súng không giật.

Ở Afganistan, xe tăng được sử dụng quy mô không lớn (trung đội, đại đội thiếu) nhằm tăng cường cho các tiểu đoàn bộ binh cơ giới và nhảy dù. Các xe tăng tham gia những nhiệm vụ quan trọng nhất trong biên chế lực lượng đồn trú, bảo vệ tuyến giao thông liên lạc. Ở đây, chúng được sử dụng trong vai trò hỏa lực cơ động tầm xa. Trong giai đoạn đầu chiến tranh, khi các lực lượng Mujaheedin không có các khí tài nhìn đêm, các xe tăng được sử dụng để tấn công bất ngờ, đánh chiếm các căn cứ quan trong vào ban đêm. Như tháng 12 năm 1982, đại đội xe tăng trong một đêm đã hoàn thành cuộc hành quân và cơ động tấn công mạnh vào khu vực bến phà qua sông Panjshir để vào thung lũng Panjshir. Trận chiến diễn ra chỉ qua khí tài nhìn đêm. Quân Mozaheedin không chuẩn ngờ sức mạnh của cuộc tấn công, đã bỏ chạy. Các xe tăng chiến được khu vực vượt sông và bảo đảm cho các đơn vị cơ giới hành quân vào thung lũng.

Nói chung, T-55 đã khẳng định được khả năng chiến đấu của chúng. Mặc dù trong các điều kiện đặc thù ở Afganistan đã xuất hiện một số nhược điểm. Trong điều kiện núi cao và bụi mạnh đã xuất hiện các vấn đề về hoạt động của thiết bị động lực, bộ truyền động và bộ phận chuyển động. Khả năng chống các loại mìn khác nhau kém. Tổn thất trong chiến đấu của các xe tăng T-55 ở Afganistan là khá thấp.Tỷ lệ hỏng do nguyên nhân kỹ thuật và trong chiến đấu của khí tài thiết giáp là 20:1. Phần lớn tổ thất trong chiến đấu do nổ mìn. Trong khi đó, hơn 50% xe tăng bị thương cần đại tu hoặc hầu như không thể sửa chữa. Kinh nghiệm chiến đấu ở Afganistan đã được sử dụng khi nâng cấp T-55. Xe tăng T-55M được tiếp nhận vào trang bị có khả năng chống mìn cao và tăng cường giáp phòng thủ. Chúng cũng được biên chế trong tập đoàn quân số 40.

T-55 được sử dụng nhiều trong các “điểm nóng” trên lãnh thổ Liên Xô, và sau đó là các nước SNG. Ví dụ, trong cuộc xung đột ở Nagornưi-Karabakh. Ở đây, đã có trường hợp trong trận đấu tăng, T-55 của Azerbaijan bắn thủng tháp pháo T-72 của Armenia từ cự ly 1000-1200 mét bằng đạn xuyên giáp dưới cỡ.

T-55 được sử dụng nhiều trong xung đột vũ trang ở Abkhazia. Quân đội Gruzia trang bị số lượng lớn T-55. Từ sư đoàn số 10 quân khu Ngoại Kavkaz ở Akhaltskh, quân đội Gruzia đã lấy được 108 T-55M. Phía Nga bán khí tài kỹ thuật quân sự cho Gruzia với điều kiện nước này không sử dụng xe tăng trong các cuộc xung đột chính trị nội bộ. Tuy nhiên, việc này đã bị lãng quên ngay trong ngày hôm sau (điều kiện không có giá trị). Phía Abkhazia cũng có T-55 với số lượng rất hạn chế. Sau 4 tháng xung đột, phía Abkhazia chỉ có 8 xe tăng (có thể là chiếm của Gruzia).

Ngoài biên giới Liên Xô, các xe tăng T-54/66 đã tham chiến thực tế trên toàn bộ các lục địa cho tới thời điểm này. Đáng tiếc là để có được con số cụ thể số lượng dòng xe tăng này là không thể. Mặc dù vậy việc thực hiện cung cấp xe tăng không chỉ có Liên Xô mà còn từ Ba Lan và Tiệp Khắc. Các xe tăng “59” và “69” cũng được Trung Quốc bán ra nước ngoài một cách tích cực.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Năm, 2013, 04:10:44 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #377 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2013, 03:32:52 pm »

Ngoài ra, trong các cuộc xung đột vũ trang, các xe tăng cũng bị chiếm như chiến lợi phẩm và nhiều lúc, với số lượng đáng kể.

Trong thời gian khác nhau, T-54/55 đã xuất hiện, đã hoặc đang có mặt trong quân đội các nước: Albania (15 T-54 và 19 “59” – năm 1995”), Algeri, Angola (66T-54B – 1995), Afganistan, Banglades (T-54/55, “59), Bulgaria (T-54, 1145 T-55 – 1991), Bosnia – Hersevovina (T-55), Hungary (T-54, 1139 T-55 – 1991), Việt Nam, Ginea (8 T-54 – 1992), Cộng hòa dân chủ Đức (T-54, 1725 T-55 – 1991), Ai Cập, Zaire (16 “59” – 1995), Zambia (16 “59” – 1995), Israel (chiến lợi phẩm từ Ai Cập), Ấn Độ (500 T-55), Iraq, Iran, Yemen, Campuchia, Trung Quốc (các biến thể “59”, “69”), Congo (T-54), Cuba, Liban, Libia (100T-54 – 1975, T-55), Mavritania (T-54), Myamar (100 “69-II” – 1995), Mozambic, Mông Cổ, Pakistan (1200 “59”, 250 “69-II”, 51 T-55 – 1995), Peru (khoảng 300 T-54/55), Ba Lan, Bắc Triều Tiên, Siry, Somali, Sudan (70 T-54 – 1979), Thái Lan (24 “59” và 110 “69” – 1995), Rumania (T-54, 1786 T-55 bao gồm các phiên bản của Rumani TR-85 và TR-580 – 1991), Tanzania (26 “59” – 1995), Togo, Uganda, Phần Lan (12 T-54 – 1959, 70 T-55 – 1995), Croatia, Cộng hòa Trung Phi, Tiệp Khắc (T-54, 1927 T-55 – 1991), Etiopia, Nam Tư T-54B, T-55AM).

Giai đoạn chủ yếu nhất trong quá trình tham chiến của T-54/55 là ở Trung Đông. Ở đây, trong hơn 30 năm có mặt trong lực lượng tăng chủ lực của các nước Ả rập, chúng đã tham gia vào toàn bộ các cuộc xung đột vũ trang. Ngoài ra, thường đồng thời trong cả hai bên. Trong biên chế quân đội Ai Cập, T-54 bắt đầu gia nhập năm 1953. Tháng 9 năm 1953, Tổng thống Ai Cập Naser đã ký thỏa thuận mua vũ khí từ Tiệp Khắc. Phía sau Tiệp Khắc, rõ ràng là Liên Xô, nước trong nhiều năm là nguồn cung cấp vũ khí chính cho Ai Cập. Theo thỏa thuận năm 1953, Tiệp Khắc sẽ bán khoảng 230 xe tăng, chủ yếu là T-34-85. Ai Cập cũng nhận được số lượng không lớn T-54A, IS-3 và 100 pháo tự hành Su-100.

Không có thông tin về sự tham chiến của các xe tăng T-54 Ai Cập trong thời gian khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956. Trong trường hợp này, mọi thống kê T-54 bị bắn cháy đều không có ý nghĩa. Theo tài liệu của Israel, trong thời gian chiến dịch “Kadesh” (kế hoạch chiến tranh của Israel), quân đội nước này đã bắn cháy 27 T-34-85, 52 “Sherman”, 15 “Valentine”, 40 pháo tự hành “Archer” và 6 Su-100.

Sau khi ký kết ngừng bắn, Ai Cập và Siry tiếp tục tăng cường sức mạnh chiến đấu bằng việc mua vũ khí từ Liên Xô và Tiệp Khắc. Vào năm 1956, Ai Cập đã nhận được 120 xe tăng T-34-85 từ Séc, cho phép họ trang bị lại vào cuối năm (thực tế là thành lập mới) sư đoàn xe tăng số 4 – đã đánh tan trong các trận chiến ở Sinai. Việc cung cấp T-34 được tiếp tục trong những năm 1962-1963. Trong giai đoạn này, Ai Cập đã nhận được 130 T-54A. Trong những năm 1965-1967, đã có khối lượng lớn 150 T-34-85 và T-55, 25 IS-3 và 150 PT-76 được mua. Siry đến năm 1967 đã nhận từ Liên Xô khoảng 750 xe tăng T-34-85 và T-54A. Các xe tăng T-54 được trang bị hoàn toàn cho các lữ đoàn tăng số 14 và 44.

Năm 1967, quân đội phòng vệ Israel cũng như các nước đối phương, về cơ bản, đã hoàn thành việc tái vũ trang và tích cực chuẩn bị chiến tranh. Lực lượng xung kích chính của các lữ đoàn thiết giáp Israel là 385 Centurion (với pháo 105mm) và 250 M48 (chủ yếu là pháo 90mm). Israel chuẩn bị các cuộc tấn công mạnh, mang tính chất phủ đầu (превентивный – đề phòng, phòng ngừa) vào phía Ả rập nhằm giải quyết toàn bộ các vấn đề tranh chấp. Đối thủ chính của Israel là Ai Cập – trên bán đáo Sinai, Naser tập trung 5 sư đoàn tăng (935 xe tăng và pháo tự hành) cùng 2 sư đoàn bộ binh. “Chiến tranh sáu ngày” đã bắt đầu từ mùng 5 tháng 6 bằng loạt không kích của không quân Israel vào các sân bay Ả rập. Các trận không kích diễn ra thành công và chiếm ưu thế tuyệt đối trên không trong vài chục phút. Ngay loạt trận không kích là các cụm thiết giáp với lực lượng chính là các đơn vị xe tăng Centurion tham chiến. Sáng mùng 6 tháng 6, chúng đã tiến vào sâu 25 kilomet trong lãnh thổ Ai Cập và đấu súng với sư đoàn xe tăng Ai Cập số 2. Trong ngày này, Tư lệnh quân đội Ai Cập – tướng Amer đã ra lệnh rút khỏi bán đảo Sinai và rất nhanh chóng, nó trở thành cuộc tháo chạy. Mùng 8 tháng 6, lực lượng thiết giáp Israel đã tới kênh đào Sue. Như quân đội Israel dự kiến, cuộc chiến đã được giải quyết trong 2 ngày đầu tiên. Với quân đội Ai Cập ở Sinai, tất cả đã kết thúc. Trận “blitzkrieg” Sinai, quân đội Israel tổn thất lớn với 122 xe tăng. Tuy nhiên, nó không đáng kể khi so sánh với tổn thật của Ai Cập: 820 trong tổng số 935 xe tăng và pháo tự hành bị phá hủy và trở thành chiến lợi phẩm: 291 T-54A, 82 T-55, 251 T-34-85, 72 IS-2M, khoảng 50 Sherman, 29 PT-76 và 51 pháo tự hành Su-100.

Hướng mặt trận Siry, các cuộc đụng độ chỉ bắt đầu vào mùng 9 tháng 6. Israel tiến hành cuộc tấn công với lực lượng 6 lữ đoàn xe tăng trang bị Centurion. Chống lại các đơn vị này là 2 lữ đoàn xe tăng số 14 và 44, trang bị T-54. Vào cuối ngày, trận địa phòng ngự của Siry bị chọc thủng. Tuy nhiên, cũng trong ngày này, đã có quyết định của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về chấm dứt chiến tranh. Mặt trận Siry là nơi duy nhất là tỷ lệ tổn thất về xe tăng thuộc về Israel: quân đội Siry mất khoảng 80 xe tăng (73 T-54 và T-34-85, 7 Su-100, một số PzKrfw IV và Sutug III), trong khi Israel tổn thất 160 xe tăng.

Cuộc chiến tranh sáu ngày chỉ làm leo thang căng thẳng ở Trung Đông. Israel đã tiếp tục phát triển quân đội khi tập trung trước hết vào việc tăng cường lực lượng thiết giáp. Trong biên chế của họ lúc nào, đã có thêm vài trăm xe tăng T-54/55 chiếm từ phe Ả rập. Trên các xe tăng này đã lắp pháo L7 do Mỹ sản xuất, súng máy bay; trên một số xe tăng cũng thay động cơ diesel bằng động cơ Mỹ. Các xe tăng T-54 nâng cấp trong quân đội Israel gọi là “Tiran”. Các xe tăng lội nước PT-76 được tiếp nhận vào trang bị với việc thay súng máy và khí tài vô tuyến. Tổng cộng, trong trang bị lục quân Israel có 1500 xe tăng do Mỹ, Anh và Pháp sản xuất (M60, M48, Centurion”, AMX-13), cũng như khoảng 200 chiến lợi phẩm T-54/55 và PT-76 do Liên Xô sản xuất.


T-55 chiến lợi phẩm được Israel lắp pháo L7 105mm thay pháo 100mm

Việc tái vũ trang, đúng hơn, là khôi phục sức mạnh chiến đấu của quân đội các nước Ả rập trong giai đoạn 1967-1973 đã diễn ra với tốc độ chưa từng có. Ai Cập trong thời gian này đã nhận được 1260 T-54/55, 400 T-62, 150 xe chiến đấu bộ binh mới nhất BMP-1 và nhiều loại vũ khí khác. Quân đội Siry cũng được vũ trang quy mô lớn không kém. Đầu cuộc chiến, quân đội Ai Cập có 2200 xe tăng và pháo tự hành (trong số đó – 850 T-54/55), Siry – 1350 (chủ yếu là T-54 và T-55).

Ai Cập chuẩn bị chiến tranh ở Sinai năm 1971, kết hoạch cuối cùng được duyệt vào tháng 8 năm 1973. Chiến tranh bắt đầu vào ngày lễ Yom-Kippur của Israel (vì thế, cuộc chiến này gọi là “Chiến tranh Yom Kippur”) – mùng 6 tháng 10 năm 1973. Vào 15.00, quân đội Ai Cập vượt qua kênh đào Sue. Ở bờ tây là hệ thống các công sự của Israel. Mùng 7-8 tháng 10, Israel cố gắng phản công 5 sư đoàn bộ binh Ai Cập với sự yểm trợ của các lữ đoàn tăng thuộc sự đoàn tang số 162 và 252 đang vượt sông. Như vào rạng sáng ngày 7 tháng 10, lữ đoàn xe tăng 460 cơ động yểm trợ hỏa lực tầm xa, đã bắn cháy 67 xe tăng T-55 và T-62 của Ai Cập mà không bị tổn thất. Tuy nhiên, lữ đoàn 460 bị tổn thất nặng vì tên lửa chống tăng điều khiển và súng phóng lựu và phải rút lui.

Trận đấu tăng kịch liệt ở khu vực Kantara kéo dài suốt ngày mùng 8 tháng 10. Trong ngày này, sư đoàn tăng 162 đã tổn thất khoảng 120 xe tăng, sư tăng 252 tổn thất khoảng 170 tăng. Lữ đoàn tăng 600 từ một trong số các cuộc tấn công đã tổn thát 24 xe tăng trong 18 phút – để đối phó với các xe tăng, quân Ai Cập sử dụng 2 phi đội trực thăng Mi-4 trang bị tên lửa chống tăng điều khiển. Trong ngày hôm sau, lữ đoàn tăng 190 thực tế bị tiêu diệt hoàn toàn, Tư lệnh lữ đoàn Asaf Yaturi bị bắt làm tù binh.

Mùng 10 tháng 10, trên chiến trường đã xuất hiện lữ đoàn xe tăng dưới sự chỉ huy của Đại tá Ioel Gonen – cụm chiến thuật “Gonen” trong biên chế có các xe tăng T-54/55 của Ai Cập và Siry chiếm được trong cuộc chiến tranh Sáu ngày. Lữ đoàn này hoạt động trong phạm vi giữa Ismail và El-Firdan tới phía đông bắc cầu Firdan. Ở đây, các xe tăng T-54/55 đã tham gia phòng thủ các cứ điểm quan trọng bố trí trên các đồi cát có tên gọi “Những ngôi nhà của người Anh” (do đóng trên các trại lính Anh cũ trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất). Từ vị trí này có thể quan sát và kiểm soát rất tốt toàn bộ địa hình kéo dài tới kênh đào Suez. Cùng với các xe tăng Centurion và M-48, các T-54/55 của Israel đã tham chiến chống lại các T-55 và Su-100 của Ai Cập tấn công từ hướng kênh đào. Sau chiến tranh tháp lắp pháo L7 105mm của T-55 bị bắn cháy đã được mang về Cairo để nghiên cứu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #378 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2013, 12:33:01 am »

Sau một thời gian yên tĩnh, ngày 14 tháng 10, lúc 6 giờ sáng, quân Ai Cập bắt đầu tấn công mạnh trên 6 hướng của mặt trận với sự tham gia của hơn 1200 xe tăng. Vào thời điểm đó, Israel có thể tập trung ở Sinai 750 xe tăng. Khi đó, đã bắt đầu trện đấu lớn nhất sau trận đấu tăng ở vòng cung Kursk. Tổng cộng, hai bên tung vào trận chiến hơn 2000 xe tăng. Cuộc đấu tăng kịch liệt kéo dài trong toàn bộ ngày hôm đó. Như ở hướng trung tâm, các xe tăng M-48 thuộc sư tăng thiết giáp 143 đã chặn hướng tấn công của Ai Cập từ xa và trong 50 phút, quân Ai Cập tổn thất 50 xe tăng T-55. Đến chiều, rõ ràng, tổn thất nghiêng về phía Ai CẬp. Trong ngày này, bên tấn công mất 264 đơn vị thiết giáp, còn bên phòng thủ - 43.

Ngày 15 tháng 10, sau khi tổ chức lại lực lượng, quân đội Israel đã tấn công vào hướng nam mặt trận ở khu vực hồ Gorki Lớn. Ngày 24 tháng 10, thành phố Suez đã bị bao vây. Ngày 25 tháng 10, khi còn cách Cairo khoảng 100 kilomet, cuộc tấn công đã ngừng lại theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Trên cao nguyên Golan, mùng 6 tháng 10, quân đội Siry đã tấn công vào tuyến phòng ngự đầu tiên của Israel, nhưng trận đấu tăng hạng nặng đã kéo dài đến tối. Bóng tối hỗ trợ quân đội Siry – các xe tăng T-55 và T-62 trang bị khí tài nhín đêm, còn các kíp xe Centurion” và M-48 chỉ có thể dựa vào đạn vạch sáng và tên lửa, đèn pha và đèn chiếu. Lúc đầu, lính tăng Israel đã bật đèn pha để tham chiến, nhưng rõ ràng, làm như vậy sẽ lộ vị trí xe tăng, đèn pha trong trường hợp này chỉ ủng hộ quân đội Siry. Còn đối với tên lửa vạch sáng, các trưởng xe Israel không kịp quan sát thấy đối phương để chỉ thị mục tiêu cho pháo thủ. Sau đó, trong bóng đêm, một số xe tăng bị va vào đá và đứt, gãy xích. Tư lệnh lữ đoàn tăng Israel đã ra lệnh cho các xe của mình đứng tại vị trí và bắn vào bất kỳ mục tiêu nào đang di chuyển.

Các trận chiến khốc liệt trên mặt trận Siry kéo dài tới mùng 10 tháng 10, khi quân đội Israel chiếm lại vị trí và tiến tới ranh giới ngừng bắn trước đó. Trong ngày này, phía Ả rập đã có Iraq và Jordani tham chiến. Ngày 12 tháng 10, quân đội Israel đã có thể tiến sâu vào lãnh thổ Siry 10-20 kilome, các bộ phận quân đội Siry bị chia cắt và đẩy lùi. Tuyến đường tới Damacus đã được mở ra. Quân đội Iraq đã cứu thủ đô Siry. Chiều 12 tháng 10, sư đoàn xe tăng Iraq số 3 trang bị T-54 đang hành quân đã tấn công các lữ đoàn xe tăng số 9 (trang bị Centurion) và 679 (trang bị Sherman) của Israel. Đây là trận đánh đầu tiên của lính tăng Iraq trong lịch sử quân đội nước này. Thực tế, sư đoàn đã bị tiêu diệt – bị mất khoảng 80 xe tăng (nguồn khác – 120) nhưng không thế ngăn chặn sức tấn công của Israel. Ngày 20 tháng 10, Israel và Siry đã ký hiệp định đình chiến.

Theo thông tin của Bộ quốc phòng Israe, tổ thất trên mặt trận Siry là 250 xe tăng, còn Siry và đồng minh – 1500 xe tăng (chủ yếu là T-54/55). Chiến tranh “Yom-Kippur” đã đi vào lịch sử với việc sử dụng quy mô lớn xe tăng T-54/55 từ phía Ả rập cũng như Israel. Mặc dù tổ thất cao, nhưng về tổng thể, tối thiểu, các xe tăng T-54/55 đáp ứng mức độ hiện đại đối với xe tăng thiết giáp phương Tây. Việc này được công nhận bởi chính người Israel – một sỹ quan cao cấp trong quân đội Israel đã từ chối so sánh các xe tăng Mỹ với T-54 và T-62 khi nhấn mạnh rằng quân Ả rập “đơn giản là thể hiện không đúng lúc và đúng chỗ, gây ra tổn thất cao về xe tăng” («просто оказывались не в том месте и не в то время, с чем и связаны их высокие потери в танках»). Sự khẳng định khác là ngay sau chiến tranh, để tìm kiêm sự thay thế M-60 của Mỹ, Israel đã đề nghị mua xe tăng “Chieftain” của Anh.

Cuộc xung đột tiếp theo ở Trung Đông có sự tham gia của T-54/55 là chiến tranh ở Liban năm 1982. Các cuộc đụng độ diễn ra giữa Siry và tổ chức vũ trang giải phóng Palestin (PLO) với Israel. Vào thời điểm đó, đã trở nên tụt hậu và đóng vai trò chính là các xe tăng T-62 và T-72 hiện đại hơn. Nhưng các xe tăng T-54/55 vẫn có số lượng đáng kể trong quân đội Siry cũng như phiên bản nâng cấp có tên gọi Ti-67 trong quân đội Israel.

Đầu năm 1982, quân đội Siry ở Liban đang kiểm soát khoảng 70% lãnh thổ nước này, gồm có thủ đô Beirut. Phần lớn lực lượng tinh nhuệ của Sir tại Liban tập trung ở thung lũng Beka: sư đoàn tăng số 1 và lữ đoàn tăng 91 trang bị T-62 và T-72. Ở Beirut và quanh thành phố là lữ đoàn tăng độc lập số 85 và một số đại đội xe tăng trang bị T-54. Tổng cộng, lục quân Siry có 2200 T-54/55, 1100 T-62 và 400 T-72. Đồng minh Siry – tổ chức giải phóng Palestin (PPO), trong biên chế có lực lượng thường trực (chủ lực) – 6 lữ đoàn quân đội giải phóng Palestin; 4 lữ đoàn thường trực đóng ở Liban, 2 - ở Siry. Biên chế lữ đoàn Palestin là 3 tiêu đoàn “commandos”, đại đội xe tăng (T-34 hoặc T-54/55; tổng cộng lực lượng PLO có 60 T-35-85 nhận được từ Hungari, 40-50 T-54/55 – trước đó thuộc quân đội Siry), 1-2 đại đội pháo 122mm hoặc “Cachiusa” BM-21 (Grad – tổng cộng 320 pháo và BM-21).

Trong quân đội Israel có 1100 xe tăng Centurion, 650 M-48, 810 M-60, 400 “Merkava”, 250 T-54/55, 150 T-62. Mật danh cuộc chiến ở Liban – chiến dịch “Hòa bình Galile” với 1200 xe tăng. Cuộc tấn công được lên kế hoạch theo ba hướng – hướng tây (tới Beirut), hướng trung tâm và vào thung lũng Beka.

Chiến sự bắt đầu từ mùng 6 tháng 7 năm 1982, khi quân đội Israel vượt qua biên giới bắc Liban. Những cuộc đụng độ đầu tiên giữa Israel và Siry diễn ra mùng 8 tháng 6 (sau khi Israel đánh tan các căn cứ chiến binh PLO) trong trận đánh ở Jeazzin. Ngày 11 tháng 6, các trận đánh lớn đã diễn ra ở ngoại ô Beirut. Buổi sáng, các phân đội thuộc sư đoàn xe tăng số 96, các lữ đoàn “Golan” đã tấn công trận địa lữ đoàn xe tăng 85 và sư đoàn bộ binh 62 của Siry đang chiến đấu cùng các lữ đoàn PLO. Gần thành phố Kfar-Sil, nơi có 2 đại đội “comandos” và 28 xe tăng T-54 phòng thủ do 2 đại đội bộ binh thuộc lữ đoàn “Golan” được tăng cường tiểu đoàn xe tăng Merkava. Trong trận đánh, một trong các đại đội Merkava đã bắn cháy 16 xe tăng T-54 và 3 BMP, nhưng đại đội trưởng thiệt mạng. Quân đội Israel cần đến 19 giờ để vượt qua đường phố chính của Kfar-Sil dài tổng cộng 1 kilomet. Khi vượt qua thành phố, xe tăng Israel đã tiến thẳng tới ranh giới phía Nam sân bay quốc tên Beirut.

Sau khoảng thời gian yên tĩnh, chiến sự ở khu vực Beirut lại bùng nổ. Tháng 8, trong khu vực phòng thủ sân bay, tiểu đoàn tăng T-54 thuộc lữ đoàn tăng 85 và 3 tiểu đoàn comandos có lực lượng đông hơn quân đội Israel.

Cuộc đấu tăng quy mô lớn cuối cùng giữa Israel và quân Ả rập đã kết thúc vào mùa thu năm 1982. Tổ thất trong chiến tranh đối với hai bên đều nặng nề. Quân đội Israel tổn thất không dưới 1/3 số lượng xe tăng. Theo thông tin của Israel, quân đội Siry và PLO mất 334 xe tăng.
Logged
meo-u
Thành viên
*
Bài viết: 89


« Trả lời #379 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2013, 08:32:56 pm »

Sirya đánh nhau cũng khá phết bác Đại bàng nhỉ. Đánh trực diện thế là giỏi rồi. Không đến nỗi để quân Ít bắn như bắn vịt.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM