Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:39:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, 23 tháng Mười Một năm 1940  (Đọc 107219 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #100 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:31:07 pm »

Trong rừng Rạch Gốc, chi bộ họp kiểm điểm tình hình và bàn chủ trương đối phó với địch. Có ý kiến nêu ra nghĩa quân nên rút đi Phú Quốc, nếu gay quá rút sang vùng biển Thái Lan, đợi thời Nhưng đồng chí hiển cho rằng cần phải chờ liên lạc với cấp ủy, xin ý kiến cấp ủy, hơn nữa đây là vùng ta quen thuộc có thể dựa vào để tránh địch. Thuận theo ý kiến đó, ngày 17-12, nghĩa quân dùng ghe biển dến Xẻo Già. Địch bám theo. Nghĩa quân phải làm bè vượt sông đến Kinh Ba. Tại đây lương thực hết, nước uống không còn, phải tìm nước trong bọng cây để uống, nghĩa quân lại phải chuyển sang Rẫy Khai Long. Địch dùng ghe xuồng máy tiếp tục truy lùng, có tề và tay sai địa phương chỉ lối. Ngay 22-12, sau nhiều ngày đêm lẩn tránh trong rừng rậm, sông, biển, tại Bãy Rây binh lính địch đã bắt được các đồng chí Hiển, Sến, Cự, Luân, Giữ và Nở (Dĩa), trong tình trạng đói khát, đang ngủ thiếp. Riêng đồng chí Giai và Búp kịp trốn thoát, vì không ngủ, nhưng hai ngày sau cũng bị địch bắt.

Những ngày tiếp sau, địch càn quét, bắt tới 228 người của Bạc Liêu (con số của địch). Chúng tra kháo đánh đập nghĩa quân và những người bị bắt tàn bạo và dã man.

Ngày 21-4-1941, có bọn tề hỗ trợ địch bắt 7 người thu được 10 súng do ta sản xuất, nửa thùng thuốc súng, một số dụng cụ làm vũ khí tại Khánh Bình.

Ngày 27-2-1941, Pháp đưa 52 người tham gia cách mạng ở Rạch Gốc - Cà Mau và đánh chiếm Hòn Khoai ra xử trước tòa án.

Chúng kết tội:

- 10 người tử hình.

- 5 người chung thân

- 1 người 20 năm tù khổ sai và 20 năm quản thúc.

- 3 người 20 năm tù khổ sai và 10 năm quản thúc.

- 3 người 15 năm tù khổ sai và 15 năm quản thúc.

- 12 người 10 năm tù khổ sai và 10 năm quản thúc.

- 5 người 8 năm tù khổ sai và 8 năm quản thúc.

- 2 người 5 năm tù khổ sai và 5 năm quản thúc.

11 người được tha.

Mười người bị chúng xử tử hình là các đồng chí:

- Quách Văn Phẩm, thường vụ tỉnh ủy, lãnh đạo khởi nghĩa khu vực Một.

- Phan Ngọc Hiển chỉ huy đánh chiếm Hòn Khoai.

- Nguyễn Văn Cự.

- Đỗ Văn Sến.

- Nguyễn Văn Cẩn (Đặng Văn Cát)

- Đỗ Văn Biên.

- Võ (Lê) Văn Bình.

- Lê Tôn (Văn) Khuyên.

- Nguyễn Văn Đắc (Đạt).

- Ngô Kinh Luân, bí thư chi bộ Rạch Gốc.

Ngày 12-7-1941, Pháp đưa 10 đồng chí ra sân vận động Càm Mau để xử bắn. Các đồng chí tỏ thái độ bình tĩnh, hiên ngang trước kẻ thù. Đồng chí Phan Ngọc Hiển giựt vải che mắt, nhìn về phái đồng bào hô to:

- Đả đảo đế quốc Pháp!

- Đông Dương độc lập muôn năm!

- Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!

Các đồng chí khác cùng hô theo.

Trong báo cáo tháng 7 năm 1941 của địch còn lưu lại, một đoạn như sau:

“Trước lúc bị bắn, Ngô Kinh Luân (Cà Mau) hô to:

Ôi! Hỡi đồng bào dân tộc!

Tôi sắp chết vì Tổ quốc, vì giống nòi!

Cách mạng thế giới thành công!...”

Pháp còn đày 27 chiến sĩ cách mạng của Bạc Liêu ra Côn Đảo, về sau chỉ còn 16 người trở về. 11 người đã hy sinh ở Côn Đảo, sau những trận đòn tra tấn và ốm đau bệnh tật, thiếu thốn.

Sau cuộc nổi dậy thất bại, có sự chỉ đạo của Xứ ủy mới, tỉnh ủy Bạc Liêu được lập lại. tỉnh ủy đã chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lần thứ hai…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #101 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:33:37 pm »

XI. CUỘC NỔI DẬY Ở LONG XUYÊN, CHÂU ĐỐC

Ngay sau khi Đảng ta ra đời, trong cao trào cách mạng 1930-1931, cùng với Hóc Môn (Gia Định), Đức Hòa (Chợ Lớn), Cao Lãnh (Sa Đéc), Chợ Mới (Long Xuyên) là những nơi có phong trào cách mạng rất mạnh ở Nam Kỳ. Đế quốc Pháp luôn luôn quan tâm lo ngại những nơi này.

Thi hành nghị quyết của Xứ ủy về việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Long Xuyên thực hiện khẩn trương và tích cực. Tuy nhiên một điều tai hại cho Long Xuyên là địch đã cài được một tên lính kín vào hàng ngũ những người cộng sản và nắm chức bí thư tỉnh ủy. Vì vậy đến lúc nổi dậy so với các tỉnh khác, ở Long Xuyên chỉ nổ ra có vài nơi rời rạc, và không mạnh.

Tháng 8-40, sau hội nghị của Xứ ủy ở Tân Hương (Mỹ Tho) đồng chí lương Văn Cù, bi thư liên tỉnh ủy Long Xuyên trực tiếp phụ trách tỉnh Long Xuyên Châu Đốc triệu tập cuộc họp tại nhà đồng chí Bội (xã Kiến An, quận Chợ Mới) gồm có Nguyễn Ngọc Uẩn, Nguyễn Ngọc Quang, Hình Văn Hây, Võ Văn Tổng, Lê Duy Hinh, Nguyễn Văn Cự (Chà, bí thư tỉnh ủy, lính kín)…

Hội nghị đề ra những công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng gia nhập các Hội phản đế như nông dân, thanh niên phản đế, phụ nữ giải phóng… tổ chức các đội vũ trang, sắm vũ khí, luyện tập võ nghệ, cách đánh du kích…

Về Đảng, các chi bộ phỉ nghiên cứu nắm vững chủ trương của Xứ ủy, lãnh đạo địa phương thực hiện những công tác do hội nghị tỉnh vạch ra.

Trong tháng 8, 9/40, khắp các quận Chợ Mới, Tân Châu, Châu thành đêu có rải truyền đơn, căng biểu ngữ, treo cờ…

Quần chúng góp gạo, góp tiền cho cách mạng; góp sắt để rèn giáo mạc, dao găm… cho du kích. Nhiều cuộc mít tinh được tổ chức để động viên và tuyên truyền quần chúng hưởng ứng và ủng hộ cuộc khởi nghĩa do Đảng phát động, có cuộc hàng mấy trăm người dự.

Trước tình hình sôi sục như thế ở nông thôn, cả ở các thị trấn, địch tăng thêm việc lùng xục bắt bớ. Ngày 11-8, chúng bắt 3 người ở Châu Thành, hôm sau chúng bắt 2 người ở Chợ Mới, vì chúng cho rằng những người này đã rải hàng trăm truyên đơn. Theo báo cáo của địch, ngày 14-8 bọn cảnh sát mật thám vào làng Kiến An (Chợ Mới) bắt Nguyễn Van Linh vì khám trong nhà thấy 20 truyền đơn kêu gọi chị em phụ nữ vùi trong đống thóc. Chỉ trong một ngày 3-9-40, địch đã thực hiện 7 cuộc kiểm soát làng Kiến An (Chợ Mới) bắt 5 đàn ông, 2 đàn bà, vì chúng cho rằng những người này đã rải truyền đơn…

Cũng theo báo cáo của địch còn lưu lại, ngày 17-10, Tỉnh ủy Long Xuyên đã họp và quyết định ngay việc lạc quyên sáu nghìn đồng Đông Dương (6.000 đ) cho Xứ ủy để chi tiêu cho “chiến tranh” và chuyển một số cấp ủy thành Ban Khởi nghĩa(1) Địch biết quá rõ như thế này, vì bí thư tỉnh ủy là lính kín.

Lệnh của Xứ ủy cho các nơi phải nổi dậy vào đêm ngày 22 rạng gnày 23-11. Nhưng lệnh đó đến Ban khởi nghĩa tỉnh chậm 7 ngày, vì tên Chà (Cự) nhận được, nhưng y đã giữ lại, không đưa ngay cho tỉnh ủy (lúc đó các đồng chí Tỉnh ủy chưa biết, chưa nghi ngờ và cũng chưa phát hiện tên Chà là lính kín).

Đồng chí Lương Văn Cù liên thay mặt liên tỉnh ủy triệu tập ngay cuộc họp vào ngày 28, 29-11-1940, tại nhà bà Cúc xã Long Điền (quận Chợ Mới), do đồng chí Lương Văn Cù chủ trì. Sau khi thông báo lệnh của Xứ ủy, Hội nghị thảo luận và đã nẩy sinh hai ý kiến khác nhau. Có ý kiến đề nghị hoãn cuộc nổi dậy, vì các nơi nổi dậy đã bị đàn áp, kẻ địch ở tại chỗ đã đề phòng đối phó, tương quan so ta với địch, ta không thể giành thắng lợi. Ý kiến hoãn còn dựa vào việc từ ngày 25 đến 27-11-1940, Chủ tỉnh Legeat cùng chủ quận Chợ Mới đã lục soát các làng Kiến An, Long Điền, Mỹ Hiệp, Tân Mỹ (Chợ Mới), bắt 19 người. Nhưng, nhiều ý kiến cho rằng Long Xuyên, Châu Đốc phải chấp hành nghị quyết của cấp trên, phải nổi dậy để căng, kéo địch ra, hỗ trợ cho các nơi, hơn nữa đảng viên quần chúng đang náo nức chờ đợi, ta đã bố trí lực lượng, nếu Đảng bộ không lãnh đạo khởi nghĩa, có thể có nơi tự động, đảng bố sẽ có tội với cấp trên…


(1) Báo cáo chính trị tháng 10 năm 1940 của Thống đốc Nam kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương, H.Sơ IIA45/204(2) TT.LT2. TP.HCM.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #102 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:34:19 pm »

Thảo luận khá lâu, cuối cùng Hội nghị quyết định chấp hành lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy. Căn cứ vào tình hình thực tế của Long Xuyên và Châu Đốc do Ban khởi nghĩa phụ trách, đã phân công như sau:

- Trọng điểm tiến công của Long Xuyên là Chợ Mới. Trọng điểm tiến công của Châu Đốc là Tân Châu.

Cuộc nổi dậy ở Chợ Mới do đồng chí Nguyễn Ngọc Quang chỉ huy, có nhiệm vụ lãnh đạo các xã cùng nổi dậy và đánh chiếm quận lỵ.

Cuộc nổi dậy ở Tân Châu do các đồng chí Hẳn, Đua chỉ huy dùng lực lượng các xã Phú lâm, Long Sơn tiến hành đánh quận. Đồng thời huy động lực lượng các xã Hòa Hảo, Phú Thuận, Phú An… phá tề giành chính quyền.

- Để hỗ trợ cho Tân Châu, ở Tịnh Biên, đồng chí Phạm Văn Thừa dùng lực lượng quần chúng Nhơn Hưng, Thới Sơn, Xuân Tô, quấy rối tỉnh lỵ Châu Đốc, gây cho địch khó khăn lúng túng.

- Còn ở quận Hồng Ngự, chi bộ Thường Thới dùng lực lượng quần chúng đánh dinh quận.

- Tỉnh lỵ Long Xuyên, quận Châu Thành do Nguyễn Văn Cự (Chà) bí thư Long Xuyên chỉ huy, có nhiệm vụ dùng lực lượng du kích đánh phá Vàm Cống, chặn đường tiếp vận của địch, huy động quần chúng đốt phá các cơ quan của địch ở tỉnh…

Hội nghị quyết định thời điểm khởi nghĩa cho cả hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc là 0 giờ ngày 2-12-1940.

Các tỉnh chung quanh đã nổi dậy, địch tại Long Xuyên và Châu Đốc đã đề phòng, lại có thêm tên Chà làm lính kín biết rõ kế hoạch của ta, cho nên diễn biến của các nơi cho thấy, hầu như địch đều chặn trước.

Ngya 27-11-1940, chủ tỉnh Long Xuyên Legeat đang có mặt tại Chợ Mới điều khiến càn quét, bắt bớ, đã ra lệnh cho Trung úy Gaillard chỉ huy đại đội lính tập người Miên, phải gọi các đồn nhỏ về, tăng thêm quân cho bốt quận và Mỹ Luông; kêu gọi các điền chủ giàu có gửi tiền vào nhà băng và đưa gia đình về tỉnh lỵ, thị trấn lớn; tăng thêm quân canh gác, bảo vệ hai bên bờ Vàm Cống.

Ở tỉnh lỵ Long Xuyên và quận Châu Thành, tên Cự (Chà) nằm nhà không hành động.

Tại quận Chợ Mới. Theo đúng mệnh lệnh, nghĩa quân của Kiến An, Long Điền tập kết ở bãi Cồn Chín Dư, chia thành hai mũi, một mũi từ mé lộ đánh vào và một mũi từ hai sông đánh lên, nhưng cả hai đêu bị phục kích không thể nào đột nhập quận lỵ, đê hỗ trợ cho nghĩa quân tại quận lỵ. Trước tình thế ấy, nghĩa quân liên chuyển theo dọc lộ Long Điên để phối hợp với nghĩa quân Mỹ Luông do đồng chí Tám Hoành phụ trách, đào lộ, đốn cây, cắt giây điện tín, điện thoại, đốt phá cầu kinh Thầy Cai, Kinh Cựu Hội, kinh Trà Thôn, mương Ông Cha, mương quản Bèn…

Không vào được quận, nghĩa quân Kiến An phá 2 nhà tề phản động, tước 2 súng do Pháp giao cho chúng, 1 lính mã tà chống lại liền bị đâm trọng thương. Ở phía bên kia sông, nghhĩa quân đốt Nhà việc An Phong cùng toàn bộ hồ sơ sổ sách, lấy một súng. Đồng bào khắp các xã chung quanh quận lỵ Chợ Mới nổi trống mõ, hò reo, hô khẩu hiệu: - Đả đảo chính quyền đế quốc Pháp!

- Chính quyền về tay nhân dân!

- Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!

Trong lúc nghĩa quân các xã chung quanh tập trung tại địa điểm tập kết chuẩn bị vào hỗ trợ, thì đồng chí Nguyễn Ngọc Quang chỉ huy một đội du kích xông tới chiếm nhà dây thép. Bị địch bắn chặn, biết không thể chiếm được, đồng chí Quang cho lệnh đốt, rồi rút lui. Kết thúc cuộc đánh vào Chợ Mới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #103 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:34:51 pm »


Sơ đồ vùng nghĩa quân Chợ Mới (Long Xuyên) bị bao vây
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #104 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:36:29 pm »

Tại các quận Tân Châu, Hồng Ngự, Tịnh Biên cũng gặp tình trạng tương tự, địch đều chặn trước.

Nghĩa quân các xã Long Phú, Long Sơn, Long Thuận… đã được huy dộng tiến vào quận lỵ Tân Châu, nhưng binh lính địch canh phòng, ta không thể vào được.

Chi bộ Thường Thới đã tập trung lực lượng quần chúng từ Mương Kinh băng đồng tiến đến địa điểm tập kết cách dinh quận 200 mét chờ lệnh, nhưng phía Tân Châu bị lộ không hoạt động, trong tình thế bất lực, các đồng chí cho rút, cuộc đánh Hồng Ngự không thành. Ở Tịnh Biên lực lượng do đồng chí Phạm Văn Thừa chỉ huy đánh vào Châu Đốc cũng không thực hiện được.

Sau mấy ngày nổi dậy sôi sục mở một số xã thuộc các quận Chợ Mới (tỉnh Long Xuyên) và Tân Châu, Hồng Ngự, Tịnh Biên (tỉnh Châu Đốc) nghĩa quân chuyển sang đối phó với những cuộc càn quét của địch. Không kể lực lượng cảnh sát mã tà có tại chỗ, Pháp cho lệnh điều ngay một đại đội linh tập, lính Miên bổ sung cho Long Xuyên và Châu Đốc. Ở những nơi có phong trào nhưng không manh, chúng cho bọn sen đầm, cò Pháp mang lính đi bắt cán bộ và quần chúng cốt cán của ta. Riêng Chợ Mới chúng dùng lực lượng quân sự chính quy có vũ khí hiện càn quét liên tục nhiều ngày(1).

Ngày 10 và 11-2, dưới sự chỉ huy của chủ tỉnh Long Xuyên Logeat cùng với chủ quận Chợ mới, Finidori mang một trung đội lính tập và lính miên càn Chợ Mới, chúng cho lính đốt nhà, bắn phá bừa bãi. Chúng đã đốt gần 200 ngôi nhà và bắt 40 người…

Nghĩa quân các xã Kiến An, Long Điện, Mỹ Luông… khoảng 100 người phải rút vào Gồng Bánh Lái, khu vực nằm giữa cánh đồng 3 xã Kiến An, Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ, mà trong báo cáo của địch gọi là vùng giữa Rạch Ông Chương và Vàm Hào, để đối phó.

Trong hai ngày 13 và 14-12, Trung úy Gaillard chỉ huy một trung đội lính tập người Miên bao vây càn quét đốt phá bắt thêm mấy chục người nữa… Lần này cũng do chủ tỉnh Lageat chỉ huy.

Theo số liệu của địch trong các cuộc càn, chúng đã bắt của Long Xuyên 227 người, của Châu Đốc 88 người, trong đó phần lớn là các đồng chí lãnh đạo từ xã thôn trở lên.

Pháp đã xử tử hình: đồng chí Lương Văn Cù taị Hóc Môn; đồng chí Lê Minh Quang tại Cần Thơ còn 3 đồng chí Nguyễn Lương Dược, Lê Minh Ngươn, Huỳnh Văn Hây, chúng bắn tại núi Sam.

Pháp đã kết án:

- Đồng chí Nguyễn Ngọc Quang tù chung thân

- Đồng chí Hinh tù chung thân

- Đồng chí Giáp tù chung thân

- Đồng chí Chi tù chung thân

- Đồng chí Diện 20 năm tù và 20 năm quản thúc

- Đồng chí Tần 15 năm tù và 15 năm quản thúc

- Đồng chí Giáo 5 năm tù và 5 năm quản thúc…

Sau khi cuộc nổi dậy bị thất bại, Long Xuyên là một trong nhiều tỉnh được Xứ ủy chọn làm nơi chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa thứ hai, nhất là tích trữ vũ khí cho cuộc chiến đấu. Ngày 15-8-1941, trong một cuộc khám xét nhà đồng chí Trần Văn Ký tức Râu Lớn, bọn cảnh sát Sa Đéc đã bắt được: 1 súng lửa cải tiến, 29 súng do ta tự tạo, 1857 vỏ đạn, 13 kilô thuốc súng, 30 kilô diêm tiêu (salpêtre), 3 kilô diêm sinh (soufre), 1 kilô chlorate de potasse, 25 vỏ bom, 1 dụng cụ làm súng và bom…


(1) Để chuẩn bị đưa quân càn Chợ Mới, ngày 8.12.1940, Thống đốc Nam Kỳ điện số 369C báo cho chủ tỉnh Sa Đéc chuẩn bị chỗ đóng quân cho 2 sĩ quan, 3 hạ sĩ quan, 26 lính tập; tất cả là 3 sĩ quan, 17 người Âu, 144 bản xứ, từ Sài Gòn tới. HS. IIA.45/326 (1) TT.LT2. TP.HCM
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #105 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:38:02 pm »

XII. RẠCH GIÁ VÀ VIỆC CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA LẦN THỨ HAI

Một khó khăn của Rạch Giá là khi tiến hành chuẩn bị khởi nghĩa, địa phương chưa có tỉnh ủy, và như vậy không có Ban khởi nghĩa toàn tỉnh.

Sau mấy cuộc hội nghị Xứ ủy tháng 7 và tháng 9/40, Xứ ủy đã chủ trương tăng cường cán bộ cho các tỉnh, riêng cơ quan lãnh đạo tỉnh Rạch Giá vẫn chưa được; công tác chuẩn bị còn yếu.

Cuối tháng 9-40, đồng chí Lý Hồng Thanh do Liên tỉnh ủy Cần thơ cử về, đã tới quận Châu Thành đôn đốc các mặt công tác chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Đồng chí tiệu tập cuộc họp liên chi bộ tại Đồng Cây Gáo (ấp Mỹ Thuận, xã Mỹ Lâm), để phổ biến tình hình chung, phổ biến chủ trương khởi nghĩa của Xứ ủy và bàn việc thực hiện tại địa phương. Các cơ sở khác cũng được phổ biến.

Chi bộ Mỹ Lâm đã lựa chọn những người hăng hái, khỏe, tin cẩn để thành lập một đội du kích, sắm vũ khí, thô sơ như gươm, kiếm, mác, dao găm… và luyện tập.

Ở Phước Long, quận ủy tiến hành công tác tuyên truyền vận động quần chúng và binh lính địch. Quận ủy cùng chi bộ Mỹ Quới thành công những cuộc mít tinh ở cánh đồng Lớn của Vĩnh Lợi, nơi có cỏ rậm hoang vu, để vạch tội ác của bọn cướp nước va tay sai, kêu gọi quần chúng đứng lên đánh đổ chúng giành lấy chính quyền.

Ở các quận Long Mỹ, Gò Quao, Châu Thành đều có chuẩn bị. Riêng đội tự vệ tỉnh lỵ Rạch Giá, chi bộ nhà đèn đá có kế hoạch phá máy móc.

Xư ủy đã phát lệnh nổi dậy đi các nơi. Tại Rạch Giá trước ngày hành động, nữ giao liên Ngô Thị Bưởi (tức Liên) của Liên tỉnh ủy Cần Thơ, từ Sài Gòn về cho biết, phải đình chỉ cuộc khởi nghĩa ngay tức khắc, vì kế hoạch bại lộ, đế quốc Pháp đang đàn áp dữ dội(1). Tin đó truyền tới các quận; các nơi nghiêm chỉnh thi hành, chỉ còn làm một số việc như rải truyền đơn, tổ chức mít tinh nghe nói chuyện…

Tuy nhiên, địch vẫn tiến hành bắt bớ đảng viên và quần chúng tích cực. Kể từ ngày 22-11 đến hết tháng 12-40, Pháp đã bắt ở Rạch Giá 196 người (số liệu của địch).

Sau khi cuộc nổi dậy bị thất bại có ý kiến cho rằng ngày cuối tháng 12-1940 Xứ ủy Nam Kỳ đã họp kiểm điểm nguyên nhân thất bại, củng cố lại Xứ ủy và chủ trương tiến hành chuẩn bị cuộc khởi nghĩa lần thứ hai, đồng chí Phan Văn Bảy vẫn ở lại Xứ ủy.

Trong Hội nghị vào tháng 1-1991, Xứ ủy lại khẳng định việc chuẩn bị khởi nghĩa lần thứ hai và bàn lựa chọn các tỉnh miền Tây làm một trong những nơi lập căn cứ, chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. việc này Xứ ủy giao cho các đồng chí xứ ủy viên miền Tây và đề ra làm thế nào để nhanh chóng xúc tiến thành lập Liên tỉnh ủy Hậu Giang.

Thực hiện chủ trương của Xứ ủy, các đồng chí Phan Văn Bảy, phó bí thư xứ ủy, Lưu Nhân Sâm, xứ ủy viên tổ chức cho một số cán bộ ở Vĩnh Long, Cần Thơ… đã lộ mặt, chuyển vùng về Rạch Giá, như các đồng chí Ngô Thị Huệ, Nguyễn Thị Hồng, Phan Văn Hòa (Võ Văn Kiệt) cùng các đồng chí cán bộ giao liên Ba Đời, Chín Liên…

Môt bộ phận được cử đi tiền trạm, chọn nơi lập căn cứ. Một bộ phận được giao đi mua xuống ba lá, một loại xuồng đi 3 người, chuẩn bị đầy đủ thực phẩm, thuốc men, dụng cụ… rồi tất cả đóng vai những ngừoi đi gặt mướn, làm thuê, lần lượt theo sông, kênh đi xuống Rạc Giá. Riêng đoàn của nữ đồng chí Hồng trong đó có đ/c Võ Văn Kiệt… thì theo tàu sông công khai đi về Rạch Giá.


(1) Xứ ủy và Liên tỉnh ủy không có chủ trương đình chỉ khởi nghĩa. Có thể việc đình chỉ này do 1 đồng chí hoặc 1 số đồng chí nào đó tự động đưa ra.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #106 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2010, 02:39:32 pm »

Với cương vị phó bí thư Xứ ủy kiêm bí thư Liên tỉnh ủy Cần Thơ, đồng chí Bảy đã triệu tập hội nghị cán bộ các tỉnh trong phạm vi mình phụ trách, tại rừng U Minh, thuộc xã Vĩnh Thuận, quận Phước Long (Rạch Giá), để phổ biến tinh thần nghị quyết mới của Hội nghị Xứ ủy, bàn việc xây dựng căn cứ làm nơi đào tạo cán bộ chính trị và du kích cho Liên tỉnh; làm nơi sản xuất vũ khí chuẩn bị cho cuộc nổi dậy.

U Minh nằm vùng ranh giới hai tỉnh Bạc Liêu và Rạch Giá, được Hội nghị nhất trí chọn làm căn cứ, vì địa bàn có nhiều thuận lợi hơn các nơi.

Quận ủy Phước Long được tỉnh ủy lâm thời Rạch Giá (mới được thành lập) giao nhiệm vụ bảo vệ căn cứ U Minh…

Ngày 13-2-1941, thực hiện chỉ thị của Xứ ủy, đại biểu của 9 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ đã họp tại tỉnh lỵ Rạch Giá để lập lại Liên tỉnh ủy với tên gọi mới Liên Tỉnh ủy Hậu Giang(1).

Hội nghị đã đề ra những nhiệm vụ trong tình hình mới:

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức quần chúng và công tác binh vận để chuẩn bị lực lượng đón thời cơ mới (Cuối tháng 6-1941, khi phát xít Đức tiến công Liên Xô, có ý kiến cho đó là thời cơ để khởi nghĩa).

- Bổ sung một số đồng chí có năng lực cho các tỉnh phong trào còn yếu, bồi dưỡng cán bộ tại địa phương, bổ sung kiện toàn cấp ủy. Các tỉnh cử người đi dự lớp huấn luyện đào tạo cán bộ chính trị và du kích, để về xây dựng phong trào và thành lập đội du kích của địa phương.

- Ra báo làm cơ quan tuyên truyền của Liên tỉnh ủy.

- Phân công người lo tài chính cho Đảng. Các tỉnh đều có nhiệm vụ và có biện pháp cụ thể về vấn đền này (Ở phần nổi dậy ở Mỹ Tho đã có nói phần lớn số tiền nghĩa quân lấy được ở nhà địa chủ Đốc phủ Mầu, Cù Lao Năm thôn đã được đóng góp cho việc sản xuất vũ khí chuẩn bị cho cuộc nổi dậy)

- Tổ chức sản xuất vũ khí để tự trang bị…

Sau đó, ngay tại U Minh, đồng chí Phan Văn Bảy đã trực tiếp huấn luyện các lớp bồi dưỡng chính trị cho các tỉnh.

Trong vùng u Minh, việc sản xuất vũ khí được để ở khu riêng,. Để phục vụ cho việc sản xuất vũ khí, phải cử người đi các địa phương, quyên góp hoặc mua nguyên liệu như bạc cắc, ống đồng, thuốc súng hạt nổ, giây cháy… có khi phải lên Sài Gòn, Bến lức (Tân An), Hố Bò (Biên Hòa) để lùng kiếm.

Số người làm ở nơi sản xuất vũ khí là 13 người, đã tự tạo được súng lửa cỡ lòng 24, lóng súng bằng đồng; làm được bom tay ruột tằng thuốc súng trộn mảnh gạng, sắt, hoặc thủy tinh bên ngoài quấn băng nhiều lớn dây chì và sơn dầu hắc, hoặc cho vào lon sữa bò…

Chỉ từ tháng 1 đến tháng 4-1941, xưởng u Mnh đã chế tạo được 662 bom tay, 24 súng trường, nhiều đạn… Số vũ khí này được phân tán nhiều nơi.

Trong căn cứ U Minh, ngoài nơi sản xuất vũ khí còn có nơi cho cơ quan in tấp bằng xu xoa, để in truyền đơn, tài liệu.

Các chiến sĩ trong căn cứ được đồng bào tiếp tế, bảo vệ, tuy nhiên các chiến sĩ cũng lo sản xuất tự túc và giúp đỡ đồng bào.

Việc bảo vệ căn cứ, Tỉnh ủy Rạch Giá đã giao cho quận ủy Phước Long, nhưng Liên tỉnh ủy vẫn tổ chức một bộ phận quân sự do đồng chí Phan Văn Hòa (Võ Văn Kiệt) phụ trách để tự bảo vệ và huấn luyện cán bộ du kích cho các tỉnh.


(1) - Báo cáo chính trị tháng 6-1941 của Sở mật thám Nam Kỳ. HS B41-V/1443 Lưu trữ Ban N.C.L.S. Đảng thành phố Hồ Chí Minh.
- 9 tỉnh gồm: Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Hà Tiên, Sa Đéc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #107 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:17:25 am »

Vụ vỡ cơ sở cách mạng tại chùa Tam Bảo

Trong lúc Liên tỉnh ủy Hậu Giang đang tích cực thực hiện nghị quyết của Xứ ủy, các đảng bộ dần dần hồi phục và phát triển công tác có kết quả, nhất là các tỉnh Bạc Liêu, Rạch Giá, Cần Thơ, Châu Đốc… thì địch liên tục lùng xục bắt bớ gây cho ta nhiều thiệt hại, nhất là chúng bắt được một số cán bộ chủ chốt.

Trong tháng 4-1941, Pháp bắt đảng viên của các chi bộ làng Trà Côn, Vĩnh Xuân và một loạt cán bộ của tỉnh Cần Thơ.

Khám nhà Tám Mên, địch bắt được nghị quyết cuộc họp thành lập Liên tỉnh ủy Hậu Giang ngày 13-2-1941 (cuộc họp này ở U Minh, Rạch Giá như trên đã nói), giấy ghi công thức làm thuốc đạn, làm bom…

Sang tháng 5 trong hai ngày 7 và 8, cảnh sát Sa Đéc phối hợp với cảnh sát pháp lý lưu động Rạch Giá, bắt ở tỉnh lỵ Rạch Giá một loạt cán bộ của tỉnh Rạch Giá và Liên tỉnh ủy Hậu Giang, trong đó có nữ giao liên của liên tỉnh ủy là Nguyễn Thị Hai (tóc cắt ngắn gọi là Hai Bom-Bê) và 7 đảng viên của các chi bộ Mỹ Lâm và Sóc Sơn.

Những cuộc bắt ở tỉnh lỵ Rạch Giá đã giúp cho bọn Pháp tìm được nhiều tài liệu, dụng cụ in với hàng trăm truyền đơn, tài liệu về hoạt động du kích và chiến tranh du kích, nhất là lại thấy công thức làm thuốc súng, làm bom như đã bắt được ở nhà Tám Mên tại Cần Thơ, và bắt được khoảng 3 kilô cholrate de potasse, một chai glycérine, một ít thuốc súng, 1 kilô chì, hai ống tròn bằng sắt dùng làm lòng súng…

Tiếp tục đánh phá, ngày 5-6-1941, cảnh sát đặc biệt Sa Đéc phối họp với cảnh sát Pháp lý lưu động Châu Đốc khám xét một nơi chúng cho là cơ quan giao liên của Liên tỉnh ủy miền Tây và một căn nhà nhỏ ở tạm do Phan Văn Bảy thuê, chúng bắt được Phan Văn Bảy (Bảy Cùi) và 10 người nữa trong đó có 3 phụ nữ. Tại đây (tỉnh lỵ Châu Đốc), chúng thu được một số dụng cụ in, nhiều số báo Giải Phóng, khoảng 50 bức thư gửi cho những thân hào, trí thức, địa chủ…

7 ngày sau (12-6), Pháp bắt được đồng chí Lưu Nhơn (Ngân) Sâm, Xứ ủy viên tại Mỹ Hòa (Cần Thơ). Như vậy là những nhân vật chủ chốt ở miền Tây kể cả Quảng Trọng Hoàng đều đã sa vào tay giặc.

Những cuộc bắt bớ liên tục này, đã dẫn tới vụ vỡ cơ sở cách mạng của Đảng tại Chùa Tam Bảo

Chùa Tam Bảo ở tỉnh lỵ Rạch Giá có từ lâu đời. Năm 191, chùa được trùng tu như hiện nay, do nhà sư Thích Trí Thiền trụ trì. Là nhà sư yêu nước, từ lâu Thích Trí Thiền đã ủng hộ và giúp đỡ cách mạng.

Thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, chùa Tam Bảo là trụ sở của tạp chí TIẾN HÓA, một tạp chí cách mạng xuất bản bí mật tại Rạch Giá. Cho đến trước khi bị vỡ cơ sở này vẫn giữ được bí mật.

Lúc chuẩn bị khởi nghĩa lần hai, Tỉnh ủy đã chọn chùa làm cơ quan liên lạc cho Liên tỉnh ủy và tàng trữ vũ khí sản xuất tại U Minh chuyển ra, để phân phối đi các nơi. Lúc này, cách mạng đã cho đồng chí Trần Văn Thâu, Pháp danh Thích Thiện Ân và một số đồng chí nữa đến ở chùa với nhà sư Thích Trí Thiền mà nhân dân chung quanh thường gọi là ông Đạo Đồng với lòng kính trọng.

Do có chỉ điểm kết hợp với việc khai thác, cảnh sát Sa Đéc cho khám xét chùa Tam Bảo. Cùng với lính, địch còn dẫn theo một số đồng chí bị bắt như Phan Văn Bảy, Lưu Nhơn Sâm… tới chùa lục soát.

Chúng đào bới khắp nơi lục lọi khắp chỗ, thu thập được 59 trái bom do ta chế tạo ở rừng Ù Minh và một số tài liệu. Chúng tập trung bom để trên một chiếc bàn, dẫn hai nhà sư, các đồng chí Phan Văn Bảy, Lưu Nhơn Sâm và một số nữa, tất cả đều bị trói, đứng gần bàn để bom, co chúng thẩm vấn. Chúng tra khảo rất dã man, nhất là đồng chí Trần Văn Thâu (sư Thiện Ân, Phan Văn Bảy, Lưu Nhơn Sâm, với hy vọng moi được lời khai. Nhưng vô ích. Chính trong lúc tra khảo không hiệu quả thì một quả bom phát nổ làm bị thương nhiều người.

Chúng tôi xin trích một đoạn trong báo cáo của địch miêu tả sự việc, để rộng đường tham khảo.

Trong khi tra khảo “nơi cất giấu bom và truyền đơn, y (Trần Văn Thâu tức Thiện Ân) đã giả vờ ngất và trong khi mọi người săn sóc y, y đã nhảy về phía chiếc bàn trên có xếp những trái bom và không thể dùng các cánh tai bị trói, y đã tìm cách dùng người hất đổ chiếc bàn. Bị lúng túng trong cử chỉ của mình, đương sự chỉ đạt được việc làm rơi một trái bom, trái bom nổ và các mảnh của nó đã làm bị thương nặng một viên cảnh sát thị xã Sa Đéc, làm bị thương nhẹ viên cò cảnh sát đặc biệt tỉnh Sa Đéc, cùng với các tên phiến loạn Phan Văn Bảy và Lưu Nhơn Sâm cũng có mặt trong cuộc phỏng vấn.

Trong khi định hất đổ chiếc bàn, nhà sư ngoảnh về phía những người đang có mặt tại đó và kêu to: “Hãy làm như tôi, hãy làm như tôi!”.

“Xét nghiệm mấy trái bom, chúng tôi thấy nó làm bằng lon sữa bò, có quân dât sắt hoặc chì, ngoài phét dầu hắc. Các lon này chứa đầy chất nỏ gồm diêm tiêu và miểng chai cà nhỏ.

“Loại vũ khí này chạm nhẹ vào bất kỳ đâu là nổ tung thật mạnh, tạo tiếng nổ long trời và bùng lên một cụm khói dầy đặc.

Miểng bom mà tên Trần Văn Thâu hất nổ đã bay xa hai chục mét và một miếng cắm sâu khoảng 3 xăng-ti-mét vào một tấm tranh bằng gỗ hồng sắc (loại gỗ cứng như sắt T.G).

Theo điều tra của cảnh sát đặc biệt tại Phước Long thì những trái bom đó có thể được sản xuất tại Phước Long (Rạch Giá) với những nguyên liệu mà ta đã bắt được trong cuộc khám xét tại cơ quan liên tỉnh ủy Rạch Giá ngày 7/5 vừa qua, và nó được chuyển tới đây”(1).

Sau vụ này, địch lùng xục và phá căn cứ U Minh của ta.

Pháp đã đưa ra tòa và kết án tử hình các đồng chí:

Phan Văn Bảy, Lưu Nhơn Sâm, Trần Văn Thâu.

Xử tù nhà sư yêu nước Thích Trí Thiền và đầy đi Côn Đảo. Năm 1943, Sư Thiền đã hy sinh tại nhà tù Côn Đảo…


(1) Báo cáo chính trị tháng 6-1941 của Mật thám Nam Kỳ Hồ sơ B42-v/1443. Lưu trữ B.N.C.L.S.Đ. TP. Hồ Chí Minh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #108 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:19:18 am »

XIII. CUỘC NỔI DẬY Ở BẾN TRE

Khi chuẩn bị cũng như tiến hành khởi nghĩa theo chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ, Đảng bộ Bến Tre gặp nhiều khó khăn, bởi vì sau lúc chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, đế quốc Pháp khủng bố, Đảng bộ bị tổn thất nặng, nhiều cán bộ và đảng viên bị bắt. Các tổ chức quân chúng cũng bị vỡ.

Do đó, Xứ ủy phải cử đồng chí Phạm Thái Bường Xứ ủy viên về trực tiếp làm bí thư tỉnh ủy để củng cố phong trào, tiến hành chuẩn bị cho kịp với các tỉnh.

Cho đến lúc Xứ ủy ra lệnh khởi nghĩa, đồng chí Phạm Thái Bường cũng chỉ quan hệ được với một số nơi, chưa lập đươc Ban khởi nghĩa tỉnh và Ban khởi nghĩa các quận.

Đồng chí Phạm Thái Bường ở trong Xứ ủy, đã dự nhiều cuộc hội nghị Xứ, cho nên đã nắm được chắc nhiệm vụ kế hoạch, cũng như thời điểm của cuộc nổi dậy.

Đêm ngày 22 rạng sáng 23-11, một số nơi của Bến Tre đã nổi dậy theo lệnh của Xứ ủy.

Quận Mỏ Cày, do đồng chí Phạm Thái Bường trực tiếp chỉ huy, nghĩa quân đã phá hai cầu Cát Chát Lớn và Cái Chát Nhỏ, cắt lộ giao thông từ Bến Tre đi Trà Vinh, phá cột điện, cắt dây điện thoại, điện tín…

Tại quận Châu Thành, nghĩa quân cùng đông đảo quần chúng tập hợp tại Ấp Miễu nghe cán bộ nói chuyện và kêu gọi vùng lên đánh đổ đế quốc và tay sai. Cuộc mít tinh chuyển thành biểu tình thị uy kéo đến phá nhà việc tại các làng Long Quới, Phong Mỹ, đốt hết sổ sách và phá đường từ Mỹ Lồng xuống Giồng Trôm, đốn cây chặn giao thông, cắt dây điện thoại, điện tín…

Tại quận Ba Tri, nghĩa quân các làng Mỹ Nhơn, Mỹ Chánh Hòa, Tân Xuân lùng bắt tề làng, tổng; nổi trống mõ, hò reo náo động vùng nông thôn.

Cho đén ngày 22-1-1941, nghĩa quân Bến Tre còn chặn được bọn lính đi tuần ở Giao Thạnh, tước 1 súng…

Ở Bến Tre, quần chúng nổi dậy không rộng và mạnh, cho nên chủ tỉnh E. Thierry cho lính đi đàn áp dễ dàng.

Cho đến ngày 31-12-1940, ở Bến Tre Pháp đã bắt 53 người trong tổng số người chúng bắt ở Liên tỉnh Mỹ Tho 2.901 người, chia ra như sau:

- Địch bắt ở Mỹ Tho 2.581

- Địch bắt ở Tân An: 261

- Địch bắt ở Bến Tre: 53

- Địch bắt ở Gò Công: 6

Đây là số liệu của địch và cũng chỉ mới tính đến hết ngày 31-12-1490.

Từ sau ngày 1-1-1941, địch còn tiếp tục khủng bố bắt người nhất là ở Mỹ Tho cuộc chiến đấu của nghĩa quân còn kéo dài, và ở hai trung tâm Mộc Hóa - Phú Mỹ và căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo trong Đồng Tháp Mười…(1)


(1) Trong cuốn NAM KỲ KHỞI NGHĨA (1940) của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tp Hồ Chí Minh, NXB. TP.HCM, 1990, tr.103 viết ở Bến Tre, Pháp bắt trên 400 người. Sách Địa chỉ Văn hóa tỉnh Bến Tre, đoạn nói về cuộc khởi nghĩa năm 1940, ở Bến Tre, cũng đưa số liệu 400 người bị bắt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #109 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:22:45 am »

XIV. CUỘC NỔI DẬY Ở CÁC TỈNH SA ĐÉC, TÂY NINH, THỦ DẦU MỘT, BIÊN HÒA

Tại Sa Đéc, Đảng bộ bị khủng bố nặng, chưa hồi phục, chưa lập lại được cấp ủy tỉnh cũng như quận. Do đó, Sa Đéc không nhận được chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa cũng như lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy. Tuy nhiên, chịu ảnh hưởng của Mỹ Tho và Long Xuyên, hai tỉnh có phong trào mạnh, một số nơi của Sa Đéc cũng nổi dậy bắt tề như các làng Mỹ Quí (gần Mỹ Tho), Phong Mỹ và Tân An (gần Long Xuyên), thấy quận Chợ Mới nổ ra mạnh cũng hưởng ứng treo cờ, băng khẩu hiệu, truyền đơn…

Tuy không có nổi dậy mạnh, nhưng Pháp cũng lùng bắt của Sa Đéc 16 người (Số liệu của địch tính đến hết ngày 31-12-1940).

Tại Tây Ninh. Tỉnh chưa có Đảng bộ, cho nên chưa được học Nghị quyết của hội nghị rung ương tháng 11-1939 và kể cả các nghị quyết để chuẩn bị khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ.

Vùng Phước Chi, các đồng chí đảng viên nhận chủ trương nổi dậy của các đồng chí quận Đức Hòa. Các đồng chí đã nhận phối hợp hành động, huy động quần chúng đào lộ, đốn cây ngăn giao thông từ Bến Đò Lộc Giang và Rạch Tràm, chiếm đồn cảnh sát, phá phà qua sông Rạch Tràm… Nhưng địch tăng cường canh gác bổ sung lính canh đồn, cho nên không thực hiện được kế hoạch đã nhận.

Các đồng chí ở Phước Trạch, huy động quần chúng chặt cây cản lộ 22 Gò Dầu, Tây Ninh.

Ở một vài nơi khác như ở Bắc tỉnh lỵ, vườn cao su, Giồng Năng (Gia Hóa)… cũng có chuẩn bị hành động nổi dậy, nhưng cũng không hoạt động gì được đáng kể.

Riêng phía Truông Mít, Bầu Đồn, nghĩa quân của Gia Định, Đức Hòa (Chợ Lớn) rút lên đó định duy trì lực lượng chiến đấu lâu dài, các đồng chí đã lãnh đạo đồng bào địa phương tiếp tế, giúp đỡ nhiều mặt. Nhưng do địch bao vây càn quét liên tục, nghĩa quân phải rút về địa phương, đồng bào đã bị địch khủng bố nặng.

Tuy không có nổi dậy, nhưng Pháp đã khủng bố, bắt của Tây Ninh 18 người (Số liệu của địch cho đến hết ngày 31-12-1940).

Tại Thủ Dầu Một

Tỉnh Thủ Dầu Một ở sát cạnh Thành phố Sài Gòn, Xứ ủy rất quan tâm. Thủ Dầu Một có trại lính tập, gần khởi nghĩa Pháp còn chuyển trường đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan từ Sài Gòn về Thủ Dầu Một, đồng chí Nguyễn Như Hạnh bí thư thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn được Xứ uy cử về tận nơi để bắt mối và vận động, tổ chức. Ngoài ra, có lẽ Xứ ủy trực tiếp nằm một số cơ sở trong công nhân đồn điền cao su, cho nên Xứ ủy đã có chủ trương điều động công nhân cao su vào thành phố tham gia khởi nghĩa đánh phá khám lớn, cứu tù chính trị, như ở phần Sài Gòn chuẩn bị khởi nghĩa đã nói.

Tỉnh ủy Thủ Dầu Một do đồng chí Hồ Văn Cống làm bí thư, đã vạch kế hoạch thực hiện hiệu lệnh của Xứ ủy.

Ngay trong đêm 22 sang ngày 23-11, tại Châu Thành và tỉnh lỵ do đồng chí Hồ Văn Cống chỉ huy, bắt liên lạc với lính thành săng đá, đợi lính nổi dậy lấy súng, phân phối cho nghĩa quân đánh chiếm các nơi. Nhưng Pháp cấm trại, canh cẩn mật, lính không nổi dậy được, kế hoạch không thành. Ở Tân Khánh, chi bộ đảng chỉ rải truyền đơn, chặt cây cản đường…

Tại Lái Thiêu, quần chúng đánh trống mõ, hò reo, treo cờ, rải truyền đơn. Tối 23-11, ở chùa Thuận Giao, ta tổ chức mít tinh trên 100 quần chúng dự, nghe nói chuyện, động viên xuống đường. Cuộc mít tinh giải tán khi được tin có lính địch kéo đến.

Quần chúng phía gần Hóc Môn, ở Bến Cát, thấy bên Hóc Môn nổi dậy mạnh, cũng đi cắt dây điện tín, điện thoại…

Pháp khủng bố bắt của tỉnh Thủ Dầu Một 5 người (số liệu của địch).

Tại Biên Hòa. Giống một số tỉnh bạn, sau khi chiến tranh thế giới nổ ra, Pháp khủng bố bắt nhiều cán bộ đảng viên của Biên Hòa. Các cấp ủy thiếu cán bộ.

Sau hội nghị tháng 9-40, Xứ ủy cử đồng chí Sáu xuống làm bí thư tỉnh ủy Biên Hòa. Trong tỉnh ủy còn các đồng chí Huỳnh Liễn, Lê Văn Tôn, Trần Minh Triết, Lê Hồng Hỳ.

Tỉnh ủy đã giao cho đồng chí Huỳnh Liễn tổ chức một đội vũ trang trên 30 người ở Mỹ Lộc, luyện tập võ nghệ để chuẩn bị nổi dậy.

Theo báo cáo của chủ tỉnh Biên Hòa Maurice Larivière gửi cho Thống đốc Nam Kỳ(1) đêm 24 rạng ngày 25-11, tại làng Mỹ Lộc, tổng Chánh Mỹ Hạ, quận Tân Uyên, khoảng trên 20 người định vượt sông Đồng Nai đến bờ tả xóm Bình Ninh, làng bình Long, tổng Phước Vĩnh Hạ. Trong toán có súng do Lê Văn Tôn và Vương Văn Tân giữ, súng lửa cỡ lòng 12. Súng này có thể bọn Tôn trước của Nguyễn Văn Thày cựu Hương cả ở Chánh hưng, tổng Chánh Mỹ Hạ, Nguyễn Văn Thày là cha vợ của người Pháp lai Lucien Berge…

Thấy tình hình lộn xộn, chủ tỉnh Biên Hòa đã ra lệnh cho các cấp phải tăng cường bảo vệ kho xang, kho đạn, giao cho sen đầm hàng đêm phải thêm nhiều cuộc tuần tra. Kể từ ngày 1 tháng 12 năm 1940, kho mìn phải chuyển về chỗ để hỏa pháo thành Tuy Hạ.

Đồn cây số 125 bảo vệ đường vào Trại Tà Lài cũng phải tăng thêm từ 4 đến 16 lính gác. Không cho tuyển thêm người vào các đồn điền cao su…(2)

Căng đặc biệt giam giữ những người bị Pháp bắt theo sắc lệnh ngày 20-1-1941, đặt tại Bà Rá trên đất Biên Hòa, cũng làm cho chúng rất lo ngại, bởi vì ngày 12-12-1940, 4 người bị giam cầm ở trại C đã giết 1 lính gác, lấy 1 súng và 5 viên đạn, rồi bỏ trốn…(3)

Tuy Biên Hòa không có nổi dậy như các nơi khác, nhưng Pháp cũng đã lùng bắt 27 người (số liệu của địch tính tới ngày 30-12-1940).


(1) Xem trong Hồ sơ IIA. 45/326(1) TT.LT2 TP.HCM.
(2) Báo cáo ngay 3-12-1940 của chủ tỉnh Biên Hòa gửi Thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA.4/326(1) TT.LT2. TP.HCM.
(3) Như trên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM