Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 01:36:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn - Tạp chí Sông Hương  (Đọc 75515 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #30 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:04:26 am »

Lá cây thuộc bài

TRẦN THỊ HIỆP


Chập choạng tối có lệnh rút. Đây là lần đầu tiên sau ba ngày chiến đấu đơn độc trong lòng địch, chúng tôi mới liên lạc được với đồng đội và thật thất vọng, mệnh lệnh không phải giục xốc tới mà rút lui.

Chúng tôi, bốn đứa còn lại đào cái huyệt như cái hố cá nhân, chôn Lương. Lương là thằng dễ thương nhất, bạn chiến đấu và kể cả bạn ngoài đời, giờ đây nó đã ngủ giấc vô cùng, ngủ như đá nằm trong lòng đất giấc miên viễn. Ai có đào hầm rồi lấp lại mới thấy, dù là chất đất gì đi nữa, số đất đào lên khó lòng nén xuống cho hết. Không để cho địch và người chủ ngôi nhà này khám phá ra nơi mai táng, đất dư mang ra vườn rải đều. Cũng may sau ba ngày đánh nhau ác liệt nơi nào cũng có đổ vỡ, vôi vữa tung tóe khắp nơi. Dù làm cách gì cũng thấy chỗ ấy đất có vẻ mới và khang khác thế nào. Tôi nói ý này, thằng Thịnh bảo mầy tưởng tượng hão, ai biết được. Chúng tôi phải lấy cỏ rác, lá khô, lá vàng và một ít vôi gạch vụn trải một lớp, hi vọng vài ngày sau, nếu có mưa thì khó mà phát hiện nơi ấy có một con người nằm. Mộ không nấm rất dễ thất lạc, nhưng chúng tôi tin chắc một câu chuyện đau thương sâu sắc như thế này làm sao quên được? Chỗ hắn nằm là trung điểm gốc khế và cái giếng, phía sau ngôi nhà hai tầng đoạn giữa con đường Lữ Gia, chạy ven theo phía tây thành phố Nha Trang.

Đêm ba mươi tết Mậu Thân, chúng tôi xuất phát từ căn cứ Đồng Bò, đi dọc con đường mòn dưới chân mấy ngọn núi đất nhấp nhô giữa một vùng đất thấp ngập mặn. Vùng đất này rất thấp, mùa lụt nào cũng ngập, nước biển tràn vào không cây cối gì mọc được, rất trống trải, nhưng lại rất bất ngờ đối với địch. Đoạn phía nam người ta gọi là Đồng Muối. Chúng tôi thâm nhập thành phố Nha Trang bằng con đường chọc vào sườn thành phố này. Các mũi tiến công từ nhiều hướng đã thâm nhập sâu vào nội thành, súng nổ ran khắp nơi. Được tin cánh phía bắc đã lập công đầu. Cánh này băng qua một nhánh sông cầu Hà Ra lên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đánh thẳng vào hông dinh tỉnh trưởng, bọn địch đã bỏ chạy. Cánh phía tây của chúng tôi có một đơn vị đã lập chiến công ngay từ những phút đầu, tiến chiếm được đài phát thanh, cái miệng om sòm của địch ở đầu bắc cách chỗ chúng tôi chừng cây số. Nhóm tôi, chỉ hơn trung đội bị chận lại nơi đây, trong số này có bán tiểu đội gồm năm người của tôi, đã hi sinh mất một. Lương hi sinh lúc băng qua con đường, hắn chạy rất nhanh cạnh tôi, chỉ còn một bước chân nữa là đến chỗ an toàn, tôi thấy nó ngã, tưởng nó vấp, tôi thét: “Chạy đi!” Nó yên lặng, vào chỗ nấp tôi kêu thêm mấy lần nữa, nó vẫn nằm yên. Trời ơi nó bị bắn gục, sau này thấy đạn trúng vai xuyên qua ngực, hi sinh ngay. Chúng tôi mấy thằng còn sống liều mạng kéo hắn vào nhà, đạn thép cày trên đá mặt đường sáng lòa, lạ qúa thế mà chẳng có đứa nào bị thương, chắc là nhờ vong hồn hắn phù hộ. Từ đó hoàn toàn mất liên lạc. Ba ngày qua chúng tôi chiến đấu đơn độc. Chúng tôi có bản đồ nhưng đây là lần đầu tiiên đến một thành phố lạ, hoàn toàn mù mịt về điểm đứng của mình, lại chẳng nhận thêm lệnh nào, không biết phải đi về đâu, phải làm gì. Chung quanh súng nổ khắp nơi. Mới ló đầu ra đã bị bọn địch đóng ở cuối đường quạt lên. Nghe tiếng nổ biết mấy khẩu M 16, có cả đại liên M 60. Bọn chúng đặt điểm kháng cự cuối con đường đầu kia, kiểm soát cả đoạn đường thẳng này. Không diệt được ổ súng ấy, sẽ không làm sao thoát khỏi ngôi nhà này và khó lòng đưa Lương về căn cứ. Đã ba ngày qua, hơn 70 giờ rồi, xác bắt đầu hủy, ruồi nhặng đã vo ve. Chúng tôi đành chôn bạn ngay trong lòng địch, hi vọng sau ngày chiến thắng, hòa bình sẽ đem hắn về quê hương.

Chưa biết phải xử trí sao, chúng tôi được lệnh rút. Chúng tôi tính, phải đợi bên ngoài trời thực tối mới thoát ra khỏi cái căn nhà quỉ ám này. Mấy ngày qua địch biết căn nhà chúng tôi cố thủ, thôi thì đủ thứ đạn lớn nhỏ trút lên. Cái gì nhô ra chúng bắn ngay. Khu vực này mấy ngày qua chìm ngập trong lửa đạn, song điện không bị cắt, đó là ý đồ của địch, chúng muốn có ánh sáng để kiểm soát con đường này tránh cho ta di chuyển, tiếp tế, chuyển thương binh tử sĩ, và rút lui. Rất khó băng ngang qua 20 mét đường nhựa trống trải sinh tử sang phía bên kia, chuồn ra cánh đồng. Thằng Trịnh leo lên gác đẩy cánh cửa kính ra dùng cửa làm gương quan sát cuối đường đầu kia. Hắn chưa nhìn thấy gì cả thì xoảng, kính bị bắn vỡ, một mảnh kính vỡ ghim vào má, máu chảy ròng ròng. Như thế có nghĩa là bao nhiêu họng súng, bao nhiêu con mắt thù nhìn chăm chăm vào căn nhà này, nhất cử nhất động của chúng tôi chúng đều theo dõi. Tôi có cách khác, tôi nhặt một mảnh kính nhỏ, buột vào đầu cây gậy đưa ra quan sát phía đầu đường. Chiếc gương soi rất nhỏ, hình đa giác, cỡ nửa bàn tay vừa mới đưa ra đã bị một vài viên đạn bay qua cheo chéo. Rất may nhờ nó nhỏ quá và ở xa nên địch không bắn trúng. Chỉ cần vài giây tôi cũng kịp nhận ra nơi bọn địch bố trí. Lạ thật, nơi ấy tối thui, không đèn đóm gì cả, trong khi đó đoạn đường này lại sáng trưng. Sau nghĩ ra mới biết bọn địch rất tinh quái, nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Chúng bắn bể tất cả những bóng đèn sáng ở phía ta. Tôi nghĩ muốn băng qua khúc đường này cũng phải làm như chúng thôi. Tôi leo lên gác bắn vỡ được hai chiếc bóng điện đường, phía bên này đường. Còn những bóng khác ở xa quá không bắn bể được. Bắn ba phát không trúng. Thằng Hoài ở dưới nhà gọi với lên: “Xa quá bắn không trúng đâu, phí đạn!” Nếu không tắt được mấy ngọn đèn ấy thì chúng tôi rất khó, phía sau còn sáng, khi băng qua đường sẽ là những cái bóng đen hiện rất rõ trên cái phông sáng, làm bia cho địch nhắm. Nhưng biết làm thế nào, phải làm cho mất điện. Đức nói: “Muốn có bóng tối, chỉ có cách bắn đứt dây điện. Tôi nhìn lên, đêm ba mươi trời tối đen như mực, nhờ mấy bóng đèn còn lại, chăm chú lắm thì mới nhận ra nhưng sợi dây điện là những sọc đen mờ mờ. Thế nhưng khi nhìn vào súng, từ lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi, không thấy gì cả. Đành bỏ ý định bắn đứt dây điện, chỉ còn cách phá hỏng lưới điện chốn này. Chúng tôi lấy chất nổ TNT, quấn lại trong chiếc tất nhà binh, ở trong nhà dùng sào đẩy ra cột điện cạnh nhà, cho nổ. Cả một vùng rộng lớn chìm trong bóng tối.

Từ khi điện tắt, địch biết phía ta sắp sửa rút. Chúng bắn rất rát, đạn thép cày trên đá vạch sáng vun vút lướt qua, chúng thay nhau bắn cầm canh. Ngôi nhà chúng tôi đang chiếm giữ là nhà dân, một gia đình trung lưu, không hiểu vì sao tôi nghĩ họ ở trong ngành giáo dục. Trước khi đi kháng chiến gia đình tôi cũng như thế này. Có bàn học đầy vết mực, có bảng đen phấn trắng. Đúng là một cuộc sống hiền hòa, không biết họ đi đâu, có được an toàn hay không? Trong nhà còn nguyên vật dụng sắm tết. Chúng tôi không đụng đến, nằm đất, nấu cơm bằng nồi niêu của mình. Trong nhà vào dịp tết không thiếu thức ăn và đủ vật dụng cho chúng tôi sống thêm nhiều ngày nơi đây nữa. Ban đêm nằm trong nhà áp tai vào tường nghe tiếng địch dùng búa tạ phá tường, tiếng động trầm trầm. Càng lúc tiếng đập phá càng gần. Có lẽ chúng tiến chỉ còn cách chúng tôi ba căn. Tiếng động dễ sợ như tiếng búa đóng nắp quan tài.

Lệnh trên cho rút là hợp lí. Chúng tôi một đơn vị nhỏ, toàn mấy thằng con trai nhà quê xứ Bắc, không nắm được một tí gì về vùng này, bị cô lập ở giữa một biển người xa lạ, thù địch. Đây chỉ là một trận thử lửa để chứng tỏ cho cả thế giới biết rằng nếu muốn quân ta cũng có thể hạ sơn dạo chơi giữa lòng thành phố của chúng được.

Chúng tôi bàn, cả bốn đứa phải nhanh chóng thoát ra một lúc. Trang bị thật gọn nhẹ, bỏ lại mọi thứ không cần thiết, thắt lại quai dép, buộc ba lô, tư thế sẵn sàng kéo nhau tới gần cửa ra vào. Hẹn xuất phát như vận động viện chạy cự li ngắn. Tôi tính, phải nuốt 20 mét đường sinh tử này từ hai đến ba giây, khoảng cách chúng thay băng đạn, không được chậm hơn. Loạt đạn trước sắp dứt, tôi hô: “Chạy!”. Cả bốn lao vào chỗ núp bên kia đường đứng lại thở một hơi rồi mới nghe loạt súng thứ hai. Bọn địch không đủ thời gian lắp băng khác. Chúng tôi quay lại nhìn căn nhà phía bên kia đường, nơi đã che chở cho chúng tôi trong mấy ngày qua, và hiện nay bạn tôi đang còn nằm lại. Sau đó chúng tôi thoát khỏi thành phố nhanh chóng, tìm lại được đơn vị và trở lại căn cứ không mấy khó khăn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #31 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:06:00 am »

Tôi chưa thấy ai ham học như Lương. Ba lô hắn luôn luôn có sách giáo khoa. Hắn nói học ôn thực kĩ để khi hết chiến tranh trở về học lại đại học. Hắn sợ bỏ bài vở lâu quá, sau này lớn tuổi khó học. Thằng này ngây thơ hết chỗ nói. Hắn tưởng lên Trường Sơn vào Nam đánh nhau với bọn Mỹ giống như đi chơi, có được sự yên ổn để ôn bài vở. Cuộc chiến cuốn hút chúng tôi đảo lộn, chà xát như cát bờ biển bị sóng vỗ. Làm gì có giây phút yên ổn để tĩnh tâm học hành, với lại sống nay chết mai, ai tính chuyện lâu dài. Tội nghiệp, phải khó nhọc lắm mới mang và bảo vệ được mấy quyển sách dày và nặng như đá, vượt Trường Sơn nắng lửa mưa dầm vào một tỉnh miền Nam trung phần này. Cái ba lô của hắn nặng gấp hai lần của tôi. Ai có đi đường trường mới biết cái gì hơi nặng một chút cũng muốn vất. Đến nỗi mấy cái hạt nút áo tôi còn muốn cắt bớt đi cho nhẹ, thế mà hắn mang theo cả lô sách vở. Sách nước ngoài in trên thứ giấy đặc biệt, dày, trắng, láng và rất nặng. Quyển sách nho nhỏ không dưới hai cân. Bây giờ thì khỏe rồi, cái ba lô, hành trang đi đánh giặc và đi học không còn hành hạ hắn, đè nặng lên đôi vai khẳng kheo, bộ ngực trắng trẻo lộ xương sống xương sườn của thằng con trai hai mươi mốt tuổi ốm o và yếu đuối như con gái nữa. Lúc chôn hắn chúng tôi đặt mấy quyển sách quanh cu cậu, có thằng khóc còn hài hước: “Sướng nhé, xuống dưới đó tha hồ mà ôn tập!”

Có lần tôi vô tình mở một quyển sách ra, thấy bên trong có ép một chiếc lá khô, kiểu học trò ép hoa lá kỉ niệm trong lưu bút ngày xanh. Tôi hỏi đùa: “Kỉ niệm một cuộc tình của mầy phải không? “Hắn lắc đầu nói: “Không phải. đó là thứ lá cây thuộc bài. Học trò nhà quê đứa nào cũng tin ép lá cây này trong vở, học bài rất mau thuộc và lâu quên. Lên Trường Sơn tao thấy loại cây này rất nhiều. Tao hái một mớ hạt hết chiến tranh đem về gieo quanh vườn trường cấp một cho bọn học trò hái ép trong vở...” Lần đầu tiên tôi nghe chuyện này. Tôi cười thầm, cho đó là chuyện vớ vẩn. Phi thức tế, không khoa học, thuộc loại mê tín dị đoan. Hắn một thằng sinh viên học khoa học, luôn luôn đầu lớp, trưởng thành và già dặn như người lớn mà tin cũng lạ thực.

Sau này thằng Hiền đi phép về Bắc, hắn với Lương ở cùng một xã, chúng tôi nhờ hắn mang kỉ vật và báo tin Lương hi sinh. Hiền cứ cằn nhằn mãi: “Tại sao không báo tin bằng quân bưu lại bắt tao làm công việc khó khăn này? Cho tao lao vào lửa đạn còn hơn... khó quá, tao sợ lắm...” Sau động viên mãi nó mới chịu, nhưng không vui. Lúc trở lại đơn vị nó kể:

- Kì dị ma quái lắm chúng mầy ơi!

- Sao?

- Bước vô nhà hắn, mới thấy mặt tao thì cả nhà òa khóc! Tao không cần phải báo tin, chỉ tường thuật sự việc... Mẹ nó nói, lúc nào hòa bình đến đón bà vào Nam đem nó trở về Bắc hương khói.

Sau hòa bình, ai cũng có công việc quan trọng riêng, phải mấy năm sau chúng tôi mới đến đón mẹ Lương vô Nam. Bây giờ được hiên ngang giữa phố xá đông người, dưới ánh mặt trời, thực đáng kiêu hãnh! Thành phố này đông vui và sầm uất hơn trước nhiều. Thật đúng với lời bài hát “Từ trận đánh hôm nay ta xây lại bằng mười” Nhà cửa phố xá mở mang to đẹp. Tôi hồi tưởng lại tết Mậu Thân năm 68, buổi chiều trước khi xuất kích đánh vào thành phố, tại một vạt rừng thưa, chúng tôi được phổ biến thêm một lần nữa bản đồ Nha Trang. Đây là tấm bản đồ của bọn Mỹ phát cho lính ngụy do ta thu được, thật đúng là loại bản đồ quân sự, nghe nói chúng cập nhật hàng năm. Bản đồ in rất rõ và có nhiều chi tiết, đến nỗi một cái nhà bếp, cái chuồng lợn cũng thấy ghi chú. Con đường mà chúng tôi tiếp cận và băng qua tiến chiếm Nha Trang là một con đường mới mở nằm ở phía tây thành phố, đường tiếp cận với một vùng gọi là Đồng Nai, đồng tiếp giáp với núi thấp, vào sâu là vùng núi Đồng Bò, một căn cứ quan trọng. Lâu nay chúng tôi học trên sa bàn đã nhẵn địa hình địa vật vùng này. Chúng tôi ghi nhớ tên con đường là Lữ Gia. Giải phóng rồi cách mạng làm chủ đất nước, một loạt danh nhân thuộc thế hệ cũ không còn hợp thời nữa bị bỏ đi, thay vào tên mới. Lữ Gia ngày trước đổi thành Lê Hồng Phong.

Lạ quá, chúng tôi nghĩ đúng là con đường ấy, thế nhưng giờ đây nó khác xa cái lúc chúng tôi băng qua và băng về trong đêm đầy ánh lửa đạn. Cái nhà ngày trước chúng tôi cố thủ đánh nhau với địch ba ngày đã bị phá. Nơi ấy người ta xây dựng lên ngôi trường cấp một. Chúng tôi vẫn còn hoài nghi, đi vào xem, quả đúng là đây. Cây khế và cái giếng không thể lầm lẫn được. Chỉ có điều mảnh đất chúng tôi chôn Lương giờ đây là một khu vườn hoa.

Giờ đó học sinh đã ra về, còn lại một ông lão làm bảo vệ đang ở ngaòi vườn làm cỏ. Ông lão tưởng chúng tôi là khách tham quan, chào hỏi qua loa xong vẫn ngồi xuống nhổ cỏ. Tôi làm quen: “Chiều rồi nghỉ tay uống nước đi chớ bác Hai?” Ông lão vẫn không chịu dừng tay nhổ cỏ, nói như phân bua: “Cây cỏ gì lạ quá... nhổ mãi không hết?...”

Tôi hỏi:

- Cây cỏ gì?

Ông lão nói:

- Hoa trồng chăm sóc tưới nước thì không chịu tươi tốt mà cái thứ cây cỏ gì lạ quá, cuốc bao nhiêu, dẫy bao nhiêu cũng cứ mọc. Có khi tức mình tôi nhổ cả gốc rễ lên, ai ngờ mấy ngày sau chúng lại mọc tràn lan, chiếm hết phân tro.

Tôi hỏi lại một lần nữa:

- Cỏ gì đó bác Hai?

- Thứ cây này không có tên, chỉ nghe bọn học trò gọi là “cây thuộc bài”. Đứa nào cũng hái lá ép trong vở, tin nhờ đó học bài mau thuộc. Vùng này xưa không có, sao không biết gần đây nó mọc ghê quá...

Tôi giật mình chợt nhớ đến lần mở sách ra thấy ép lá cây học thuộc bài, tôi lẩm bẩm: “À thì ra lá cây thuộc bài”. Ông lão làm vườn: “Ông cũng biết loại lá cây này sao?” Tôi nói:

- Học sinh nào cũng biết, cũng tin. Thuở nhỏ tôi cũng làm thế...

Tôi chợt nhớ lại ngày trước Lương từng nói đã hái hạt cây loại này tính đêm về quê gieo. Hôm chúng tôi chôn, có thể trong áo quần hắn còn vương vải loại hạt cây này, giờ được dịp phát triển đúng với ý định của hắn lúc còn ở Trường Sơn, chỉ khác ngôi trường này không phải là quê hương thôi. Trong vườn có nhiều luống hoa hồng. Tôi quan sát thấy ngay trên nơi chôn nó có một khóm hồng đỏ thắm, cánh hoa sáng lên gương. Tôi đến bên mân mê cánh hồng, ông lão nói: “Lạ lắm, trước nó là gốc hồng bạch sao bứng lên trồng nơi ấy lại hóa thành hồng đỏ thắm?” Tôi thì tôi hiểu...

Chúng tôi bàn bạc với ban giám hiệu. Họ dành cho gia đình mọi sự giúp đỡ. Hôm sau chúng tôi thuê người bốc mộ. Hiệu trưởng cho học sinh nghỉ học, không hiểu sao có mấy đứa bé hay tin tới xem, đuổi mãi không chịu đi.

Khi người làm công giơ chiếc cuốc lên tính bổ xuống gốc hồng thì bà mẹ Lương hét lên:

- Dừng lại! Để bứng bụi hồng sang trồng nơi khác.

Một lúc sau bà lại đổi ý, nói:

- Thôi không bốc nữa, để em nó nằm lại trên đất học này cũng được. Khi còn sống nó là thằng rất hiếu học. Buổi trưa học quên cả ăn cơm. Tối lại lên gác chong đèn ngồi học quên cả muỗi đốt...

Tôi tính kể lại chuyện Lương đem sách vở lên Trường Sơn ôn bài, sau thấy kỉ niệm đó đau xót quá, không kể. Mẹ Lương tiếp: “Em nó còn rất mê trồng cây. Giờ đây nó được an nghỉ giữa chốn học đường. Ngày ngày được nghe tiếng trẻ con học bài, tiếng chơi đùa của bọn trẻ con. Mỗi sáng được thức dậy trong hương hồng thơm ngát, còn đâu bằng? Đất nước độc lập thống nhất rồi, đâu chẳng là quê hương?”

T.T.H
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #32 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:19:17 am »

Mai vàng trước ngõ

TRẦN CÔNG TẤN


Tôi có hai người bạn gái học cùng một trường, ngồi chung một bàn. Tôi ngồi giữa. Bên trái là Kim Mai, bên phải là Hồng Trinh. Tính nết hai cô khác nhau: Trinh luôn nói, cười. Mai thì lặng lẽ. Chỉ giống nhau ở chỗ cả hai cùng xinh đẹp và yêu mến tôi.

Chúng tôi có nhiều ước mơ. Hẹn nhau sẽ thực hiện sau khi xong đại học. Nhưng bước vào năm cuối cấp 3, thì mỗi đứa một nơi. Đầu năm học, bố Trinh gọi con vào trung tâm thành phố đóng phim hay làm du lịch gì đó. Giữa năm, mẹ Mai gọi con về đi học ngành dệt. Cuối năm đó, tôi đến tuổi đi bộ đội. Sau ba tháng tập luyện, tôi được điều đi đánh Pôn Pốt ở Kămpuchia.

Đêm hôm trước ngày tôi rời Hóc Môn, cả hai cô bạn đều đến chia tay. Hồng Trinh đi xe máy đến trước, đèn pha chiếu sáng choang, bóp còi inh ỏi. Xe dừng ngay giữa sân, Trinh vẫn ngồi trên xe, réo gọi:

- Thiện đâu! Không ra dìu em xuống xe à?

Má tôi hỏi: "Đứa nào đó?". Tôi cười, trả lời: "Bồ của con". Má tôi ngạc nhiên: "Tao tưởng cái con kia - con nhỏ ít nói, hay đến cuốc vườn giúp má. Nó là con Mai mà!".

- Vâng. Kim Mai - Tôi trả lời qua quýt với má rồi ra đón Trinh.

Vừa ngồi xuống ghế, Trinh mắng tôi như tát nước:

- Anh là ngờ nghệch lắm. Đi lính mà làm gì? Đang học ngon lành, sắp vào đại học, lại đùng đùng đi lính. Giá mà biết trước sớm, em chạy "lo" cho là Thiện yên chí ở nhà học tiếp. Còn tương lai của chúng mình nữa chứ. Sao anh dại dột thế?

Má tôi nghe Trinh nói vậy, cũng bùi ngùi:

- Trận mạc gì lại ra đi lúc Tết sắp đến. Tôi bảo cứ ở nhà ăn Tết xong xuôi hẵng đi. Hắn nói đang vào chiến dịch mùa khô. Phải đi ngay mới kịp. Mùa khô, mùa ướt mắc gì đến con?...

Thấy má tôi sụt sùi, Trinh bật khóc, kéo tôi ra sau vườn. Tôi đỡ Trinh ngồi xuống chiếc chõng tre, bên cạnh bụi xa-ri um tùm. Chổ này mát mẻ kín đáo. Tôi âu yếm ôm Trinh vào lòng, hôn lên đôi mắt, lên môi em mặn ướt xót xa. Trinh khóc nhiều lắm, lâu lắm, tấm tức mãi không thôi. Tôi chỉ biết dỗ dành Trinh bằng trăm ngàn cái hôn nồng thắm. Cuối cùng Trinh cũng nguôi ngoai, em ôm chặt lấy tôi và nói trong nước mắt:

- Thôi đã lỡ rồi. Ngày mai anh cứ đi đi. Ở nhà em sẽ chờ anh. Trăm năm em cũng đợi. Ngàn năm em vẫn chờ. Nhỡ mai kia anh về có đui què, mẻ sứt gì em cũng không bỏ anh...

Nghe Trinh nói vậy, tôi xúc động đến ứa nước mắt. Mãi tới khuya chúng tôi mới rời được nhau, khi xe Trinh đã phóng vút đi, tôi vào nhà thấy má đang loay hoay cắm cành hoa mai vào bình. Mùi hoa ngào ngạt đến bâng khuâng, cành mai vàng rực rỡ dưới ánh điện. Năm nay mai nở sớm thật. "Mai nhà ai cho thế hay má mua?" Tôi bỡ ngỡ hỏi. Má tôi ngạc nhiên:

- Vậy ra mày chưa gặp nó à. Bông của nó đem tới đó. Con Mai bảo mày rất thích loại bông này. Ít nữa nó sẽ trồng cho một gốc trước ngõ nhà mình. Má bảo mày ở sau vườn. Nó chạy ra ngoài ấy lâu lắm mà...

Ra thế. Mai đã ra tìm tôi sau vườn và đã chứng kiến cuộc chia tay của tôi với Trinh. Mai đã lặng lẽ ra về. Đúng tính cách của Mai nhường nhịn, không xen vào hạnh phúc của người khác. Hôm sau, tôi ra đi mang theo nhiều kỷ niệm của cả hai người bạn gái.

Cuộc chiến đấu của chúng tôi ở vùng Phai Lin rất quyết liệt để bảo vệ mỏ ngọc quý của nhân dân Kămpuchia. Nhiều bạn tôi đã ngã xuống. Trong một trận đẩy lùi cuộc tấn công của địch, tôi bị đạn pháo gẫy một chân, hai tay bị dập nát và mù một mắt. Suốt thời gian ở mặt trận, thỉnh thoảng tôi nhận được thư của Trinh. Hoàn cảnh ở xa Tổ quốc, thông tin chậm chạp khó khăn. Những lá thư Trinh đã làm tôi mãn nguyện.

Thư Trinh viết rất dài, kể nhiều chuyện đổi mới ở quê hương và nhắc lại những lời đêm chia tay, mong ngóng ngày tôi trở về. Bạn bè trong tiểu đội rất quý những bức thư đó và họ đọc đến thuộc lòng. Có người còn làm cả thơ ca ngợi, mối tình thủy chung Trinh dành cho tôi. Có điều tôi rất ngạc nhiên là Trinh làm Hải sản, Hải quan hay buôn bán gì đó mà giàu có rất nhanh. Nghe nói em đã xây nhà lầu và mua sẵn để dành cho tôi một chiếc "Đơ-rim" láng cóng. Chuyện tôi bị thương bạn bè giấu mãi rồi cũng lộ. Tin đó đã đến tai Trinh và Mai. Trinh đã gửi ngay cho tôi một lá thư dài mười tám trang, vừa trách móc vừa xót đau khi biết tôi mất một mắt và gãy nát chân tay. Em vẫn hứa như đêm chia tay là dù có sao cũng vẫn đợi chờ... Còn Mai - theo thư má tôi kể: Khi biết tin tôi bị thương, Mai đến ôm má và báo tin: "Con đã tình nguyện xin đi chiến đấu ở Kămpuchia. Qua bên đó con sẽ di tìm để chăm sóc anh Thiện".

Thành thương binh nặng, tôi được chuyển về nước. Một năm sau, vết thương ổn định, tôi được vào trại thương binh an dưỡng. Mặc dầu vượt qua được què quặt nhưng hai tay tôi cong quèo, dị dạng. Còn mắt thì hõm vào, sâu hoắm, bước đi phải nhờ đôi nạng gỗ. Ở trại, tôi được chế độ ưu đãi có người nuôi riêng. Nhưng tôi muốn về nhà với má nên gắng sức luyện tập. Khi chân tay đỡ lóng ngóng, tôi lao vào học nghề thợ mộc. Tôi nghỉ phải học lấy một nghề để kiếm sống rồi xin về, vừa đỡ cho nhà nước khỏi phải nuôi, lại còn giúp đỡ được mẹ già. Còn chuyện yêu đương lãng mạn của tôi thì đã lùi vào quá khứ. Trinh đã hốt hoảng khi gặp lại tôi ở bệnh viện và sau đó em lãng dần. Nghe đâu sau lần ấy không lâu Trinh đã cặp bồ với một anh chàng "xuất nhập" gì đó và hiện đang ở nước ngoài với chồng. Tôi đã nghĩ đến Mai, nhưng em ở Kămpuchia chưa về. Mà có được gặp Mai thì cũng chỉ là bạn. Tôi chẳng mong đợi gì khi nghĩ đến hoàn cảnh tàn phế của mình.

Thời gian vùn vụt trôi qua. Một năm sau tôi đã trở thành thợ mộc thực thu. Cả trại thương binh đón má tôi lên, mừng cho bà cụ và liên hoan tiễn tôi về với gia đình. Tôi nhớ buổi sáng ba mươi Tết năm ấy, khi ngồi với má trên xích lô trở về xóm làng quê tôi. Ngược chiều xe tôi là một rừng mai biết đi kìn kìn ra chợ hoa ngày Tết. Tôi nói với má: "Nhà mình cũng phải cố mua một nhành mai". Má cười: "Ừ. Mua. Nhưng phải chờ đến mười giờ đêm nay ra mua, mới rẻ"...

Suốt cả buổi sáng bà con lối xóm đến thăm. Ai cũng thương, cũng quý và ái ngại cho tôi. Nghe họ thì thầm với nhau: "Hòn đạn mũi tên ác độc quá! Thằng Thiện con bác Hai trước kia đẹp trai là thế mà bây giờ...". "Con bồ giàu thế cũng bỏ chạy mất tiêu rồi..."

Thật tan nát ruột gan... Xế chiều, buồn quá, tôi xách hòm đồ nghề thợ mộc ra trổ tài với má. Nhà có bao nhiêu chân ghế, chân bàn khập khiểng què quặt, tôi đục đẽo, cưa cắt, chắp ghép cho lành lặn hết. Mặt trời sắp lặn, má tôi mua được nếp, gà đem về, bà đứng sững nhìn mớ thành phẩm đồ gỗ ngổn ngang giữa sân, mỉm cười sung sướng:

- Mồ tổ cái thằng! Vậy là bây kiếm được nghề nuôi má rồi đó nghen.

Tôi vô cùng sung sướng với niềm vui bé nhỏ của má. Nhưng ngay lúc đó có một niềm vui lớn hơn ập đến với tôi. Thọat tiên, con Mực vẫy đuôi rồi lao ra đường. Tôi nhìn theo ra ngõ, bỗng tháy một cành mai lớn, nở vàng rực rỡ đang di động trên bờ rào chè tàu nhà tôi. Rồi cành mai trùm kín cả ngõ. Cành mai vụt chạy tới phía tôi với tiếng kêu tha thiết:

- Anh Thiện!...

"Mai"! - Tôi cũng kêu lên. Cái bào rời khỏi tay, tôi chới với nắm được một bàn tay mát rợi, rối rít hỏi:

- Mai! Em về hồi nào? Em từ đâu về?...

Mai bật khóc. Khóc như trẻ con. Tôi đứng ngây người ra đấy chẳng biết phải làm gì nữa. Má tôi đỡ lấy cành mai, bà cũng sụt sùi:

- Vào nhà đã, các con!...

Chuyện tình của chúng tôi chỉ đơn giản có thế. Hiện nay Kim Mai làm thợ dệt. Còn tôi thợ mộc. Chúng tôi đã có hai con. Cháu trai tên Ngọc Quý. Cháu gái là Phai Lin. Anh muốn hỏi giống mai vàng ấy à? Đó là một loài hoa chung thủy với mùa xuân. Bây giờ thì tôi không chỉ ước mơ mua một cành, mà Kim Mai đã trồng hẳn một cây. Từ năm ngoái, trước ngõ nhà tôi cây mai ấy đã nở vàng rực. Nếu anh thích, Tết này mời anh đến chơi vào sáng ba mươi, vợ chồng chúng tôi xin biếu anh một cành đẹp nhất về chưng đón Tết...

T.C.T
(120/02-99)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #33 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:08:06 am »

Tiếng vọng làng Thòi

TIẾN DŨNG

Ngày trước đi ngang Phủ Diễn, thầy địa lý Cú Đẹn dừng lại khá lâu nhìn doi cát trồi ra ở cuối làng Đọp cười: Chỗ này giống y chang cái hĩm. Nghịch! May có con sông đâm vào nên thuỷ thổ tương sinh, sau ắt sinh làng nhưng âm khí nặng. Chẳng ai để ý đến lời thầy, mà cũng chẳng để ý làm gì vì đó chỉ là doi cát hoang, mọc toàn gai ngấy nên gọi cồn Ngấy. Cồn Ngấy nổi tiếng lắm ma, nhiều rắn độc. Đồn rằng ở đó có con bạch xà sống lâu năm nên đã thành tinh. Những đêm trăng suông nó thường hiện hình con gái đẹp để ám đàn ông. Những anh nào số đen dính phải không mất mạng thì cũng mất hồn. Chú Tộ suốt ngày ngồi nơi gốc nhãn cuối làng hướng về doi cát vừa hát vừa bắt “chim” ra chơi - Người làng bảo chú bị ma Cồn Ngấy hút hết dương khí sinh điên. Lão Bất chăn trâu với tôi kể: Đêm trăng suông sáng như ban ngày, thằng Tộ đang cất vó bỗng có đứa con gái mặt hoa da phấn, mùi ngâu ngào ngạt bước đến. Thoạt nhìn, Tộ đã mê mẩn tâm thần. Nó dẫn cu Tộ vô Cồn Ngấy. Tụi bây biết vô đó mần chi không? Thấy chúng tôi há hốc mồm lắc đầu. Lão chụm bàn tay trái vòng hình chữ o rồi lấy ngón trỏ tay phải thọc vào lôi ra liên tục. Lão cười hô hố làm mấy đứa con gái thẹn đỏ mặt. Lão làm bộ rùng mình.Thôi. Không kể nữa. Hãi lắm. Mấy đứa chăn trâu bọn tôi đang khoái nghe một hai giục lão kể. Lão chun mồm hình chữ o. Khi cu Tộ nhà ta đang “phi ngựa” chợt thấy cô gái chỉ có cái đầu và hai vú tròn như hai quả bưởi là người, còn lại mình rắn to như cái cột nhà.Eo ơi! Tộ ta hét lên một tiếng kinh hoàng rồi chết giấc. Mấy đứa con gái cũng hét lên eo ơi rồi co rúm người lại sợ hãi. Tụi bây biết ai cứu thằng Tộ không? Sau một ngày tìm kiếm tao mới lôi được nó từ bụi gai ngấy ra đó. Lão Bất thở dài. Tội nghiệp, hãi quá nên nó bị tâm thần. Lão Bất kể nhiều chuyện ma Cồn Ngấy làm chúng tôi sợ chẳng dám đi đêm. Khổ nhất là con Lấm nhà dì Liêng, đêm nó bắt tôi đến ngủ chung,buổi sáng đi học kiểu gì nó cũng túm áo tôi vì sợ. Chẳng riêng con Lấm sợ mà tôi cũng rất sợ nhưng là con trai nên tôi làm ra vẻ già gan, cứng cựa thế thôi chứ trong người run lắm.

Cồn Ngấy từng có vài người đàn ông bỏ mạng vì rắn bắp chuối, nên người đời thêu dệt nhiều chuyện ma cực kì rùng rợn, hãi hùng. Càng ngày Cồn Ngấy càng trở thành ma địa, chẳng ai dám bén mảng tới. Vậy mà vào ngày bạch lộ có kẻ dám cả gan đến dựng lều giữa Cồn Ngấy ở. Kẻ đó là dì Liêng mẹ con Lấm. Làng được phen xôn xao. Người bảo dì điên, kẻ nói dì là hiện thân của bạch xà tinh. Dì Liêng trước đây đẹp nổi tiếng làng Đọp lại học giỏi. Đang học dở lớp 10 dì gác bút cùng với 11 cô gái làng trở thành những chiến binh Trường Sơn làm cho nhiều chàng trai tiếc ngẩn ngơ. Nghe bảo dì là đại đội trưởng phá bom Trường Sơn từng được phong dũng sĩ diệt Mĩ.

Ngày đất nước ca khúc khải hoàn chỉ còn bảy nữ chiến binh của làng trở về, trong đó có dì. Dì Liêng bị bom Na-Pan cháy đen mất nửa mặt nhưng dì che khăn, một bên vẫn còn nét đẹp của một thời xuân sắc. Mẹ dì cứ đưa bàn tay già nua rờ rẫm khuôn mặt con mà khóc. Khi đi con tui lành lặn, đẹp như hoa, như tranh mà giừ tàn tạ như thế này con ơi! Bố dì chửi: Bà câm mõm đi. Con Nụ, con Hoa, con Xuyến, con Vi bị bom vùi, một mẩu xương cũng không có đem về. Nó không chết là mừng rồi.

Bảy nữ chiến binh đều đã ngoài băm. Ở làng Đọp ngày đó con gái ngoài hai mươi chưa chồng đã gọi là “ngồi cồn” huống chi các chị ngoài băm. Các nữ chiến binh trở về nhưng chỉ có cô Nhuỵ lấy được ông chồng là ông chủ tịch xã chết vợ, còn lại vẫn phòng không gối chiếc. Lão Bất ông ổng. "Ngày trước các em là những con thiên nga! Bây giờ các em là những con vịt già". "Cốc cốc cốc ai có một mốc đem ra mà phơi. Đến khi động trời không phơi được nữa". Câu nói lão Bất như xoáy vào nỗi đau của những nữ chiến binh. Nhưng lão chẳng để ý, cứ nghêu ngao: "Tuổi xuân em gửi chiến trường/ nên giừ phải trượt mạ giường trong đêm".

Đùng một cái, dì Liêng có bầu. Ngày ấy chửa hoang là ghê gớm lắm. Dì đi đâu người ta cũng chỉ trỏ, bàn tán. Dì Liêng không dám ra khỏi nhà. Nếu có chuyện phải đi thì cũng sụp nón che mặt, lầm lụi mà đi. Rồi người ta bắt dì Liêng ra giữa đình đọc “cáo trạng”. Chửa hoang, tước thẻ Đảng. Xóm trưởng Mục là tay tự ý bắt dì ra “đấu tố”. “Chánh án” Mục hỏi.

- Ai là cha đứa bé trong bụng? Khai mau sẽ được khoan hồng!

Dì nước mắt chảy dài chỉ im lặng lắc đầu. Dân làng một số người nhui, xỉa xói.

- Đồ chửa hoang. Cũng Đảng viên đấy bà con ạ. Lại còn dũng sĩ diệt Mĩ nữa chứ! Ngữ ấy làm xấu mặt làng, phải cạo trọc bôi vôi, bỏ bè chuối trôi sông. Quẳng ra Cồn Ngấy cho ma rắn thịt.

Thậm chí có kẻ còn ném đá vào dì như đấu địa chủ ngày xưa. Khi đó dì chợt quắc mắt đứng dậy đá bay bàn “chánh án”, túm lấy cổ áo xóm trưởng:

- Bà bảo cho mà biết nhá, khi bà đang lo đánh Mĩ thì mày trốn nghĩa vụ ở nhà nằm với mấy mụ vợ của mấy anh đang đi bộ đội. Đừng lên mặt với bà. Bà đếch ngán. Thằng mô giỏi thì ra đây!

Dì Liêng dúi tay Mục ngã chỏng khoèo rồi vớ lấy chiếc đòn gánh múa tít.

- Lúc nãy đứa mô ném bà. Đứa mô chửi bà. Có giỏi thì mở mồm đi. Bà thích thì bà chửa, bà đẻ, ảnh hưởng chi đến bát cơm hay mồ mả đứa nào.

Đám đông đột nhiên im bặt chẳng có ai dám mở miệng, vòng vây cứ dạt ra. Dì Liêng quẳng đòn gánh ưỡn bụng đi về. Lão Bất cười khành khạch.

- Con Liêng nó có võ, đụng vào nó đá bể dái. Ha ha... Không chồng mà chửa mới ngoan/ có chồng mà chửa thế gian sự thường.

Tay Mục lồm cồm bò dậy đuổi theo dì nhưng có mấy người ngăn lại. Lão hậm hực bảo sẽ trị bằng được dì Liêng. Nghe đâu tay Mục tâu lên xã, xã gọi dì Liêng lên mấy lần nhưng rồi cũng chẳng làm được gì. Sau vụ đó, đi đâu dì Liêng cũng không thèm che nón nữa. Dì cứ ưỡn cái bụng như vậy mà đi. Những ai nói vướng đến tai dì, dì sẵn sàng “dửng vây” xắn quần lên chửi. “Dửng vây” vậy thôi nhưng dì buồn lắm. Dì khóc suốt. Bố dì chửi:

- Biết nhục chưa con. Mày còn ngồi đó mà tưới nước mắt. Lòng tao cũng đang muối đây. Cút ra khỏi nhà cho khuất mắt tao.

Thế mà dì đi thật. Dì cầm rựa ra Cồn Ngấy chặt tre, lấy lau cù làm tranh dựng lều ở. Mẹ tôi bảo Dì Liêng chuyển dạ vào đêm bão. Một vài người vẫn nghe tiếng kêu của dì nhưng giữa đêm bão quật, lại sợ ma nên họ không dám ra. Cơn bão khủng khiếp làm cho hơn nửa số nhà trong làng đổ. Nhà tay Mục xóm trưởng to đùng mà tường đổ đè cho gãy cả hai chân, suýt chết. Vậy mà túp lều bé như lỗ mũi của dì Liêng nằm giữa Cồn Ngấy không việc gì. Bão tan, người làng đã nghe tiếng khóc oe oe vọng ra từ Cồn Ngấy. Ai cũng bảo dì Liêng là ma nên túp lều mới không bị đổ. Đẻ giữa đêm bão không đèn, nến, không người đỡ mà con bé bụ bẫm, đẹp như tranh. Lão Bất thì lắc đầu lè lưỡi. Con bạch xà tinh thấy người đối xử với người ác quá nên đêm đó nó động lòng sai bầy rắn, con mô con nấy to như cột nhà quấn lấy nhau để níu lều chống bão. Bạch xà hiện thành bà đỡ đẻ. Hai con mắt nó là hai viên ngọc sáng, cần chi phải đèn nến. Con bạch xà tinh rứa mà tốt thật.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #34 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:13:03 am »

Dì Liêng đã “bắn phát đại bác” mở màn cuộc cách mạng không chồng mà chửa cho những nữ chiến binh làng. Dì Lúa, dì Mì, dì Ni cũng mang bụng ra Cồn Ngấy dựng lều ở. Mẹ tôi bảo. Ra đó để tránh những thị phi của người đời. Những người cùng cảnh ngộ thường hiểu nhau, san sẻ và nương tựa lẫn nhau để sống. Và rồi những nữ cựu chiến binh quá lứa lỡ thì ở những làng khác tìm đến xin nhập khẩu Cồn Ngấy, tạo nên một quần cư làng đặc biệt, Làng không chồng. Tên làng không chồng dài quá họ lại gọi làng Thòi. Bởi Cồn Ngấy là doi cát thòi ra, bây giờ bỗng nhiên thòi ra làng. Vậy là làng có tên. Lão Bất bảo. Thầy Cú Đẹn phán như thánh. Đất như cái hỉm bây giờ thành làng hỉm.

Không chồng nhưng những người đàn bà không thể thiếu đàn ông. Tạo hoá đã sinh ra vậy. Làng Thòi thỉnh thoảng vài ba ngày lại xuất hiện vài ba người đàn ông, họ là chú lái xe, anh buôn thịt lợn, có cả ông cán bộ xã, cán bộ huyện... Có ông cán bộ huyện đến thăm làng vờ say rượu rồi chui trong nhà dì Nin tranh thủ ngủ trưa. Tôi và thằng Cò đến rình nhưng bị con chó nhà dì đuổi cho chạy thục mạng. Thằng Cò bị nó ngặp cho một miếng vào cẳng đau nằm lăn lộn dưới đất. Nó bảo. Ông huyện có lẽ quen rồi nên chó không cắn.

Những nguời đàn ông đến rồi đi, chẳng thấy ai ở lại. Họ đi rồi cái bụng của những người đàn bà cứ phình to ra. Cồn Ngấy ngày một sinh sôi. Sau này các nhà xã hội học chắc sẽ đau đầu về sự sinh làng này.

Tôi cũng sinh ra ở làng Thòi. Những đứa trẻ làng Thòi chúng tôi lớn lên chẳng biết cha mình là ai. Hồi nhỏ, tôi hỏi cha con đâu? Mẹ không trả lời, mắt ầng ậng nước. Câu hỏi không có câu trả lời cứ ray rứt mãi trong tôi. Chiều, tôi đang mò ốc với thằng Cò thì con Lấm chạy đến. Anh Vin ơi. Lúc đêm cha em về, bộ đội đàng hoàng nhé, cha cho em nhiều quà lắm có con lật đật thích ơi là thích. Khi cha chuẩn bị đưa em đi ăn kem thì nghe tiếng mẹ khóc nên em tỉnh dậy. Thì ra em nằm mơ, tiếc ơi là tiếc. Thằng Cò bĩu môi. Đừng có mà mơ. Cha mày là chú Tộ đang bắt “chim” chơi ngoài gốc nhãn. Con Lấm cắn môi. Cha anh thì có. Em cũng nghe các dì nói chú Tộ là cha anh Cò. Thằng Cò nhảy lên xô con Lấm ngã xuống sông. Tôi hốt hoảng lao theo vớt con Lấm lên. Đêm đó con Lấm sốt cao, nó cứ gọi cha ơi, cha chở con đi ăn kem.

Dì Liêng sinh anh Lậm đầu nhưng anh chết từ năm 9 tuổi. Mẹ tôi kể. Anh Lậm biết đi cấy, đi bắt ốc bắt cua từ rất sớm. Đận dì Liêng ốm anh Lậm đi ra đầm chao lươn bán để thuốc thang, rau cháo cho mẹ và em. Đêm, chờ mãi không thấy anh về, mọi người đổ đi tìm, thấy xác anh nổi trên đầm vạc. Tôi hỏi cha anh Lậm, con Lấm là ai. Mẹ lừ mắt. Con nít. Hỏi lung tung. Nhìn con Lấm cứ gọi cha trong mê sảng, tôi thấy cục gì cứ trồi lên trong cổ rồi tôi chạy ra bờ sông khóc tức tưởi, khóc không tài nào nín được.

Những đứa trẻ Cồn Ngấy chúng tôi biết làm lụng từ rất sớm, chả đứa nào học lên đến cấp 2. Nghèo đói một phần nhưng, đi học sợ sự phân biệt “chủng tộc” của bọn trẻ làng khác. Chúng tôi được chúng gọi là những đứa con hoang làng Thòi, con không cha... Những câu nói đó như những con quái vật gớm ghiếc gặm vào tuổi thơ chúng tôi.

Lần đi học về qua Đầm Vạc, con Lấm reo lên. Hoa súng đẹp quá, anh Vin lấy cho em đi. Tôi bơi ra hái một ôm đưa cho con Lấm thì bị Thằng Ngọ con lão Mục cướp. Tôi giằng lại bị nó đá lộn xuống đầm. Tôi lóp ngóp bò lên bờ, thấy miệng mằn mặn, đưa tay lên quyệt thấy tay đầy máu. Tôi nhìn nó căm thù. Nó bảo nhìn gì thế thằng không cha. Miệng tôi sưng vù cũng không đau bằng câu nói đó. Dùng hết sức bình sinh, tôi lao vào húc nó bổ chửng. Đè lên người nó tôi đấm tới tấp. Tôi đang nổi điên thì bị một bàn tay như gọng kìm chít lấy cổ. Lão Mục. Lão cứ nắm lấy cổ tôi cho thằng Ngọ vùng dậy trả đòn.Tôi bị nó đấm đá vào mặt vào bụng đau, tức không thở được. Con Lấm thì gào khóc. Anh Vin ơi, anh Vin ơi. Khi tôi máu mồm máu mũi ròng ròng, cha con lão mới chịu buông tha. Con Lấm vừa khóc vừa tìm cỏ mực nhai đắp lên cái miệng rách, của tôi. Tôi gượng đau bảo con Lấm về đừng mách mẹ. Tôi không muốn mẹ buồn.Tôi thất thểu ra về trong người sùng sục nỗi căm giận. Tôi sẽ báo thù. Tôi nghĩ ra ngàn cách báo thù cha con lão Mục như trong phim. Tôi chỉ chờ đợi cơ hội.

Một đêm trời tối thui, gần 2 giờ sáng tôi và thằng Cò đang hì hụi ở Đầm Vạc cất vó bỗng nghe tiếng ùm rất lớn phía sông Ngân, tiếp đến là tiếng quẫy nước. Thằng Cò tưởng ma co rúm người lại. Tôi bảo. Nhanh lên chắc có người tự tử. Tôi và nó cầm đèn chạy đến thì thấy một người đang chới với giữa dòng nước xoáy. Thằng Cò bấu tôi. Lão Mục. Chẳng suy nghĩ, tôi đưa cây đèn cho thằng Cò rồi lao xuống. Tôi đã có kinh nghiệm, nước xoáy mạnh không nên bơi mà lặn xuống. Tôi lặn một mạch rồi trồi lên, lựa thế luồn tay kẹp lấy cổ lão, chân đạp mạnh để lái khỏi vòng xoáy. Thằng Cò đã tìm đâu được cây tre dài lao ra, tôi nắm lấy. Lão Mục quay người túm lấy tôi bấu chặt. Tôi phải dùng hết sức bình sinh của tuổi mười sáu để tụt xuống gỡ bung hai bàn tay như gọng kìm của lão, rồi tiếp tục kẹp cổ lão. Kiểu kẹp này là lão Bất bày cho tôi. Lão bảo như vậy người được cứu mới không dìm mình chết theo.Tôi mệt nhoài, hai chân mỏi nhừ như sắp bị chuột rút. Càng gần bờ, càng lắm đá ngầm, chân tôi va vào đá bị cứa nhiều nhát. Tôi biết máu chảy nhiều nhưng không có cảm giác đau. Chật vật lắm tôi và thằng Cò mới dìu lão lên được bờ. Lão uống no nước, bụng như trái sim. Thở hí hóp. Tôi mệt bở hơi tai nhưng phải xốc lão lên vai chạy cho nước trong mồm ộc ra. Khiếp! Mùi rượu nồng nặc.

Thoát chết, hôm sau lão đi chấm phẩy đến nhà tôi với mấy cân gạo. Lão nói lí nhí, khúm núm cảm ơn cứu mạng và xuýt xoa khen tôi, bảo mẹ tôi đã sinh được một người con dũng cảm. Tôi chả thèm nói gì, bỏ ra ngoài. Lão Bất cười hô hố. Mày cũng được đấy. Tao tưởng mày trả thù dìm chết thằng Mục. May! Tao cũng cảm ơn mày.

Thì ra lão Mục hay mò đến nhà dì Phí, lão Bất thấy ghét nên quyết định cho một vố. Lão quét vôi đầy mặt chờ Mục ra về liền nhảy xổ đến nhát. Mục ta tưởng ma chạy tõm xuống sông luôn. Lão Bất bảo. Kiểu trả thù của mày đểu nhất trong các kiểu trả thù. Tôi chẳng biết, chỉ thấy lòng trống rỗng và buồn, tôi cứ đi như kẻ mộng du và đến nhà dì Liêng khi nào chả biết. Con Lấm nhảy bám vào cổ tôi. Hoan hô! Tí nữa anh đưa em đi xem phim nhé. Có cái gì đó mềm mềm, cưng cứng đang ngọ nguậy nơi ngực tôi. Thì ra Lấm đã lớn...! Chỉ một khoảng khắc, mắt con Lấm và mắt tôi gặp nhau. Tôi sững sờ. Nó cũng sững sờ. Một cảm giác lạ chưa từng có đang lan khắp cơ thể và tâm hồn tôi. Con Lấm buông nhanh tôi, mặt đỏ bừng chạy vào nhà. Tôi đứng trân, thấy lâng lâng lạ lắm. Đêm, nghĩ đến ánh mắt của con Lấm tôi thao thức không ngủ nổi.

Gần sáng, tôi mới chợp mắt. Tôi thấy mình dắt con Lấm ra sau đống rơm. Chúng tôi trần truồng dính chặt vào nhau với những khoái cảm dâng trào bất tận, cảm giác đầu tiên tôi mới biết. Nhưng thoáng chốc tôi lại thấy trong vòng tay mình không phải Lấm mà là một người con gái khác, đầu người, mình rắn to như cột nhà đang ngọ nguậy. Tôi hét lên kinh hoàng rồi vùng dậy, mồ hôi vã ra dầm dìa, thấy trong người nôn nao lạ lắm. Đũng quần ướt sũng, tôi thò tay xuống thấy nước gì đó nhầy nhầy. Tôi hoang mang, sợ ma rắn làm cho điên như chú Tộ. Sáng, tôi chẳng dám kể với mẹ mà kể với thằng Cò. Nó cười. Mày giờ mới phọt à. Đó là nước để sinh em bé đó. Tao phọt từ năm ngoái, thỉnh thoảng tao cũng tự nghịch cho nó phọt. Thích lắm. Vậy tôi đã trở thành đàn ông?

*
*   *

Trong tiềm thức và vô thức tôi muốn bỏ đi thật xa để không ai biết gốc gác của mình. Đơn giản thế thôi. Những đứa trẻ sinh ra ở làng Thòi cũng đã bỏ xứ tha hương khi chưa đến tuổi vị thành niên. Có lẽ chúng cũng giống tôi. Tôi khoác tay nải ra đi trong chiều mưa ảm đạm. Mẹ nước mắt vắn dài. Con ơi con đừng đi. Mẹ lạy con. Tiếng gọi được đầy đủ quyền làm người đã thúc dục tôi cất bước bỏ lại đằng sau người mẹ liêu xiêu trong cơn mưa tầm tã. Chiếc xe ca lăn bánh, tôi thấy con Lấm đuổi theo xe ngã dúi dụi gào lên. Anh Vin ơi... Tôi vuốt mặt, nước mắt lẫn nước mưa mặn chát. Tôi phải đi, chào nhé. Chào làng Thòi, chào những nỗi đau, chào mối tình trong trắng đầu đời, chào tất cả.

Tôi phiêu bạt nhiều nơi. Bao nhiêu năm quăng quật, va đập với đời cuối cùng tôi cũng làm được anh thợ cả. Tôi dẫn năm đứa đàn em sang Lào nuôi chí lớn. Nhiều cơ hội đến với tôi nhưng tôi chẳng thể nào nắm bắt được. Tôi hiểu, mình chẳng có kiến thức để xây những công trình lớn. Tôi chỉ xây những ngôi nhà nhỏ cấp 4 và công trình vệ sinh.. Đi đâu tôi cũng thấy mình nhỏ bé và tự ti; thấy mình chông chênh, thiếu thốn một cái gì đó rất khó đặt tên trên bước đường hình thành tính cách và bản lĩnh của một con người. Cái dáng đi lúi cúi mắt nhìn xuống, cố tật của cư dân làng Thòi tôi vẫn không thể nào sửa được.

Bảy năm rồi tôi chưa về làng. Tôi chỉ nghe loáng thoáng thằng Cò vào tù vì nghiện rồi đi xách ma tuý; con Lấm cũng bỏ nhà đi sau tôi mấy ngày, không biết đi đâu. Thằng em cùng mẹ khác cha điện bảo. Tết này anh về chứ. Mẹ nhắc anh suốt. Tôi gắt. Tao không về. Dập máy rồi tôi thấy buồn mênh mang. Những mái nhà tranh thấp tè mốc thếch bên sông Ngân ngầu đỏ, những con người làng Thòi cứ hiện trước mắt tôi. Đến bây giờ tôi mới hiểu vì sao khuôn mặt mẹ và những người đàn bà làng Thòi đều khắc khổ, đôi mắt buồn ầng ậng nước như chực khóc và dáng đi lúi cúi, tất tả. Họ chỉ vui khi ngồi bên nhau kể chuyện Trường Sơn. Tôi và thằng Cò có lần nghe lỏm được chuyện của mấy dì. Dì Nụ kể. Tiểu đội tao 12 vịt giời. Đàn ông không có nhưng lại nhiều bom. Lần được giao phá 3 quả bom trên đồi B2, tao cởi truồng bò lên phá được 2 quả, đến quả thứ 3 tao trèo lên cứ ôm bom mà ngủ. Tao mơ thấy đang ôm người yêu mới chết chứ. Khi mọi người đến thấy tao đang ôm bom rên ư ử. Mấy dì đấm nhau cười rung cả mái tranh, khuôn mặt ai cũng rạng rỡ, mắt long lanh... Có lẽ những ngày tháng ở Trường Sơn, chiến trường ác liệt nhưng đó là quãng đời đẹp nhất, bi hùng nhất của mẹ tôi và những người đàn bà làng Thòi.

Chẳng thể về quê, nỗi đau đớn ấy đeo đẳng, day dứt mãi trong tôi suốt những chặng đường phiêu bạt. Bây giờ nằm đón Tết một mình nơi lán công trường heo hút trong cánh rừng Lào tôi trằn trọc không tài nào ngủ nổi. Tiếng gọi làng Thòi cứ vọng mãi trong tôi thúc dục. Vâng, tôi chẳng có cớ gì mà không về với mẹ. Tôi phải về thôi. Chẳng cần lấy đồ đạc, tôi lao ra khỏi lán vượt rừng ra đường lớn đón xe về Việt . Tôi về đến đầu làng đúng vào thời khắc giao thừa, bầu trời đêm rực sáng bởi những chùm pháo hoa ngũ sắc.       

Làng Nghè 31/10/2009
T.D
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #35 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:33:51 am »

Quán quân dân

NHẤT LÂM


Trời về tối lúc tạnh lúc mưa, lại có gió nên càng mịt mờ như khuya khoắt, nhà nào cũng ăn cơm lúc chập choạng, bởi mưa gió chẳng biết làm gì. Tháng mười chưa cười đã tối. Mùa mưa miền Trung vốn tự cổ xưa đã não nề, những năm chiến tranh càng buồn hơn.

Hôm nay có ba người khách, ba anh bộ đội còn rất trẻ, đến từ chiều, coi bộ đi đường xa, nhờ mẹ nấu cho ăn bữa cơm tối và bây giờ ôm nhau ngủ ngon lành trên cái sạp nứa ghép lại, một kiểu giường ra đời trong năm đầu kháng chiến chín năm.

Mẹ Chắt thấy lạnh, tuy đã mặc thêm cái áo bông, nhưng áo đã cũ mà gió Bắc hun hút giữa đêm tối, mẹ có cảm giác như trời có bao nhiêu gió cứ tìm nhà mẹ mà thổi vào. Bên Lào trời có lạnh không? Nếu lạnh thì đốt củi chứ áo quần đâu có nhiều. Nhìn những anh bộ đội đến quán mẹ thì biết, có anh bận quần cụt, chờ quần dài khô mới có cái mặc. Mẹ nhớ và thương Tùng, thiếu vài tháng là đủ hai năm, cầu trời cho con chân cứng đá mềm, để trở về với mẹ. Mẹ mủi lòng nhớ thằng con trai duy nhất, đang cày ruộng thì hò trâu mà xung phong nhập ngũ và ra đi không kịp về thăm mẹ.

Mẹ lên giường nằm chưa ấm chỗ thì có tiếng gọi, mẹ Chắt dậy mở cửa. Ai gọi tui đó, mẹ nói vọng ra sân, trời tối ngả bàn tay không thấy.

- Chúng con mẹ ạ

- Có việc chi mà khuya gió...

- Dạ có phải là quán Quân Dân không ạ...?

- Phải.

- Mẹ cho chúng con ngủ lại... Khiếp trời cả mưa cả gió.

Khi ánh sáng từ chiếc bật lửa tàu bò được bật sáng, mẹ Chắt nhờ châm vào chiếc đèn hoa kỳ đã cũ, và quả nhiên ngôi nhà ấm áp hơn.

Điều làm mẹ Chắt ngạc nhiên là thấy người con gái... Con gái cũng đi bộ đội sao. Cô còn trẻ chưa vượt qua tuổi 20, dong dỏng cao, da trắng, đôi mắt đen đẹp. Có lẽ họ đi từ xa đến, anh bộ đội thì còn sung sức, cô gái lấm tấm mồ hôi nên khi mẹ rót nước mời, cô cám ơn và uống ngon lành.

Anh bộ đội cao hơn cô một cái đầu, người khỏe mạnh, tóc dày đen, nét nổi trội là cái miệng có duyên, anh ta mang cái ba lô chật căng, lại khoanh bụng cái bao gạo, một cái xắc cốt da thêm khẩu súng lục, khi anh bỏ những thứ ấy xuống cái ghế băng, như trút gánh nặng, người anh như lớn cao một ít, cái áo xita vải dày ướt đẫm mồ hôi sau phía lưng. Ấy vậy mà anh không tỏ ra mệt nhọc, vui vẻ hỏi thăm mẹ Chắt thân tình. Lát sau anh ta mở ba lô đưa cho cô gái bộ áo quần, tấm vải đen dài dùng làm chăn đắp cho kẻ đi đường và bảo cô:

- Em đi thay áo quần mà nghỉ ngơi.

Anh đặt ba lô ruột tượng gạo lên sạp nứa, riêng khẩu súng lục thì không rời thân.

Nằm bên mẹ Chắt, cô gái thao thức khó ngủ, làm mẹ cũng mất ngủ theo, nên khi có tiếng gà mẹ và cô vùng dậy, cả hai mẹ con ngồi bên bếp lửa và cô hỏi chuyện làm quen. Khi nồi cơm đã sôi, mẹ nhờ cô bóc đậu phụng để rang làm muối bới cơm nắm cho ba anh đến trước đi đường.

Trời sáng dần, cô hỏi mẹ đường ra bờ sông, khi cô trở về đang phơi áo quần thì anh bộ đội trách yêu sao không gọi anh dậy cùng đi, anh cũng thay bộ quần áo lấm bụi đường trường. Ba anh bộ đội đến trước đang ăn cơm mời cô gái và anh bộ đội có súng lục. Họ thì thầm là cấp gì... C hay D...?, còn cô gái là gì thì họ nhìn nhau nghi ngại, em gái, đồng đội (y tá) chẳng hạn, hay vợ chưa cưới... Bây giờ họ giữ ý tứ để khi ra đường tha hồ mà tranh cãi không phân thắng thua.

Mấy ngày sau trời đẹp hẳn lên, nắng ấm mùa đông không những cây lá trẻ trung, xanh lại mà những cụ già ngày lạnh co ro hớn hở ra vườn. Khách của quán Quân Dân cũng chỉ anh bộ đội có súng lục cùng cô gái đến trong đêm, thành thử đến bữa ăn mẹ cùng ăn như một gia đình và cô gái đi ra thị trấn bên bờ sông mua được cá tươi, hến... bữa ăn tươi hơn. Dù họ mời ép mẹ Chắt cũng chỉ tròn ba bát.

- Các con ăn đi, mẹ ăn vậy là đủ no rồi, người già ăn no quá nặng bụng.

Khi đặt bát đũa xuống mâm, mẹ nhìn hai người. Ngày kia có chợ phiên cuối tháng, đông vui lắm, nếu còn ở lại đi chợ mà xem. Chợ họp về đêm đông người lắm.

Họ đã ở đến ngày thứ năm, anh không thể dùng dằng không đi, điều cần nói với bà mẹ thì chưa thể nói, họ đi trên đê La Giang, con đê chạy dài theo bờ sông, đã qua mùa lụt, nước trong vắt và những chiếc đò căng buồm từ dưới chợ Tràng lên họp chợ phiên tối nay nhộn nhịp. Những bè nứa dài như hạm đội kỳ lạ từ Phố Châu về, Ngàn Trươi xuống tấp vào ven sông, khói cơm chiều từ khum lá che tạm trên bè bóc lên giữa trời nước con sông La hai bên bờ từ Linh Cảm về lá dâu xanh tốt. Nếu chiếc cầu sắt Thọ Tường không bị giật mìn đổ gục chắn dòng thực hiện tiêu thổ kháng chiến, thì không ai nghĩ đến chiến tranh. Diên thấy vui khi đi bên Cao và nói những ý định khi anh trở về, hai người sum họp thành vợ thành chồng. Nhưng điều cần nói với mẹ trước lúc anh chia tay thì cả hai người chưa nói được. Cao không thể không nói để ngày kia ra đi. Chợ đã đông người, đèn hoa kỳ được thắp sáng như sao sa, không thiếu một thứ gì, từ cây lá làm nhà ở đến cái giường tre, đôi đũa, hàng ăn được bày bán ở nơi cao ráo và mùi thơm thức ăn kho nấu lơ lửng một vùng rộng cuốn hút những ai cần ăn.

Cao mua năm yến gạo và hỏi người đi xe đạp thồ có biết quán Quân Dân... Người thanh niên nhận lời chở giúp và xin chéo dù loang lổ làm ngụy trang.

Sáng dậy Cao gói ghém ba lô và khi ăn cơm anh mới thưa với mẹ Chắt xin gửi Diên, anh nói ngập ngừng, vừa nói vừa thăm dò.

Thật ra qua mấy đêm ngủ mẹ đã dò biết những gì ở người con gái, uẩn khúc ở quê nhà, cuộc kháng chiến đã chuyển qua giai đoạn mới, làng quê của Diên có những thay đổi mới, phân chia ruộng đất, thay đổi thành phần. Cha mẹ của Diên vốn có ruộng đất, có nhà ngói trâu mộng, ông biết tổ chức làm ăn trở nên giàu có bát ăn bát để. Diên được đi học, sau làm công tác Đoàn. Diên chơi thân với Hiền em ruột Cao, và Hiền là chiếc cầu cho hai người đến với nhau. Hiên đã biên thư nói rõ sự tình với anh trai, Cao gửi thư cho Hiền dặn Hiền gần gũi Diên và bảo Diên đừng làm điều gì không hay. Không được công tác thì vui vẻ ở nhà giúp đỡ công việc, thành phần nọ thành phần kia chỉ là sự quy định của con người của một thời, cái chính là từ mỗi con người dù ở thành phần nào thì cái nhân cách của anh mới quyết định. Trong một lá thư sau anh bảo Diên “ Chờ anh về”, một ngày gần đây thôi, anh về trước dự định khi có quyết định đề bạt và ra chiến trường. Diên đồng tình những gì Cao bàn định và ra đi trong đêm đến một nơi xa nhà gần ngày đường và Cao đã chờ cô ở đó.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #36 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:37:19 am »


Vậy mà đã ba năm, ba năm hai mẹ con sống hẩm hút với nhau trong quán Quân Dân mà anh bộ đội nào ghé qua cũng lầm tưởng họ là mẹ con đúng nghĩa và trong số họ không ít anh âm thầm nuôi hy vọng. Có anh bồng bột rất bộ đội đặt vấn đề.

- Mẹ ơi, cho con cô Mộng Diên mẹ nhé...

 Mẹ Chắt cười, vừa vui vừa độ lượng.

- Con của mẹ đó, nhưng bây giờ mẹ đâu ép buộc, con hỏi nó, nó ừ thì gật. Nhưng theo mẹ thì con gái còn trẻ, chờ vài ba năm nước nhà độc lập có chi mà lo muộn.

Diên cười ngất, tự nhiên mình có tên mới: Mộng Diên. Bộ đội trẻ đến hồn nhiên, cũng chính họ đặt tên quán mẹ Chắt thành quán Quân Dân.

Quán mà chẳng có gì mua bán, gạo của bộ đội gửi mẹ thổi cơm giúp, từ thức ăn, củi lửa gói gọn trong lon rưởi sữa bò gạo. Từ ngày có Diên, mẹ như có thêm tay thêm chân, những việc củi, lửa, nước non Diên giúp mẹ, lại còn chăn nuôi trồng rau, bữa cơm thêm tươi, tình thương con của mẹ, nỗi nhớ người yêu của Diên đang chiến đấu nơi xa dồn vào bữa cho mỗi anh bộ đội ghé qua. Có đêm chỉ có hai mẹ con, mẹ nói:

- Khi Tùng về, mẹ mong có con dâu đẹp nết. Còn Cao về mẹ sẵn sàng cắt nửa mảnh vườn cho Cao và Diên được ở gần mẹ.

Rồi nửa tháng sau có đoàn thương binh từ mặt trận trở về, hai mẹ con đến chăm sóc theo đoàn thể hội Mẹ Chiến sĩ và đoàn thanh niên địa phương. Đêm về nhà lặng lẽ nỗi buồn nặng trĩu nghĩ đến người thân, không thư từ gửi về, không hề có tin tức tháng này qua năm nọ rồi năm sau, năm sau nữa lại đến.

Ngày lễ ngày tết một mẹ một con và hôm nào có anh bộ đội đi qua ghé vào, hai mẹ con vơi đi nỗi nhớ và đó là điều an ủi lớn nhất, niềm vui lớn nhất khi anh bộ đội ấy thông thạo tin tức, biết cách nói chuyện quân ta đang thắng trên mọi miền đất nước, con của mẹ nhất định sẽ trở về...

Và Tùng, anh bộ đội từ mặt trận Trung Lào đã trở về nguyên vẹn làm mẹ Chắt sung sướng ôm con mà khóc, nhìn Diên tràn đầy hy vọng.

- Con yên tâm, ngày một ngày hai thôi Cao nhất định về đây. Hai mẹ con ta với Tùng chuẩn bị những gì để đón.

Tùng ở nhà được một tháng, anh ra đi về đơn vị buổi sáng thì buổi chiều có hai người đến nhà giới thiệu với mẹ, họ là công an cần gặp Diên, họ chờ cho đến khi Diên trở về, nàng đau khổ chờ tin tức Cao, không lý do gì đất nước đã có hòa bình, anh Tùng đã trở về, biết bao người đã trở về, tại sao anh ấy... không có một mẩu tin. Diên đã khai hết những gì như sự việc vốn đã xảy năm ấy.

Cao đạp xe đi dọc con đường sắt hơn mười năm trước còn đầy đủ tà vẹt, đường ray. Bây giờ chỉ còn trơ sóng đường do người đi bộ đã mòn.

Anh đi như vậy 18 cây số lóc xóc đôi khi phải dùng chân xuống đất để tránh nguy hiểm.

Bây giờ anh đang đứng chờ đò bên bờ Bắc cầu sắt Thọ Tường, chiếc cầu khá dài oằn mình xuống lòng với sức nặng hàng ngàn tấn sắt thép, nước trong đến độ Cao nhìn thấy những thanh sắt dọc dưới làn nước sâu. Với con mắt của một vị chỉ huy tiểu đoàn, đã qua bao trận đánh Cao ước tính khối lượng mìn khi phá sập chiếc cầu này, bây giờ cần bắc lại thì bắt đầu từ đâu. Anh thấy vui và quên đi những ngày tháng quá nặng trĩu bởi mảnh đất, ngôi nhà ngói để chịu thành phần mà đáng lẽ sau nhiều năm trận mạc được trở về anh và đồng đội, ai đã chết thì đành một nhẽ, hy sinh vì Tổ Quốc... Ai còn sống thì công việc phải làm. Vậy mà mất đi những gì thật đáng tiếc. May nỗi oan của anh được một cán bộ hiểu biết tổ chức xác minh làm rõ cho anh. Ông đánh giá Cao là một cán bộ cấp tiểu đoàn bậc trưởng đầy triển vọng, cần được cử đi học hành chính quy hơn, chiến tranh là thảm họa của dân tộc chả ai muốn. Nhưng chiến tranh còn đè nặng lên chiến sĩ... và lúc nó xảy ra thì người thay thế lớp ông chỉ huy sư đoàn, quân khu là những cán bộ như Cao.

Đò qua được một nửa, niềm cháy bỏng gặp lại Diên, mẹ Chắt làm anh bồn chồn. Mẹ Chắt đã già thêm theo năm tháng. Còn Diên... Anh muốn có đôi hài vạn dặm như câu chuyện cổ tích để qua sông không cần con đò chậm chạp mỗi ngày chèo vài chuyến. Nhưng khốn nỗi ngoài chiếc xe đạp Super của Pháp thì ngôi sao vàng trên mũ là niềm thiêng liêng, anh còn có gì đáng giá, đôi giày vải mới nhận đi được vài tuần chỉ có giá đi chơi trên đường phố. Cao hăm hở đạp nhanh đến ngôi nhà đơn sơ mà một thời gọi là quán Quân Dân thì lạ thay vắng hoe như nhà vô chủ, anh bơ vơ chẳng biết làm gì, chẳng biết hỏi, ngoài hai người thân yêu anh nào quen ai ở đây.

Từ phía đường tàu, một cụ già đi tới, chả lẽ đó là mẹ Chắt, sao mẹ lại như vậy, một bà mẹ bốn năm anh đã gặp cùng ngồi ăn cơm nói chuyện...

- Con chào mẹ

- Anh hỏi ai?

- Dạ con hỏi... M...

- Cao đấy hử... Trời.

Nếu Cao không nhanh đến đỡ mẹ thì bà cụ đã khuỵu xuống.

- Mẹ làm sao vậy, thế cô ấy đi đâu...?

- Sao anh về muộn vậy, để hắn chờ đỏ con mắt.

Khi bóng chiều lụi nắng, mẹ Chắt mới nói xong những gì đã xảy ra. Tình yêu, tình thương Diên dâng lên, anh muốn làm cái gì đó mà chẳng biết làm gì. Mẹ Chắt khuyên anh chuyện đã vậy đừng nóng nảy. Khi đến trước đồn công an thị trấn vừa mới lợp lá gồi còn mới, mẹ vẫn chậm rãi; bình tĩnh nghe con.

Thấy anh xuất hiện Diên chỉ kêu lên:

- Anh Cao.

Anh nhào tới, Diên trong vòng tay anh. Mẹ Chắt ràn rụa nước mắt, người chiến sĩ trực đồn nhìn ba người lặng lẽ như nhìn lên sân khấu xem vở kịch đoạn kết.

Huế 12. 98
  N. L
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #37 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 02:14:11 pm »

Đêm bơ vơ

KIỀU VƯỢNG


Đêm giữa thu. Hà Nội se lạnh. Sao chới với nhưng mây vẫn vũ làm nền trời như khô khốc, nhạt nhòa. Một hồi còi tàu rú dài như thả thêm vào đêm luồng khí lạnh. Quang nhìn đồng hồ sân ga dã quá mười hai giờ khuya.

Cả ngày nay, Quang phải làm một việc hệ trọng của đời người. Nói đúng hơn. Quang phải đóng một vai quan trọng trong lễ cưới của Nhạn, em gái mình. Nhạn tốt nghiệp đại học chưa được bao lâu thì kết hôn với một giáo sư trẻ, thầy dạy của cô. Chú em rể lại là con trai độc nhất của một vị Thứ trưởng có thừa quyền lực. Bởi thế, Nhạn được nhận công tác ở một trường phổ thông trung học giữa thành phố trước ngày cưới. Nhưng tất cả chuyện đó đối với Quang chỉ là vặt vãnh. Cái lớn nhất là anh đã mãn nguyện. Quang chỉ có một ước muốn mong sao cho đứa em gái duy nhất của mình được hạnh phúc. Tổ tiên, phúc đức thế nào mà dòng họ nghèo hèn nhà anh lại sinh ra một cô Nhạn xinh tươi, thông minh và nết na đến thế. Quang chỉ phân vân một điều là em gái mình sống quá vô tư. Vô tư nhiều lúc tới mức vô tâm.

Đối với Nhạn, cuộc đời này bất cứ cái gì cũng trong suốt, đẹp rực rỡ. Cái gì cũng đáng yêu và đáng say. Quang chỉ có một mong muốn là em gái mình được hạnh phúc và hôm nay đã đến.

Nhưng chính đêm nay, khi đứa em gái duy nhất của anh đang chứa chan hạnh phúc trong một biệt thự sang trọng thì cũng chính là đêm Quang thấy mình bơ vơ nhất trong suốt hai mươi bảy năm anh có mặt ở thế gian trần tục.

Chuyến tàu Thống Nhất rời ga Hà Nội vào lúc một giờ khuya. Hà Nội đang vùn vụt, loang loáng, vội vàng lùi lại phía sau. Quang cảm thấy tàu chạy quá chậm. Anh muốn nhảy khỏi đoàn tàu nặng nề để nhằm hướng Nam chạy thật nhanh bằng đôi chân của mình. Anh muốn lẩn trốn thật nhanh khỏi cái thành phố hào hoa, giàu sang và ồn ã này. Anh thề với lòng mình đây sẽ là đêm cuối cùng với Hà Nội. Anh đã thề thì anh sẽ giữ lời thề ấy.

Trong đầu óc u nặng của Quang chỉ còn chơi vơi bóng hình làng biển, nơi mẹ đẻ ra anh. Làng anh mang dáng một con thuyền nhỏ bị cạn lại vừa giống một chiếc lá bàng khô rộp trên bãi cát. Đêm nay, nơi ấy Quang chỉ còn một người thân duy nhất đó là người cha tội nghiệp. Người cha mà số phận luôn đun đẩy, quăng quật không một phút bình yên. Cha Quang tên là Cát nhưng ông phải mang thêm cái từ đệm là Đao. Cả làng cả xứ biển này nói đến Cát Đao thì ai cũng biết. Ông sống sờ sờ nhưng lại cứ như một huyền thoại cổ xưa. Nhiều kẻ vô công rồi nghề còn đem chuyện ông để thêm pha, bịa đặt đủ thứ hài hước làm vui.

Quả thật Cát Đao có một cuộc đời chìm nổi, cam go tới mức vừa huyền thoại lại vừa lạ lùng. Sắp vào tuổi sáu mươi nhưng cứ mỗi chiều tà, khi mặt trời chìm dần sau rặng tre làng mà ngày ấy vẫn chưa gặp tai họa nào ập đến thì ông biết mình chưa thể ăn ngon ngủ yên.

Còn đêm nay, trên con tàu già nua mệt nhọc lắc lư, Quang hình dung cha mình đang hết vào lại ra đường nhìn về phía chân trời phía Bắc. Người cha tội nghiệp của anh làm sao ngủ được trong căn lều cổng chợ đêm nay. Ông như thân gà trống nuôi con đằng đẵng suốt hơn hai chục năm trời chỉ mong có hôm nay. Ông còn mong gì hơn kia chứ. Ông đang đinh ninh hai đứa con đã trưởng thành, đàng hoàng, bề thế nhất làng nhất xã. Con Nhạn thì đành một nhẽ. Đàn bà tốt nghiệp đại học vừa ra trường đã có công ăn việc làm, chồng con đàng hoàng thế là ông mừng. Niềm hy vọng lớn nhất của ông là thằng Quang. Ông tin tuyệt đối con trai mình đã tốt nghiệp đại học bách khoa ra trường gần một năm nay, là kỹ sư gì đó ở một Công ty giàu có nhất tỉnh. Ông tin và ông mãn nguyện lắm, thật bõ công lăn lóc, tần tảo nuôi con. Chính từ lòng tin ấy mà hơn ba năm nay ông sống lặng lẽ, vui vẻ với cái nghề chẻ nan tre, đan rổ bán cho dân làng buôn cá từ biển lên chợ huyện. Căn nhà cũ cha mẹ để lại ở giữa làng ông bán lâu rồi. Hơn mười năm trước ông đã dựng cái lều bằng tranh tre ngay trước cổng chợ Đón. Bây giờ ông tin không lâu nữa thằng kỹ sư Quang nhà ông sẽ có biệt thự giữa thành phố, có vợ đẹp con khôn và sẽ đón ông lên. Ý nghĩ tốt đẹp ấy nâng vực ông sống thanh thản, tử tế và tốt bụng với tất cả mọi người.

Vợ Cát Đao tên là Đài. Thời xuân sắc, cô gái Đài đẹp nhất vùng mà bất cứ chàng trai nào trông thấy đều phải cắn răng thật chặt để nuốt khan nước miếng. Nhà Cát Đao và nhà cô Đài cách nhau một bờ dậu bằng mây do bố Đài trồng. Cây mây trồng ở đất cát vùng biển, có hơi nước mặn đẻ lan nhanh quá thể. Cứ sáng một ngày, hàng mây lại mọc thêm vô vàn đọt trắng. Rồi một lần bố Cát Đao đào một cái hào thật sâu dọc bờ mây bên mảnh vườn chó ỉa nhà mình cho mây khỏi đẻ lấn sang. Vài ngày sau, một trận mưa rào, đất cát lở làm hàng mây đổ sụp. Một trận ẩu đả xảy ra giữa hai nhà, tiếp đó là một trận đánh nhau sứt đầu mẻ trán, mối hận thù sinh ra từ đó. Hai nhà cách nhau một bờ mây nhưng hàng chục năm trời không nhìn mặt nhau. Bố mẹ đã thù nhau thì con cái cũng theo. Cô Đài và chàng Cát bằng tuổi. Cát học dở dang bỏ theo cha làm nghề chài lưới kiếm sống ngoài biển. Cát có một biệt tài là bơi lội như con rái cá.

Năm mười bốn tuổi, một trận giông tố đột ngột giữa biển. Dân làng chết gần trăm mạng, trong đó có người cha thân yêu của Cát. Cát Đao phải bơi bộ suốt hai ngày hai đêm ròng trên biển. Lần ấy Cát nhai gần hết chiếc quần lót vải nhuộm nâu của mình để quai hàm khỏi cứng lại mong giữ được sức mà bơi. Lần ấy, Cát được tàu hải quân cứu sống.

Đầu năm 1966, giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc dữ dội. Trai gái làng ông tranh nhau đi thanh niên cảm tử ở đoàn vận tải thuyền nan chống Mỹ để chèo thuyền chở đạn và gạo vào chiến trường Nam khu bốn. Cát Đao và Đài có mặt trong đoàn quân ấy. Đại đội của họ có một trăm chiếc thuyền nan và hơn hai trăm con người mà chưa mấy ai qua tuổi hai mươi. Chiến tranh. Thuyền và người cứ hao mòn dần. Không ngày nào họ không phải đào hố huyệt dọc hai triền sông để chôn cất đồng đội rồi lại vội vàng ra đi. Bom đạn mù mịt. Thỉnh thoảng họ lại phải dừng thuyền vớt xác đồng đội vô danh vừa trôi nổi trương lên từ dòng sông ấy. Sống chết là thế, đau thương là thế nhưng Cát và Đài cùng ngõ làng vẫn không chào hỏi nhau suốt hai năm trời đằng đẵng.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #38 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 02:16:32 pm »

Đến một chiều đông, đó là chiều ngày 20 tháng một ta năm 1968. Cô Hậu đi cùng thuyền với Đài bị thương phải nằm lại một hiệu ảnh bên đường. Mình Đài chèo một thuyền ba tấn gạo vượt kênh Son ra cửa Lạch Cờn Nghệ An. Đài phát hiện thuyền mình bị mảnh bom găm thủng nan nứa. Nước rò vào rất nhanh. Đài gác mái chèo nhảy xuống lòng khoang, dùng khăn mặt nút lỗ thủng rồi vội vàng tát nước. Mải tát nước, chiếc thuyền của cô bị gió đẩy ra sát cửa biển Lạch Cờn. Hoảng hốt, Đài cầm sào chống nhưng nước sâu quá, cô cạy bát mái chèo nhưng không thấm vào đâu với sức nước ròng và gió lớn. Đài nhận ra, gió Tây Nam quá mạnh. Chỉ chốc lát thôi cả cô và con thuyền nhỏ sẽ làm mồi cho cá dưới đại dương. Đài gắng hết sức nhưng càng gắng thuyền càng dạt ra biển rất nhanh. Giữa lúc vô cùng tuyệt vọng, Đài nghe tiếng người hét lẫn trong tiếng gió rít:

- Ghìm thật chắc chèo. Không được buông lái...

Bơi theo cứu thuyền lại chính là Cát người hàng xóm hận thù của cô. Không biết trời đất run rủi thế nào, Cát phát hiện có một chiếc thuyền đang gặp nạn. Cát hét người bạn cùng đi:

- Có thuyền bị nạn dạt ra biển, mày cố chèo nhanh đuổi đoàn vào tuyến để khỏi mắc cạn. Tao phải ra cứu...

Chỉ nói vậy, Cát nhảy xuống dòng nước lạnh bơi cứu thuyền trong gió rét cuồng loạn.

Đài nhận ra có người cứu mình. Cô vứt sợi dây dừa buộc sẵn một đầu vào cọc chèo xuống sau thuyền. Cát túm dây vừa bơi vừa kéo lê chiếc thuyền vào cửa lạch. Mãi khi Đài nhận ra người cứu mình chính là Cát thì cô mới òa khóc. Cô khóc như chưa bao giờ được khóc nhưng Cát không nghe vì sóng to gió lớn và Cát đang dồn hết phần sức lực còn lại để kéo thuyền. Kéo được thuyền vào được đầu kênh Cát Vàng thì họ gặp nước ròng rất nhanh, mặt sông bỗng dưng cạn rặc. Trời tối mịt tối mù. Đài kéo tay Cát khỏi mặt sông bùn loãng lên thuyền. Toàn thân Cát giá cóng. Đài lấy chiếc buồm nâu lau người cho Cát. Đài chui vào khoang lật các bì gạo ra hai bên thành một cái rãnh sâu giống hệt như một hố huyệt của chiếc quan tài. Đài lôi Cát dúi vào quan tài ấy cũng chỉ mong hơi nóng của gạo phả ra làm Cát khỏi chết cóng. Đài đắp chiếc chăn chiên, phủ cả chiếc buồm nâu lên người Cát xong, cô chui ra ngồi ở sạp luồng khoang lái. Biển và trời đen đặc chùng chiềng, sóng trắng lân tinh. Gió rít lên từng cơn như cố xô đẩy những hàng sú vẹt ngàn đời ngẩn ngơ chịu rét. Gió đạp vào vách núi ven sông bật lên những tiếng hú dài rùng rợn. Tiếng chim quái ác trong hang núi khắc khoải thả xuống hai tiếng “ cho chừa- cho chừa...”. Bỗng Đài nhận ra một đốm lử lập lòe trên hông núi Quỳnh Lập. Đài hiểu đó là nơi sơ tán những người bị bệnh phong hủi của bệnh viện.

Trời càng về khuya càng giá cóng. Sương như có thể bốc được trên tay. Cô đưa tay vuốt tóc mà ngỡ đang chạm vào mặt chảo mỡ đặc. Lại một tiếng chim “ cho chừa”. Lại một tiếng gió hú từ vách đá. Biển và trời thành một khối đặc. Rét cóng và sợ hãi. Đài chui vào khoang chất gạo ngồi cạnh Cát. Cát tỉnh dậy từ lâu và hiểu hết nên nhỏ nhẹ:

- Đài nằm xuống cho đỡ cóng. Đói rét, khổ ải, sống chết tính từng giây chẳng lẽ còn hận thù nhau mãi...

Đài òa khóc. Cô nấc lên nghe giống tiếng nấc của gió gào. Cô cảm thấy lồng ngực mình sắp vỡ tung ra. Nước mắt cô nóng hổi trên mặt chàng trai Cát. Họ úp mặt vào nhau. Họ quấn chắc vào nhau như để đỡ rét. Họ kệ cho con thuyền mắc cạn cứ run lên bần bật và hình như đang lún dần xuống mặt sông lênh loáng bùn loãng. Đó là đêm đầu tiên, lần đầu tiên hai con người biết mùi thơm của da thịt con người. Đó cũng là lần đầu tiên hai thể xác, hai linh hồn được hòa quyện nhau và họ nhận ra sự mới lạ sung sướng của kiếp làm người.

Đoàn thuyền của họ vẫn nặng hàng vượt sông Lam, vào sông La, lên tận sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố, Ngàn Trớc. Ngược gió và nước. Chiến tranh khốc liệt hơn lên. Họ lại vượt hàng trăm hải lý từ cửa biển Lạch Hội Nghệ An vào Đồng Hới, vào sông Nhật Lệ Quảng Bình. Thuyền họ lại ngược sông Kiến Giang lên tận vùng Thác Tre, Xuân Bồ trao hàng sang những chiếc xe thồ chở tiếp vào đường mòn Hồ Chí Minh. Bao cay cực, chia ly họ quên hết. Họ chỉ nhớ có chiến tranh và kỷ niệm. Kỷ niệm hình như nhiều hơn số bom đạn kẻ thù dội xuống mà họ từng hứng chịu trên đường xa sông vắng.

Rồi chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ kết thúc. Chàng trai Cát và cô gái Đài lại trở về cái làng biển mang dáng một con thuyền mắc cạn mà họ từng gặp. Làng biển của họ cũng xơ xác vì bom đạn. Bờ mây ngăn cách hai nhà cũng bị bom Mỹ cày tan tác. Họ cưới nhau ngày 16- 10- 1972. Đám cưới Cát và Đài chỉ có nhiều trầu cau và vô vàn những cái ống điếu thuốc lào. Quà mừng cưới là những mủng gạo tẻ, những rá gạo nếp. Nhiều ông già xách từng xâu cá quần dài vắt vai từ ngoài biển về qua sân nhà Cát vứt vào mừng đám cưới. Nhiều bà già mắt nhá nhem lần trong cạp váy nâu lấy ra mấy đồng bạc vo tròn như cái chỏm cau. Rồi họ sinh con trai đầu đặt tên là Quang. Quang được mười ba tháng tuổi thì họ lại sinh tiếp cô gái Nhạn xinh tươi để đêm nay đang tràn trề hạnh phúc với thầy giáo trẻ ở thủ đô.

Năm Nhạn lên bốn, một thảm họa ập đến gia đình họ. Đó là một trưa hè nắng quái. Đài nhốt hai đứa con nhỏ đi mua cá ngoài biển về chợ Đón bán. Về đến cổng chợ Đài bị cảm gục xuống khi đòn gánh còn đè trên lưng. Dân làng vội đưa đến trạm xá nhưng không thể nào cứu sống được.

Hai ngày sau, Cát từ ngoài khơi trở về nhận tin vợ chết. Cát ôm hai đứa con chạy ra mộ Đài úp mặt lên đống cát giữa đồng. Những ngày sau Cát khắc tên vợ vào cái bai chèo dựng cạnh bàn thờ và thề:

- Cả đời tôi chỉ có mình Đài. Tôi thề sẽ nuôi con một mình cho chúng nên người...

Cát bỏ nghề biển để chạy chợ nuôi con. Ông lam lũ và cam phận. Trời xa lắm và đất thì lỳ lợm lắm.

Năm Quang mười sáu tuổi ông Cát bán ngôi nhà giữa làng lấy tiền nuôi con ăn học. Ông ra dựng một cái lều ngay giữa cổng chợ Đón, giữa nơi vợ ông quỵ xuống vì cảm nắng. Ông mở quán tiết canh lòng lợn. Mấy năm đầu làm ăn khấm khá, khách dồn hết cả về quán của ông. Dân chài lưới ngoài khơi vào đến đất liền thế nào cũng rủ nhau vào quán ông Cát. Có tiền thì trả. Chưa có tiền thì chịu. Lâu nữa thì xách cá về đổi trừ nợ. Phàm ở đời khi đói khổ thì họ khinh. Lúc kiếm được miếng ăn họ lại dèm pha ghen ghét. Rồi công an, thuế vụ trong xã đến hạch họe, ăn không chịu trả tiền. Nhiều hôm ăn không trả lại còn hạch sách nữa. Đến một chiều như không còn chịu đựng nổi, ông Cát đòi tiền ra mặt cánh thuế vụ. Họ dọa sẽ đưa người về bắt ông. Điên tiết vì quá chén ông rút con dao bầu chọc tiết lợn để sẵn lùa mấy chàng thuế vụ chạy tán loạn. Ông công khai tuyên bố giữa chợ:

- Vợ chồng tao đi chèo thuyền chở gạo đánh Mỹ, thừa sống thiếu chết trở về. Nay vợ chết, con dại mở cái quán kiếm ăn. Đứa nào lớ xớ định quy t tao chém. Tao chém hết rồi mới chém tao sau.

Cái tên đệm Cát Đao có từ hôm đó (ở vùng biển con dao thì gọi là đao mà). Cũng từ đó cánh thuế má phải lờ dần và ông giữ lời thề bên bàn thờ vợ sống một mình thật để nuôi con. Năm Quang và Nhạn lên cấp hai thì đều học giỏi nhất vùng. Năm nào cũng được đi thi học sinh giỏi ở huyện, ở tỉnh. Hết lớp mười hai Quang đạt giải nhì quốc gia về môn toán, được vào thẳng đại học bách khoa. Quang học hết năm thứ nhất thì Nhạn cũng đoạt giải ba môn văn trong kỳ thi tuyển quốc gia và vào thẳng đại học sư phạm 1 Hà Nội. Ông Cát trần lưng xoay sở ở quán tiết canh lòng lợn để nuôi hai đứa con ăn học giữa thủ đô. Nhờ trời quán ông ngày một khấm khá. Không chỉ đủ nuôi con mà có của ăn của để. Đang lúc ăn nên làm ra thì một trận ốm ập đến quật ngã Cát Đao. Ông sốt liên miên và ho khắc khoải, cầm canh hàng tháng vì bệnh cảm hàn. Những kẻ lâu nay cùng bán hàng ganh ghét Cát Đao đông khách liền tung tin ông bị ho lao. Họ lại còn bảo lao hang lao hốc gì đó tận trong gan trong phổi. Những người từng ăn tiết canh lòng lợn ở quán Cát Đao đều lo sợ mình bị lây bệnh. Vùng nhà quê nghe đến bệnh ho lao thì sợ lắm.

Trận ốm cảm hàn qua đi Cát Đao mở lại quán tiết canh lòng lợn nhưng hai tháng ròng, không một ai lai vãng đến. Nhiều người trước đây rất thân thiết nay cũng lảng tránh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #39 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 02:17:22 pm »

Một chiều, buồn và chán. Cát Đao ngồi uống rượu một mình. Ông bê cả cái bình rượu bằng sành lên uống ừng ực. Cát Đao càng uống càng thấy rượu nhạt thếch. Hình như rượu ông uống không chảy vào họng mà cứ trào ngược lên thành hai dòng nước mắt chảy tong tong xuống cái vỏ hũ sành. Ông uống, ông tuyệt vọng. Lấy gì nuôi hai đứa con ăn học đây. Ông đã thề và ông phải giữ trọn lời thề trước hương hồn người vợ. Trong lúc quá say và tuyệt vọng, Cát Đao lia chai xăng đầy lên mái tranh và châm lửa đốt quán. Cái quán ở cổng chợ bốc cháy, bà con xúm đến dập lửa nhưng không kịp. Người quanh chợ, người trong làng thấy rõ giữa lúc lửa than còn đỏ rực Cát Đao vẫn quỳ bên đống tro than để xin hương hồn vợ tha thứ. Dân làng còn thấy Cát Đao bò vào bê bát hương thờ vợ ra ngoài rồi gục đầu xuống đôi vai không ngớt rung lên.

Ngay sáng hôm sau, dân trong làng người vác cho cây tre, kẻ đội mấy bó tranh, người cầm nắm lạt đến dựng lại quán cho Cát Đao. Cái quán mới lại đẹp hơn, sang hơn và Cát Đao cũng ân hận hơn vì hành động vô thức của mình. Cát Đao thấy con người tốt quá, thương yêu nhau quá. Người nhà quê, có ganh ghét nhau nhưng khi hoạn nạn họ xúm ngay lại để giúp nhau. Họ không như cánh dở nhà quê dở thị thành, cứ ganh ghét nhau là viết đơn nặc danh, đặt đủ điều xấu xa bêu riếu lẫn nhau cho hả giận.

Cũng từ đó Cát Đao thay đổi hẳn tính nết. Ông thấy cả cái làng này ai cũng đáng quý đáng yêu. Hàng tháng ròng không ai thấy Cát Đao cười. Ông đi mua tre về chẻ nan đan rổ, nức bằng những sợi mây bán cho dân buôn cá từ biển lên chợ huyện.

Hai tháng liền, không thấy bố gửi tiền, linh tính như mách Quang có gì không ổn ở nhà. Anh nhảy tàu về và hiểu hết mọi sự. Hai cha con ôm nhau khóc. Quang hứa sẽ vừa học vừa làm thêm nuôi em để đỡ dần cho bố.

Đoàn tàu phanh kít lại, Quang đập đầu vào thành ghế phía trước và anh như sực tỉnh. Đây mới là ga Phủ Lý. Cảnh nhộn nhịp lên xuống. Tiếng người ngái ngủ rao bán hàng đêm không làm Quang chú ý. Con tàu lại tiếp tục nghiền bánh sắt xuống đường ray. Quang lại cảm thấy mình bơ vơ nhất trần gian. Chắc đêm nay bố không ngủ được. Bố đang nóng lòng chờ mình về kể lại đám cưới của em. Anh nghĩ đến những năm tháng bươn chải giữa thủ đô. Từ ngày bố gặp tai họa một mình anh vừa học vừa làm thuê ở một quán ăn lớn để có tiền nuôi em. Anh chỉ xin chủ quán là không bao giờ xuất hiện nơi khách đang ăn. Anh cấm em gái không được đến ký túc xá của trường Bách khoa. Anh xin bạn bè cùng phòng không hở tin anh đang làm thuê lấy tiền ăn học và nuôi em. Kỳ nghỉ hè tiếp anh nhờ bạn bè xin việc cho Nhạn làm gia sư cốt để Nhạn khỏi biết tin nhà. Nhạn thì vô tâm lắm. Cứ ngày mùng mười hàng tháng anh trai đem tiền đến cho mình là vui. Mỗi lần gặp em gái, Quang không hề lộ một thoáng phân vân. Anh tỏ ra vui vẻ hào phóng mỗi lần gặp Nhạn và bạn bè của nó.

Nhưng sự đời cái gì cũng có giới hạn. Vừa học vừa làm thuê giữa đất khách quê người thì nuôi thân đã khó huống hồ gì nuôi em. Nhiều hôm Quang phải nhổ lông, làm lòng hơn sáu chục con gà vịt ngan ngỗng cho tới thấu sáng. Tiền kiếm mỗi ngày một khó nên vào năm học thứ ba được tròn một tháng thì anh bỏ học để đi làm nuôi Nhạn. Khóa bách khoa vừa mãn, Quang vẫn bình yên vì Nhạn và bố không biết tin mình bỏ học. Quang đến ký túc xá trường Sư phạm bảo Nhạn:

- Anh nhờ được người xin việc ở một Công ty điện tử lớn nhất tỉnh rồi. Ngày mai anh về, sẽ gửi tiền đều hàng tháng cho em. Em cố học giỏi năm cuối cùng để dễ xin việc...

Quang xa Hà Nội gần một năm rồi nhưng có nghề ngỗng gì đâu. Thân cô thế cô, lại không một đồng tiền dính túi thì xin việc sao nổi ở thời buổi này. Học hành dở dang. Trở về quê thì có khác gì cầm que sắt chọc vào tim bố. Anh dồn góp mua một cái xe Phượng Hoàng cũ và một đôi quang gánh. Cơ quan và nơi công tác của anh gần một năm nay là cái hè quá rộng của Bưu điện tỉnh. Anh lẫn trong cái chợ người vô tận. Ai thuê việc gì dù đắt rẻ cũng làm đến nơi đến chốn. Quang không bon chen, không to tiếng. Anh kết thân với cánh ba gác xích lô và cả những anh chàng xe ôm ngổ ngáo. Anh có một kỷ luật nghiêm ngặt là tối thứ bảy nào cũng đạp xe về quê với bố. Tuần thì mua gói bột ngọt, tuần sau lại mua cái chậu thau bằng nhựa. Cát Đao tin con trai tuyệt đối. Những tối bên bố Quang thường vẽ ra bao tương lai tươi sáng. Bố Quang vui và càng sống tốt với mọi người. Ông bắt đầu tin vào số phận. Bõ công ông nuôi con một mình hơn hai chục năm trời. Con trai ông nay là kỹ sư, lại là kỹ sư điện tử nữa. Con gái ông là cô giáo. Ông im lặng chờ ngày mình sung sướng, mở mày mở mặt với dân làng.

Chuyến tàu lại gồng lên như lôi Quang về với thực tại. Sáng nay anh sẽ về kể với bố đám cưới sang trọng của em gái mình. Và ngày kia anh lại lẩn vào cái chợ người lam lũ. Lại chuyện trò với cánh ba gác xe ôm. Lại gặp những ông chủ tốt bụng, ngoài tiền công còn cho anh cả một bữa ăn trưa. Rồi tối tối, sau mấy bát cơm bình dân chắc bụng anh lại về với cái hè quá rộng ở cửa Bưu điện tỉnh. Rồi sáng hôm sau, trong lúc nhao nhao chờ việc anh lại gặp những ông bụng phệ bước ra từ những chiếc ô tô sang trọng vào nhận những khoản tiền quá lớn của con cháu từ nước ngoài gửi về. Anh nhớ cả những bà chạy tao tác vào điện khẩn cho con là bố say rượu vừa bị tai nạn giao thông. Anh nhớ cả câu chuyện mấy cô quét rác đêm khuya trên đại lộ khoe với nhau rằng:

- Chồng tao khác chồng mày. Chồng tao không nghiện chè nghiện rượu, chỉ thỉnh thoảng nghiện đánh phỏm thôi.

Anh ước gì mình là nhà văn để viết một thiên phóng sự mang tên “ Chuyện ở sân Bưu điện tỉnh”.

Một luồng gió lạnh thổi qua cửa sổ làm Quang bàng hoàng, anh lẩm nhẩm:... Sao lại có một đêm bơ vơ đến thế này. Bỏ học đi làm thuê nuôi em, nay em đã đi lấy chồng. Bố thì đang tin con trai mình thành đạt. Ngày mai nên về đâu. Trái đất đêm nay có ai bơ vơ như mình không.

Chỉ có tiếng gió rít qua cửa sổ và tiếng bánh sắt con tàu nghiến kèn kẹt xuống đường ray.

Đúng tám ngày sau cái đêm dự đám cưới em gái trở về Quang đã gặp một biến cố.

Sáng hôm ấy trời tháng Tám nhưng nắng hanh. Một ông giáo già nghỉ hưu ở sát hồ ga chuyên làm cây cảnh đã gặp Quang. Ông thuê Quang cứ lặn xuống hồ vục một thúng bùn đội lên đổ vào vườn thì ông trả ba trăm đồng bạc. Tính Quang thì ai thuê mình dù đắt rẻ khó khăn cũng làm đến nơi đến chốn. Ông còn bảo Quang:

- Cháu biết không, cái loại bùn hoa dưới hồ ga lâu năm, cứ phơi khô đập nhỏ bón cây cảnh thì không có một loại phân vi sinh nào bằng.

Buổi sáng ấy Quang đã lặn hụp bốc từ lòng hồ lên được tám mươi thúng bùn thì trời đã quá trưa. Có điều hồ ga là nơi phân rác cả thành phố dồn lại lâu năm. Cỏ lia thia và rong rêu phủ kín. Cái cỏ lia thia quái dị đã cứa vào da thịt Quang hàng trăm vết xước. Từ những cái vết rỉ máu ấy gặp nước tù đọng lâu ngày làm da thịt anh ngứa ngáy và sưng tấy lên. Quang tắm xong, anh thấy toàn thân như bị ai xát ớt và muối, nóng đến khủng khiếp. Anh nhận hai mươi bốn ngàn đồng nhưng không có tiền lẻ, ông chủ đã đưa năm tờ bạc năm ngàn mà không đòi lại chỗ tiền thừa. Đó là sáng đầu tiên sau gần một năm làm thuê Quang kiếm được nhiều tiền nhất. Hai mươi lăm ngàn chỉ trong một buổi sáng.

Quang vào quán, ăn một tô cơm kèm theo cá mặn và uống hai cốc rượu đầy rồi đạp xe về sân Bưu điện tỉnh. Anh gối đầu lên chiếc đòn gánh để ngủ như thường lệ, khi nào khách gọi thì dậy đi làm. Tự nhiên anh thấy toàn thân nóng rực như lên cơn sốt. Đúng là sốt thật. Váng vất, co giật, đau đớn rồi lại lịm đi, trong mơ màng Quang thấy bố cười nhìn anh đầy mãn nguyện. Thấy cả em gái đang khoác tay người chồng mới cưới đi thập thững trong công viên sang trọng. Và cuối cùng anh đã mơ gặp được mẹ Đài. Mẹ Đài như trẻ ra, mặc một bộ quần áo đen, trùm khăn đen như để giấu đôi mắt u buồn. Mẹ Đài khẽ lắc đầu rồi nhìn anh chằm chằm và đưa tay vuốt mắt anh đến ba bốn lượt. Quang muốn cố quằn quại nâng đôi tay thật cao để bám được vào cổ mẹ như xa xưa nhưng không được.

Ngay chiều hôm ấy, các nhân viên Bưu điện tỉnh và cả cái chợ người nhao nhác, ồn ã vì xác chết đột ngột của một kẻ làm thuê.

Trên mộ anh, tấm bia bằng đá hoa cương em gái anh khắc dòng chữ: Chỉ có tình ruột thịt mới có sự hy sinh thầm lặng đến vậy, ơi anh Quang!

Đầu Xuân 1999
K.V
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM