macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #110 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:25:20 am » |
|
XV. SỰ THIỆT HẠI CỦA ĐỊCH TRONG CUỘC KHỞI NGHĨA
Sự thiệt hại của đế quốc Pháp trong cuộc nổi dậy của nhân dân ta, về vật chất cũng như tinh thần, cũng là thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.
Chỉ trong 10 ngày, tư 22-11-1940 đến ngày 2-12-1940, địch đã bị nghĩa quân diệt và làm bị thương như sau;
- Khoảng 30 lính và tề bị giết.
- Khoảng 20 lính và tề bị thương.
- 2 tên Pháp bị giết (Arnaud chủ đồn điền cao su Tây Ninh, tên đội xếp lê dương Pétri)
- 3 tên Pháp bị thương; Chủ tỉnh Trà Vinh Bohn chủ điền nhà máy đường Scibor Rylki và tên Cai lính thủy Gallouet(1)
Cuộc nổi dậy tiếp diễn và sau đó là những cuộc càn quét của địch, hàng chục tên lính và tề bị nghĩa quân bắn chết và bị thương (ở Chợ Lớn, Tân an, Mỹ tho, Vĩnh Long, Châu Đốc…)
Bộ máy cai trị của đế quốc Pháp bị nghĩa quân chiếm 130 khẩu súng các loại, cụ thể như sau:
- Ở Mỹ Tho: 37 khẩu
- Vĩnh Long: 23 khẩu
- Tân An: 22 khẩu
- Chợ Lớn: 16 khẩu
- Gia Định: 15 khẩu
- Sóc Trăng: 7 khẩu
- Bạc Liêu: 3 khẩu
- Long Xuyên: 3 khẩu
- Châu Đốc: 1 khẩu
- Cần Thơ: 1 khẩu
- Bến Tre: 1 khẩu (sang tháng 1-41, giựt 1 súng của bọn đi tuần)
- Bà Rá: 1 (Người bị tống giam trong căng giựt súng bắn chết lính canh rồi trốn)
Tuy nhiên, theo Thống đốc Nam kỳ trong một văn thư gửi viên Tướng sư đoàn trưởng Tư lệnh Sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên, thì thiệt hại quan trọng nhất trong nhưng thiệt hại do những người cách mạng gây ra trong những biến động vừa rồi, là phá đường giây điện thoại, điện tín. Những đường kể dưới đây dã bị cắt hoặc hoàn toàn phá hủy:
Bến Tre - Ba Tri
Vĩnh Long - Vũng Liêm
Vĩnh Long - Trà Vinh
Vĩnh Long - Tam Bình
Mỹ Tho - Chợ Gạo bắc Gò Công
Trung Lương - Cai Lậy hơn 8 km hoàn toàn bị phá
Sài Gòn - Pháp đài Rạch Cát
Sài Gòn - Phnom Pênh
Hóc Môn - Thủ Dầu Một
Và nhất là hệ thống (résseau) đường Sài Gòn - Vĩnh Long hoàn toàn bị phá trên nhiều kilômét từ 3 đến 4 đêm(2)
Ngoài đường điện thoại, điện tín rất nhiều cầu, phà (bắc) bị phá, bị đốt, nhiều nhất là Mỹ Tho… gây cho địch nhiều khó khăn trong giao thông, liên lạc.
Đế quốc pháp còn mất quyền kiểm soát ở hai quận lỵ: Hóc Môn mất gần 4 giờ, tuy còn Quận Thọ trốn trên lầu lô cốt cao. Quận lỵ Vũng Liêm thì mất hoàn toàn, quận Hậu bỏ chạy trốn, từ nửa đêm ngày 22 đến 6 giờ sáng hôm sau, ngày 23 quân đội kéo đến mới giành lại quyền cai trị. Ở vùng nông thôn thì nhiều nơi hệ thống tề tổng, làng hoàn toàn tan rã, nghĩa quân làm chủ. Từ khi đế quốc Pháp ổn định việc cai trị ở Nam Kỳ, cho tới năm 1940, chưa bao giờ hệ thống cai trị ở nông thôn của Pháp tại Nam kỳ lại bị tan rã, rệu rã mất quyền lực mất tinh thần như trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ.
Đế quốc Pháp phải dùng bộ máy bọa lực phản cách mạng, nhất là phải dùng quân đội chính quy trang bị vũ khí hiện đại như máy bay, xe tăng, xe thiết giáp, tàu chiến, súng liên thanh…, dùng cả quân lê dương, quận người Miên, ngươi dân tộc ít người, để giành lại quyên cai trị và bóc lột. Chúng đã bóp chết cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, nhưng bản thân hành động đàn áp cực kỳ dã man của đế quốc Pháp lại đẩy thêm mâu thuẫn giữa nhân dân ta với bọn cướp nước thống trị, vốn đã sâu sắc càng thêm sâu sắc. Cuộc thất bại tạm thời trong biển máu, chỉ hun đúc thêm lòng căm thù của nhân dân ta đối với bọn đế quốc thống trị, rèn luyện thêm ý chí chiến đấu, tiếp tục đấu tranh, chờ đợi thời cơ vùng dậy giành lại quyền độc lập và tự do.
(1) Báo cáo chính trị tháng 11-40, số 2448 C/API ngày 12-12-40 của Thống Đốc Nam Kỳ gửi T.Q.Đg Dg. HS IIA.45/204 (2) (2) Văn thư số 2470c ngày 18-12-1940 của Thống đốc Nam kỳ gửi cho Tướng Sư đoàn trưởng,Tư lệnh sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên HS.IIA. 45/326 (2) TT.LT2.TP.HCM.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #111 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:29:43 am » |
|
PHẦN THỨ NĂM
TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VỚI CUỘC KHỞI NGHĨA ĐÃ NỔ RA, VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA XỨ ỦY SAU KHI CUỘC KHỞI NGHĨA THẤT BẠI 1. Thông cáo khẩn cấp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Lời kêu gọi binh lính của Đảng Cộng sản Đông DươngHội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 năm 1940, sau khi nghe đồng chí Phan Đăng Lưu báo cáo chủ trương khởi nghĩa của Xứ ủy, đã yêu cầu Xứ ủy Nam kỳ hoãn lại, nhưng không kịp. Ngay lúc dược tin cuộc khởi nghĩa ở Nam kỳ đã bùng nổ, ngày 24-11 Ban thường vụ Trung ương Đảng đã ra một bản thông cáo (1) Và hơn 10 ngày sau lại ra tiếp một bản Thông cáo khẩn cấp nội dung như sau: THÔNG CÁO KHẨN CẤP của Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông dương Các đồng chí! Các chiến sĩ cách mạng! Cuộc bạo động ở Nam Kỳ bùng nổ từ hôm 23 tháng 11 năm 1940, các dân tộc Đông Dương đã đến lúc phải dùng khí giới giết quân thù để tự giải phóng cho mình. Muốn như vậy nhiệm vụ của Đảng bộ Trung - Bắc kỳ là phải tổ chức những cuộc hưởng ứng Nam kỳ đặng gây thêm thanh thế cho quân bạo động, đặng phân chia lực lượng đế quốc không để chúng tập trung quân đội đàn áp phong trào cách mạng. Hơn mười hôm nay cuộc bạo động Nam kỳ diễn ra liên tiếp. Lực lượng cách mạng và lực lượng thống trị đương vật lộn nhau kịch liệt. Tuy nhiên nhưng phương pháp hưởng ứng của các nơi vẫn yếu ớt quá. Những phương pháp nói trong bản Thông cáo Trung ương ngày 24 tháng 11 năm 1940, các đồng chí các nơi chưa thi hành được 1/10. Đó tỏ ra rằng các đồng chí ta vẫn quen hoạt động theo thời kỳ bình thường chưa đặt mình vào thời kỳ tranh đấu võ trang quyết liệt. Các đồng chí phần nhiều chưa nhận thức mọt cách cụ thể cái trách nhiệm hưởng ứng đồng bào Nam kỳ là thế nào. Bản thông cáo ngày 24 tháng 11 năm 1940 các đồng chí cán bộ chi bộ phần nhiều không đem thảo luận kỹ để thực hành nhưng điều trong đó. Điều sơ suất ấy không phải là nhỏ. Trong lúc này môt phút bỏ qua là một phút lợi cho quân thù tập trung lực lượng phá cách mạng. Vậy các đồng chí phải cấp tốc thi hành những phương pháp hưởng ứng Bắc Sơn, Nam Kỳ có hiệu quả như sau đây: 1) Tổ chức những cuộc bãi công, bãi khóa, bãi thị ở thành phố cùng một ngày đưa các giới quần chúng tranh đấu đi tuần hành thị oai. Chỗ nào tuần hành như thế không thể được thì ít nhất cũng phải tổ chức cuộc tổng mít tinh của quần chúng. 2) Nơi nào có thể phát động du kích chiến tranh thì biến đội tự vệ thành đội du kích để tuỳ thời đánh úp các đồn trại, cướp khí giới, tiêu diệt bọn phản quốc, tịch thu tài sản của chúng, thực hành những khẩu hiệu tư sản dân quyền. Những nơi nào gồm các đường giao thông vận tải quốc tế hay các kho tàng trọng yếu của đế quốc (như các đường xe lửa, đường nhựa, các kho súng đạn v.v…) thì các đảng bộ địa phương đó phải tổ chức ngay đội biệt động gồm những phần tử hăng hái, can đảm nhất để thi hành những việc như: phá đường sắt, cắt giây điện, cướp xe cộ chở lương thực, khí giới của đế quốc. Hiên nay quân thù đang tìm cách phá cuộc bạo động Nam kỳ, Đảng bộ Trung Bắc kỳ phải thi hành ngay những việc trên kia để kiêm chế và chia rẽ lực lượng quân thù,. Chú ý: Muốn phá đường sắt phải điều tra đích xác xe chở quân lính, khí giới đi chuyến nào, đường nào, vào giờ nào rồi phá đường sắt, cầu cống đặng cản trở riêng chuyến ấy. 3) Tổ chức những cuộc diễn thuyết ở cổng nhà máy, trường học, cao lâu, tửu quán, sân vận động, chỗ ngã ba đường, các đồng ruộng đông người làm, ở đình làng… tóm lại, bất cứ ở nơi nào có tập trung quần chúng. 4) Ngoài các cách trên đây, dùng hết phương pháp tuyên truyền, cổ động khác như: Truyền đơn, biểu ngữ, cờ, băng, viết khẩu hiệu lên đường nhựa, trên những bức tường, treo đèn lồng có khẩu hiệu trên cây, thả đèn có khẩu hiệu dưới sông, hồ, ao… (những phương pháp này ta dùng, nhưng chưa được chưa được chu đáo, hoặc có cái chưa dùng đến). trong những cuộc bãi công, biểu tình, mít tinh đều phải cử người diễn thuyết tuyên bố ý nghĩa và khẩu hiệu của cuộc bạo động Bắc Sơn, Nam kỳ kêu gọi dân chúng đứng dậy hưởng ứng hai nơi ấy vạch rõ tội ác đế uốc Pháp hàng Nhật và đàn áp cách mạng. Trong những cuộc đấu tranh trên kia phải huy động đội tự vệ ủng hộ quần chúng và diễn giả, giữ trật tự trong hàng ngũ quần chúng, canh gác các ngả đề phòng quân thù đến đàn áp. Khi gặp quân thù lính hay tuần đến đàn áp, nếu chỗ nào quần chúng tranh đấu mạnh có tinh thần thì lập tức cử người (nhất là được phụ nữ càng hay) đứng lên cổ động thuyết phục tuần lính làm cho họ đừng bắn nhân dân cứu quốc, quay súng lại bắn quan thù chạy vô phe cách mạng; chỗ nào xét ra không đủ lực lượng thì khi tin đội tự vệ báo quân thù sắp đến, phải điều khiến cho dân chúng giải tán có trật tự, tản mác theo nhiều ngả đến chỗ khác đã định trước đặt tiếp tục tranh đấu. Muốn làm những việc kẩn cấp trên đây phải tổ chức Ủy ban bao động của Xứ, ngoài Ủy ban ấy ở Trung kỳ phải tổ chức Ủy ban bạo động liên tỉnh cũng như ở Bắc Kỳ phải tổ chức Ủy ban khu, lại phải tổ chức Ủy ban bạo động thành, tỉnh phủ, huyện quan trọng để chỉ huy bạo động cho được thống nhất. Thợ thuyền ở nhà máy phải tổ chức Ủy ban bãi công cách mạng, dân cày trong làng tổ chức Ủy ban nông dân cách mạng đặng thi hành những phương pháp đã nói. Muốn tổ chức những Ủy ban trên đây cần phải lựa chọn những đồng chí hăng hái, quả quyết, có mưu lược, kèm theo những đồng chí hiểu biết chính trị. Khi phong trào sôi nổi những đường lối giao thông rất dễ bị tắc nghẽn. Vậy tổ chức ngay những ban giao thông gồm những đồng chí thông thạo đường lối, có kinh nghiệm, lấy những phụ nữ, ông già, trẻ con đặt kế hoạch cho họ làm việc giao thông giữa các cấp Đảng bộ. Các đồng chí phải thực hành cho sát những chỉ thị trong bản thông cáo này. BAN THƯỜNG VỤ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG (1) Hiện nay chưa tìm được bản Thông cáo này.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #112 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:31:09 am » |
|
Ngoài việc cử giao thông mang tài liệu nói trên cho các đồng chí ở Nam Kỳ, ngay đầu năm 1941, Trung ương Đảng đã cử ba đồng chí Nguyễn Hữu Ngoạn, Nguyễn Hữu Xuyến và nữ đồng chí Nam vào Nam và đã bắt liên lạc được với đồng chí Phan Văn Khỏe, bí thư Xứ ủy Nam kỳ mới lập lại, để nắm tình hình đã diễn ra và truyền đạt những ý kiến của Trung ương. Nhưng rất tiếc sau đó hầu hết Xứ ủy Nam kỳ mới lập lại lần lượt rơi vào tay địch. Trung ương Đảng lại đứt liên lạc với Đảng bộ Nam kỳ… Ngoài những chỉ thị cho Đảng bộ Nam kỳ và các cấp đảng bộ trong cả nước, Trung ương Đảng còn có nhiều truyền đơn cho các tầng lớp nhân dân, trong đó có lợi kêu gọi binh lính còn lưu lại được như sau: LỜI KÊU GỌI BINH LÍNH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG Hưởng ứng Cách mạng Bắc Sơn và Nam kỳ. Hỡi đồng bào, quản, đội, cai, binh lính. Bắt đầu từ đêm hôm 22 Novembre vừa rồi anh em công nông binh và các giới đồng bào yêu nước ở Nam kỳ đã nổi dậy dưới quyền chỉ đạo của Đảng cộng sản Đông Dương phất cao cờ khởi nghĩa, giết giặc Pháp giành quyền độc lập tự do cho Tổ quốc. Giờ giải phóng của dân ta đã đến! Anh em binh lính Bắc kỳ hãy cùng thợ thuyền, dân cày và các giới nổi dậy mau mau hưởng ứng Nam kỳ. Hơn 70 năm nay, đế quốc Pháp đè đầu cưỡi cổ ta, hành hạ bóc lột ta. Ngày nay chúng lại để cho giặc Nhật giày xéo đất nước ta, đối đãi dân ta cực kỳ tàn nhẫn. Thuế má dân ta phải đóng đã quá nặng, giá sinh hoạt lại ngày thêm dắt đỏ. Bọn quan trường tha hồ ăn của đút, tha hồ bắt bớ nhân dân. Những trại giam thành lâp khắp nơi. Cả xứ Dông Dương như một nhà ngục lớn. Binh lính ta sang Pháp chết bao nhiêu, bị bắt làm tù binh bao nhiêu, giặc Pháp đều im đi không nhắc tới. Chúng lại lăm le bắt ta đi làm lính giúp Nhật đánh Tàu, thỏa mãn lòng tham tàn bạo ngược của giặc lùn. Hôm 22 tháng 9 tây khi giặc Nhật đánh Lạng Sơn, giặc Pháp bắt anh em binh lính ta đi đầu làm bia đỡ đạn. Phải chết thay cho Pháp vô ích, anh em không hăng hái hy sinh, bọn quan binh Pháp đằng sau liên hạ lệnh cho lính lê dương và lính Pháp bắn giết anh em tàn nhẫn. kế đó binh lính bại trận ở Lạng Sơn chạy về châu Bắc Sơn hiệp lực với nhân dân Bác Sơn, nổi dậy giết giặc Pháp và bọn tham quan hại dân chúng. Bọn Pháp lại đang bắt binh linh chúng ta đi đàn áp anh em đồng bào cách mạng ở Bắc Sơn. Hỡi anh em cai, đội, binh lính đồng bào thân ái! Anh em phần nhiều là những htợ thuyền, dân cày xuất thân. Giặc Pháp cưỡng bức anh em giơ súng cho chúng để áp bức bóc lột thợ thuyền, dân cày và nhân dân ta, chúng lại sai anh em ta giết hại đồng bào máu mủ của chúng ta đi biểu tình cách mạng. Chúng luôn luôn lấy người Đông Dương giết lẫn người Đông Dương để chúng yên hưởng địa vị chủ ông cõi đất này. Anh em cách mạng chịu làm cánh tay cầm súng cho giặc Pháp mãi sao? Anh em hãy nhớ lại lịch sử vẻ vang đầy hy sinh phấn đấu của binh lính Đông Dương, của các chiến sĩ Thái Nguyên, Yên Bái, Bắc Sơn, Nam Kỳ! Anh em hãy mau mau đứng dậy vì đồng bào Tổ quốc giết lũ giặc tham tàn. Anh em hãy dùng ngay khí giới của giặc Pháp bắn vào đầu giặc Pháp. Hãy nổi lên hưởng ứng đồng bào Nam kỳ! Anh em có khí giới trong tày, chỉ có anh em nổi lên mới làm cho giặc Pháp, giặc Nhật hoảng vía, chỉ có anh em mới có thể làm cho khí giới quân thù biến thành khí giới của đồng bào cách mạng. Hỡi anh em quản, đội, cai, binh lính! Hãy noi gương chiến đấu vĩ đại của các chiến sĩ Thái Nguyên, Yên Bái, Bắc Sơn, Nam Kỳ mở mặt cho nòi giống, đánh đuổi đế quốc ra ngoài bờ cõi. Dưới ngọn cờ của Đảng cộng sản Đông Dương hãy xếp thành hàng ngũ tiến lên làm cách mạng dân tộc giải phóng! Đả đảo đế quốc chiến tranh! Đr đảo giặc Pháp, giặc Nhật! Đả đảo bọn Việt gian thân Pháp, thân Nhật! Đông Dương cách mạng thành công muôn năm! Thế giới cách mạng thành công muôn năm! Tinh thần cách mạng binh lính Đông Dương muôn năm! ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG Trung ương Đảng đề nghị Xứ ủy hoãn phát động khởi nghĩa, nhưng khi cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, Trung ương Đnagr kêu gọi cả nước hưởng ứng, ủng hộ, các cấp bộ Đảng phái hành động hỗ trợ, chia lửa với cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Chủ trương của Trung ương Đảng đối với cuộc khởi nghĩa Nam kỳ giống như mác và Ăng ghen đối với Công xã Paris và Lê nin đối với cuộc khởi nghĩa năm 1905 của cách mạng Nga.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #113 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:36:11 am » |
|
2. Chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại
Cuộc khởi nghĩa tại thành phố Sài Gòn không thành, các tỉnh tuy nổ ra, nhưng cũng không giành thắng lợi, ngay trong tháng 12-1940, theo tài liệu của cuộc tọa đàm về Nam kỳ khởi nghĩa của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh(1), Xứ ủy đã họp ở nhà bà Châu xã An Phú Tây (nay thuộc Bình Chánh) để kiểm điểm về sự thất bại của cuộc nổi dậy. Hội nghị kết luận: Xứ uỷ phải chịu trách nhiệm, nhưng trách nhiệm chính là hai đồng chí Tạ Uyên và Lê Văn Khương Thường vụ Xứ ủy. Hai đồng chí phải chịu kỷ luật trước Đảng. Đồng chí Tạ Uyên đã bị địch đánh chết tại nhà tù, trong lúc nó tra tấn. Có mặt tại hội nghị, đồng chí Lê Văn Khương nhận kỷ luật với Đảng và nói: đồng chí tiếp tục chiến đấu cho lý tưởng của Đảng. Ngày 14-5-1941, cảnh sát Miền Đông bắt được đồng chí Khương, sau đó ngày 16-6-41, chúng đã bắn chết đồng chí Khương không qua xét xử, với lý do báo cáo lên trên, đồng chí Khương đã bỏ chạy trong khi chúng dẫn đi đường.
Hội nghị không có biên bản và được kể lại theo trí nhớ hoặc được nghe nói rồi kể lại.
Sang tháng 1-1941, Xứ ủy họp mở rộng ở xã Đa Phước (quận Cần Giuộc), lần này thì chúng ta biết rõ là các ngày 21, 22, nhờ tài liệu do địch bắt được trong cuộc càn quét ở xã Thạnh Lợi (Tân An) ngày 18-3-1941, trong phần cuộc nổi dậy ở Tân An chúng tôi đã nói.
Hội nghị đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của cuộc khởi nghĩa.
Tôn trọng tính lịch sử và để mở đường tham khảo, chúng tôi xin trích phần nói về nguyên nhân thất bại trong số tài liệu địch đã bắt được trong cuộc càn quét Đài Bàu Mốp ở Thạnh Lợi ngày 18-3-1941:
“A. Nguyên nhân thất bại.
1. Mệnh lệnh khởi nghĩa chỉ do 4 người trong bộ tham mưu và không phổ biến đúng lúc cần thiết cho tất cả các đảng viên cộng sản.
2. Đội ngũ những người cộng sản bị phân tán.
3. Quân khởi nghĩa không có vũ khi hiện đại.
4. Chuẩn bị chưa xong, chưa hoàn toàn sẵn sàng.
5. Giao thông liên lạc và tổ chức bị xáo trộn.
6. Kế hoạch “đánh chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn” bị mật thám bí mật khám phá do thiếu cảnh giác, không thể hoãn hành động.
7. Không có họp phối hợp giữa các liên tỉnh và địa biểu các cơ quan lãnh đạo…”
Hội nghị chủ trương chuẩn bị lực lượng đón thời cơ tiếp tục khởi nghĩa. Cũng theo tài liệu dẫn trên, phần nói về vấn đề này như sau:
“- Tổ chức lại những nơi chưa bị đàn áp, tập hợp dưới sự chỉ huy chung.
- Tổ chức giao thông liên lạc hai chiều, ngang và dọc, giữ liên lạc chặt chẽ giữa các cấp.
- Thanh sát địa hình trước khi hành động.
- Vừa rồi đã tổn hại, sắp tới tập trung vào Sài Gòn - Chợ Lớn, 4 hoặc 5 tỉnh Miền Tây và Trung Nam Kỳ.
- Chuẩn bị gấp đạn dược vũ khí, thuốc nổ, học đánh du kích”. Những việc cụ thể đã làm và tiếp chúng tôi đã trích dẫn trong báo cáo của chủ tỉnh Tân An Vilmot, xin xem phần cuối của cuộc nổi dậy ở Tân An.
Nhân đây, nói về nguyên nhân về việc chuẩn bị khởi nghĩa tiếp theo, Pháp có bắt được trong một cuộc càn ở xóm Hưng Thạnh, làng Thạnh Lợi, nằm trong căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo (Tân An) ngày 10-11-1941, hai bài vọng cổ, trong đó có đề cập tới vấn đề này. Dĩ nhiên những vấn đề thuộc về chính trị đưa vào văn nghệ quần chúng thường không thể lúc nào cũng hoàn toàn chính xác, nhưng chúng tôi xin trích dẫn để mở đường tham khảo.
Từ câu 1 đến câu 7 của bài vọng cồ 1, nói lên không khí tưng bừng của cuộc nổi ậy phá tan gông xiềng nô lệ, niềm hy vọng của mọi tầng lớp nhân dân, đến câu 8 nói về sự thất bại:
“8. Nhưng mà đáng tức thay, cũng căm giận thay đảng ta lắm đều khuyết điểm, tuổi thơ ngây nên quá chuyện sai lầm, còn nhiễm bao nhiêu thiên-tánh độc hại cực tả, vì bôn chôn mà phải chịu sự thất bại đớn đau…
“11. Thời cuộc đẩy đưa đêm ấy chúng ta cam đành thất bại, lại được tin chủ trương tân-tiến ráng hợp cùng nhau khán chiến theo bản trường kỳ.
“12. Nghị quyết thi hành không mẫy bữa, lại đưa tin đồng sửa thế thủ là hay hãy tạm yên lo sắp đặt hàng ngũ cho đàng-hoàn.
“13. bao nhiêu tinh thần của anh em ta đang phấn khởi thoạt nghe qua lời tuyên bố phần-đông nhau-nhố trong nhìn nhéo mặt với cắn răng”…(2) Những câu cuối nói lên lòng tin và sự thắng lợi cuối cùng.
(1) Xem biên bản cuộc tọa đàm về K.N.N.K. do BNCLSĐ Thành phố tổ chức ngày 22, 23-11-1982. HS. B 40-S/1400 LT. BNCLSĐ TP. (2) Báo cáo số 1162 AG của chủ tỉnh Tân An Vilmont ngày 13-11-1941. HS IIA45/222 (2c) (xem bài vọng cổ ở phần phụ lục).
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:28:33 am gửi bởi macbupda »
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #114 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:39:16 am » |
|
Để củng cố cơ quan lãnh đạo, Hội nghị bầu ra Xứ ủy Nam Kỳ mới gồm các đồng chí:
1. Phan Văn Khỏe, Bí thư (Thường vụ Xứ ủy cũ)
2. Phan Văn Bảy, Phó Bí thư (Xứ ủy viên cũ)
3. Phạm Thái Bường (Xứ ủy viên cũ)
4. Dương Công Nữ (Xứ ủy viên cũ)
5. Phạm Hồng Thám (Xứ ủy viên cũ)
6. Nguyễn Văn Tiếp (Xứ ủy viên mới)
7. Nguyễn Văn Kỉnh (Xứ ủy viên mới)
8. Phạm Văn Săng (Xứ ủy viên mới)
9. Ngô Tám (Xứ ủy viên mới)
10. Nguyễn Văn Trọng (Xứ ủy viên mới)
11. Lưu Nhân Sâm (Xứ ủy viên mới)
Xứ ủy chủ trương ra báo Giải Phóng, cử đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách, đặt cơ quan ở vùng ven phía Tây thành phố Sài Gòn. Báo Giải Phóng ra được nhiêu số, đến khi đồng chí Kỉnh bị bắt thì báo ngưng(1).
Trong một bản Thông cáo của Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ tháng 4-1941 gửi cho tất cả các đồng chí đảng viên có nhắc phải đặc biệt lưu ý đến các vấn đề quan trọng sau đây:
“I. Chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa lần thứ hai
Tuy nghị quyết của Xứ ủy lâm thời về cuộc khởi nghĩa lần thứ hai đã được tất cả các đồng chí thông qua, nhưng có một số đồng chí chưa ra sức tuyên truyền giải thích cho quần chúng hiểu rõ mục đích của cuộc khởi nghĩa. Nguy hiểm hơn nữa là thấy những cuộc xung đột Pháp Thái đã được Nhật Bản dàn xếp xong nhiều đồng chí tưởng lầm rằng cuộc khởi nghĩa lần thứ hai đó còn xa xăm và chúng ta có thể chậm chuẩn bị cũng được. Các đồng chí phải thấy rằng hiệp ước Pháp Thái chỉ là tạm thời và xét tình hình nội bộ hiện nay Trung Quôc đã tiến tới bước ngoặt quyết định của lịch sử. Tình hình đó buộc chúng ta phải khẩn trương chuẩn bị để kịp đối phó với những biến cố có thể bùng nổ nay mai.
Nhận xét về tình hình nội bộ Đảng
Chúng ta phải chắp lại các mối liên lạc, tổ chức lại các ban lãnh đạo và củng cố tổ chức các ban lãnh đạo ở các tỉnh. Ngoài ra còn phải kết nạp thêm đảng viên mới, tập hợp những đồng chí chân thành của phong trào trước và không nản trí trước sự khủng bố của quân địch. Đồng thời phải lưu ý chuẩn bị xong xuôi trước khi phát động phong trào mới, loại trừ khỏi hàng ngũ những phần tử do dự, sợ sệt và mất tinh thần và cũng như những phần tử có tư tưởng cá nhân có thể làm trở ngại cho công việc chuẩn bị.
II. Vấn đề vũ trang và nơi tàng trữ vũ kí
Rút kinh nghiệm của cuộc khởi nghĩa lần trước, chúng ta không thể giao phó cho một người hoặc ngay cả cho một nhóm người phụ trách tìm vũ khí và đạn dược cho toàn xứ Nam Kỳ. Vì khi người đó hoặc nhóm đó bị bắt thì toàn bộ kế hoạch bị tan vỡ. Do đó mỗi tỉnh ủy hoặc ít nhất mỗi liên tỉnh ủy phải tổ chức một ủy ban quân sự đặc biệt chuyên trách sản xuất gấp vũ khí, bom, mìn v.v…. và chọn nơi tàng trữ…”(2)
Thực hiện chủ trương của Xứ ủy, việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tiếp theo được tiến hành khẩn trương ở căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo, ở căn cứ U Minh (Rạch Giá - Bạc Liêu), ở Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ… Chúng tôi đã trình bày ở cuối phần nổi dậy ở các tỉnh nói trên.
Chỉ một thời gian ngắn sau, các đồng chí Xứ ủy mới cũng bị bắt: Đồng chí Nguyễn Văn tiếp (4-1941, đồng chí Phan Văn Bảy (5-6-1941), đồng chí Lưu Nhân Sâm (12-6-1941), đồng chí Phan Văn Khỏe (11-7-1941), đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh (4-8-1941)…
Pháp đã xử tử hình các đồng chí:
Phan Văn Bảy, Lưu Nhân Sâm.
Pháp đã kết án tử hình, sau hạ xuống chung thân các đồng chí:
Phan Văn Khỏe, Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Văn Kỉnh.
Các đồng chí khác bị đưa đi đày. Duy nhất đồng chí Phạm Hồng Thám không bị bắt, nhờ chạy xuống vùng hẻo lánh Bạc Liêu, Hà Tiên ẩn, cho đến Cách mạng Tháng Tám 1945…
Phong trào cách mạng ở Nam Kỳ từ đây bước vào thời kỳ khó khăn.
(1) Báo Giải Phóng ra số 6; 1-5-1941, số 7:18-5-1941, số 8: 1-6-1941, số 9: 18-6-1941, số 10… (2) Thông cáo của Ủy ban thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ ngày 10-4-1941. Lưu trữ BNCLSĐ TP. HCM, ký hiệu B 41-V/414. Xem ở phần phụ lục.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #115 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:41:46 am » |
|
PHẦN THỨ SÁU
SỰ TÀN BẠO CỦA ĐẾ QUỐC PHÁP ĐỐI VỚI CUỘC NỔI DẬY CỦA NHÂN DÂN NAM KỲ 1. Chủ trương của đế quốc Pháp: Huy động toàn bộ Bộ máy bạo lực phản cách mạng đàn áp sự chống đối của nhân dân Nam Kỳ.Ở phần tứ tư; Toàn Nam Kỳ nổi dậy, chúng tôi đã nói về những phản ứng tức thì của bọn phát xít Pháp, đó là những chủ trương đối phó, đàn áp tàn bạo ban đầu của địch, ở phần này, chúng tôi xin trình bày một cách bao quát, và kể cả khi cuộc nổi dậy đã thất bại, đế quốc Pháp vẫn tiếp tục dùng mọi biện pháp để đàn áp và khủng bố tinh thần nhân dân ta. Cùng với những điện, chỉ thị, thông tri mật, khẩn cho các cấp dưới, tên Toàn quyền J. Decoux công khai tuyên bố: “Cuộc bạo động ấy (Nam Kỳ khởi nghĩa), các người vẫn biết là của cộng sản gây ra, nó đã bị đàn áp thảng tay tức thì, vì cần phải như vậy. “Bổn chức đã chẳng dung thứ và chằng hề dung thứ trong tương lai cho một nhóm người phản nghịch nào cả gan quấy rối xứ này là xứ đã giao cho bổn chức giữ cuộc trị an (2). Có điều sỉ nhục cho J. Decoux cùng toàn bộ máy cai trị Đông Dương với hàng chục vạn quân lại sẵn sàng quỳ gối dâng Đông Dương là xứ đã được giao cho chúng giữ cuộc trị an, cho phát xít Nhật. J. Decoux đã huy động ca hải lục không quân với vũ khí hiện đại để đàn áp nhân dân nổi dậy không hoặc chỉ bằng vũ khí thô sơ. Ở My Tho, chúng thực hiện hai cuộc càn, mỗi cuộc hàng nghìn quân, trong dó có một tiểu đoàn lê dương và 3 đại đội lính tập, đủ tàu chiến, xe thiết giáp, xe cơ giới, máy bay… Ở Chợ Lớn, Gia Định, Vĩnh Long… chúng dùng 2 tới 3 đại đội mỗi lần càn quét, với đủ loại quân lê dương, lính tập, cả hàng đại đội người Miên, người dân tộc ít người, và cũng dùng đủ xe tăng, tàu chiến, máy bay, xe cơ giới… Không kể cho đi thám thính, mỗi lượt Pháp huy động hàng chục máy bay đi ném bom xuống các làng xóm thuộc các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên… ném bom cả lúc dân cư đang họp chợ như ở Chợ Giữa (Vĩnh Kim) chết hàng trăm người… Không có cuộc càn quét nào chúng không đốt phá nhà cửa của dân chúng, nhiều nơi chúng đốt cả làng, bắn chết người dân chúng chưa hả, bắn cả lợn, gà, vịt. Chúng cho đốt rừng với hy vọng không còn chỗ cho nghĩa quân lẩn tránh. Trong khi nhân dân ta đang nổi dậy và đế quốc đang ra sức đàn áp, đích thân Toàn quyền Đông Dương đi kinh lý tại chỗ những nơi có phong trào nổi dậy. Trong 3 ngày 9, 10 và 11 tháng 12 năm 1940, Toàn quyền Decoux đi xem xét những nơi có đấu tranh mạnh như Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ tho, Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh, Càng Long, Vũng Liêm, Tam Bình, Cái Bè, Cai Lậy rồi về Sài Gòn. Đi tới đâu thì chủ tỉnh ở đó đón tiếp dẫn đường. Decoux nghe bọn tay chân các cấp báo cáo, cho ý kiến thẳng tay đàn áp và tặng mề-đay, tiền cho bọn tề, quan lại, sĩ quan đã giết hại nhiều nhân dân ta (2). (1) Báo Dân Hiệp số ra ngày 28-12-1940. Thư viện Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. (2) Chương trình đi kinh lý của Toàn quyền Đông Dương trong Hồ sơ IIA.45/326 (1) TT.LT2.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #116 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2010, 06:43:15 am » |
|
2. Đế quốc Pháp bắt những người nổi dậy
Theo số lịệu trong báo cáo chính thức của Pháp, từ ngày 22-11 tức là ngày Xứ ủy ra lệnh khởi nghĩa, cho đến ngày 31-12-1940, chúng đã bắt ở các nơi như sau:
Liên tỉnh Gia Định - Chợ Lớn: 396 người - Gia Định: 359 người - Sài Gòn - Chợ Lớn: 98 người - Biên Hòa: 27 người - Tây Ninh: 18 người - Thủ Dầu Một: 5 người Cộng: 903 người
Liên tỉnh Mỹ Tho - Mỹ Tho: 2581 người - Tân An: 261 người - Bến Tre: 53 người - Gò Công: 6 người Cộng: 2901 người
Liên tỉnh Cần Thơ - Vĩnh Long: 611 người - Cần Thơ: 381 người - Bạc Liêu: 228 người - Rạch Giá: 196 người - Sóc Trăng: 187 người - Trà Vinh: 120 người Cộng: 1729 người
Liên tỉnh Long Xuyên - Long Xuyên: 227 người - Châu Đốc: 72 người - Sa Đéc: 16 người Cộng: 315 người
Tất cả là: 5848 người
Cũng vẫn theo số liệu của địch, tính cho đến hết ngày 31-1-1941, chúng đã bắt 7048 người, có nghĩa là trong tháng 1-1941, chúng đã bắt thêm 1200 người(1).
Ước tính cho đến hết năm 1941, Pháp đã bắt hàng vạn người của ta.
(1) Xem báo cáo chính trị tháng 12-1940 và tháng 1-1941 của Thống đốc Nam Kỳ. HS. IIA.45/204 (2) TT.LT2.TP.HCM.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #117 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:38:56 am » |
|
3. Tình trạng man rợ trong các nhà tù.
Đế quốc Pháp ra lệnh ào ạt bằt người hàng loạt, cho nên các nhà tù địa phương chật ních, không đủ chỗ chứa, có lúc chúng phải dùng cả Nhà việc của làng để giam người. Tình trạng này thật nguy hiểm, như trường hợp địch bắt hơn 30 người giam ngay tại xã Thanh Hà (Trung Quận, Chợ Lớn) đã bị nhân dân kéo đến bao vây giải thoát số người bị giam.
Các tỉnh đều muốn đưa người bị bắt về giam tại Sài Gòn. Nhưng các nhà tù ở Sài Gòn cũng không đủ chỗ chứa. Chúng đã đề nghị được dùng đồn Cây Mai, Rạch Cát để nhốt tù quân sự. Thiếu đến mức, ngày 27-12-1940, Thống đốc Nam Kỳ Rivoal phải ra lệnh trưng dụng kho C (hangar C) của hãng vận tải đường bển (Messageries maritimes) để giam tù các tỉnh gửi về chuẩn bị đưa ra tòa án binh xét xử, đồng thời có văn thư cho Đô đốc tư lệnh Hải quân Đông Dương đóng tại Sài Gòn, yêu cùa cho lính hải quân đến gác, bảo vệ(1).
Ngày 25-1-1941, Rivoal lại có lệnh cho Giám đốc Hãng L.RONDON và Công ty, ở đường De la Somme (Hàm Nghi) trưng dụng hai kho ở đường Long Kiên (Xóm Chiếu) theo sắc lệnh ngày 2-9-1939, thời gian không hạn định để giam những người bị bắt vì tội chống lại “Nhà nước”(2).
Vẫn chưa đủ, ngày 7-2-1941 Thống đốc Nam Kỳ lại gửi cho Giám đốc hãng vận tải Đông Dương, trưng dụng 4 sà lan (Chalands) để nhốt tù nổi loạn(3).
Theo những người bị giam ở sà lan kể lại, mỗi sà lan Pháp giam khoảng 200 người. Ta có thể hình dung tình trạng khủng khiếp của 200 con người bị nhốt trong sà lan bằng sắt lềnh bềnh trên sông dưới thời thiết nóng bức, dưới ánh sáng mặt trời gay gắt, lại thêm thiếu nước uống, không có nước làm vệ sinh, thiếu ăn, bệnh tật…
Khám lớn, nhà đày Côn Đảo, các nhà tù tỉnh đều không đủ chỗ chứa, kể cả đã lấy thêm một số kho ngoài cảng. Thống Đốc Nam Kỳ đã phải đi đến quyết định, cho xây thêm hai kho giam khoảng 500 người tù ở Chí Hòa, ngay cạnh trại lính thủ hộ (Garde mobile) và xin với Toàn quyền cấp ngay trong năm 1941, 200.000 đồng (Đông Dương) để làm việc này(4).
Tại khám lớn
Chỉ căn cứ vào các báo cáo chính thức của địch còn lại, chúng ta đã thấy tình trạng những người tham gia khởi nghĩa bị đế quốc pháp bắt giam tại khám lớn, thật man dợ, không còn được đối xử như những con người.
Tính cho đến ngày 1 tháng 1 năm 1940, sau khi đã chuyển một số tù phụ nữ đi giam ở nhà tù phụ Phú Mỹ, chuyển đi Côn Đảo, kể cả đưa đi trại ông Yêm (Thủ Dầu Một) số vị thành niên, tại Khám lớn bị nhốt 1.145 người đã thành án.
Cho đến ngày 22 tháng 11 năm 1940, tức là ngày nổ ra cuộc khởi nghĩa, Khám lớn giam 1581 người.
Sau cuộc nổi dậy, số lượng người tù bị Pháp giam ở Khám lớn tăng nhanh khủng khiếp.
Tới ngày 31-12-1940 giam 2.275 người, so với ngày 22-11 tăng 768
Tới ngày 31-01-1941 giam 2.676 người, so với ngày 22-11 tăng 1169
Tới ngày 28-02-1941 giam 2.922 người, so với ngày 22-11 tăng 1415
Tới ngày 31-03-1941 giam 2.888 người, so với ngày 22-11 tăng 1381
Nếu lấy mức Khám lớn xây dựng để giam 700 người, thì số người bị giam trong tháng 2 và tháng 3 tăng hơn 4 lần.
Ngày 5-3-1941, Agostini giám đốc khám lớn báo cho tòa án binh biết rằng khám lớn đã quá tải, không thể nào nhận được thêm phạm nhân, cho đến khi có lệnh mới…(5)
(1) TĐ. NKỳ gửi Đô đốc Hải quân số 2554c ngày 27-12-1940. HS IIA.45/326 (1/1) TT.LT2.TP.HCM. (2) Văn Thư số 857c ngày 25-1-1941. Hồ sơ như trên. (3) Văn thư số 1079 ngày 7-2-1941. Hồ sơ như trên. (4) Báo cáo số 546c ngày 5-4-1941 của Thống Đốc Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương. Hồ sơ: Về tình trạng người tù ở Khám lớn. IIA.45/222(2d). TT.LT2.TP.HCM. (5) Văn thư số 375, gnày 5-3-1941 của Agostini gửi Gardon thẩm phán quân sự Sài Gòn. Hồ sơ: Như trên.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #118 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:42:15 am » |
|
Tình hình người bệnh ở khám lớn và các nhà tù khác tại Sài Gòn.
Ngày 28-3-1941, trong công văn khẩn mật số 540c, Desjardin (đã thay Agostini làm giám đốc khám lớn) báo cáo với Thống đốc Nam Kỳ hiện trạng trong khám lớn như sau:
“Tôi vừa được thầy thuốc của khám cho biết có hơn 800 người tù bị bệnh hoại thư (gangrène) (tức là gần bằng 1/3 số lượng người đang bị giam ở khám lớn. T.G.)
Qua điện thoại, ông giám đốc y tế địa phương cho tôi biết nhà thương Chợ Quán không còn chỗ có thể nhận được người tù bị bệnh nào nữa.
Việc săn sóc người bệnh chỉ có thể ở tại chỗ và tạm bợ. Việc cách ly nggười bệnh không thể thực hiện được, vì vậy nguy cơ lây lan trong người tù thật đáng sợ…
Tôi nhấn mạnh cần có ngay một cuộc họp không thể chậm trễ để xem xét, nhất là chuyển số tù bị hoại thư đi LAZARET Nhà Bè”(1)
Ngay tức khắc, trong ngày hôm ấy, Thống đốc Nam kỳ ra lệnh cho giám đốc khám lớn chuyển số 800 người tù bị hoai thư đi LAZARET Nhà Bè.(2)
Đồng thời, giao nhiệm vụ cho tướng tư lệnh (quan sáu) Sư đoàn nam Kỳ - Cao Miên cử hai trung đội dưới quyền điều khiến của một sĩ quan, bảo vệ lúc di chuyển và canh gác.
Cụ thể số lính được cử đi canh gác bảo vệ và di chuyển tới nhà tù LAZARET Nhà bè như sau: 36 lính tập (tirailleurs), 1 đội (sergent), 2 cai (caporal) người Pháp, 2 cai người bản xứ và 1 đội người Pháp, 1 thiếu úy người Pháp.
Cùng ngày, Rivoal ra lệnh thành lập một hội đồng, sẽ họp vào 15 giờ để xem xét những điều kiện khám lớn và nhà giam ở kho ngoài cảng(3).
Sáng ngày 29-3-1941, Hội đồng Giám thị Khám lớn đã họp và làm báo cáo cho Thống đốc Nam Kỳ.
Thành viên tham gia họp:
René Gouttes Chủ tỉnh Chợ Lớn làm chủ tịch
René Bouin thay mặt cho Chưởng lý
René Grange Thày thuốc khám lớn
René Seurin Cố vấn thành phố
Nguyễn Minh Chiến Cố vấn thành phố người Việt
Hội nghị cho rằng khám lớn xây dựng để giam 700 can phạm và người tù thành án, nhưng đến hôm nay đã giam tới 2.80 người, tức là tăng gấp 4 lần.
Những điều kiện vệ sinh của nhà giam đã thực sự gây nên bệnh truyền nhiễm hoại thư, không thể nào bảo vệ cho người chưa mắc bệnh.
Số lượng người đã mắc bệnh này như sau:
Ngày 25-3: 635 người
Ngày 26-3: 722 người
Ngày 27-3: 806 người
Ngày 29-3: 843 người. Con số (đúng nguyên văn ghi trong biên bản) vượt qua mọi bình luận.
Thày thuốc của nhà giam tuyênbố rằng hiên nay có 50 trường hợp phải cưa, cắt và tuần tới phải lên tới hàng trăm.
Sau đó Hội đồng đi thăm các nơi giam, họ đã nhìn thấy cảnh tượng thật sự ghê tởm (une véritable vision d’horeur)
Hội đồng xin với ngài Toàn quyền cho một quyết định cải thiện trong một thời hạn ngắn nhất, số 67 người bị kết án tử hình hiện giam tại khám, xuống chỉ còn nhận 30. Xin ngừng các phiên xử của tòa đề hình (Cour martiale) để khỏi tăng số người bị giam giữ do bị kết án. Nhân dịp ngừng này gửi đi các nhà tù tỉnh số tối đa tù nhân quân sự là 1882.
Xin cho sử dụng đồn (Fortin) Cây Mai để giam tù. Tuy nhiên hội đồng ngại rằng nhà cầm quyền quân sự không khoan nhượng, không cho dùng đồn Cây mai vào việc này.
Hội đồng thấy cần phải nhắc lại rằng việc nhận những can phạm và tù nhân quân sự vào khám lớn chỉ có thể được, tới khi nào nhà cầm quyền quân sự xây dựng xong một nhà tù đặc biệt.
Tình trạng tạm thời khốn khổ này của khám lớn đã kéo dài từ những năm 1916-1917.
Hội đồng đề nghị số lượng ấn định giam tạm khám lớn là 1.800 người tù…(4)
(1) Xem trong Hồ sơ Như trên (2) Văn thư số 2598c ngày 28-3-41 của Thống đốc Nam kỳ gửi Giám đốc khám lớn. Hồ sơ: Như trên. (3) Lệnh số 1401 ngày 25-3-1941 của Thống Đóc lập Hội đồng gồm có: - Bác sĩ BOURGIN thanh tra thày thuốc, Chủ tịch - Bác sĩ DARBES Thày thuốc ủy viên - Bác sĩ FAVORT Thày thuốc ủy viên có nhiệm vụ xem xét những điều kiện trong nhà giam khám lớn và ngoài cảng (4) Xem biên bản Hội đồng giám thị Khám lớn ngày 29-3-1941. Hồ sơ: Như trên. Con số 1800 người là đã hơn gấp dôi số lượng tụ quy định giam tại Khám lớn.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #119 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2010, 08:46:27 am » |
|
Trong một báo cáo khác về Khám lớn viết như sau:
Khám có 3 phòng lớn, mỗi phòng dài 21 mét 80, rộng 16m40, cao 5 mét bằng 377,50 mét vuông, giam khoảng 520 người, như vậy mỗi người chỉ được một không gian bằng 0,68 mét vuông. Tất cả đều mắc ghẻ, phần lớn sâu quảng ở chi dưới hoặc tay…
Đó là tình hình ở Khám lớn, chúng ta chuyển sang xem xét tình hình những người nổi dậy bị giam ở các kho ngoài cảng.
Đây là ahi kho của hãng RONDON và Công ty, nằm trên đường Long Kiên, cảng Khánh Hội (Xóm Chiếu), Pháp trưng dụng để nhốt những người ở các tỉnh giải về, chưa phân loại, chờ đợi đưa đi nhận dạng, ra tòa án, hoặc sang kiểm soát quân sự…
Trong khi Thống đốc có lệnh kiểm tra nhà giam tại kho RONDON hai ngày, các ngày 27 và 28-3-41, Sở Y tế vệ sinh thành phố đã cho xem xét tình trạng sức khỏe của những người bị giam giữ tại đây và có báo cáo gửi Thống đốc Nam Kỳ như sau:
Tại kho A - Khỏe: 512 người - Ốm yếu, tiền suy mòn: 80 người - Suy mòn: 24 người - Sâu quảng: 100 người - Đau mắt: 10 người - Thủy đậu: 1 người Cộng 727 người
Tại kho B - Khỏe: 518 người - Ốm yếu, tiền suy mòn: 60 người - Suy mòn: 20 người - Sâu quảng: 76 người - Thủy đậu: 2 người Cộng 676 người
44 người đã được gửi đi bệnh viện Chợ Quán vì bị sâu quảng nặng.
Khi vào kho giam giữ người mùi hôi thối không thể nào chịu được.
Sở yêu cầu Thống đốc Nam Kỳ cho lấy thêm 1 kho thứ ba để giam người tù bị bệnh(1)
Ngày29-3-41, thi hành lệnh của Thống Đốc Nam Kỳ, Hội đồng thày thuốc do Thống Đốc bổ nhiệm gồm Bougin, Darbes, Favot, Reyne, đã xuống kiểm tra nhà giam tù chính trị ở kho RONDON & Cty sau đó làm báo cáo như sau:
Hội đồng đã nghe Testanière, Cò đặc biệt ở Cảng, chịu trách nhiệm Giám thị tù chính trị giam tại kho cho biết hiện có 1.414 người:
Kho A: 719 người
Kho B: 695 người
Mỗi kho chiều dài: 33 m, rộng; 17 m
Cao đến đỉnh nóc: 8 m; cao đến xao ngang: 6 m
Diện tích: 561m2
Như vậy ở kho A có một người tù ở khoảng 0m278
Như vậy ở kho B một người tù được ở khoảng 0m280
Tính ra trung bình một người được:
1m60 x 0m50 = 0m280, chỉ có thể nằm duỗi dài
Lẽ ra mỗi người phải được ở từ 3 đến 4m2 và như thế mỗi kho chỉ có thể giam từ 150 đến 200 là cùng.
Tình hình ăn uống thiếu thốn, ở quá chột chội, nóng bức do kín mít, chỉ có hai cửa lớn ra vào, một ngày hai lần được rửa nước sàn bằng xi măng, cho nên rất nhiều người bị mắc bệnh suy mòn, ho lao, một số người chỉ còn bộ xương. Cuối cùng là tất cả không từ một ai đều mắc ghẻ. Bệnh ghẻ được coi là điểm xuất phát của chứng lở loét có mủ hoặc sâu quảng và hoại thư(2).
Cũng cần nói thêm, cuối tháng 3-41, hai kho này còn giam hơn 1.400 người, nhưng trước đó ngày 13-3-41, Pháp đã giam tại đó 1.800 người(3), và ngày 22-3-41 còn 1.600 người(4).
Với số lượng người bị giam đông như thế thì mỗi người tù chỉ được một khoảng diện tích là 0m231 và 0m235.
Thật là kinh khủng và không thể hình dung nổi tính man rợ của việc giam người của bọn đế quốc thực dân Pháp!
(1) Báo cáo tình trạng sức khỏe người tù bị giam ở kho Khánh Hội số 294 H.S. ngày 29-3-41 của Sở Vệ sinh cho Thống Đốc Nam Kỳ. Hồ sơ: Như trên. (2) Báo cáo số 1401 của Hội đồng thày thuốc ngay 29-3. HS Như trên. (3) Báo cáo Số 235/2 của dại úy Fribourg-Eynard, tư lệnh Sen đầm Nam Kỳ - Cao Miên gửi thống đốc Nam kỳ. HS: Như trên. (4) Công văn số 4770 ngày 22-331 của P.Arnoux Chánh mật thám gửi G.Đ. y tế Vệ sinh Sài Gòn. HS: Như trên.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
|