Tham vọng Biển của Trung Quốc (Phần đầu)
Sự nhạy cảm, phụ thuộc cũng như tham vọng của Trung Quốc đối với biển đang là động lực cho quốc gia này đẩy mạnh hiện đại hóa, điều chỉnh chiến lược biển,. Những tham vọng và nhiệm vụ như vậy rõ ràng thuộc về Hải quân giải phóng nhân dân (PLAN) cùng với các đơn vị chấp pháp biển của Trung Quốc. Bài viết "Sea Power and the Chinese State: China's Maritime Ambitions" đăng trên Heritage Foundation về vấn đề này như sau.
Trong nhiều thập kỷ qua, quân đội Trung Quốc đã cải thiện nhiều khả năng tác chiến của mình. Dựa trên những bài học được rút ra từ việc quan sát quân đội và các cuộc chiến tranh của nước ngoài, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) đã phát triển một số lực lượng, cải thiện khả năng chỉ huy, kiểm soát và bắt đầu thực hiện các chiến dịch chung. PLA cũng chuyển từ việc chủ yếu chỉ tập trung vào các hoạt động trên mặt đất sang nâng cao hoàn thiện các lực lượng không quân và đặc biệt là hải quân.
Sự phát triển của Hải quân Quân giải phóng nhân dân (PLAN) là một điều hợp lôgích. Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Sự phụ thuộc nặng nề vào thương mại, cả về nguyên liệu thô để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và để vận chuyển hàng xuất khẩu của Trung Quốc ra nước ngoài, đã làm biển ngày càng trở nên quan trọng đối với sự thịnh vượng của Trung Quốc. Hơn nữa, trong suốt thời kỳ "Cải cách và mở cửa" bắt đầu từ thời Đặng Tiểu Bình, việc ngày càng dựa vào thương mại quốc tế đã đẩy trung tâm kinh tế hấp dẫn của Trung Quốc ra khu vực duyên hải ven biển. Quốc phòng biển cũng ngày càng trở nên quan trọng đối với giới lãnh đạo Trung Quốc theo cách không giống như dưới thời Chiến tranh Lạnh.
Không phải tất cả các lực lượng hải quân đều được tạo lập ngang bằng. Mục đích của lực lượng hải quân quan trọng như, nếu không muốn nói là hơn, khả năng của nó. Sự phát triển về biển của Trung Quốc có thể chỉ nhằm mục đích bảo đảm huyết mạch kinh tế của mình, hoặc nó có thể nhằm đe dọa và gây sức ép đối với các nước láng giềng của Trung Quốc khi nhiều nước trong số này cũng phụ thuộc vào biển. Do đó, cần phải đánh giá một cách toàn diện và kỹ càng sự phát triển hải quân của Trung Quốc.
Trung Quốc và biển: Một sự phụ thuộc đang tăng lên Trung Quốc thường được cho là một cường quốc lục địa hoặc trên đất liền. Trong lịch sử, điều này được thể hiện rõ dù có một vài thời điểm Trung Quốc cũng quan tâm đến biển, gần đây nhất là trong thế kỷ 15. Dưới triều đại nhà Minh, Đô đốc Trịnh Hòa đã dẫn "những hạm đội quý giá" thực hiện nhiều chuyến thám hiểm đến Biển Đông và Ấn Độ Dương đến tận Môgađisu trên khu vực bờ biển phía đông châu Phi hiện nay. Khi Trịnh Hòa trở về sau chuyến đi cuối cùng của mình, Trung Quốc đã quay lưng lại với biển.
Trung Quốc ngày nay phụ thuộc vào biển nhiều hơn so với Trung Quốc dưới thời phong kiến trước đây. Trung Quốc thấy rằng kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thương mại của Trung Quốc với các quốc gia khác đã ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt động kinh tế quốc gia, chiếm đến 60-70% nền kinh tế của Trung Quốc. Không có thương mại, Trung Quốc không thể duy trì nền kinh tế của mình, chưa kể đến việc duy trì tốc độ tăng trưởng cần thiết để giữ chỉ số việc làm ở mức cao.
Thương mại đường biển là một phần thiết yếu trong thương mại của Trung Quốc. Theo số liệu trong báo cáo Phát triển biển 2010 của Trung Quốc, chỉ riêng năm 2008, thương mại đường biển chiếm 9,87% GDP của nước này, với tổng giá trị là gần 3 nghìn tỷ nhân dân tệ (khoảng 456 tỷ đôla Mỹ). Hơn nữa, khoảng 85% thương mại quốc tế của Trung Quốc vận chuyển bằng đường biển.
Một phần quan trọng của thương mại đường biển là sự phụ thuộc đang tăng lên của Trung Quốc vào dầu nhập khẩu để duy trì nền kinh tế. Năm 2009, Trung Quốc nhập khẩu trên 50% lượng dầu tiêu dùng và dự kiến con số này sẽ tăng lên khoảng 65% vào năm 2020. Phần lớn lượng dầu nhập khẩu đó là đến từ Trung Đông, bao gồm cả Iran và Arập Xêút, nên đòi hỏi sự lưu thông ổn định của các tàu chở dầu đến các cảng biển của Trung Quốc. Các vấn đề gần đây ở Cadắcxtan, kể cả việc các công ty dầu lửa phương Tây rút khỏi việc xây dựng mỏ dầu lớn Kashagan ở biển Caxpi, sẽ càng làm gia tăng sự phụ thuộc của Trung Quốc vào dầu của Trung Đông và việc vận chuyển bằng đường biển.
Chiến lược phát triển biển của Trung Quốc Do việc ngày càng phụ thuộc vào biển, Trung Quốc đã quyết định phải xây dựng một chiến lược để quản lý việc phát triển biển của mình. Theo các nhà phân tích Trung Quốc, một chiến lược như thế phải đảm bảo 3 yếu tố: Các lợi ích chung về biển của Trung Quốc, bao gồm cả việc ngày càng dựa vào các tuyến đường hàng hải toàn cầu phục vụ thương mại; các lợi ích an ninh quốc gia của Trung Quốc, bao gồm việc tiếp cận các nguồn tài nguyên của biển, chống sự can thiệp của nước ngoài vào công việc của Trung Quốc, an ninh đường biển, nguy cơ xung đột vũ trang xuất phát từ những đòi hỏi về biên giới biển và hải đảo mâu thuẫn nhau và vấn đề Đài Loan; yêu cầu xây dựng một "xã hội hòa hợp" về biển, trong đó công nhận điều không thể tránh khỏi là sự cạnh tranh toàn cầu trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên biển đã tăng lên.
Với những mối quan tâm này, chiến lược biển của Trung Quốc dựa trên một số tư tưởng chỉ đạo và nguyên tắc cơ bản nhất định. Những tư tưởng và nguyên tắc này bắt đầu với tầm quan trọng của việc duy trì sự kiểm soát quốc gia đối với lãnh thổ và hỗ trợ các lợi ích quốc gia khi theo đuổi con đường "Hoà bình và Phát triển" của Đặng Tiểu Bình.
Các nhiệm vụ chính về biển vì sự phát triển của Trung Quốc trong tương lai bao gồm: bảo vệ quyền lực về biển của Trung Quốc đối với "các vùng nước liên quan"; phát triển nền kinh tế biển của Trung Quốc; tăng cường việc sử dụng biển và quản lý các đảo; duy trì môi trường biển; phát triển các ngành công nghiệp biển và khoa học về biển; nâng cao sự đóng góp của Trung Quốc vào hải dương học toàn cầu.
Có nhiều cách để Trung Quốc theo đuổi các nhiệm vụ này mà không cần gây hấn. Ví dụ, Báo cáo phát triển biển 2010 đã lưu ý tầm quan trọng của việc tham gia các liên minh hợp tác quốc tế. Đồng thời với việc đó, báo cáo này cũng lưu ý rằng Trung Quốc không nên thừa nhận các đòi hỏi hay lợi ích về biển của mình để tránh bị cáo buộc là một "mối đe dọa" hoặc phải nhượng bộ với các cường quốc lớn khác. Thay vào đó, báo cáo nhấn mạnh rằng những lợi ích quốc gia chung của Trung Quốc đòi hỏi Trung Quốc phải phát triển biển. Nói tóm lại, Trung Quốc sẵn sàng theo đuổi các chính sách quốc gia quyết đoán để kiểm soát các vùng nước liên quan và các vùng biển gần kể cả khi các chính sách đó có mâu thuẫn với các cường quốc biển khác và các quốc gia láng giềng.
Các công cụ sức mạnh biển của Trung Quốc Để thực hiện các nhiệm vụ và hỗ trợ các lợi ích này, Trung Quốc đã vững chắc mở rộng các công cụ sức mạnh biển của mình, bao gồm ngành công nghiệp đóng tàu, các công ty vận tải biển, các lực lượng biển và hải quân.
Khi thương mại đã phát triển, hàng hóa của Trung Quốc thường được vận chuyển đến các điểm đến của chúng bằng đội tàu của chính Trung Quốc. Hai trong số 10 công ty vận tải container lớn nhất thế giới thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc: Tập đoàn vận tải biển Trung Quốc (COSCO) và Công ty vận tải container Trung Quốc (CSCL).
Nhiều tàu của các công ty này được đóng ở các xưởng đóng tàu của Trung Quốc. Trung Quốc đã vượt qua Hàn Quốc trở thành nước đóng tàu lớn nhất thế giới năm 2010. Trung Quốc đã đóng các tàu có tổng tải trọng 65,6 triệu tấn, chiếm 43% tổng tải trọng của các tàu cả thế giới đóng trong năm 2010. Các công ty đóng tàu của Trung Quốc cũng không chỉ phục vụ các công ty của Trung Quốc mà còn giành được các hợp đồng đóng mới tàu lớn trên thế giới.
Ngành công nghiệp đóng tàu của Trung Quốc bao gồm cả nhiều xưởng đóng tàu tư nhân nhỏ, nhưng chủ yếu tập trung vào hai công ty đóng tàu lớn là Tập đoàn đóng tàu nhà nước Trung Quốc (CSSC) và Tập đoàn công nghiệp đóng tàu Trung Quốc (CSIC). Cả hai công ty này đều thuộc sở hữu nhà nước.
CSIC có 140.000 lao động và tài sản trị giá 27,5 tỷ đôla Mỹ. Sản phẩm của công ty này gồm nhiều loại tàu lớn như tàu chở dầu, tàu vận tải hàng hóa lớn, tàu chở container, tàu RO/RO, và chuyên đóng các tàu lớn. CSIC cũng đóng cả tàu chiến cho quân đội Trung Quốc. Giống như các công ty nhà nước khác của Trung Quốc, CSIC thực tế là một thực thể kết hợp thẳng hàng và bao gồm không chỉ các xưởng đóng tàu và các cơ sở sửa chữa tàu mà còn cả các viện thiết kế, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm sử dụng khoảng 30.000 kỹ sư. Tương tự, CSIC không chỉ sản xuất thân tàu mà còn sản xuất cả động cơ điezen, các thiết bị điện và hàng loạt các thiết bị hàng hải khác như các máy móc cho cảng. Với 95.000 lao động, CSSC nhỏ hơn một chút so với CSIC. Giống như CSIC, CSSC sản xuất cả tàu quân sự và dân sự, và tham gia nhiều nỗ lực nghiên cứu và thiết kế chung.

Nhiều lực lượng khác bảo đảm cho sự quan tâm đến biển ngày càng tăng lên của Trung Quốc. Một trong số đó là Lực lượng thực thi luật ngư nghiệp (FLEC), một bộ phận của Cục quản lý ngư nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, có trách nhiệm tuần tra các ngư trường thuộc Trung Quốc. FLEC có 3 trung tâm chỉ huy và nhiều đơn vị kiểm soát địa phương được thành lập ở các thành phố lớn và các tỉnh ven biển. FLEC có từ 10-20 tàu lớn, bao gồm các tàu có tải trọng từ 1.000 tấn đến tàu cứu hộ vốn là tàu ngầm có tải trọng gần 5.000 tấn. FLEC thường xuyên trao đổi với Cơ quan Bảo vệ bờ biển Mỹ (USCG), như chương trình theo đó các quan chức FLEC đi cùng các tàu của USCG trong mùa đánh bắt cá bằng lưới kéo.
Bộ Giao thông Trung Quốc thì kiểm soát Cơ quan an toàn hàng hải Trung Quốc (MSA). Tương tự như USCG, MSA chịu trách nhiệm đối với các vấn đề an toàn hàng hải, kiểm soát ô nhiễm và kiểm soát các sông chính của Trung Quốc và bờ biển. MSA cũng quản lý những hỗ trợ hàng hải và các biện pháp kiểm soát. MSA có 20 chi nhánh ở các tỉnh ven biển, dọc sông Dương Tử, Châu Giang và Hắc Long Giang. MSA cũng có đội tàu riêng của mình, trong đó có ít nhất 3 tàu có tải trọng trên 1.000 tấn.
Một lực lượng biển khác của Trung Quốc là Lực lượng Giám sát biển (CMS) thuộc Cục hải dương Trung Quốc. CMS cũng có 3 đội tàu chính với khoảng 300 tàu, trong đó có 30 tàu với tải trọng trên 1.000 tấn. Dường như không có tàu nào trong số này được trang bị vũ khí. CMS chịu trách nhiệm giám sát những cái Trung Quốc gọi là "vùng biển gần" của mình. CMS cũng giám sát vấn đề ô nhiễm, những hủy hoại về môi trường và việc khai thác các nguồn tài nguyên, và thực hiện các cuộc nghiên cứu hải dương học.
Giống FLEC, CMS thực hiện việc tuần tra ở các vùng nước tranh chấp như các khu vực ở Biển Đông do đó vừa xác nhận được chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc vừa giữ những tranh chấp ở mức "dân sự". Ví dụ như gần đây tàu của Việt Nam đang thực hiện thăm dò cách bờ biển của mình 80 hải lý đã bị các tàu tuần tra của Trung Quốc cắt cáp, một sự kiện có liên quan đến các đơn vị của CMS. Đồng thời với việc đó, các tàu của CMS được thông báo đã tiến vào vùng nước của Philíppin với việc Manila cáo buộc rằng Trung Quốc xây dựng các công trình trong khu vực này, vi phạm trắng trợn thoả thuận năm 2002 giữa Trung Quốc và ASEAN về Biển Đông.
Lực lượng thứ 4 là bảo vệ bờ biển (CCG), một lực lượng bán vũ trang thuộc Bộ an ninh quốc gia nhưng con người lại lấy từ lực lượng Cảnh sát vũ trang nhân dân (PAP). CCG được cơ cấu thành khoảng 20 đội tàu, mỗi đội tương đương một trung đoàn của PLA. Tàu của CCG có tải trọng từ 130 đến 1.500 tấn và đa số được trang bị vũ khí. Trong một số trường hợp, tàu của CCG vốn là các tàu khu trục, được lấy từ Hải quân Quân giải phóng nhân dân (PLAN). Cũng giống như PAP, CCG cũng có vai trò trong thời chiến, hỗ trợ các lực lượng của PLA trong phạm vi trách nhiệm.
(còn tiếp) Nguồn:
http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc/1869-tham-vng-bin-ca-trung-quc-phn-u