Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:18:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940  (Đọc 107228 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:08:40 am »

Tình hình nghĩa quân trong thời gian ở Truông Mít ra sao, cả về lực lượng, chiến đấu, sinh hoạt thế nào, hầu như không có tài liệu để lại, kể cả trong nhiều cuộc tọa đàm về cuộc K.N.NK không thấy nhắc tới.

Ở đây, chúng tôi dẫn một tài liệu báo cáo của một tên chỉ điểm của viên quận Hậu, quận trưởng Đức Hòa (Chợ Lớn) được cài theo nghĩa quân ngay sau vụ nghĩa quân giết quản Nên và bếp Nhung ở Đức Hòa. Đây là tình hình nghĩa quân nhìn theo cách nhìn của một tên chỉ điểm, để tham khảo.

Chỉ điểm tên là Nguyễn Văn Chàm, sinh năm 1899, thẻ thân số 09821, người Mỹ Hạnh.

Ngày 15-12-1940, quận Hậu cho Chàm 10 đồng (Đông Dương) làm tiền lộ phí đi dò la nghĩa quân. Nội dung báo cáo viết:

Tôi theo dấu vết của Yến (Nguyễn Văn Yến tức Năm Hổ) và Một (Huỳnh Văn Một tức Huỳnh Văn Ỷ) đến tận Giồng Ông hòa và Đức Lập. Không gặp được hai người này, nhưng tôi thấy Phó Công, một tề nhỏ có cảm tình với cộng sản ở Đức Lập. Công thường lấy tin cung cấp cho cộng sản. Công hứa sẽ giới thiệu tôi với Yến và Một. Công hẹn ngày 2-12 dẫn tôi đi gặp, nhưng hôm đó quan Quận lại bắt Công.

Tôi đến Cầu Khởi, lên tới Mỹ Hạnh (vẫn thuộc đất Đức Hòa). Tại đây, tôi gặp Re và Tên. Hai người này nói cho tôi biết Yến và Một đang ở nhà tên Thảo làng Xuân Thới Sơn (Gia Định). Tôi nói với Re và Tên dùng thuyền qua dầm làng đến nhà Thảo (làm thầy thuốc. T.G.). Tại đây, tôi đã gặp được Yến và 6 người nữa, một người trẻ là bí thư cộng sản, một chánh đội trưởng.

Hôm tôi gặp chỉ huy cộng sản, họ hỏi tôi mục đích. Tôi kể rằng tôi bị bao vây tứ phía, tôi đến đây để được nhờ bảo vệ.

Cộng sản cho tôi 15 lít gạo, một gói cá khô và khuyên tôi tìm chỗ ẩn ở “Ao Ba làng” trong 5 ngày. Sau đó theo đi nữa, lên Truông Mít.

Khi tới Truông Mít, tôi biết họ có 3.000 đồng (Đông Dương). Chi rồi (mua thức ăn T.G.), hiện còn 2.300 đồng, do chánh đội trưởng giữ. Chỉ huy của họ có 5 súng, 4 mousquetons, 50 viên đạn, 1 súng calibre 24 và 9 viên đạn.

Ở truông Mít tất cả có 81 người.

35 Tân Phú Trung

12 Mỹ Hạnh và Đức Hòa

33 Tân Sơn Nhứt, Bà Quẹo, Hóc môn.

có 15 súng calibre 24 và 100 viên đạn

5 súng mousquetons không kể súng lục của Yến.

Sau mấy cuộc chạm trrán (với quân đội Pháp), một số chết và bị thương, phần lớn giải tán đi các nơi. Tôi theo 15 người (phần lớn là người Đức Hòa T.G.) trở về Mộ Ba Làng, Gia Định, với 6 súng trong đó có 4 mousquestons, 2 súng lửa (fusils gras) và 1 súng lục của Yến.

Tôi gửi những tin tức thu lượm được cho ông quận trưởng Đức Hòa qua Hương Giáo ở Mỹ Hạnh. Nhưng viên tề này báo cáo những tin ấy không đúng cho ông Quận trưởng, cho nên ngày 15-1-1941 (tức là 1 tháng kể từ ngày tên Chàm ra đi T.G.) ông Cò Bà Điểm chỉ bắt Thảo và tên thư ký bé con. Tên thư ký khai man với ông cò là của con Thảo. Vì vậy ông cò thả hắn cùng với tên Thảo. Các nhà chức trách vây một nhà khác, như nhà Thảo. Tên chánh đội trưởng, một “thị Ba” nào đó (có thể đây là nữ nghĩa quân Tơ, em ruột của Yến (Năm Hổ) và là người yêu của Lê Văn Lao, Phó bí thư quận ủy Đức Hòa T.G). Một và Yến trốn được về làng Thới Ni mang theo dụng cụ in truyền đơn, 4 súng và một súng lục, bằng đường nhỏ rậm rạp…

Tên chánh đội trưởng đã đi Sài Gòn để bắt liên lạc với người của Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc giử về liên lạc với bọn phiến loạn ở đây. Các tên Yến va Một đã đi Thủ Dầu Một để trao đổi với một hoặc hai người Trung Quốc ở đó, chỉ cho cách làm bom.

Phong trào khởi nghĩa này nói cho đúng, chưa hoàn toàn bị dẹp, những người cộng sản chưa chịu bị đánh bại. Trong sáu tháng nữa, một phong trào khác có thể xảy ra mạnh và nghiêm trọng hơn. Nguyễn Ái Quốc lúc đó đã gửi 200 máy bay Trung Quốc tới Đông Dương, giúp đảng cộng sản Đông Dương và những người Nam kỳ tiến hành chiến tranh.

Để giết hẳn chủ nghĩa cộng sản và phòng giữ Đông Dương khỏi mọi nguy hiểm biến động nghiêm trọng, cần phải bằng mọi giá bắt bọn chánh đội trưởng, Yến, Một…

Các tên Di và Sung cùng tôi từ Ao Ba Làng đến nhà Thảo (Xuân Thới Sơn), Di và Sung được chánh đội trưởng giao cho một cây súng lửa Calibre 24 và 9 viên đạn. Tôi rủ hai ngươi về Mỹ Hạnh. Rồi tôi cho em tôi đến báo cho hương quản, bảo y đi báo cho quận trưởng Đức Hòa.

Quận trưởng cho tề và lính lang đến Mỹ Hạnh và vây bắt cả ba người vào lúc 5 giờ sáng ngày 19-1-1941…

Hiện nay, họ đã biết tôi đứng về phía chính phủ. Tôi không thể đi làm chỉ điểm được nữa. Nhưng tôi giới thiệu với các quan hai người là Tên và Hẹ. Họ sẽ thay tôi lấy tin tức cho các quan. Tôi tiếp tục trung thành với các quan, hết lòng phục vụ các quan, theo các cuộc vây càn của các quan.

Ngày 20-1-1940(1).


(1) Xem trong: Báo cáo về phong trào khởi nghĩa tháng 11 năm 1940 ở quận Đức Hòa (Chợ Lớn). Hồ sơ K.H.IIA. 45/326 (1/5). TT.LT2. TP.HCM.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:10:36 am »

Hôm sau, ngày 21-1-1941, hai tên Tên và Hẹ đến trình diện quận Hậu và quân Hậu chuẩn bị tổ chức một cuộc càn quét vùng Xuân Thới Sơn (Gia Định).

Ngày 26-1-1941, có sự thỏa thuận trước của quận Thọ, quận trưởng quận Hóc Môn, quận Hậu (Đức Hòa) mang theo súng máy và 40 lính tới Xuân Thới Sơn.

Trên đường từ Đức Hòa đi Hóc Môn, cách Đức Hòa 3 kilômét, bên bờ một đầm lầy giáp ranh Mỹ Hạnh và Xuân Thới Sơn, trong một gian nhà lá của Bà Mười Bài (chồng là nghĩa quân đã bị Pháp bắt, đang giam ở nhà tù, quân của quận Hậu thấy có nhiều nghĩa quân. Quận Hậu ra lệnh cho linh tiến từ từ thận trọng, nấp sau các gò mả, còn cách lán 100 mét, thì từ phía nghĩa quân bắn 3 phát. Trong khi đó, 15 nghĩa quân phục sẵn cách đó vài trăm mét nhả đạn. Quân của quận Hậu nằm rạp xuống tránh đạn và tia súng máy như vãi đạn. 5 nghĩa quân trong lán cùng nghĩa quân phục bên ngoài bảo vệ, rút theo đường bụi rậm đầm lầy về phái Mỹ Hạnh… Sau đó kéo vào Đồng Tháp Mười chiến đấu bên cạnh nghĩa quân căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo. Chúng tôi sẽ trình bày cuộc chiến đấu tiếp diễn tại đây ở phần cuộc khởi nghĩa ở Tân An.

Khi nghĩa quân rời Truông Mít, ngoài số anh chị em người Đức Hòa rút về địa phương như trên đã nói, một số về làng, một số khác tuy người Gia Định, nhưng cũng kéo vào Đồng Tháp Mười, tiếp tục cuộc chiến đấu.

Riêng toán nghĩa quân Tổng Long Tuy hạ theo đồng chí Đặng Công Bỉmh trở về Tân Phú Trung. Trên đường về nghĩa quân mấy lần chạm trán với địch đang truy lùng.

Toán đồng chí Bỉnh lần vê tới ấp Xóm Mới thuộc làng Trung lập, thì bọn chỉ điểm phát hiện. Chúng liền báo cho tề nổi mõ báo động và huy động dân bao vây. Đồng chí Bình hạ lệnh cho nghĩa quân tản ra lẩn tránh, còn đồng chí chui vào một cây rơm để ẩn núp, nhưng do vội vàng sơ ý để lộ đầu súng ra ngoài. Tên Rường, cháu Hương quản Tước trông thấy liền nổ súng, trúng gẫy chân đồng chí Bình. Bọn tề xua dân vào bắt đồng chí Bỉnh. Nhưng dân cứ đứng ngoài, không làm theo lệnh bọn tề. Hương quản Tước lên tiếng dọa dân: “Các người theo cộng sản hay sao mà không chịu vào bắt cộng sản?”.

Thấy vậy, tuy bị gẫy chân, đồng chí gắng gượng nói với người dân: “Tôi còn súng đây, nhưng tôi không bắn lại nhân dân”. Nó xong, đồng chí giương súng bắn lên trời một phát. Đồng chí nói tiếp: “Súng đạn này để bắn vào đầu bọn đế quốc Pháp, đuổi chúng đi, giành lại độc lập tự do cho nhân dân ta. Tôi không làm hại gì nhân dân. Bỉnh này có chết con trăm ngàn Bỉnh khác, còn nhân dân, cách mạng tnước ta nhất định thành công”.

Hương quản Tươc bảo tên Rường cháu y, bắn chết đồng chí Bỉnh, vì chúng sợ không dám đến gần. Cai tổng Lệnh nhanh chân vội vàng đến gần đồng chí Bỉnh, nói để y cõng và gọi xe thổ mộ đưa đồng chí Bỉnh về quận, lập công với quận Thọ. Sau đó cai tổng Lệnh được khen thưởng.

Bắt đồng chí đồng chí Bỉnh, quận Thọ rất súng sướng, y cho người săn sóc vết thương và giở trò tranh thủ, hy vọng đồng chí Bỉnh khuất phục. Nhưng đồng chí Bỉnh rất vững vàng, tỏ thái độ không đội trời chung với bọn đế quốc cướp nước và tay sai. Cuối cùng chúng đưa đồng chí Bỉnh ra tòa, kết án tử hinh và đem thi hành ngay tại Hóc Môn. Quần chúng rất kính phục tinh thần chiến đấu và thái độ bất khuất trước kẻ thù của đồng chí Bỉnh. Địch gọi đồng chí Bỉnh là “nguyên soái Bỉnh”(1).

Đế quốc Pháp xử bắn đồng chí Bỉnh cùng lúc với đồng chí Sáng bi thư quận ủy, chỉ huy đánh quận Hóc Môn và hai đồng chí nữa. Sau đó Pháp còn xử bắn một loạt đồng chí đảng viên và nghĩa quân nữa của Gia Định tại Hóc Môn, như các đồng chí Vàng, vợ đồng chí Giềng, vợ đồng chí Phi, đồng chí Lạc, đồng chí Tư…(2).


(1) Theo tài liệu: Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ của Gia Định. Như trên đã dẫn. Ký hiệu B40-S/217.
(2) Theo tài liệu: Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ của Gia Định. Như trên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:12:31 am »

III. - CUỘC NỔI DẬY Ở CHỢ LỚN

Chợ Lớn(1) có vị trí rất quan trọng, nằm sát cạnh thành phố Sài Gòn. Phần đất tỉnh lỵ Chợ Lớn được đô thị hóa nhanh chóng dưới chế độ cai trị và khai thác của thực dân Pháp, cho nên Pháp chủ trương cắt ra và nhập với Sài Gòn thành thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn.

Chợ Lớn là đất có truyền thống cách mạng lâu đời. Từ khi đế quốc Pháp xâm lược, ở Chợ Lớn liên tục có phong trào yêu nước nổi dậy chống thực dân Pháp.

Khi Đảng cộng sản thành lập năm 1930, tại Chợ Lớn đã có cơ sở đảng và phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo khá mạnh, nhất là ở các xã Đức Hòa, Mỹ Hạnh, Hữu Thạnh, Bình Tả, Hòa Khánh, Tân Phú Thượng (Đức Hòa), Bình Trị Đông, Tân Tao (Trung quận)… Cuộc biểu tình ngày 4-6-1930 của 1.500 nông dân cá xã Hữu Thạnh, Mỹ Hạnh, Đức Hòa kéo vào quận lỵ Đức Hòa do đồng chí Châu Văn Liêm, phụ trách liên tỉnh ủy Gia Đinh - Chợ Lớn, đích thân lãnh đạo, là sự kiện lịch sử truyền thống của phong trào cách mạng tỉnh Chợ Lớn, đồng thời gây ấn tượng mạnh làm cho bọn cai trị tỉnh Chợ Lớn luôn luôn quản ngại mỗi khi chúng nhắc tới. Chính trong cuộc biểu tinh này, theo lệnh của tên Renault, chủ tỉnh Chợ Lớn và tên chánh mật thám Nam Kỳ Nadaud, viên sen dầm Dreuil đã bắn đồng chí Châu Văn Liêm, chỉ cách có 2 mét…

Trong cuộc vận động dân chủ chống phả động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh xâm lược, đòi tự do, cơm áo, hòa bình (1936-1939), phong trào của tỉnh Chợ Lớn khá mạnh.

1. Công tác chuẩn bị

Từ tháng 4-1940, Tỉnh ủy Chợ Lớn đã được thông báo tinh thần đề cương khởi nghĩa của xứ ủy, nhưng phải sau mấy cuộc hội nghị chính thức của Xứ ủy tháng 7 và tháng 9-1940, mới được phổ biến kỹ càng và Tỉnh ủy chủ trương thực hiện nghị quyết của Xứ ủy. Đồng chí Dương Công Nữ, Xứ ủy viên được phân công tiến hành công tác chuẩn bị và lãnh đạo cuộc nổi dậy giành chính quyền ở Chợ Lớn và hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa ở thành phố Sài Gòn.

Trong công tác tuyên truyền: vạch âm mưu thâm độc của bọn phát xít Pháp - Nhật, kêu gọi quần chúng đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, vận động quần chúng gia nhập các hội phản đế, ngoài hình thức rải truyền đơn, mít tinh nói chuyện, các quận ủy còn dùng cả hình thức báo chí, như ở Đức Hòa xuất bản tờ báo bí mật Dân nghèo, ra từ những năm 1937-1938 được duy trì cho đến lúc khởi nghĩa.

Đảng bộ càng chú trọng vận động quần chúng phản đối việc bắt lính, tiến hành việc giải thích chính sách của Đảng cũng như âm mưu của địch trong binh lính tại ngũ của Pháp.

Về công tác chuẩn bị lực lượng vũ trang, các quận, tổng đều thành lập đội du kích, mở lớp huấn luyện quân sự, mua sắm vũ khí. Trung bình mỗi xã có từ 10 đến 15 du kích, nhưng có nơi tới một trung đội như xã Long Hiệp thuộc tổng Long Hưng Hạ (Trung quận)…

Các đội du kích ngoài việc học đánh võ, côn quyền, kiếm, phóng lao, tên, một số động tác quân sự cơ bản, còn học công tác phá hoại cầu đường, cứu thương, đánh trận giả (như ở Đức Hòa) có Huỳnh Văn Một đã đi lính cho Pháp giải ngũ, hướng dẫn).

Lãnh đạo chung cuộc khởi nghĩa toàn tỉnh do đồng chí Dương Công Nữ (không có Ban khởi nghĩa tỉnh). Ở cấp quận, tổng đều thành lập Ban khởi nghĩa. Cấp quận đều do đồng chí Bí thư quận ủy làm trưởng Ban khởi nghĩa, như Trung quận do đồng chí Nguyễn Văn Nhâm; Cần Đước - đồng chí Phan Văn Mảng; Cần Giuộc đồng chí Nguyễn Thị Bảy; Đức Hòa đồng chí Nguyễn Văn Yến (tức Năm Hổ). Thành viên trong Ban khởi nghĩa phần lớn gồm các đồng chí đảng viên, nhưng cũng có quần chúng cốt cán dũng cảm có nặng lực và hăng hái hoạt động.

Các xã cũng có Ban khởi nghĩa, nhưng chưa đều khắp. Riêng tổng Long Hưng Hạ (Trung quận) do đồng chí Dương Công Nữ, Xứ ủy viên kiêm bí thư tỉnh ủy phụ trách, đã lập được 6/7 Ban khởi nghĩa xã.

Theo kế hoạch của Ban khởi nghĩa Xứ, mỗi quận của tỉnh Chợ Lớn phải tổ chức một đội quân tiếp ứng vào nội thành chiến đấu, dưới sự chỉ huy của Ban khởi nghĩa Xứ.

Mỗi đội của quận thường có từ 60 đến 70 người. Đội của Trung quận do Nguyễn Văn Trấn, của Cần Đước do Nguyễn Đình Tri (Ba Tri), Của Cần Giuộc do Nguyễn Văn Trân và của Đức Hòa do Huỳnh Văn Một (Huỳnh Văn Tiến tức Ỷ) chỉ huy. Các đội đều tự trang bị, nhận mật lệnh, địa điểm tập kết, phương tiện di chuyển vào phút chót do đồng chí Nữ phổ biến.


(1) Tỉnh Chợ Lớn có 4 quận: 12 tổng, 72 làng.
Đức Hòa: 2 tổng, Tổng Cầu An thượng: Lộc Giang, An Ninh, Hiệp Hòa, Tân Phú Thượng, Đức Lập, Mỹ Hạnh, Hòa Khánh, Đức Hòa.
Tổng cầu An Hạ: Hữu Thạnh, Lương Hòa, An Thạnh, Tân Tạn, Tân Nhựt, Tân Bửu. Quận trưởng: Tri phủ Nguyễn Hữu Hậu.
Trung quận: 3 tổng, 15 xã.
- Tổng Long Hưng Thượng: Bình Trị Đông, Tân Tạo, Tân Nhật, Tân Kiên, An Lạc.
- Tổng Long Hưng Trung: An Phú Tây, Tân Túc, Bình Chánh.
- Tổng Long Hưng Hạ: An Thạnh, Thanh Hà, Phước Lợi, Long Hiệp, Long Phú, Tân Bử.
Cần Giuộc: Quận trưởng, Tri phủ Sửu.
Cần Đước:
- Chủ tỉnh: Gouttes
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:13:30 am »

2. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ

Mệnh lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy tới tỉnh Chợ Lớn về tới cac quận không cùng một lúc, cho nên việc thực hiện không đồng loạt.

Dứoi sự chỉ huy của đồng chí Dương Công Nữ, nghĩa quân của tỉnh Chợ Lớn chia làm hai lực lượng:

Một lực lượng được chọn những người trung kiên của Trung Quận, Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hòa, nằm dọc đường chiến lược số 4, Sài Gòn đi Miền Tây, đưa lên hỗ trợ và tham gia nổi dậy ở thành phố Sài Gòn. Một lực lượng nổi dậy tại chỗ.

Về lực lượng đưa lên thành phố:

Người của Trung quận tập trung tại Thanh Hà, khoảng 60 nghĩa quân chia làm hai cánh, một cánh theo đường thủy với 3 ghe vũ khí, xuất phát từ rạch Cây Trôm, lên tập kết ở Xóm Cúi (Sài Gòn), do đồng chí Cương và Lẹt chỉ huy. Một theo đường bộ bằng mọi phương tiện kể cả xe lửa, lên nội thành cùng tập kết ở Xóm Cúi do đồng chí Trấn chỉ huy.

Quận Cần Đước cử 10 người của tổng Thượng do đồng chí Tri chỉ huy, 20 người của tổng Hạ do đồng chí Mão chỉ huy, sang nhập với nghĩa quân Trung Quận, đi lên thành phố.

Nghĩa quân của Trung Quận và Cần Đước đã tập kết ở Xóm Cúi đúng giờ hẹn, tản ra rải rác trước các rạp xi-nê, quán giải khát cung quanh đầu cầu Xóm Củi. Mỗi người mang theo quần đui, áo cộc tay, một khăn tay trắng để buộc sát nách khi hành động. 3 thuyền vũ khí cũng đã vượt qua hai đồn Bình Điền và Rạch Cát lên tới chân cầu Xóm Củi, để phát cho nghĩa quân trước giờ hành động.

Đúng 12 giờ khuya, đèn Sài Gòn và Chợ Lớn vẫn sáng, không thấy có tiếng súng nổ. Đồng chí chỉ huy cho anh em biết liên lạc với các nơi đã bị đứt, lính Pháp chặn các ngả đường ra vào thành phố, xét giấy tờ tất cả những ai qua đường. Lính đang đi chơi phố cũng bị đưa lên xe về doanh trại, có lẽ không xong rồi, cho nên đồng chí chỉ huy ra lệnh anh em rút về địa phương kể cả mấy thuyền vũ khí.

Ở Đức Hòa, nghĩa quân Mỹ Hạnh và Hữu Thạnh do đồng chí Huỳnh Văn Một chỉ huy đã theo đường 9 đến tập kết ở Bàu Xen đợi xe camion, chuyển về thành phố. Nhưng đến giờ gần sáng, không thấy tiếng súng nổ, đèn phía Sài Gòn vẫn cháy và cũng không thấy xe đến, đồng chí Huỳnh Văn Một vội cho nghĩa quân rút về Giồng Cám.

Còn ở Cần Giuộc, khoảng 100 nghĩa quân, trong đó có anh em Bình Xuyên, đồng chí đồng chí Nguyễn Văn trân chỉ huy, đã tập trung tại xóm Các Chú và vùng Chánh Hưng, đợi lệnh tiến vào thành phố, nhưng thấy cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn chưa nổ ra, cho nên đến gần sáng thì lực lượng này giải tán.

Như vậy là cùng với Thủ Dầu Một, Gai Định, tỉnh Chợ Lớn đã đóng góp một lực lượng nghĩa quân quan trọng cho cuộc khởi nghĩa thành phố Sài Gòn, nhưng cuộc khởi nghĩa ở thành phố đã không nổ ra.

Tuy nhiên, theo mệnh lệnh chung, quần chúng của tất cả các quận thuộc tỉnh Chợ Lớn đã vùng dây.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:14:15 am »

1. Tại Trung Quận:

Khoảng 12 giờ trưa ngày 22-11, mệnh lệnh khởi nghĩa đã đến Ban chỉ huy tổng Long Hưng Hạ (nơi đóng cơ quan của đ/c Dương Công Nữ), rồi đưa tới các tổng khác. Ban khởi nghĩa quận tức tốc chuẩn bị lực lượng đưa lên thành phố, đồng thời các chi bộ xã sẵn sàng đưa quần chúng xuống đường vào nửa đêm ngày 22 rạng ngày 23-11.

Đúng 0 giờ ngày 23, nghĩa quân chiếm Nhà việc An Thạnh, đốt hết hồ sơ sổ sách, rồi kéo sang chiếm Nhà việc Long Phú. Cuộc nổi dậy do đồng chí Nguyễn Văn Nhâm chỉ huy. Trước khí thế tiến công của quần chúng, lính mã tà bỏ chạy. Hương quản Kiên bị nghĩa quân An Thạnh đánh bất tỉnh, còn hương hào Phươc bị đập chết vì tội chống phá cách mạng…

Nghĩa quân bao vây nhà tên phủ Trần Văn Cương, thu 1 súng. Đội du kích do đồng chí Bốn chỉ huy tiến đến Cầu Bến Lức tước 2 súng của lính và để cho lính về nhà. Còn ở nhà máy xay Năm Thông, đồng chí Khéo dẫn nghĩa quân đến tước 1 cây súng.

Ở Long Phú, nghĩa quân chặn bọn lính đi tuần, chúng hoảng sợ bỏ chạy. Nghĩa quân đánh Tua Doi Lá, thu 2 súng; trong khi đó nghĩa quân có quần chúng cốt cán hỗ trợ cắt giây thép, đốn ngã cột điện và phá banh một đoạn đường sắt dài 3 kilômét từ Bến Lức đi Gò Đen (Gò Đen - Ngã ba Long Kim).

Nghĩa quân do đồng chí Phan Văn Hảo chỉ huy chiếm đồn Gò Đen, còn tại Nhà việc Phước Lợi thấy nhân dân sôi sục, tề và lính bỏ chạy trươc khi nghĩa quân kéo tới.

Ở Tân Bửu, nghĩa quân do đồng chí Chát chỉ huy, phá Nhà việc, đốt hết giấy tờ, thu 1 súng.

Tại Thanh Hà, từ đêm ngày 22, nghĩa quân đã chiếm nhà việc treo cờ đỏ búa liềm. Sáng ngày 23, tước 1 súng của Hương quản Ngựa. Trước khí thế cách mạng của nhân dân, Hướng chánh Lung vội đem nộp 1 súng. Ở Mỹ Yên, nghĩa quân do đồng chí Lại Văn Dưỡng chỉ huy, tước 1 súng của Hương chánh Mười.

Tổng Long Hưng Thượng do đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh chỉ huy (sang tháng 1-1941 thì đồng chí Kỉnh được vào Xứ ủy Nam Kỳ, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lần 2) đã cử đồng chí Lê Công Thép đi liên lạc với thành phố Sài Gòn, khi được tin Sài Gòn không có nổi dậy, đồng chí Kỉnh đã ra lệnh phân tán lực lượng, nhưng địch vẫn bắt của ta một số đảng viên và cốt cán.

Ngày 23-11, địch đưa lính về tăng cường cho bốt Thanh Hà, lùng bắt hơn 30 người (trong đó có 2 nghĩa quân, giam ngay tại xã. Ngay đêm đó, Thanh Hà cử người sang Long Hưng Hạ mượn thêm 3 súng, đến 9 giờ tối, nghĩa quân có hàng trăm dân làng hỗ trợ, bao vây bốt. Bọn lính hoảng sợ bỏ chạy, ta giải thoát được số người bị giam giữ.

Mấy ngày tiếp theo, nghĩa quân tổng Long Hưng Thượng vây nhà Cai tổng Bắc, Hương quản Nhu, bắn gẫy chân tên này), Hương quản Ngời, Hương sư Khôi ở Tân Tạo, thu 2 súng. Sau đó nghĩa quân ở đây nhập với nghĩa quân Bình Hưng Đông (Gia Định), thành một đội du kích trên 30 người do đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh chỉ huy. Lúc này đội chỉ dựa vào dân, tránh địch càn quét nhằm duy trì lực lượng cho cuộc khởi nghĩa tới. Nhưng chỉ khoảng một tháng sau, phải giải tán.

Ngày 26-11, bọn tề dẫn lính đi bắt vợ chồng đồng chí Chất, dẫn qua xóm Ngọn (Long Phú), nghĩa quân chặn đánh phục kích, bắn bị thương Hương quản Rớt và Hương chủ Hiếu.

Cuối tháng 11, sau 7 ngày nổi dậy, Ban khởi nghĩa tổng Hưng Hạ họp bàn, quyết định phân tán lực lượng, dân về làng, còn cán bộ, cốt cán lộ mặt, đi lẩn tránh nơi khác…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:15:24 am »

2. Quận Cần Đước

Ban khởi nghĩa quận do đồng chí Phan Văn Mảng, tỉnh ủy viên kiêm bí thư quận ủy, làm Trưởng ban. Ngày 22-11, một bộ phận được cử đi nhập với du kích Trung Quận để tiếp ứng cho thành phố, như trên đã nói.

Khởi nghĩa của tổng Hạ (Khu B) còn lại, theo chủ trương của Ban khởi nghĩa chia làm hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất gồm nghĩa quân 3 làng Phước Tuy, Tân Ân, Tân Chánh khoảng 100 người có nhiệm vụ đánh chiếm bắc (phà) Cầu Nối và kinh Nước Mặn.

Bộ phận thứ hai, gồm nghĩa quân các xã còn lại của Tổng Hạ, khi nào thấy súng lệnh đánh chiếm quận lỵ, thì tiến vào phối hợp.

Khoảng 10 giờ đêm ngày 22-11, có hai bộ phận đã vào các vị trí tập kết. Nhưng đội tiên phong của bộ phận thứ nhất đến cầu Chú Thơ (quận lỵ Cần Đước) thì đụng phải dân binh đi tuần. Chúng hoảng sợ, vừa chạy vừa la hét kêu cứu. Nghĩa quân đuổi theo bắt được 3 dân binh, nhưng bọn cai trị trong quận liền bố trí đối phó. Thế là kế hoạch đánh chiếm quận lỵ bị lộ trước giờ nổ súng. Bộ phận nghĩa quân thứ nhất phải phân tán rút lui. Mục tiêu đánh chiếm trại lính và dinh quận, diệt tên đội Bực khét tiếng ác ôn, không thực hiện được.

Bộ phận thứ hai chờ mãi không thấy pháo lệnh của bộ phận thứ nhất, gần sáng thì có tin họ đã rút, cho nên cũng phải lui về Tân Lân, Phước Đông chờ lệnh mới.

Sáng ngày 23-11, nghĩa quân tổng Hạ (Khu B) chiếm Nhà việc Phước Vân, Long Định, đốt toàn bộ sổ sách, treo cờ búa liềm trước nhà Việc. Xã Bàng ở Phước Vân xin nộp súng cho nghĩa quân.

Từ ngày 24-11, địch cho quân cùng bọn cảnh sát đi lùng bắt nghĩa quân. Chúng bắt anh Giao, Bà Bảy Sen, đồng chí Ngự (tức Phạm Trường Sanh), đồng chí Năm Bè. Chúng đem bà Bảy Sen phơi nắng một ngày. Ngày 29-11, chúng bắt đồng chí Ngự và anh Giao tại bến đò xã Bảy, còn đồng chí Năm Bè bị Pháp thủ tiêu mất tích…

Trong tình thế không có liên lạc với cấp trên và địch khủng bố mạnh, ngày 30-11, các đồng chí quận Cần Đước họp bàn lập lại Ban khởi nghĩa lần 2, do nữ đồng chí Ơn làm trưởng ban. Nhưng cũng không hoạt động được, cho nên số nghĩa quân cùng nữ đồng chí Ơn phải giải tán, tạm lánh đi nơi khác.

3. Quận Cần Giuộc

Ngày 22-11, ban khởi nghĩa nhận được mệnh lệnh lãnh đạo quần chúng nổi dậy của tỉnh. Khoảng 100 nghĩa quân trong dó có anh em Bình Xuyên, được tập hợp để đưa lên thành phố như trên đã nói.

Lực lượng nghĩa quân tại chỗ, ngay trong đêm 22-11, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Thị Bảy, Tỉnh ủy viên, bí thư quận ủy trực tiếp làm trưởng Ban khởi nghĩa, đã chiếm nhà việc xã Phước Lại, đốt hết sổ bộ, kéo đến bao vây nhà hương hào Kiên, tước 1 súng, định đến nhà Hương chánh Trung lấy thêm súng, nhưng y đi vắng.

3 giờ sáng ngày 23-11, các chi bộ lãnh đạo quần chúng xuống đường đốt Nhà việc Long Đức Đông, Long Hậu Tây, phá cầu Rạch Giơi, cắt dây điện thoại, điện tín Cần Giuộc  - Trường Bình. Nghĩa quân các xã Phước Hậu, Mỹ Lộc đốn cây chặn đường giao thông.

Chiều ngày 23, nghĩa quân Phước Lại tước 1 súng lửa của Hương trưởng Tích ở Phước Vĩnh Đông.

Ngay trong ngày 23-1, chủ tỉnh Chợ Lớn tăng thêm lính cho Cần Giuộc. Chúng lùng sục bắt bớ quần chúng. Để chặn lính đi càn, nghĩa quân đốt cầu Ông Chuồng, cầu Rạch Đạp, ngả cây trên hương lộ 19 và 22, đoạn đường Phước Vĩnh Tây - Tân Thanh.

Ngày 26-11, nghĩa quân tiếp tục truy lùng bọn tề, đốt Nhà việc Long Hậu, chống địch khủng bố.

Trong khi càn quét, địch bắn bừa bãi vào nhân dân, bắn chết Năm Nhàn, một tướng của anh em Bình Xuyên tại Phước Lại, nhằm khủng bố tinh thần nhân dân.

Đồng chí Trần Phấn Đấu từ Sài Gòn về cho các đồng chí lãnh đạo Cần Giuộc biết cuộc khởi nghĩa ở thành phố đã thất bại, địch đang khủng bố rất dã man các nơi đã nổi dậy, Xứ ủy có lệnh cho các nơi rút vào bí mật và bảo vệ lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa lần hai.

Cuối tháng 11-1940, Ban khởi nghĩa Cần Giuộc đứt liên lạc với cấp trên, các đồng chí họp bàn củng cố lại Ban khởi nghĩa, vì một số đã bị bắt và phiêu bạt nơi khác.

Ban lãnh đạo sau khi được củng cố, đã rút vào rừng Sác.

Ngày 8-12-1940, trên đường vào rừng Sác, nghĩa quân diệt 2 tên ác ôn là Hương quản Tuấn và Hương hào Ngà, thu 2 súng. Như vậy ở Chợ Lớn nghĩa quân đã lấy được tất cả 16 cây súng các loại.

Ngày 14-1-1941, trong một cuộc càn quét của lính địch ở bến đò Long Đước Đông, chúng đã bắn chết đồng chí Trần Chí Nam (Ban khởi nghĩa quận Cần Giuộc) và bắt được đồng chí Nguyễn Thị Bảy. Những cuộc càn quét khủng bố tiếp theo, địch đã bắt nhiều người, đốt phá nhiều nhà cửa, trong đó có nhà ông Trần Chí Mười, một địa chủ lớn, thân sinh đồng chí Trần Chí Nam.

Ngày 18-1-1941, Pháp đưa các đồng chí Nguyễn Thị Bảy, Đang. Châu Tiếp, Thiệp… ra sân banh Cần Giuộc xử bắn.

Đồng chí Nguyễn Thị Bảy cùng các đồng chí khác đã tỏ thái độ rất hiên ngang dũng cảm, hô to các khẩu hiệu:

- Đả đảo đế quốc Pháp!

Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!

Ngay bọn Pháp cũng phải khâm phục tinh thần dũng cảm của đồng chí Nguyễn Tị Bảy, chúng đã gọi chị là “Hoàng hậu đỏ”(1)


(1) Một số tư liệu, sự kiện trên đây, chúng tôi dựa vào cuốn Lịch sử Chợ Lớn - Tân An trong Nam Kỳ khởi nghĩa do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Long An, xuất bản năm 1995.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:16:38 am »

4. Quận Đức Hòa

Đức Hòa là nơi có truyền thống cách mạng lâu đời, Pháp phải kiêng nể và luôn luôn đề phòng từ những năm 1930.

Trước cuộc nổi dậy, cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng ở đây khá mạnh. Địch thấy truyền đơn, biểu ngữ luôn luôn xuất hiện ở các xã. Chúng đã đề phòng trước, trang bị cho đồn Đức Hòa một tủ gỗ sao rất chắc chắn để cất súng, cho làm hàng rào chung quanh bảo vệ đồn và có lệnh không cho ai được đến gần.

Đức Hòa có hai tổng, theo địch đánh giá tổng Cầu An Hạ là cái nôi của bọn hoạt động chống đối, vài trung tâm cộng sản ở phía Bắc quận. Tổng Cầu Am thượng có cộng sản ở Xóm So Đo, Tân Quí Hạ. Địch cho rằng Tỉnh ủy Chợ Lớn đóng ở xã Mỹ Hạnh (Tổng Cầu An Hạ) sát quận Hóc Môn (Gia Định). Luôn luôn có những cuộc hội họp từ 3 đến 5 người, có khi vài chục người ở các rừng tràm thuộc các xóm Giồng Lớn và rừng Dầu của xã Mỹ Hạnh.

Bọn tề mà Pháp cho là trung thành nhất với chúng là Hương trưởng Trương Văn Nhưng, Hương quản Nguyễn Văn Dừa, Hương hào Lai Văn Dậu…

Không an tâm về tình hình Đức Hòa, ngày 26-10-1940 viên quận trưởng Đức Hòa, tri phủ Nguyễn Văn Hậu đã triệu tập toàn thể bọn tề trong quận về Mỹ Hạnh để nghe y hiểu dụ, kêu gọi lòng trung thành với nước mẹ Pháp, đồng thời tung ra lời đe doạ trấn áp, nếu có cuộc nổi dậy chống “Nhà nước”.

Ngày hôm sau, bọn tề đem nộp cho quận trưởng một bức thư của chi bộ cộng sản Mỹ Hạnh gửi cho các đảng viên triệu tập họp vào ngày hôm sau (28/10) ở rừng thưa Giồng Lốt (xã Đức Hòa), nơi giáp ranh các xã Mỹ Hạnh, Đức Hòa và Đức Lập.

Nội dung bức thư như sau:

“Không cần thiết phải tổ chức nhiều cuộc biểu tình trong một tổng. Cần phải tập hợp lực lượng của chúng ta vào một chỗ mà thôi, như thế chúng ta tăng thêm sức mạnh quyết định…

Chúng ta cũng không cần đấu tranh chống nhân viên cảnh sát và tề làng, bởi nhiệm vụ của chúng ta là đem lại độc lập cho tổ quốc và giải phóng đồng bào ta.

Nhân viên cảnh sát và tề làng là đồng bào của chúng ta. Họ đã và đang cùng chúng ta trong tình trạng bị chinh phục. Chúng ta phải tuyên truyền tốt, nhằm kéo họ ra khỏi cõi u mê và sai lầm của họ, để họ gia nhập với ta, mời họ đi với ta.

Địa điểm chỗ họp của chúng ta. Tìm chỗ xa trung tâm, tức là những chỗ lính làng và tề khó vào để làm chỗ họp. Chúng tôi đã quyết định nơi họp là một trong những rừng thưa Giồng Lốt. Một khoảng khá rộng đã được lựa chọn để họp vào 5 giờ sáng ngày 28-10-1940 cho tất cả các đồng chí.

Cuộc họp sẽ thảo luận trong một giờ…”.

Nhận được tin này, chủ tỉnh cho ngay viên cò Jacquot xuống cùng với quận Hậu tổ chức việc bao vây địa điểm nói trong thư.

Ngya từ 1 giờ đêm ngày 28-10, chúng chia làm hai bộ phận, theo hai hướng: một hướng do Jacquot chỉ huy có cảnh sát, lính làng, từ Đưc Hòa theo đường hàng tỉnh số 10, gặp đường 8 rẽ tay phải tới Đức Lập, tiến vào rừng thưa Giồng Lốt.

Một hướng do quận Hậu chỉ huy mang theo lính mã tà, từ quận lỵ theo đường hàng tỉnh số 9 khoảng vài trăm mét thì vào đường mòn, đường này nhiều quãng bị đào cắt đứt, lội bùn ngập đến đầu gối, nước dâng đến bụng.

Vất vả lắm mãi tới 5 giờ sáng ngày 28-10, hai bộ phận mới tới được rừng thưa Giồng Lốt. nhưng cũng chẳng thấy gì cả. Chúng cho là bị cộng sản đánh lừa.

Ngay ngày hôm sau (29-10), quận Hậu triệu 2 cai tổng và các viên chức đồn Đức Hòa đến nghe y truyền đạt sự hoạt động của cộng sản và bàn cách đối phó, ngăn chặn.


Sơ đồ bao vây cuộc họp chi bộ ở Giồng Lốt của địch ngày 28-10-1940
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:19:13 am »


Bản đồ Đức Hòa
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Một, 2010, 10:36:46 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:20:26 am »

Địch cố gắng ngăn chặn cuộc khởi nghĩa của quần chúng Đức Hòa

Chiều ngày 22-11, quận Hậu đã được chủ tỉnh Gouttes báo cho biết cần phải đề phòng, đêm nay có thể cộng sản nổi dậy đánh chiếm nhiều nơi, nhất là các đồn, quận lỵ.

Quãng 11 giờ đêm ngày 22-11 Dubois Tổng Giám Đốc hãng đường Đông Dương ở Hiệp Hòa, từ Sài Gòn về, có ghé qua quận lỵ, nhắc nhở quận Hậu phải đề phòng đêm nay cho đến sáng ngày 23.


Ảnh trụ sở quận trưởng Đức Hòa

Ngay tức khắc, quận Hậu lấy xe có ký Mỹ, trường đồn Cảnh sát Phó quản Trần Văn Nên, đi bóa động cho các cai tổng và tề làng. Đúng 12 giờ đêm, xe ô tô của quận Hậu đến ruộng mía của ông Sơn, cách quận lỵ khoảng 500 mét thì chúng nghe thấy tiếng súng phía làng Tân Phú Thượng bên sông Vàm Cỏ vang lại. bọn chúng dừng lại và xuống xe. Chúng không biết rằng lúc đó đã có khoảng 400 nghĩa quân tập kết sau chùa, đợi lệnh tiến công quận lỵ Đức Hòa (Mãi 4 ngày sau bọn tề mới báo lại cho quận hậu biết sự việc này). Bọn quận Hậu lên xe đi tiếp, đến 1 giờ 30 sáng ngày 23, xe của chúng đến cầu đúc thuộc xã Mỹ Hạnh, nơi giáp ranh Đức Hòa và Hóc Môn, chúng thấy tiếng súng phía Hóc Môn nổ dữ dội…

Đức Hòa nổi dậy

Sau khi nhận được lệnh khởi nghĩa, các đồng chí trong Ban khởi nghĩa gồm Nguyễn Văn Yến, bí thư quận ủy, trưởng ban, Lê Văn Lao, Vườn, Huỳnh Văn Một, Võ Thị Phái (em Võ Văn Tần) họp bàn quyết định đưa một bộ phận do Huỳnh Văn Một chỉ huy lên chiến đấu ở thành phố. Địa điểm tập kết ở Bàu Sen, nhưng không thấy xe đến đón, cho nên rút về Gồng Cám.

Còn lực lượng nổi dậy tại chỗ, nghĩa quân các làng Đức Hòa, Mỹ Hạnh do đồng chí Lê Văn Lao chỉ huy, tập trung sau chàu Am, có ruộng mía của ông Sơn che khuất, cách quận lỵ khoảng 500 mét, đợi tiếng súng nổ ở Sài Gòn là kéo vào chiếm đồn và quận lỵ (Xe quận Hậu vào lúc 24 giờ đêm đậu đúng chỗ nghĩa quân đang tập trung như trên đã nói).

Đợi mãi chẳng thấy động tĩnh gì, các đồng chí Yến và Lao cho nghĩa quân rút về Giồng Cám.

Nghĩa quân Tân Phú và các làng lân cận tập trung tại vùng Mía Láng, theo kế hoạch được phổ biến, chờ xe chuyển súng từ Sài Gòn, để đánh chiếm nhà máy đường Hiệp Hòa. Trong nhà máy đã có sẵn một tiểu đội tự vệ làm nội ứng. Nhưng chờ mãi đến 3 giờ sáng không thấy gì, nghĩa quân phải phân tán, tiểu đội tự vệ ở nhà máy đường cũng không nổi dậy một mình.

Khoảng 10 giờ đêm, nghĩa quân thôn Bình Thủy làng Đức Hòa trong đó có đảng viên và quần chúng cốt cán Ngọ, Hứa, Súng, Đức, Mách, É, Túc, Ngọn… tất cả khoảng 50 người kéo đến bao vây nhà hương thân Sai. Đầy được nghĩa quân giao cho gọi hương thân Sai báo rằng đang có cướp. Hương thân Sai vừa ra khỏi nhà với cây súng, liền bị nghĩa quân tước luôn. Sau đó, tất cả kéo đến sau chùa Am nhập bọn với nghĩa quân các xã khác đang tập hợp ở đấy, chuẩn bị tiến công quận lỵ Đức Hòa, như trên đã nói.

Sau khi nghĩa quân kéo về tập trung ở Giồng Cám, Ban khởi nghĩa họp bàn đề ra một kế hoạch rất táo bạo. Nghĩa quân đào sẵn 14 tăng-xê sau bụi tre rậm rạp của nhà bà Truyện để làm nơi ẩn náu phục kích của nghĩa quân (có thể do đồng chí Huỳnh Văn Một hướng dẫn và chỉ huy đào tăng-xê, vì đồng chí Một đã đi lính cho Pháp). Sau đó cử Hương quản Dần (đã theo cách mạng) lên đồn Đức Hòa báo cho trưởng đồn, có vụ giết người ở Giồng Cám.

Phó quản Nên vội vàng mang lính theo đường 10 rồi rẽ vào Giồng Cám. Thoáng thấy bóng bọn lính, ở nơi phục kích một nam, một nữ lên tiếng kêu cứu. khi quản Nên đi xe đạp tới chỗ phục kích, nơi đó có bùn lầy lội, thì bị khoảng 100 nghĩa quân đợi sẵn sau lũy tre và tăng-xê nổ hai phát súng. Một phát trúng vai phó quản Nên và một phát trúng bếp Nguyên Văn Nhung, cả hai chết ngay tại chỗ. Súng vừa nổ, thì nghĩa quân xông ra chém bếp Thái Kim Hưng và lính Trần Thanh hai bị thương, địch chuyển về nhà Thương Lalung Bonnaire (Chợ Lớn). Còn những lính khác bỏ chạy.

Trận phục kích này, ta thu dược 4 súng trường, 1 súng lục. Và sau đó nghĩa quân chia làm hai rút về đầm lầy Hậu Hòa, Nhơn Hòa (xã Đức Hòa) và Đức Lập, Mỹ Hạnh (Xem sơ đồ chỗ Phó quản Trần Văn Nên, trưởng đồn cảnh sát Đức Hòa bị phục kích do địch vẽ).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2010, 08:21:41 am »


Sơ đồ nơi quản Nên, bếp Nhung bị phục kích ở Giồng Cám, Đức Hòa



Ảnh tăng-xê do nghĩa quân đào phục kích ở Giồng Cám, Đức Hòa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM