Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:23:16 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn - Tạp chí Sông Hương  (Đọc 75391 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #60 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2011, 02:37:53 pm »

Bông hồng nhung và hai mươi ngọn nến

NGUYỄN NGỌC LỢI


Tôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.

Hôm nay là ngày chính quyền hai bên tổ chức trao trả tù binh. Thị xã mới được giải phóng, đường phố rực rỡ cờ hoa mừng hiệp định Pari vừa được ký kết... Không khí hoà bình bao trùm, niềm hân hoan hiện rõ trên từng khuôn mặt người dân. Chen trong hàng người đứng chờ đón người thân, tôi hồi hộp nhìn chiếc C130 đang lượn vòng. Mải mê dõi theo vòng lượn cuối cùng của chiếc máy bay, tôi giật mình vì một cái vỗ vai. Quay lại, tôi nhận ngay ra Linh Phương, Tôn Nữ Linh Phương. Vẫn dáng ngang tàng như hôm nào, nhưng chiếc quần ống chẽn màu sữa, chiếc áo phông màu trắng bó lấy khuôn người dong dỏng, mềm mại. Mạnh dạn cầm tay kéo tôi ra khỏi đám đông, ánh mắt nghịch ngợm, Linh Phương nói:

- Chà, hôm nay trông anh hiền lành quá ta, lại dễ thương nữa, chả bù cho... Hôm đó trên lãnh địa của anh nên bị anh bắt nạt, còn hôm nay...

Cô bỏ lửng câu nói, mắt nhìn tôi đăm đắm, rất lạ.

Hôm đó với hôm nay chưa xa. Đó là một ngày của năm 1971, cùng với một đơn vị Khơ Me đỏ, đơn vị tôi làm nhiệm vụ quân quản ở thị xã CraChê vừa được giải phóng. Cảnh buôn bán sầm uất diễn ra trên các đường phố. Tôi và cậu Thư đang tuần tra thì nghe tiếng huyên náo ở một phố bán hàng lưu niệm người Hoa. Vừa tới nơi, tôi thấy một phụ nữ từ trong quầy hàng nhào ra túm cái túi xách trên tay một cô gái. Lời qua lại của hai người cho tôi biết chủ hàng nghi cho cô gái lấy trộm đồ. Lục trong túi xách thấy không có gì, bà ta áp vào định soát người cô. Cô gái chùng chân, xoay người và bất ngờ tạt mạnh cạnh bàn tay phải vào mặt người đàn bà. Bà ta ngã ngửa ra trên sạp hàng, mũi chảy máu. Ông chồng thấy vậy nhảy ra tức thì. Cũng bằng thế võ đã dùng, người đàn ông bị cô đánh ngã nằm đè lên người vợ chưa kịp dậy. Cảnh tượng diễn ra trong nháy mắt. Cả đoạn phố huyên náo. Nghe tiếng chạy huỳnh huỵch từ xa của mấy người lính Khơ Me đỏ, tôi rúc còi. Cậu Thư cũng chĩa nòng khẩu AK lên trời, ra dáng sẵn sàng hành động. Tôi tiến đến trước mặt cô gái, nghiêm giọng: "Cô là người gây rối trật tự công cộng. Đề nghị cô đi theo chúng tôi". Thái độ của tôi rất kiên quyết. Thư nhanh trí tiến đến sau lưng cô gái ẩy nhẹ: "Đi, đi nhanh". Bằng linh cảm và kinh nghiệm nhiều năm hoạt động, tôi phán đoán rất nhanh. Đây là một cô gái tốt, không xử lý nhanh, để cô gái rơi vào tay lính Khơ Me đỏ thì không hiểu điều gì sẽ xảy ra. Khi chúng tôi đưa được cô gái vẫn đang hậm hực lên xe thì một tốp lính Khơ Me đỏ chạy tới. Chiếc xe Jép nhanh chóng ra khỏi thị xã. Tới một đoạn đường vắng, tôi cho xe dừng, quay lại nói với cô gái:

- Cô xuống đi, đã sang đây, muốn làm gì cũng phải cẩn thận.

Cô gái xuống xe với nét mặt ngỡ ngàng. Chắc đến lúc này cô mới hiểu mình đã được giải thoát. Nét ngang tàng, bướng bỉnh biến mất, cô đến bên buồng lái, miệng lí nhí cảm ơn. Vẫy một chiếc xe đò chạy hướng Tây Ninh, trước lúc lên xe cô còn ngoái nhìn tôi một lần nữa. Cậu Thư tủm tỉm:

- Chà, pha "đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga của chàng Lục Vân Tiên" hôm nay thật là ngoạn mục. Hành động nghĩa hiệp của cậu thế nào rồi cũng được "nàng" đền đáp.

Mấy ngày sau, không biết từ đâu cả đơn vị biết chuyện tôi cứu Linh Phương. Anh Ba Tri, thủ trưởng của tôi cho biết "nàng" là "ái nữ" của một cán bộ dân sự có cỡ ở R, ông tên là Tôn Thất Thời. Tôn Nữ Linh Phương được ông cho theo bác ruột vào Sài Gòn học trung học. Nghe đâu cô còn giấu ba theo một khoá Thái Cực Đạo và đã đạt " nhất đẳng huyền đai". Tài năng và sắc đẹp của cô làm bao chàng trai ở chốn đô thành điêu đứng. Cơ sở của người bác bị lộ, Linh Phương bỏ dở lớp tú tài, trở về tham gia trong bộ phận Kinh tài tỉnh. Một mình Linh Phương sang CraChê khảo sát thị trường. Hành động mang tính "anh hùng võ lâm" của cô đã náo động cả vùng và suýt phải trả giá.

- Chả trách gì em thấy cú đánh của cô ta hôm đó có vẻ thuần thục lắm. Con gái học võ thường bị ảnh hưởng của những cuốn sách võ hiệp. Hành động của Linh Phương hôm đó thật là...

- Còn cậu thì sao...? Ông nheo mắt nhìn tôi - Cậu cũng muốn trở thành hiệp sĩ đó thôi. Coi chừng nghe, con gái có võ là không vừa đâu, lại là "cục cưng" của Sáu Thời nữa. Nó "đá" ngã cậu không chừng đó.

Câu nói nửa đùa nửa thật của anh Tri vừa như nhắc nhở vừa như thách thức. Hình ảnh Linh Phương đứng giữa đám người Hoa mặt mày dữ tợn mà không hề nao núng như kích thích, như gợi tò mò trong tôi.

Chính quyền do Pôn Pốt cầm đầu ngày càng lộ vẻ phản phúc. Ngày ngày chúng tôi phải chứng kiến những cái chết thương tâm của bà con Việt kiều cũng như CămPuChia do lính Khơ Me đỏ giết hại. Anh em chúng tôi dù trong bụng sôi sục, muốn tìm cách trả thù nhưng ngoài mặt vẫn phải cười, nói và chào hỏi chúng. Một hôm, anh Ba Tri gọi tôi lên phòng riêng và nói. Anh cho tôi biết quan hệ giữa ta và Khơ Me đỏ ngày càng xấu đi nghiêm trọng... Sau một lúc vòng vo, anh hạ giọng nói tiếp. Sắp tới, bọn chúng sẽ mở một trường hạ sĩ quan ở Ché Lăng. Nơi đó có vợ và con trai của Sáu Thời. "Cậu hiểu rồi đấy, nếu để vợ con ở đấy khác chi sống giữa hang hùm...". Ông Sáu Thời muốn nhờ chúng tôi đưa vợ con ông ấy về CraChê. "Cho dù đây không phải vợ con của một cán bộ quan trọng thì nghĩa vụ của chúng ta cũng phải..."

- Thôi, thủ trưởng không phải nói nữa, em hiểu rồi.

- Cậu chọn thêm ba người, đến tài vụ nhận tiền, xuống cơ sở lấy hàng rồi đón mẹ con bà ấy luôn. Dọc đường liệu tuỳ cơ ứng biến, khẩn trương lên, chúc các cậu thành công.

Anh nắm chặt tay tôi trước lúc vội vã bước ra. Tôi cũng nhanh chóng trở về phòng riêng chuẩn bị, độ mười lăm phút sau chúng tôi lên đường. Cũng cần phải nói rằng qua nhiều năm chiến đấu và công tác đặc biệt, chúng tôi đã hình thành một thói quen khẩn trương, sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Tổ công tác do tôi chỉ huy gồm cậu Thư, người luôn cặp kè bên tôi như hình với bóng, anh Chư, vốn là một trinh sát bộ binh, có tài xử lý các tình huống gay cấn và một cậu mới bổ sung nhưng đã trải qua thử thách. Tôi đặc biệt thích cậu này ở tài bắn AK và khả năng đi xe máy. Bốn chúng tôi, mỗi người một xe Hon Da 90, nai nịt gọn ghẽ, nổ máy lên đường. Chúng tôi ra khỏi thị xã cũng vừa lúc trời đổ mưa. Ánh điện đỏ quạch của những căn nhà ngoại ô soi rõ con đường loang loáng bóng nước. Trời mưa to càng thuận lợi, tôi động viên mọi người. Bốn chiếc xe lao đi như bão cuốn. Không hiểu sao lúc này tôi thấy phấn chấn và kích động lạ thường. Phải chăng vì người mà tôi và các đồng chí sắp sửa giải thoát khỏi chốn nguy hiểm là mẹ và em trai Linh Phương? Phải chăng hình ảnh Linh Phương, một thiếu nữ mảnh mai vẫn hiên ngang đứng giữa vòng nguy hiểm hôm nào đã kích thích tôi. Tôi vẫn luôn nhớ lời Trà My mỗi lần chúng tôi ngồi với nhau: "Em rất lo, anh là người bốc đồng, dễ bị kích động. Làm gì thì làm nhưng phải cẩn thận, nhớ giữ gìn để về với em".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #61 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2011, 02:40:46 pm »

Lần này thì tôi suýt phải trả giá bởi hành động chủ quan của mình. Vì nóng ruột muốn tới ngay nhà của mẹ Linh Phương. Gia đình Linh Phương sang Cămpuchia từ bao giờ tôi không biết. Chỉ biết rằng ông Sáu Thời đã bí mật về nước hoạt động từ lâu. Linh Phương về Sài Gòn học nên ở bên này chỉ còn bà Sáu và cậu con trai út. Tôi phân công anh Chư và cậu kia mang bọc tiền đến cơ sở lấy hàng, còn tôi và Thư đến thẳng nhà bà Sáu. Nhà bà Sáu ở trong một hẻm, đường vào nhỏ hẹp, ngoắt ngoéo. Đến chỗ có bức tường, tôi bảo Thư tắt máy, đẩy xe vào bóng tối. Cả hai men theo bóng các ngôi nhà đi vào. Theo anh Ba Tri chỉ dẫn thì ngôi nhà có ánh đèn leo lét kia, cách chúng tôi mấy bước chân là nhà Linh Phương. Đang chuẩn bị vọt qua luồng ánh sáng phát ra từ một khe cửa thì tôi phát hiện ra nòng một khẩu AK sau bức tường. Thằng lính Pôn Pốt chỉ kịp hự lên một tiếng khi tôi nắm nòng súng kéo ra và lên một gối vào hạ bộ của hắn. Trong nhà có tiếng đàn ông Miên gắt gỏng, tiếng đàn bà ú ớ, rên rỉ. Chưa kịp có hành động tiếp theo thì tôi đã bị một cú đá tạt ngang mạng sườn nặng như vồ nện. Bị ngã dập xuống nền đường nhưng tôi cũng kịp vẩy một phát súng vào cái bóng to lù lù trước mặt. Hắn hộc lên một tiếng, buông rơi khẩu súng rồi đổ gục. Khi tôi đứng lên được thì Thư đã dắt mẹ con bà Sáu vọt ra ngoài. Sự việc xảy ra quá nhanh nên bọn lính quanh đó đã không kịp phản ứng. Khi xe tôi vọt ra được đường lớn thì mới có tiếng huyên náo phía sau. Chúng bắn theo ràn rạt.

Xe Thư chở hai người đi trước, tôi bám theo. Một lúc sau thì có tiếng xe máy từ ngôi nhà bên đường rồi cùng một lúc lao ra bốn năm ánh đèn pha sáng quắc. Thấy xe Thư đi đã khá xa, tôi quyết định đi chậm để chặn địch. Vậy là tôi bị nạn đêm hôm đó. Vừa chạy vừa ngoái đầu bắn trả, xe tôi bị trúng đạn. Tôi bị văng vào một lùm bình bát ven sông. Thật may là không bị thương, tôi nhanh chóng bò xuống mép sông và nấp sau một ụ đất. Bốn thằng lính áo đen dừng xe. Chúng hô nhau tìm kiếm. Lấy hơi nín thở, tôi lặn ra giữa sông và nhắm bờ bên kia bơi tới. Bắn loạn xạ xuống mép sông một lúc, không tìm thấy tôi, chúng hậm hực lên xe về. Khỏi phải nói cuộc trở về của tôi gian nan ra sao. Có lúc tôi tưởng như không còn gặp lại được anh em, không còn được gặp Trà My nữa. Chả lẽ đã vượt qua biết bao gay cấn, nguy nan mà tôi lại bị chết vì một lý do vớ vẩn như thế này sao.

Tôi bơi trong nỗi tuyệt vọng, trong bóng đêm đen kịt. Cho tới lúc tưởng chừng như kiệt sức thì chân tôi chạm được vào bờ. Tôi mừng hú và lịm đi trên bờ cát ven sông. Gần sáng, tôi được cha con một người Việt kiều vớt lên thuyền và cho ẩn trong khoang máy. Nằm dưới khoang nghe tiếng hoạnh hoẹ của bọn lính áo đen, tôi thầm cảm ơn số phận, cảm ơn cha con bác Việt kiều. Chiều hôm sau, khi cậu Thư mang xe đến đón tại bến sông thì tôi chỉ còn như một cái xác. Cho đến sáng hôm sau, khi tôi tỉnh dậy thì đã thấy Thư ngồi bên cạnh, miệng tủm tỉm:

- Đưa được mẹ con bà Sáu về tới nơi, quay lại chẳng thấy cậu đâu. Tưởng rằng cậu đã bị ngoẻo hoặc bị chúng tóm, ai ngờ... Nhưng thôi, cũng bõ cho công xông pha và suýt cả bỏ mạng... Hắn lấp lửng. Hai người rồi còn khổ với nhau nhiều đây. Cậu có biết ai đã ngồi nhìn cậu một cách mê mệt, đắm đuối suốt từ đầu hôm đến gần nửa đêm lúc cậu đang ngủ không? Không chờ được cậu, Linh Phương đã đi rồi. Thật tội nghiệp cho Trà My. Hắn trao cho tôi mảnh giấy. Chữ con gái mềm mại, bay bướm: "Xin chào người đã cứu mẹ và em trai. Nhìn anh ngủ thương lắm. Hẹn ngày đền đáp..." Thư nhìn tôi, nháy mắt cười.

Lúc đó tôi chỉ muốn thụi cho cậu ta một quả. Hắn học đâu được cái thói lấp lửng đáng ghét thế không biết. Nghĩ lại những điều Thư nói hôm nào thế mà linh nghiệm. Tôi gặp lại Linh Phương hôm nay có phải là tình cờ hay do số phận?

Cũng cần phải nói cho bạn đọc rõ, trước lúc gặp Linh Phương tôi đã yêu Trà My. Tôi đã yêu bằng tất cả niềm say mê, lãng mạn của trái tim tuổi trẻ. Trà My là y sỹ trạm phẫu của đơn vị. Cô là Việt kiều, từ Cam Pu Chia trốn về nước tham gia cách mạng. Nhiệm vụ của đơn vị đã đưa Trà My trở lại mảnh đất mà em đã lớn lên. Là một cô gái thuỳ mị, nết na và đầy nhạy cảm, tình cảm mà Trà My dành cho tôi đằm thắm như là tình cảm của một cô em gái hay hờn dỗi, có khi lại như là của người mẹ, người chị gái đầy bao dung. Hăng say với công việc được giao, hằng ngày được sống trong vòng tay yêu thương của Trà My, tôi chẳng mong gì hơn.

Làm nhiệm vụ đặc biệt, hằng ngày chúng tôi luôn tiếp xúc với những thứ dễ làm xiêu lòng những ai, nói như cách nói lúc này là "không có lập trường, quan điểm vững vàng". Đó là những hàng hoá cao cấp, những lượng tiền, vàng rất lớn, những cô gái đẹp có đầy rẫy trong những đại lý, trong các nhà hàng. "Ông bạn mới" sớm trở mặt, chúng tôi sống trong tình trạng căng thẳng, đầy bất trắc. Đã có nhiều trường hợp chiến sỹ của đơn vị bị thủ tiêu. Để thích ứng với tình hình, đơn vị tôi gồm toàn những người trẻ khoẻ, thông minh, đầy bản lĩnh công tác và chiến đấu. Mỗi một người đều có thể đảm nhiệm những công việc khác nhau. Ngoài nhiệm vụ chung tôi còn kiêm thêm chân trợ lý và bảo vệ cho anh Ba Tri. Thủ trưởng Ba Tri là một người đầy bản lĩnh và có nhiều kinh nghiệm. Gần anh, tôi được ảnh hưởng nhiều về khả năng xử lý, tính quyết đoán và nhạy bén trong các tình huống gay cấn. Trong quan hệ với bộ đội anh cũng là người rất tế nhị. Hàng ngày, sau những giờ phút căng thẳng, tôi được mấy phút gặp Trà My. Phải nói rằng hồi đó chúng tôi yêu nhau trong sáng, không một chút tính toán, vụ lợi. Tình yêu đã gắn kết số phận chúng tôi, chỉ tiếc rằng do hoàn cảnh mà chưa hẹn được ngày sống chung. Anh em bạn bè tôi, những "chiến binh dũng cảm" luôn đồng tình và cổ vũ cho mối tình của hai đứa. Mối tình của tôi với Trà My đang đẹp như trăng rằm thì không biết do ma xui, quỉ khiến mà để cho tôi phải gặp Linh Phương.

Linh Phương cầm tay kéo tôi tới một quán nhỏ cạnh đường. Trời miền đông nắng chói chang. Linh Phương gọi ra mấy chai bia, cô thành thạo bật nút chai, rót bia ra cốc, đẩy đến trước mặt tôi:

- Anh uống La ze đi. Sao hôm nay trông anh hiền thế... Anh sang đây tìm hàng, đúng không? Nếu sang tìm hàng thì anh nhầm chỗ rồi. Đã về đến đây thì phải nghe em chứ không phải như ở bên kia đâu - Linh Phương nhắc lại chuyện cũ một lần nữa - Em mang ơn anh. Bản thân thì được anh giải thoát, mẹ và em trai thì được anh cứu. Anh đã suýt bỏ mạng vì gia đình em. Hãy cho em có cơ hội được đền đáp. Ngày mai hãy về Lò Gò, chỗ đó sẽ có đủ hàng cho anh. Anh chỉ cần đi xe đến Tây Ninh, hai giờ chiều mai em sẽ tới đón. Hãy chờ em ở ngã tư trung tâm

Về Lộc Ninh lần này tôi có nhiệm vụ tìm mua một số mặt hàng cho đơn vị mà bên kia không có. Vậy mà Linh Phương nói đúng. Cô đi rồi, suốt buổi chiều một mình ra chợ, lượn khắp các đại lý, chẳng ở đâu có loại hàng tôi cần. Thủ đô của chính phủ cách mạng lâm thời bề bộn bao công việc. Ở đây hầu hết là các cơ quan mới chuyển từ R về nên việc buôn bán còn rất lèo tèo, hàng hoá còn khan hiếm. Sáng hôm sau tôi quyết định về Tây Ninh khi mặt trời chưa mọc. Tôi mới đến Tây Ninh một lần hồi thị xã mới giải phóng nên rất bỡ ngỡ. Đang lo chưa biết tìm Linh Phương ở đâu thì chiếc honda 90 đã phanh kít ở đầu xe. Trong trang phục du kích, quần áo bà ba đen, khăn rằn quấn cổ, mắt đeo kính mát, trông Linh Phương như một nhân vật trong tiểu thuyết hay một phim chuyện nào đó. Cô giơ tay làm hiệu rồi phóng vụt đi trước, xe tôi bám theo. Từ Tây Ninh về ngã ba Lò Gò đâu chừng hơn ba chục cây số. Gần bốn giờ chiều chúng tôi tới nơi. Đến một ngã ba, chỉ vào bóng một cây ngô đồng, Linh Phương bảo tôi dừng xe. Xem qua danh mục hàng tôi cần, cô bảo:

- Xe cứ chờ ở đây, còn anh đi theo em.

Đến đây thì tôi phải phục tùng Linh Phương. Ngồi sau cô trên chiếc honda, tôi khâm phục tài xử lý xe máy của Linh Phương. Qua mấy đại lý, tôi lại càng khâm phục Linh Phương ở khả năng xử lý quyết đoán trong giao tiếp, mua bán. Về phương diện này, tôi nghĩ tốt nhất cứ để cho Linh Phương giúp. Khoảng gần sáu giờ tối chúng tôi đã gom đủ hàng. Trở về nơi xe đậu, Linh Phương trao cho cậu lái xe sơ đồ đường đến các điểm và số hàng ở từng nơi. Cô bảo: "Anh tìm chỗ nào ăn tối, em đưa anh Bảo đi có chút việc, khoảng mười một giờ đêm trở lại". Tôi nghĩ chẳng đi đâu mà vội. Từ đây lên Tây Ninh rồi theo cửa khẩu Xa Mát trở về, quá lắm chiều tối mai chúng tôi sẽ có mặt đúng hẹn ở đơn vị. Tôi gật đầu với cậu lái xe rồi đi theo Linh Phương. Xe chay được một lúc, cô nói: "- Em đưa anh đi ăn, sau đó về ra mắt ông già. Ba em mong được gặp anh lắm". Tôi ngó lại bộ quân phục trên người, lo lắng. Đoán được suy nghĩ của tôi, Linh Phương bảo anh chẳng cần bận tâm gì đến vẻ bên ngoài cả, ba là người dễ thông cảm, hơn nữa anh là...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #62 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2011, 02:42:23 pm »

Nhà của Linh Phương nằm trong một khu vườn um tùm cây trái, cạnh con lộ về Sài Gòn. Một ngôi nhà lợp tôn to vừa phải nhưng lịch sự, thoáng mát. Nhà có một khoảng sân khá rộng được chắn bằng những tấm ghi sân bay, phía trên là một dàn hoa ti-gôn lấm tấm hoa. Khoảng sân đã được trang hoàng rất đẹp. Hai dãy bàn xếp dọc theo chiều dài sân phủ vải trắng muốt. Bàn nào cũng có một lọ pha lê hoa tươi. Những bông cẩm chướng đỏ nổi bật trên nền vải trắng trông thật trang nhã. Phía trên, chỗ gần cửa ra vào là một bàn lớn được phủ một tấm vải thêu rực rỡ. Một lọ hoa hồng trắng rất to đặt ở giữa. Ba bốn nam nữ thanh niên ăn vận lịch sự, nói cười nhỏ nhẹ chạy đi chạy lại ra dáng tất bật. Tôi phát hoảng, chưa kịp đoán xem sắp có sự kiện gì xảy ra ở đây thì một người đàn ông tầm thước, khoẻ mạnh trong bộ đồ ký giả màu cà phê đã ra tận ngõ đón. Đưa tôi vào phòng khách, ông bảo:

- Con ngồi đi, hãy coi đây như là nhà của con.

Cử chỉ của người đàn ông mà tôi đoán là bác Sáu Thời, ba của Linh Phương rất ôn tồn, tình cảm. Ông làm tôi thấy tự tin". - Bác nghe tiếng con từ lâu..." ông nói. Giọng Nam Bộ trầm ấm, rủ rỉ đầy xúc động. Ông nói rằng gia đình mang ơn tôi, cái ơn rất lớn. Ông khen tôi là một chiến sỹ dũng cảm tuyệt vời, có quan điểm và tình thương giai cấp cao cả. Ông nói nhiều lắm. Ông nói nếu tôi đồng ý ông sẽ xin chuyển cho tôi về dân chính và gửi đi học một lớp đào tạo cán bộ cốt cán cấp huyện sắp được mở nay mai. "Nhưng dù sao bác cũng vẫn muốn coi đây như là nhà con".

Tôi ngồi im, hai cốc la ve trên bàn chưa ai kịp uống. Những điều ông nói ra với tôi thật quá đột ngột, làm tôi ngỡ ngàng. Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn miền Bắc, dù đã học xong cấp ba nhưng cũng chỉ quen với cái cày cái cuốc. Tôi quen với bờ tre mái rạ, quen với hạt lúa củ khoai. Suốt hơn năm năm trời lăn lộn ở chiến trường Căm pu chia, tôi chưa một lần về quê thăm bố mẹ và các em. Ba năm trước, tôi nghe tin thằng em trai cũng đã vào bộ đội nhưng từ bấy đến nay chẳng nghe tin tức. Sức khoẻ bố mẹ tôi ra sao cũng không hề biết. Lần đầu được tiếp xúc với những người tuy là đồng chí nhưng lại ở một tầng lớp khác, tầng lớp thượng lưu. Tôi lo lắng:

- Dạ thưa bác, trước hết cháu xin cảm ơn bác vì những tình cảm mà bác đã dành cho. Những gì bác nói thật quá lớn đối với cháu. Bác cho cháu...

- Tất nhiên rồi, nhận lời hay không là tuỳ cháy. Cháu cứ suy nghĩ rồi trả lời sau cũng được. Thôi, chúng ta ra ngoài kẻo mọi người chờ.

Từ phòng khách bước ra, tôi loá mắt bởi ánh sáng của những ngọn đèn măng sông chiếu tới. Dưới ánh sáng xanh, tôi nhận ra khoảng hơn vài chục thanh niên nam nữ, ai cũng trẻ trung, xinh đẹp và khoẻ mạnh. Họ mặc những bộ đồ dân sự thật trang nhã, lịch sự. Đặc biệt, tôi chú ý một thanh niên dong dỏng, độ tuổi tôi, dáng trí thức. Anh ta xăng xái bày lại những lọ hoa, những chai bia trên các dãy bàn, bắt tay chào người này người nọ. Người này thỉnh thoảng sánh bước với Linh Phương. Cái bàn lớn phủ tấm vải thêu đầu hai dãy bàn đã chất đầy quà tạng. Đặc biệt, giữa hai dãy bàn mới xuất hiện một bàn tròn kê cao hơn. Phía trên có một chiếc bánh ga tô phủ kem rất lớn. Trên chiếc bánh có những ngọn nến mới được thắp sáng, ánh sáng lung linh làm cho không gian như ngưng đọng và trở nên huyền ảo. Ánh mắt đổ dồn tới khi ông Sáu dắt tay tôi xuất hiện nơi khuôn cửa. Tôi "đọc" được vẻ thảng thốt bất ngờ có phần ghen tỵ của đám người. Người như "chú Sáu" sẽ có biết bao kẻ muốn được gần gũi, cầu thân. Họ đang tìm kiếm cơ hội để được gần ông. Ngoài uy tín của ông sẽ có lợi cho những ai được ông để mắt tới, ông còn có cô con gái trẻ đẹp. Tôn Nữ Linh Phương sẽ là cái đích theo đuổi của rất nhiều chàng trai, trong đó có những trí thức trẻ Sài Gòn bỏ thành ra cứ hoạt động, những sĩ quan trẻ, những cán bộ dưới quyền "chú Sáu". Họ đang ngồi dưới kia, tôi đoán vậy. Ông kéo tôi ngồi xuống dãy ghế đã có mấy thanh niên trẻ tuổi ngồi. Mấy người đứng dậy chào ông. Cậu em Linh Phương cũng từ đâu ào tới. Ba Linh Phương ghé tai tôi nói nhỏ:

"Hôm nay là sinh nhật lần thứ hai mươi của Linh Phương, cháu cứ tự nhiên nhé".

Từ nãy, tôi cũng đã đoán như vậy khi đếm thấy hai mươi ngọn nến trên chiếc bánh. Tôi lúng túng và thầm trách Linh Phương không cho biết để chuẩn bị một chút quá mừng. Xin thú thật, trong đời tôi chưa bao giờ được chứng kiến một lễ sinh nhật sang trọng như vậy. Người dẫn chương trình là một cô gái xinh đẹp. Cô nhanh nhẹn đứng dậy và nở một nụ cười quyến rũ. Người đẹp, lại duyên dáng và lịch sự, lời cô nói sao mà bay bướm, cuốn hút. Từ đâu đó phát ra một bản nhạc êm dịu, vui tươi. Bản nhạc vừa dứt thì Linh Phương xuất hiện. Trong bộ áo dài trắng kiểu nữ sinh, trông nàng như một bông huệ đầy vẻ trong trắng, kiêu sa. Tôi không dám nhìn nàng và hoang mang nghĩ rằng có phải mình vừa ăn cùng nàng, được ngồi sau xe nàng suốt cả chiều nay? Tuy có cảm giác đang lạc vào giữa chốn "thượng lưu" nhưng không hiểu sao lúc đó tôi không hề mặc cảm với bộ quân phục đang mang trên người. Linh Phương bước tới chiếc bàn, nơi đặt tấm bánh sinh nhật. Nàng chụm miệng lần lượt thổi tắt các ngọn nến. Chưa mời mọi người ăn bánh, rút ra một bông hồng nhung được giấu từ đâu đó, Linh Phương bước đến dãy bàn đầu tiên. Sang bàn thứ hai, tôi chưa thấy nàng trao bông hoa cho ai. Chàng thanh niên mà tôi chú ý từ đầu buổi ngồi ở đầu bàn thứ ba. Tôi nghĩ nàng sẽ trao bông hoa cho anh ta. Mà quả thực, tất cả những đàn ông đang có mặt đều xứng đáng được nàng tặng hoa, trừ ba người, đó là tôi, ba và em trai nàng. Tôi nghĩ. Tôi lơ đãng nhìn các dãy bàn. Lúc này chẳng ai để ý đến việc ăn kẹo, uống bia, những thứ đang ê hề trước mặt. Linh Phương đã đi qua chàng trai đó, qua tiếp hai người nữa. Người nào cũng được nàng tặng một nụ cười khả ái và trìu mến. Bất ngờ Linh Phương dừng trước mặt tôi. Nàng nghiêng mình, hay tay nâng bông hồng:

- Xin tặng anh, chàng "hiệp sĩ" của lòng em... Đôi gò má ửng đỏ, đôi môi phớt hồng chúm chím, cặp mắt long lanh của nàng nhìn tôi đăm đăm, chan chứa bao điều... Hình như không khí buổi lễ ắng đi một lúc. Có tiếng vỗ tay đốp đốp. Tôi run rẩy đứng dậy như người lên cơn sốt. Sự việc diễn ra quá bất ngờ. Từng rơi vào những tình huống gay cấn, nguy hiểm nhưng lần này, gặp tình huống này thì tôi chết lặng. Tôi giơ tay đỡ lấy bông hoa trong niềm ngây ngất khỏ tả. Nàng trao hoa cho tôi, bàn tay với những ngón thuôn dài nuột nà như vô tình chạm nhẹ vào tay tôi. Một cảm giác mát rượi, êm ái ngập tràn trong tôi.

Sau đó tôi không nhớ gì nữa hết. Hình như lúc buổi lễ gần xong, khi mọi người đang vỗ tay cùng hát bài "Tự nguyện" thì nàng kéo tôi đi. Nàng chở tôi đi bằng chiếc xe mà cả buổi chiều chúng tôi đã đi. Chúng tôi ngồi với nhau trên một tảng đá ven sông. Mặt sông đen thẫm, bầu trời đen thăm thẳm, vài vì sao xa lắc. Đêm ở vùng giải phóng sao mà bình yên và êm ả đến dịu dàng. Ở đây tưởng chừng chưa hề có bom đạn. Trước mặt, dòng nước lặng lẽ trôi. Những dề lục bình cũng đang trôi lặng lẽ. Trong bờ cỏ, tiếng cá quẫy lóc bóc, tiếng côn trùng rỉ rả. Xa xa, bên kia sông hình như đang có tiếng những cặp chim tìm nhau trong bóng đêm... Nàng đang ngồi rất gần, tà áo dài, những sợi tóc bay bay, mơn man trên má, trên miệng tôi. Quanh tôi phảng phất hương thơm, mùi của da thịt ngây ngất, mùi của một thứ nước hoa sang trọng. Đã từng có những giây phút bên cạnh Trà My nhưng tôi chưa từng gặp thứ hương thơm giống như hôm nay. Không khí yêu đương tràn ngập. Nàng xoay người, hướng khuôn mặt xinh đẹp đang tràn trề hạnh phúc sang tôi: " - Sao anh yên lặng vậy, ba đã nói gì với anh?". Thấy tôi không nói gì, nàng hỏi. Nàng đâu biết trong tôi đang diễn ra sự đấu tranh, giằng xé. Tôi hiểu những điều ba Linh Phương nói, nếu chấp thuận ông, tôi sẽ có tất cả. Tôi sẽ có vợ đẹp, có tiền đồ và điều quan trọng nữa là hàng ngày không còn phải đối mặt với hiểm nguy. Nhận lời ông tương lai tôi sẽ được đảm bảo. Còn với Trà My...? Suy nghĩ của tôi trở nên mong manh. Khuôn mặt Trà My hiển hiện. Trời ơi, phải nói rằng nếu đem so sánh, về dung nhan thì Trà My của tôi kém xa nàng. Linh Phương có một cốt cách cao sang. Cổ nàng cao, trắng muốt, khuôn mặt trái xoan có vầng trán trắng mịn, chiếc mũi thẳng nhỏ nhắn, đôi mắt to, đen thăm thẳm. Chẳng còn đâu hình ảnh một Linh Phương ngang tàng, dữ dội ngày nào. Nàng đã trở về với một tiểu thư đài các đầy mộng ước. Tự nhiên tôi thấy nhớ và thương Trà My đến thắt ruột. Tôi và Trà My đã có với nhau những năm tháng gắn bó gian truân, những kỷ niệm đau thương và dịu ngọt. Giờ đây chắc em đang mong ngóng tôi về. Cũng có thể em đang vất vả, chăm sóc một thương binh nào đó. Tôi đã từng được em chăm sóc, đã mang trong mình dòng máu của em. Trà My đã tiếp máu khi tôi trúng đạn của bọn Lon Non. Trà My đã trở thành máu thịt của tôi... Nhưng chẳng lẽ tôi lại nói những lời chối từ trong một không khí như thế này sao, có phũ phàng và tàn nhẫn quá không? Nhưng tôi kịp nghĩ rằng có lẽ Linh Phương sinh ra không phải để dành cho tôi. Số phận của tôi đã được an bài, dù rằng mối tình với Trà My chưa đi đến qui ước...:

- Linh Phương ơi, anh xin cảm ơn những gì em và ba đã dành cho anh. Đó là những điều anh không dám nghĩ tới. Anh xa nhà đã lâu, bấy nay chỉ quen phục tùng mệnh lệnh, giờ đây con người anh cũng không còn là của riêng anh nữa. Làm người chiến sỹ, anh phải phục tùng mệnh lệnh, chiến đấu vì nước, vì dân... Chắc em không muốn anh là người hám danh, cầu lợi, là kẻ phản bội... Người hiệp sỹ trong câu chuyện của em cũng ghét áp bức, ghét cả những kẻ phụ nghĩa, bạc tình...

- Thôi, em hiểu anh muốn nói gì rồi, anh có người yêu rồi phải không?

- Linh Phương ạ, em là một cô gái tuyệt vời. Nếu nói rằng không yêu em là anh tự dối lòng. Nhưng em có vội vàng khi chọn anh không? Anh sợ rằng mình không đáp ứng được những gì mà ba và em kỳ vọng. Có bao nhiêu người xứng đáng với em hơn... Tôi nói như một cái máy, không kịp hiểu có phải đó là tiếng nói của lòng mình hay chỉ theo suy nghĩ thoáng qua...

Toàn thân Linh Phương rung lên. Lúc này thì cô đã xoay mặt hướng ra sông. Trăng hạ tuần mọc muộn trên sông Vàm Cỏ. Ánh trăng quét lên mặt nước một lớp vàng lóng lánh, nhấp nhô theo từng con sóng nhỏ. Khuôn mặt Linh Phương cũng rờ rỡ ánh trăng nhưng đã đầm đìa. Nhìn từng giọt nước mắt tròn lăn trên đôi gò má diễm lệ, có lúc tưởng chừng tôi không cầm lòng được. Bên kia sông, tiếng bìm bịp nghe thật não nề. Hình như đó là tiếng gọi của những cặp trống mái. Bất ngờ Linh Phương quay sang tôi:

- Anh có nghe tiếng bìm bịp gọi nhau không? Cô hỏi trong tiếng nấc.

- Nó đang báo thời gian, sắp sáng rồi Linh Phương ạ. Linh Phương thở dài: "- Vậy thì về thôi anh. Em nghe tiếng còi xe bạn anh gọi rồi đấy". Linh Phương cả quyết đứng dậy. Tôi tranh Linh Phương cầm lái nhưng cô không chịu. Trở lại vẻ rắn rỏi thường ngày, cô cho xe chạy như bay. Trước lúc tôi lên xe, Linh phương trao tôi một hộp các tông" - Tặng anh chiếc Ra đi ô, mỗi lần nghe hãy nhớ đến em. Chúc anh mạnh giỏi, hạnh phúc". Linh Phương quay xe một cách dứt khoát, không kịp cho tôi có một lời từ biệt. Chiếc xe lao đi một cách dữ dội trong ánh bình minh.

Mùa hạ năm 2003
N.N.L
(178/12-03)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #63 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2011, 04:07:31 pm »

Lũ quét

XUÂN ĐÀI


Chuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.

Con ấy đâu vừa! Vắng mặt cô Lâm người ta lại xầm xì chắc con của lão Ngộ lùn hay con của lão Thống rỗ trưởng xóm. Nghe những lời ong tiếng ve như thế, mụ Kinh Coòng ngồi bán tạp hoá ngoài cây đa đầu lang, bĩu môi: các ông các bà chẳng biết cái chi hết! Thấy lão Thống rỗ với thằng Ngộ lùn hay thậm thà thậm thụt ra vô nhà cô Lâm thì đổ vấy cho người ta, chứ "giống" ấy là của người quê mình tận Hà Nội hay tít trong Sài gòn chứ không quanh quẩn đây đâu. Con Lâm nó ngoa ngoắt nhưng nó không ngu. Mấy đận nó bảo xuống thị xã chơi với dì dượng, thực ra là nó đi thật xa để "kiếm" đứa con. Thử hỏi lão Thống với thằng Ngộ cùng người họ Bùi với nó, đâu dám trắng trợn loạn luân như vậy. Người quê ta, có chức có quyền, có học vị bằng cấp đang công tác khắp nước, thơm ngon mát bổ, ngu gì lại đi chung chạ với đứa chân lấm tay bùn, hàng tháng trời không tắm, hôi rình như khỉ...

Làng Vĩnh Sơn nằm dọc sông Vạn Phường có đến tám dòng họ. Họ Trần và họ Lê là hai họ lớn, gia phả họ Lê trên bốn mươi đời. Nhà thờ rộng và đẹp hơn cả chùa làng. Còn họ Bùi là dân ngụ cư. Cô Bùi thị Lâm là con ông Bùi Viết. Tính đến ông Viết mới có năm đời. Bố mẹ cô Lâm vừa buôn bán vừa làm ruộng. Từ lúc nhỏ, Lâm đã biết theo cha mẹ chạy chợ. Mùa nào thứ đó, chỉ có buôn trâu là chưa làm. Khi nhỏ Lâm đã đẹp, lớn lên càng đẹp. Người tầm thước, thon nhỏ, da trắng, ăn nói khéo léo, chả thế mà thanh niên trong làng nhiều anh "xin chết" nhưng anh nào cũng được Lâm tặng cho một chiếc guốc vào mông. Cô Lâm cùng lứa với cô Diệu, cô Ngoan, đều sinh giữa thập niên bốn mươi, cùng tốt nghiệp lớp mười một khoá. Chỉ có Diệu vào được đại học Bách khoa, còn Ngoan với Lâm ngày nào cũng lên uỷ ban lục hòm thư. Giấy báo đại học đâu chẳng thấy, chỉ lượm được toàn vỏ chuối...

Bấy giờ, thanh niên trai tráng nờm nợp đi bộ đội. Con gái rủ nhau đi thanh niên xung phong. Xã Vĩnh Sơn đợt đó có năm cô lên huyện khám tuyển, bốn cô trúng trong đó có Ngoạn, còn Lâm bị loại, quay về làng khóc như cha chết. Mụ Kinh - Coòng - tạp - hoá vừa nguýt vừa bảo con ấy khoẻ như voi, chắc là đỏng đảnh nên người ta mới đuổi về, liền bị cô Lâm đứng ngay trước ngõ, xắn quần, tốc áo, chửi cho một trận. Dẻo mồm dẻo mép như mụ Kinh Coòng cũng phải câm miệng hến, ngồi trong bếp dỏng tai lên nghe. Mụ sợ cô Lâm một thì sợ ông Viết mười. Ông Viết dám mang khâu liềm cào sập nhà mụ rồi cho một mồi lửa, chứ mụ Kinh đừng có cậy giàu mà gieo tiếng xấu cho con gái ông. Thời chiến mà trốn nơi hòn tên mũi đạn là đồ hèn. Người họ Bùi nghèo chứ không hèn.

Không đậu đại học, không trúng thanh niên xung phong, cô Lâm dựng lều ngoài đường cái quan mở hàng nước. Gọi là hàng nước thực ra cô bán đủ các loại thượng vàng hạ cám. Ai hỏi cô Lâm làm gì, ông Viết trả lời rất thời thượng: Cháu nó làm thương nghiệp! Các anh bộ đội hành quân qua quán thì vẫy tay: Chào em cô gái Lam Hồng xinh đẹp!

Làm nghề buôn bán trên đường cái, khách thập phương ghé đến, có anh lấy cớ uống nước chè, ăn kẹo lạc mà ngồi từ trưa cho đến khi chủ quán dẹp hàng. Tán tỉnh thế nào cô Lâm cũng chỉ che miệng cười, miễn là nước cứ uống sình bụng, kẹo cứ ăn cho mẻ răng và tiền cứ nộp đầy đủ là được. Nghe đâu dân làng đồn đại cô cũng có mối tình với anh lính trẻ trên huyện đội. Sâu đậm lắm, dám cả gan vô hiệu ảnh Thanh Bình, ôm vai ghé má "chơi" một kiểu làm kỷ niệm. Duyên vừa mới bén hơi, thề non hẹn biển, chung thuỷ một đời thì anh huyện đội được chuyển sang quân chủ lực rồi đi chiến trường vào Nam. Thằng Tuấn Sún, cháu gọi mụ Kinh Coòng bằng bà dì bảo đã được nhìn tận mắt tấm ảnh cô Lâm chụp chung với anh huyện đội, bị mụ Kinh cho một cái tát nổ đom đóm mắt, kèm theo một câu xỉ vả: Mi chỉ ăn nói ba láp ba xàm! Ngữ con Lâm chỉ có chụp ảnh chung với lợn, chứ bộ đội nào mà thèm áp má kề vai với nó. May cho mụ Kinh Coòng câu xỉ vả vô cớ của mụ được gió cuốn ra đồng, chứ đến tai cô Lâm thì chắc lần này ông Việt ông đốt nhà mụ thật.

Chuyện tình duyên của cô Lâm người đồn thế này người đồn thế nọ, chẳng biết thực hư ra sao, chứ đến năm ngoài ba mươi cô vẫn ế chồng. Bây giờ băm tư rồi mới sắp được làm mẹ. Cha đứa bé là ai chỉ một mình cô biết. Cha cô - ông Viết - có cạy mồm, cô cũng không nói. Chỉ có mụ Kinh Coòng đi đâu cũng hát nghêu ngao bằng giọng hát xẩm: Không chồng í - a mà chửa mới ngoan. Có chồng í - a mà chửa... thế gian í - a cũng nhiều... Dân xã Vĩnh Sơn chẳng ai đồng tình với cách hát hò độc miệng của mụ. Người ta thương cô Lâm đẹp nhất xã mà số phận hẩm hiu, quá lứa lỡ thì. Người ta thương dòng họ Bùi nghe đâu nguồn gốc tận tỉnh Hoà Bình, nghèo đói cơ cực mới dắt díu nhau vào tận miền Trung này làm dân ngụ cư.

Ông Đề, em bà con cô cậu với mụ Kinh Coòng, bất chấp máu mủ ruột rà, làm một bài vè dạy cho con nít hát, giễu cợt lại mụ Kinh lắm điều. Hát rằng: Mụ Kinh là mụ Kinh Coòng / chồng thời không có mà con cả bầy / mụ Kinh là mụ bầy hầy / con cái cả bầy chẳng thấy chồng đâu. Trẻ con cứ lượn qua lượn lại trước cổng nhà mụ Kinh hát nghêu ngao. Chồng mụå vác gậy chạy ra, trừng mắt: Rứa tau là gì hả? Đồ chó đẻ! Trẻ con xô nhau chạy, vừa chạy vừa la: Ông là nhôông chứ không phải chồng. Bà là gấy chứ không phải vợ (1)... Ông Kinh phì cười, chửi: Tổ cha bây! tổ cha bây! Đồ mất dạy...

Cô Lâm sinh đứa con gái bụ bẫm, cười có lúm đồng tiền, đặt tên như ca sĩ Bùi Diễm Thuý. Diễm Thuý ngoan và học giỏi. Càng lớn càng giống mẹ, may mắn hơn mẹ, diễm phúc hơn mẹ, thời của Diễm Thuý là thời bình yên. Diễm Thuý thi đại học lần đầu tiên đã đậu ngay hai trường. Thời còn học cấp I có lần nằm bên mẹ, bóp tay mẹ, sờ má mẹ, vuốt tóc mẹ, Thuý thủ thỉ: Cha con là ai hả mẹ? Mẹ ôm chặt Thuý vào lòng, khóc tức tưởi...

Hôm cầm giấy báo đậu hai trường đại học, Diễm Thuý vừa mừng vừa lo, nói với mẹ chỉ học một trường để mẹ đỡ vất vả. Mẹ cô cười trong tiếng khóc, khóc trong tiếng cười, chửi yêu con...

- Cha mi, mi có học đến... tỷ trường, tau cũng nuôi được. Học phí là thứ giẻ rách, đứa hèn mới không lo được cho con...

Nói đến đó mẹ Thuý thấy mình hơi quá lời liền dịu giọng hỏi: Chứ học phí mỗi trường một năm bao nhiêu con?

- Cứ bán hết cả lều hàng xén của mẹ, may ra mới nộp đủ một trường. Còn trường thứ hai thì phải bán cả nhà.

- Tổ cha mi, đừng dọa tau, làm chi có đắt như rứa!

- Ban nãy mẹ mạnh mồm, bây giờ run rồi hả? Không tin mẹ đi hỏi thiên hạ, thiên hạ người ta biết "giá" của đại học cả đó.




------------------------------------------------------
(1) Tiếng địa phương vợ chồng gọi là "gấy - nhôông"
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #64 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2011, 04:09:30 pm »

Mới đó mà đã sáu năm, Diễm Thuý bây giờ đã kỹ sư chế tạo máy, làm việc ngay giữa thủ đô, sắp làm lễ cưới với cậu Thành, lập trình viên phần mềm, thua mình hai tuổi, con cô Ngoạn người họ Võ, cũng là dòng họ ngụ cư.

Thành và Thuý bén duyên nhau, bất chấp tuổi tác, bất chấp giàu nghèo. Cái mà hai trái tim đập cùng nhịp là họ đồng cảnh ngộ. Những năm học cấp II, Thuý và Thành vẫn xưng hô là chị chị em em. Khi lên cấp III, tuy hơn Thành hai tuổi nhưng Thuý chỉ học trước Thành một lớp. Thành là đứa thông minh. Từ năm Thuý học lớp mười một, Thành học lớp mười thì hai từ "chị em" tự dưng biến mất, thay vào đó là xưng tên. Đại để "Thuý đừng thức khuya nhiều mà ốm đấy", "Thuý có hai quả lê chia cho Thành một quả này". Đến giờ học, Thành ghé nhà chở Thuý đi bằng xe đạp đến trường. Thuý và Thành là đôi song ca hay nhất huyện. Không chỉ những ban học cùng trang lứa mà bàn dân thiên hạ đều biết Thuý Thành yêu nhau. Bạn học cùng trường, đứa nào cũng vun vào, chỉ có cô bé Lê Thị Na, người cùng xóm với Thuý, học sau Thành một lớp là mỗi lần gặp Thuý thì... ngó lơ. Thuý biết là Na ghen nhưng cứ tảng lờ như không biết gì, nên lúc nào gặp Na, Thuý cũng vồn vã. Có lần Thuý đưa cho Na một nắm kẹo. Na ngúng nguẩy "em không quen ăn của ngọt, thôi chị để dành cho anh Thành".

Từ sâu thẳm trong tâm hồn, Na biết mình vô lí. Từ nhỏ đến giờ anh Thành vẫn coi mình như em ruột. Tình yêu của mình là đơn phương. Đơn phương thì đau khổ, tức giận vô cớ với người con gái được người con trai mình yêu yêu thực lòng; chỉ có những người nhỏ nhen nếu không nói là đê tiện thì mới như vậy. Từ khi nhận ra điều phức tạp mà đơn giản ấy, Na dần dần thay đổi cách cư xử với Thuý. Hễ gặp Thuý là Na vồ vập trước, nhiều lần Na mời Thuý đi ăn kem. Dù đang rất bận, Thuý vẫn nhận lời. Thuý hiểu những day dứt, chua xót, cả sự cao thượng mới chớm nở trong lòng Na.

Có lần mụ Kinh Coòng ngồi rửa rau muống trên bến sông, Na đang tắm, bơi lượn trước mặt mụ. Mụ ngoắt Na vào. Na ngồi lên phiến đá bên cạnh. Mụ liền oang oang:

- Báu bổ chi cái thằng con hoang mà mi cứ đeo đuổi hắn. Con hoang nó yêu con hoang. Nó lấy nhau là phải đạo rồi. Mi là con nhà tử tế...

Không nói không rằng. Na hất tung rổ rau muống lên bờ, rồi xô mụ Kinh Coòng ngã nhào xuống nước. Bến sông sâu, may mà mụ Kinh Coòng biết bơi. Vừa lổm ngổm bò lên bờ, mụ vừa chửi Na là đồ con đĩ. Na đâu có vừa, dù em đang ở tuổi học trò. Hai tay xỉa xói vào mặt mụ:

- Tôi nể bà là người trong họ, không thì tôi đánh cho bà một trận. Bà không được xúc phạm mẹ con anh Thành, mẹ con chị Thuý. Lần sau bà còn gọi tôi là con đĩ, tôi nhất định cho mấy cái răng của bà đi... sơ tán!

- Tao thách mi đánh tao, đánh đi!

- Này đánh! Nói chưa dứt câu. Na đấm thẳng vào mặt. May mà mụ Kinh Coòng kịp giơ cái rổ lên che, Na dang cả hai tay khoẻ mạnh của tuổi mười bảy, một lần nữa xô mụ Kinh Coòng xuống sông.

- Ơi bà con làng nước ơi, nó giết tôi, nó giết tôi. Cứu tôi với! Con đĩ Na nó giết tôi, ới làng nước ơi...

Bà con đứng dọc bến sông, từ nãy đến giờ chứng kiến sự việc chỉ cười. Ông lão Tần, phơ phơ tóc bạc, cười móm mém: Mụ Kinh ơi, mụ có chết cả làng này cũng chẳng ai thương.

Na từ bến sông leo lên bờ, để nguyên quần áo ướt đi về nhà. Mụ Kinh Coòng lại buông theo lời xỉ vả:

- Con nhà tử tế, cha mẹ đàng hoàng, yêu người tử tế không yêu lại say như điếu đổ cái thằng con hoang mà không biết nhục! Con gái nhà họ Lê nhà choa không có thứ đó, đồ mất nết.

Ôm bộ quần hoa sặc sỡ Na bước thẳng, không thèm ngoái lại. Về đến nhà, chui vào buồng thay quần áo rồi cô lăn ra giường, ôm gối khóc tức tưởi. May mà cả nhà đi vắng. Cơn tức giận nguôi dần, thôi khóc, Na lại nghĩ về Thành. Ngày nhỏ mọi người trong làng đều nói với lũ trẻ, bố Thành là bộ đội, chiến đấu ở mặt trận miền Tây Nam Bộ không biết thất lạc hay đã hy sinh đến nay vẫn không thấy có giấy báo tử... Mãi cho đến khi gần tuổi trăng tròn, Na mới biết về số phận của Thành. Không phải ai mà chính anh Thành kể cho Na nghe tường tận...

Ngày đi thanh niên xung phong cô Ngoạn mới mười chín tuổi, hết đội bom ở Bến Thuỷ, Đồng Lộc... rồi vào mở đường tận miền tây Quảng Bình. Năm cô xuất ngũ về làng đã ngoài ba mươi. Cha mẹ cô mong ngóng hai đứa con. Một thằng anh bộ đội, một đứa em thanh niên xung phong cứ biền biệt ở phương trời xa ngái. Không một lời nhắn về, không một lá thư. Đến khi nhận giấy báo tử người con trai, mẹ cô Ngoạn vật vã mấy ngày, nằm liệt giường cả tháng, khi đứng dậy đi lại được thì... hoá điên. Ngày ngày cầm một cành cây trên tay, hết ra chợ nhảy múa lại đi dọc bờ sông nói lẩm bẩm đúng hai câu "con Ngoạn sắp về lấy chồng, thằng anh nó cũng sắp về lấy vợ". Nghe vậy bà con làng nước thương quặn lòng. Có người nhìn bà, ái ngại: Anh ấy hy sinh rồi, thôi bà về nghỉ đi, con dắt bà về nào. Bà lão cãi: Hắn hy sinh chứ đã chết mô! Bà con đứng xung quanh không ai nỡ cười trước câu nói ngớ ngẩn của bà mẹ mất con. May mà cha cô Ngoạn biết nén cái đau cái thương vào lòng để khoẻ mạnh chăm sóc, cơm cháo cho bà lão.

Hơn một năm sau bà lão về với đất để lại ông lão đơn côi. Chiều chiều ông ra bến sông nhìn về phương trời xa lắc, ngóng chờ đứa con gái. Trời thương, cuối năm bảy hai ông lão nhận được thư con từ tận đường 20 trong Quảng Bình gửi về kèm theo một tấm ảnh chụp chung với hai người bạn trai và ba người bạn gái. Đúng dịp cô Diệu kỹ sư nghỉ phép về làng, ông đưa cho Diệu xem thư và xem ảnh. Diệu tính tình xởi lởi pha chút láu cá, liền chỉ anh thanh niên đứng cạnh Ngoạn trong ảnh, cao ráo, khuôn mặt hốc hác nhưng hai mắt sáng, nụ cười tươi, dáng dấp đẹp trai, bình phẩm:

- Chắc anh này là người yêu của Ngoạn. Đứng sát với nhau thế này chụp ảnh, thường là những người yêu nhau, ông ạ. Vài hôm nữa ra Hà Nội, con viết thư cho Ngoạn nói Ngoạn gửi về cho ông một tấm ảnh chỉ hai người chụp với nhau.

Ông lão cười:

- Được rứa thì hay quá. Khi mô hoà bình con Ngoạn dắt anh ni về làng, ông tổ chức đám cưới linh đình rồi cho anh ở rể. Hai đứa mà thuận lòng thì sướng quá, con hè.

Ngoạn chưa kịp về để thực hiện điều tưởng tượng của Diệu, thì dịch sốt thương hàn đã đưa ông lão về với bà lão.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #65 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2011, 04:11:50 pm »

Mùa thu năm Bính Thìn (1976), Ngoạn khoác ba lô con cóc, đội mũ tai bèo về làng thì chỉ còn lại ngôi nhà lá đơn sơ và cái bàn thờ với ba tấm ảnh cha mẹ và anh trai, vây quanh tấm bằng tổ quốc ghi công. Điều cô ngạc nhiên là ba nén hương ai đó vừa mới thắp toả khói thơm khắp nhà.

Buổi đầu bà con làng nước, dòng họ, mỗi người một tay xúm lại sửa chữa ngôi nhà bao năm lạnh lẽo không có hơi người. Sự cảm động của Ngoạn rồi cũng mau chóng qua đi, chỉ còn lại nỗi cô đơn, sự mất mát người thân và đồng đội là còn mãi day dứt...

Mỗi lần bà Tám, cô ruột, bà Quỳnh, dì ruột nhắc đến chuyện chồng con, Ngoạn chỉ thở dài và buông một câu: Con già rồi biết lấy ai, ai lấy. Có ông nào vừa đôi phải lứa, cô với dì làm mối cho con.

Bà Tám, bà Quỳnh thương cháu, nghĩ đến hạnh phúc của cháu thì nói vậy chứ cả cái xã này nồi tròn đã úp vung tròn, nồi méo đã úp vung méo, chỉ còn bọn choai choai mới lớn và ông Đông goá vợ, tối ngày ôm cái chai rượu đi ngất ngưởng khắp xóm, không thể gả cháu mình cho ông được.

Gần hai năm sống lủi thủi trong ngồi nhà rách nát, niềm vui duy nhất của Ngoạn là nhận được thư của bạn bè, đồng đội một thời, cư ngụ khắp các tỉnh. Thư từ theo năm tháng cứ thưa dần. Đầu năm bảy bảy, Ngoạn ba lô khăn gói ra ga lên tàu. Mọi người trong xã chỉ biết Ngoạn đi thăm bạn, theo như Ngoạn nói. Cuối năm đó Ngoạn bồng về làng một bé trai kháu khỉnh, còn đỏ hỏn. Đó là thằng Thành của ngày hôm nay, làm đám cưói với con Thuý. Khác với cô Lâm dạo nọ, dân xã Vĩnh Sơn cũng ít bàn tán về ai là cha của đứa bé. Cuộc chiến tranh để lại vô vàn những hố bom trong làng, những người trẻ tuổi ra đi không trở về... và bốn đứa trẻ không biết cha mình là ai. Cách nay đã hơn ba mươi năm, dạo cô Liên, chồng đi bộ đội chiến đấu ở chiến trường xa, bặt tin tức bỗng nhiên có chửa. Không biết ai dạy mà trẻ con chăn trâu trong xã cứ hát oang oang theo nhạc của bài "Đường cày đảm đang", một bài hát rất phổ biến của thời bấy giờ:

Từ ngày anh đi ở nhà em chửa hoang / đẻ đứa con trai nó giống cả làng...

Cô Liên xấc bấc xang bang một dạo, mất chức đội trưởng sản xuất, bị khai trừ Đảng. Theo như cách nói của nhiều người thời bấy giờ là rơi xuống hố phân, mất hết. Không có chuyện mất hết. Bố mẹ chồng nhất định không cho Liên ôm quần áo về nhà bố mẹ đẻ. Mẹ chồng cô bảo con là con dâu mẹ. Sinh con trai hay con gái thì cháu vẫn là cháu của ông bà. Mai mốt chồng con về, nó phải biết thông cảm và tha thứ cho con. Bằng không, mẹ sẽ lấy thêm vợ cho nó, làm nhà riêng cho nó ở thì con vẫn là vợ cả, đứa tê là vợ lẽ. Cả lẽ gì cũng là vợ cả.

Ba năm sau chồng Liên về thật, lành lặn khoẻ mạnh. Đi đâu anh cũng dắt thằng cu đi theo. Lúc thì ngồi sau yên xe đạp, lúc thì cõng chạy nhong nhong. Thằng bé cười nắc nẻ mỗi lần được bố cù (thọc lét). Từ đó ba năm đôi, mắn như gà. Bây giờ vợ chồng Liên đã có năm con, đứa con gái út mới vào đại học.

Trước cách đối xử cao thượng của người lính đã dẹp tan những lời ong tiếng ve của kẻ xấu miệng. Và trẻ con, không hiểu sao, cũng thôi không hát các bài lếu láo...

Theo "lệnh" hai bên gia đình, Thuý và Thành thức đến một giờ đêm liệt kê danh sách khách mời đám cưới dài mười tám trang sách học trò. Khách trong làng ngoài xã không bỏ sót ai đã đành. Khách là người làng, người trong họ, ngoài họ, những ai thân tình nhất đang công tác, làm ăn buôn bán khắp cả nước, phải gửi thiệp mời đến tận nơi. Sót là không được. Mình phải mời người ta, còn người ta có về hay không đó là việc của họ. Cái danh sách ngoài xã cũng dài dằng dặc đến hơn ba mươi người, mở đầu là ông Lê Mỹ Nhàng hiện đã nghỉ hưu đang ở trong Sài gòn. Ông Nhàng không những là ân nhân của dòng họ Lê mà còn là ân nhân của cả xã. Cái xã Vĩnh Sơn ở vùng quê heo hút này thời nào cũng có người làm lớn. Dưới triều Nguyễn có ông làm đến thượng thư. Không tính ông bộ trưởng đã nghỉ hưu, xã còn vài ông tướng, ông tá đương chức đương quyền, cỡ cán bộ cấp cục, cấp vụ, giáo sư tiến sĩ, bác sĩ... thì, theo cách nói mụ Kinh Coòng là đông như... lợn con. Dù vậy, làng trên xóm dưới vẫn quý nhất ông Lê Mỹ Nhàng. Ông đã xuất tiền xây bốn căn nhà tình nghĩa tình thương cho xã, trong đó có hai ngôi nhà, theo chỉ đạo của ông, xã dành cho mẹ con cô Ngoạn, mẹ con cô Lâm vì là mẹ goá con côi. Ngôi trường cấp II khang trang nằm ngay chính giữa xã, xây hết tám trăm triệu là tiền đóng góp của những người công tác trong ngành ông, lúc ông đang tại chức. "Một người làm quan cả họ được nhờ", câu nói của ngày xưa, bây giờ cũng... xưa rồi. "Một người làm quan, cả xứ... được nhờ". Thời hiện đại, phải nói thế mới... hợp nhãn!

Ông Nhàng về hưu ở lại Sài gòn, một vợ một con gái, không biết làm ăn những gì mà giàu quá vậy? Đó là điều mà dân xã Vĩnh Sơn hay xầm xì bàn tán. Bàn tán cũng chỉ là bàn tán chứ chẳng ai biết đầu cua tai nheo ông Nhàng làm ăn những gì. Mãi cho tới khi có anh nhà báo, cũng là người họ Lê, con dân của làng, làm phóng viên một tờ báo ngoài Hà Nội, từng ngang dọc hết Tây, Tàu, Mỹ; hết Việt Bắc, Tây Bắc, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài gòn, miền Tây miền Đông Nam Bộ... biết tường tỏ mọi chuyện trên đời kể ra, mọi người mới vỡ nhẽ. Anh bảo ông Nhàng lúc từ Hà Nội vào Sài gòn đã được phân cái nhà mặt tiền trên con đường lớn ở quận nội thành. Đến khi ông được đề bạt lên cấp cao hơn, người ta lại điều cho gia đình ông chuyển sang cư ngụ trong một villa chỉ cách chợ Bến Thành không quá hai cây số. Lại vẫn theo lời kể của anh phóng viên, cuối thập kỷ 80 người ta hóa giá rẻ rề như là cho không. Cái này gọi là lộc nước, anh nhà báo bình luận. Ấy vậy mà có đứa lếu láo trong đám nhà báo, dám gọi lộc nước ra chữ khác, na ná như nước. Giấy hoá giá chưa ráo mực, chớp thời cơ, ông bán ngay già với giá gần một nghìn lượng vàng (giá hiện nay thì villa đó phải hơn hai nghìn lượng). Ông mua một ngôi nhà trong hẻm với giá sáu mươi bảy lượng năm chỉ (anh nhà báo nói chi tiết đến từng chỉ, gớm thật!). Hơn chín trăm cây vàng còn lại, ông ra ngoại thành mua đất, phân lô, bán lại cho mọi người. Giá đất tăng vòn vọt. Ban đầu giá mua một bán gấp hai gấp ba, đến những năm cuối thế kỉ đất ông mua một, bán gấp năm gấp bảy. Ngoài việc mua bán đất, ông còn xây nhà khắp các quận huyện để cho thuê. Kể đến đó, anh nhà báo hạ giọng: cho đến nay, đất của ông nằm rải rác nội thành, ngoại thành, còn chừng vài hécta chưa bán. Nói đi phải nói lại, cũng có người được lộc nước, bán, mua nhà khác nhỏ hơn để ở. Tiền dư ra gửi về quê xây nhà thờ họ, xây trường, lập quỹ khuyến học. Số người làm giàu sống sa đọa rồi đạo đức giả kiểu ông Nhàng không nhiều nhưng cũng chẳng ít.

- Số người thực lòng nghĩ đến quê hương bản quán nhiều hay ít hơn loại người như ông Nhàng?

Anh nhà báo:

- Bà con bắc thang lên hỏi trời, chớ tôi không biết...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #66 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2011, 04:17:54 pm »

Nghe anh nhà báo nhởn nha trò chuyện, chồng cô Liên, cái anh bộ đội coi con người như con mình, rít một hơi thuốc lào, nghểnh cổ nhả khói lên trời, hạ giọng:

- Ông Nhàng biết nghĩ đến dân làng như thế là quá tốt, kể ra ông cho chừng này tiền để xây dựng xã là còn quá ít, giá như ông cho mỗi thằng lính như tôi một cái nhà thì hay biết mấy.

Cô Liên nguýt chồng, vừa đi vào bếp vừa nói: cho tất cả các ông cựu chiến binh nhà anh mỗi người một cái nhà, có tiền là vỏ hến.

- Mẹ nó chẳng biết cái gì cả. Cựu chiến binh xã này, hồi mới hoà bình là hơn tám mươi người, gần ba mươi năm nay, chết dần chết mòn, bây giờ chỉ còn lại hai mươi ba mống. Mỗi cái nhà, cao nhất là tám triệu, tính ra tất cả, cũng chưa đến hai trăm triệu.

Chồng cô Liên buông điếu cày đứng lên nói với tất cả mọi người đang ngồi xung quanh:

- Ông Lê Mỹ Nhàng giàu nứt đố đổ vách như rứa là cũng nhờ xương máu của bọn lính tráng chúng tôi, đúng không anh nhà báo?

Mụ Kinh Coòng từ nãy giờ chỉ há hốc mồm ngồi nghe, lúc nãy nhổ quệt trầu vào góc nhà, to tiếng:

- Xưa nay tôi cứ nghĩ ông Nhàng rộng lòng, cho xã như thế là nhiều. Bây giờ mới biết của nả nhiều như rứa, số tiền xuất ra cho xã từ trước đến nay chỉ mới bằng một nắm thóc trong kho thóc. Khi mô ông Nhàng về đây, tôi đề nghị uỷ ban xin tiền ông xây thêm cái trạm xá với mấy ngôi nhà cho các gia đình liệt sĩ. Xã ta có bao nhiêu liệt sĩ? - Chưa ai kịp trả lời, mụ đã quay sang hỏi anh nhà báo: - Thế chú có biết vợ ông Nhàng làm chi không, chẳng lẽ chỉ ăn rồi chơi à.

Anh nhà báo chẳng thèm nhìn vào mặt mụ Kinh Coòng, đáp:

- Bà ấy gốc gác con nhà nông, ngồi chơi, chịu sao nổi. Bà cũng chạy ngược chạy xuôi buôn bán bằng nước bọt, rồi chơi hụi, quê ta gọi là chơi họ. Thắng cũng nhiều, bể hụi cũng lắm. Hồi mới vào Sài gòn bà xấp xỉ bốn mươi, nghe nói chịu khó đi đền đi chùa, xin một thằng con cầu tự. Trời phật cũng thương tình, đâm nụ kết hoa cho một cái bầu. Thời đó chưa có siêu âm, bà đi thầy lang bắt mạch bốc thuốc, nghe nói con trai. Mừng hơn bắt được vàng. Đến tháng thứ bảy vô ý vô tứ, xuống cầu thang trượt ngã. Thế là sẩy thai.

Mụ Kinh Coòng suýt xoa:

- Tội nghiệp hè, rứa là vẫn không có thằng chống gậy. - Mụ lại ngoảnh sang anh nhà báo: - Lâu nay chú có gặp ông bà ấy không?

Anh nhà báo:

- Ông vẫn tráng kiện, da dẻ hồng hào, chỉ tóc là trắng như cước. Còn bà Nhàng, mới ngoài sáu mươi, ăn uống muốn gì có nấy, ấy vậy mà gầy còm như cây sậy, hệt bà lão "cổ lai hy", chẳng bù cho cô giúp việc béo phây phây. Còn cô con gái, du học bên Liên Xô. Hồi Liên Xô tan rã, sẵn đô la trong tay, cô dông tuốt sang Mỹ. Học hành bằng cấp thế nào không ai hay, chỉ biết là cô lấy một ông chồng Mỹ nghe nói cũng nghèo, thất nghiệp. Ông bà Nhàng có đưa cho tôi coi ảnh cháu ngoại. Một đứa cháu gái bụ bẫm, tóc vàng mũi tẹt, vừa giống búp bê vừa giống vượn.

Mụ Kinh Coòng từ nãy đến giờ lắng nghe, đột nhiên thở dài: - Tội nghiệp hai ông bà già, con trai không có, con gái lại làm me Mỹ. Ông trời chi mà ác rứa hè!

Dân xã Vĩnh Sơn chuẩn bị lễ cưới cho Thuý và Thành nhiệt tình hết chỗ chê. Trang trí hội trường lộng lẫy, hai chữ Hỷ đỏ chói, cắt từ hai khổ giấy to hơn hai cái nia. Lời chúc hạnh phúc cho đôi trẻ bằng tiếng Việt, tiếng Tàu, tiếng Anh... đủ cả. Hai cái rạp dựng ở nhà cô Ngoạn, cô Lâm cao vút trời, rộng mênh mông, bàn ghế để tiếp bà con phải huy động gần như là khắp xã, kê san sát với nhau. Ai cũng nhiệt tình giúp đỡ cô dâu chú rể. Xăng xái nhất, ngoài Lê Thị Na ra, là mụ Kinh Coòng. Mụ Kinh là người khẩu xà tâm phật, cả làng ai cũng biết nên không ai giận mụ. Hai ngày hôm nay, dẹp gánh hàng xén đầu làng, mụ chạy ngược chạy xuôi, hò hét đám thanh niên trang hoàng hội trường, đốc thúc bọn trai trẻ dựng rạp, khiêng bàn khiêng ghế, rửa bát rửa nồi...

Họ hàng thân thuộc của cô dâu chú rể từ ngoài Bắc kéo về, từ trong Nam dồn ra, đã hơn hai chục. Duy có một người, cô Ngoạn và cô Lâm và bà con hai họ trông ngóng là ông Nhàng thì chưa thấy tăm hơi đâu cả.

Ngày tốt, giờ tốt đã được thầy coi. Đúng đầu giờ Thìn, họ nhà trai đến rước dâu. Bong bóng nổ đùng đoàng thay pháo. Vui quá trời. Hai họ cười nói, trò chuyện, ăn uống, vài người say bét nhè. Cuối giờ Ngọ mọi người lục tục kéo nhau lên hội trường để đại biểu chính quyền đoàn thể, họ nhà trai nhà gái... kính thưa và hát hò.

Ông chủ tịch xã vừa bước lên micrô vừa gõ thì nghe tiếng ô tô. Ngoài nhìn ra cánh đồng thấy chiếc xe màu phớt trắng đang từ từ bò vào làng. Không ai bảo ai, mọi người reo ầm lên: Cụ Nhàng, cụ Lê Mỹ Nhàng về đúng lúc quá!

Chiếc xe vừa bò vào sân hội trường mọi người đã xúm đông xúm đỏ vây quanh. Chú tài xế bước ra khỏi xe, không còn cách nào dẹp được bà con, mở cửa cho ông chủ. Trong xe, ông chủ Nhàng ăn mặc xềng xoàng, ngoài sự tưởng tượng của bà con. Mãi khi anh tài xế dẹp được đám đông, mở cửa để ông chủ bước ra thì mọi người kinh ngạc khi thấy mặt ông Nhàng tái mét như đít nhái, mồ hôi vã ra như người mới tung chăn khỏi nồi nước xông. Bước xuống xe, loạng choạng, hình như ông cố gượng đứng lên thật vững. Không kịp bước vào hội trường, ông rướn người đưa hai tay lên trời, không phải nói mà kêu, mà hét thật to: - Trời ơi! con Thuý, thằng Thành, cả hai đứa đều là con tôi, đều là người họ Lê.

Chỉ nói được vậy, rồi ông ngã nhào ra sân.

Mụ Kinh Coòng hét lên: - Cấp cứu, cấp cứu mau lên chú lái xe ơi.

Dân xã Vĩnh Sơn không ai hốt hoảng, có lẽ họ đã linh cảm điều này từ lâu, chỉ có bọn choai choai mới lớn là thảng thốt, ngơ ngác.

Ông chủ tịch xã leo lên ghế trước ô tô. Hai anh thanh niên trèo lên ghế sau, đỡ ông Nhàng nằm gối đầu, gác chân lên người họ. Chiếc xe trực chỉ hướng về bệnh viện huyện

Mụ Kinh Coòng lặng lẽ nhìn theo, thở dài...

Trước thềm hội trường, cô Ngoạn cô Lâm đứng cứng đờ, vô cảm như hai cái cột điện.

Hơn hai mươi năm trước các cô đi "kiếm" một đứa con mong ấm cửa ấm nhà, lúc tuổi già có nơi nương tựa, láng giềng làng nước ai cũng thương mến và cảm thông. Các cô cứ ngỡ tìm đến ông Nhàng là "giống" tốt của một dòng họ bề thế, có bề dày lịch sử mà quên rằng họ Lê hay bất cứ họ nào cũng có người anh hùng và thằng đốn mạt. Bất hạnh đã ập đến và hạnh phúc không mỉm cười. Nhờ cuộc chiến tranh đẫm máu, ông Nhàng hoạt động ở những vùng hậu phương xa ngái, nơi hòn tên mũi đạn không lao tới mà mau chóng thăng quan tiến chức. Khi cuộc chiến tranh kết thúc, ông lại sống ở thành phố giàu đẹp, hưởng nhiều bổng lộc, sống thừa mứa để... luôn dâm dật chân tay. Ngoài đứa con gái chính thống, ông cũng không tài nào biết hết những đứa con vương vãi của mình đang sống cù bơ cù bất ở khắp mọi miền đất nước và bầy con đói khát mà mẹ chúng một thời là các chiến sĩ anh dũng ngoài mặt trận, nay đang cư ngụ tại "làng không chồng" cách xã Vĩnh Sơn không bao xa.

Mụ Kinh Coòng ngồi thụp xuống đất, tấm tức khóc và nói như nói riêng với chính mình: - Khổ cho thằng Thành với con Thuý. Con Thuý có chửa ba bốn tháng rồi, nhìn vào cái ngực, cái cổ nó là tôi biết. - Mụ bỗng la lên: - Làm răng bây giờ trời ơi, chức quyền tiền bạc mà làm chi để hại đời hai người đàn bà, hại cả dòng họ Lê nhà tui.

Cụ Hiền mấy hôm nay vui vẻ đi khắp làng xởi lởi thăm hỏi mọi người, bây giờ trầm ngâm chắp tay sau lưng đi đi lại lại, bỗng cụ ngẩng lên nói như quát:

- Cấp cứu mà làm gì. Hạng người đó chết đi cho sạch xã, sạch nước!

Dứt lời cụ quay gót đi thẳng. Nhiều người nhìn theo cụ. Cụ cũng là người họ Lê, vai chú Lê Mỹ Nhàng. Cụ là tiến sĩ ngữ văn, dạy học trong Sài gòn, cũng đã nghỉ hưu.

- Thằng Thành, con Thuý chạy đi đâu rồi? - Vẫn là câu hỏi thảng thốt của mụ Kinh Coòng.

Mấy hôm nay trời đã mưa rả rích suốt ngày đêm, báo hiệu sắp có lụt lớn. Xe cấp cứu ông Nhàng vừa chuyển bánh được một lát, trời bỗng vặn mình nổi cơn bão, mưa như ném đá vào các nóc nhà, cây cối... Con sông Vạn Phường chảy dọc làng gầm réo, gạch đá, rác rưởi... tuôn ào ào. Lũ quét đã về... Tiếng loa kêu gọi chống lũ oang oang. Sẽ ra sao sau cơn lũ này, làng xóm của tôi?

X.Đ
(177/11-03)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #67 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 02:32:51 pm »

Cồn cát

ĐỖ KIM CUÔNG


Nhiều năm trôi qua tôi đã trở thành người đàn ông đứng tuổi. Có một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Nhưng mỗi lần nghĩ về nàng, một người đàn bà chỉ kịp quen trên chuyến đò từ Huế ra Phong Điền, chia tay nàng để nhiều năm sau, tôi mới được gặp lại nàng trong một hoàn cảnh khác, tôi vẫn giữ nguyên một cảm giác hết sức lạ lùng. Một ý nghĩa luôn ám ảnh tôi khá kỳ quặc rằng: Tôi đã bị nàng hiểu lầm, là một chàng lính giải phóng “hám gái, dại khờ”... Bởi vì sau vụ việc ấy, chính tôi cũng rủa thầm mình là ngu ngốc.

Giải phóng Huế được mấy ngày, tôi bước sang tuổi 24. Tạm xem là một gã con trai mặt mũi sach sẽ, sáng sủa. Chưa một lần yêu. Lứa tuổi chúng tôi, chẳng có thời gian và điều kiện làm cái công việc trọng đại ấy. Tôi vất những trang vở cuối cùng sau kỳ thi tốt nghiệp phổ thông cấp III, năm ngày sau tôi đã có mặt trong đội lính đi chiến trường. Nối tiếp những trận đánh nhau mà một ý niệm duy nhất cần hiểu: chiến tuyến phía bên kia là địch, là những trận đánh ác liệt, là đói khát và cái chết. Đã có vô số bạn bè cùng vào chiến trường với tôi ngày ấy, đã không trở về... Chính vì vậy, tôi đã ngỡ ngàng lần đầu đứng trên dốc cầu Trường Tiền nhìn muôn vàn tà áo trắng của đám nữ sinh văn khoa, khoa học, sư phạm của đại học Huế như một đàn cò phấp phới bay trên những chiếc xe đạp mi-ni lạ mắt. Cô nào cũng đẹp, cũng xinh, môi son, má phớt hồng. Các cô đi quét dọn trường sở, đường phố, làm trật tự viên...

Cho đến bữa tôi được gặp nàng trên chuyến xe đò thưa khách đi Phong Điền. Nàng mặc chiếc áo dài màu mỡ gà, quần trắng, đội nón Huế mỏng tang. Mãi tới khi chiếc xe vượt qua cầu Hiền Sĩ tôi mới bắt chuyện được với nàng. Tiếng được tiếng mất khuất lấp trong tiếng máy xe nổ giòn và cặp mắt tò mò của những người ngồi quanh. Tôi chỉ hiểu một cách mơ hồ: Nàng đã đi dạy học được hai năm, tại một trường tiểu học ở Phong Điền. Nàng nhận được tin thông báo trên loa truyền thanh “công chức các sở, giáo viên, giáo sư... phải đi trình diện tại công sở của mình”, “đương sự sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Đại loại những kiểu thông báo na ná giống những thông báo cho các sĩ quan, binh lính ngụy quyền Sài Gòn phải ra nộp súng, đầu thú trình diện ngay tại chỗ... Nàng càng sợ.

Lúc chiếc xe dừng lại ở dãy phố thị trấn Phong Điền vắng ngoe vắng ngoét, bóng áo bộ đội giải phóng nhiều hơn bóng áo dân, tôi chỉ nhận được ở nàng cái chụp nón lên đầu, nguẩy mông và bước xuống cửa xe đã mở sẵn với một câu chào xã giao rồi không một lần ngoái đầu nhìn lại. Hình như tôi cũng vội đi tìm Thu, một người lính cũ cùng đơn vị. Loanh quanh một hồi trong huyện đội, té ra thằng nhỏ trước cùng đơn vị với tôi đã được huyện điều về làm bí thư xã Phong Lai. Tôi ăn vội chén cơm trong nhà ăn tập thể huyện đội, rồi ra bến xe định quay về Huế.

Mới có xế trưa. Nắng tháng tư đổ lửa xuống những mái nhà tôn, con đường trải nhựa láng bóng như gương. Vài cái xe ca, xe đasu, xe lam chở khách. Mấy gã lái xe ngái ngủ hoặc ngồi lai rai trong quán nhậu uống la-de. Mùi mực nướng thơm nồng chỉ càng làm cho tôi thêm háo nước. Một cái xe đang chờ khách đi Huế chỉ có đôi ba người, chính lúc ấy tôi nhìn thấy lưng áo màu vàng mỡ gà của nàng ngồi khuất sau một gốc cây bàng. Và cái ánh mắt hơi sáng lên rạng rỡ của nàng khi nhận người bạn đồng hành trên chuyến xe buổi sáng, khiến tôi quên đi vẻ khiếm nhã của nàng lúc chia tay, tôi nở một nụ cười nửa như ngạc nhiên, nửa như có ý hỏi: Sao cô còn ở đây? Nhưng trong tiềm thức sâu thẳm của tôi đã thích những từ “dạ”, “thưa vâng” cái chất giọng ngọt ngào tưởng như có thể cắn ăn được.

- Sao chị chưa đi về trường?
- Tội em quá anh ơi! Không có xe đi Cao Ban- Sơn Tùng. Mấy người ở đây biểu với em cây cầu bị sập. Chừ em không biết tính răng? Không tới “trình diện” đúng thời gian, sợ cách mạng phạt. Muốn đi lại không có xe...
- Chẳng lẽ không còn một phương tiện nào khác ư? Tôi e ngại dùm cho nàng.
- Chỉ còn cách đi bộ, đạp đường tắt qua làng, qua cồn cát Triều Dương...
- Chị có thể đi bộ mười hai cây số? Tôi tròn mắt ngạc nhiên và nhìn nàng.
- Giá như có người quen ở làng cùng về, em sẽ đi. Nhưng chờ mãi, em chưa gặp một ai.
- Nếu chị muốn, tôi sẽ cùng chị đi Cao Ban- Sơn Tùng. Tôi cũng có chút việc ở đấy... Tôi... đi tìm một người bạn!

Nhiều năm sau, tôi không thể nào giải thích được cái giây phút đưa ra quyết định đường đột vào lúc ấy. Tôi sẽ cùng nàng cuốc bộ hơn ba giờ đồng hồ giữa trưa hè nắng chang chang, băng qua những triền đồi cát chỉ mọc toàn thanh hao, dứa dại, xương rồng bàn chải. Và chỉ có hai người. Một đàn ông, một người đàn bà mới quen nhau trong chuyến xe đò tình cờ.

Suốt cả tiếng đồng hồ, lúc tôi chủ động gợi chuyện nàng, lúc tôi cố nghĩ ra những câu chuyện về thủ đô Hà Nội, về Hồ Gươm, chuyện các cô gái thanh niên xung phong trên những con đường Trường Sơn ác liệt. Về tuổi thơ đi học của tôi trong tiếng máy bay phản lực gào rú, bom nổ ở cái thị xã nhỏ nhoi bên sông Trà Lý. Còn nàng trả lời tôi từng câu một về chuyện đi dạy học trò, lương tháng giáo viên. Giải thích cho tôi cặn kẽ thế nào là giáo sư đệ nhị cấp, đệ nhất cấp. Tú tài một, tú tài hai, ban A, B, C, D. Có lúc tôi triết giảng về Mác, nàng bình phẩm Hê-Ghen, Giăng Pôn-sác...

Chỉ có điều trong suốt quãng đường bốn cây số đầu tiên ấy, đội hình hành quân theo hàng một. Nghĩa là tôi đi trước, nàng theo sau. Đến một chặng khá dài, tôi dừng lại chờ, nàng vọt lên đi trước, tôi bám gót. Vâng, những đoạn bám đuôi ấy, tôi sung sướng thỏa thuê ngắm nàng. Một thân hình mảnh dẻ, da trắng gương mặt hồng lên vì nắng. Chiếc áo dài màu mỡ gà dán vào người. Ở khoảng giữa hai vai tôi thấy màu vàng hơi sẫm lại vì mồ hôi ra ướt lưng áo. Đôi tay nàng thon nhỏ, có những ngón búp măng. Sang đến giờ đi bộ thứ hai nàng có vẻ đuối mệt. Chốc chốc nàng lại tụt lại phía sau. Có thể tôi là một người vô ý, nhiều lúc cứ lãng quên giữ theo nhịp bước của một người quen đi trong rừng, bỏ rơi nàng cả đoạn dài. Thêm một chút tự ái của kẻ trai biết người bạn đồng hành giữ ý trong lúc trò chuyện với mình. Thậm chí tôi còn có ý nghĩ rất cực đoan: nàng chỉ muốn tôi làm cây gậy chống để băng qua cái trảng cát nóng khủng khiếp dài mười hai cây số. Đường vắng không một bóng người. Tôi có một cây súng ngắn làm bùa hộ mệnh cho nàng. Hoặc giả nàng nghĩ, tôi là một anh lính trẻ dại gái. Nhưng thực lòng lúc ấy tôi thương nàng. Có thể là tình thương của người anh đối với một cô em gái phải vượt qua một chặng đường chông gai, cần được nâng đỡ. Cũng có thể đó là cái chất lửa tình yêu lóe cháy khi tôi bắt gặp trong ánh mắt nàng mà trái tim tôi vội vàng ngộ nhận? Và cũng có khi còn là cái ý nghĩ mơ hồ của một anh lính giải phóng muốn chứng tỏ sự cao thượng trước phái yếu, lại là một cô giáo xinh đẹp ở vùng mới giải phóng! Tôi không nỡ để nàng đi một mình giữa một vùng đất mới qua các cuộc tranh chấp chưa tới nửa tháng trời, đám lính ngụy, ác ôn vẫn còn lẩn quất, chưa ra đầu thú nộp súng. Còn chính tôi luôn tự cãi chày cãi cối cho hành động có vẻ phi lý rằng: nàng cần được giúp đỡ. Tôi có dịp trở lại đi qua cánh rừng phi lao ở bãi cát Triều Dương nhìn nơi giấu quân trong đêm đầu tiên đại đội bộ binh của tôi lọt về đồng bằng Phong Quảng để đánh vào chợ Sịa, Phú Lương. Tôi đi thăm lại những chiến sĩ của tôi đã chết, hiện đang chôn cất tại đó. Mỗi bước đạp lên cát bỏng, tôi lại có hàng tỉ lý do để biện minh cho mình. Bởi giờ là lúc nàng không còn sức để tiếp chuyện tôi nữa, vì mệt. Nàng bám theo tôi lẵng nhẵng như một cái đuôi, tay cầm guốc, đi chân trần trên cát bỏng.

Đến một lúc, tôi phải tự động viên mình bằng cách chọn những bụi tre, cây cao làm đích để đánh đu với sức lực, sự mệt mỏi để cố bươn tới.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #68 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 02:33:38 pm »

Thực tình tôi cũng không hiểu nàng đang nghĩ gì về tôi. Dù nàng có nghĩ gì về tôi chăng nữa cũng thây kệ. Tôi cũng mệt mỏi sau quãng đường dài. Chân căng tức trong đôi dày vải. Chỉ còn nguồn động viên duy nhất mỗi lần nàng đến gần, tôi chờ, lại bắt gặp một nụ cười hé nở và một giọng nói làm cho nao lòng: “Răng, anh mệt lắm hỉ? Sắp tới rồi nghen?”. Bữa mô anh vô Huế, ráng ghé nhà em chơi...”

Gắng mãi, hai kẻ lữ hành trên vùng cát bỏng cũng đến được bãi cát Triều Dương. Tôi dặn nàng ngồi chờ tranh thủ nghỉ lấy sức để tôi đi kiếm nước uống. Tôi khát cháy cổ, mệt rã rời nhưng vẫn còn gắng sức chạy bộ quanh một vòng hồ nước sang phía bên kia tìm bụi chuối non còn sót lại sau những ngày địch tràn vào triệt phá Triều Dương. Sau khi uống no một bụng nước lạnh, có mùi tanh nồng và chặt được hai cây chuối non, tôi chạy trở lại chỗ nàng ngồi, đưa cho nàng, rồi tôi tất tả tìm tới cánh rừng dương cách đấy không xa, ngay cạnh đầm nước. Tôi rút trong chiếc ba lô luôn đeo trên lưng một nắm nhang mua được ở bến xe, thắp nhang và cắm vào những ngôi mộ đất. Mười tám ngôi cả thảy. Họ là những người lính của K4, K10 đã hy sinh trong ngày chống càn, quân ngụy đánh vào bãi cát Triều Dương, đánh vào Cao Ban, Sơn Tùng... Tôi như vẫn hình dung ra gương mặt của cậu Nhiếp y tá đại đội có chiếc răng vàng, cậu Công liên lạc và những người lính của tiểu đội cối... Bất giác, tôi hét lên:

- Mới có mười lăm ngày mà chúng mày đã thành người thiên cổ. Thành phố Huế, Đà Nẵng và cả Sài Gòn đã giải phóng rồi... Tụi bay có biết không?

Giữa lúc tôi đang dàn dụa nước mắt, tôi cảm giác như có bàn tay ai đặt lên vai mình. Tôi quay phắt lại. Và nhìn thấy gương mặt nàng.

- Anh... Em thiệt có lỗi với anh... Đây là những ngôi mộ của đồng đội anh phải không? Nàng nói và ngồi xuống bên tôi.
- Phải... Mộ của bạn bè tôi! Giọng tôi căng cứng.
- Rứa mà em cứ tưởng... Nàng nói mà không dám nhìn vào tôi.
- Tưởng chi? Tưởng tôi lừa chị hử...
- Anh đừng trách em... Em đã có chồng... Chồng em là lính ngụy nên gặp anh em sợ... Em biết anh là người tốt.

Tôi tránh ánh mắt của nàng bằng cách ngồi xoay lưng ra mặt hồ nước. Không gian yên tĩnh quá. Hoang vắng. Hơi nóng đến ngạt thở. Ở một vạt lau lách phía bên kia hồ nước bỗng vang lên tiếng chim bìm bịp kêu rời rạc từng tiếng một.

Tôi không nhìn thấy mặt nàng nhưng cảm thấy rất rõ sự bối rối của nàng. Tôi đứng bật dậy, hệt như mỗi lần chỉ huy đại đội hành quân sau khi hết giờ giải lao mười phút:

- Xuất phát!

Suốt cả quãng đường còn lại hơn bốn cây số chúng tôi không nói với nhau một lời nào. Tôi đi trước, cách nàng chừng mười mét. Có vẻ nàng đã bước mau hơn. Đi được một lúc khá lâu, tôi đã nhìn thấy những ngọn cây, mái nhà ở Cao Ban. Thấp thoáng bóng người phía xa. Thỉnh thoảng bật lên một tiếng súng con, đâu đó khó định hướng.

Khi còn cách bờ tre đầu làng chừng vài trăm thước, dừng lại bên cây cầu gỗ, tôi nói:

- Giờ sắp tới làng rồi...
- Rứa anh không vào làng đi thăm người quen ư?
- Tôi chẳng có bạn nào ở đây cả.. (điều này thì tôi nói dối, nhưng lại là sự thật với nàng). Tôi đưa chị về tới đây an toàn. Chị có thể an tâm trình diện. Giờ tôi phải về thị trấn để kịp chuyến xe. Thôi chào chị!
Tôi không kịp để cho nàng nói một lời dã quay gót.

Đi được chừng vài chục mét, tôi nghe có tiếng người chạy lào xào trên cát, và tiếng gọi với:

- Chú bộ đội.. Chú.. Bữa mô chú vô Huế nhớ hỏi nhà..

Đêm hôm ấy, tôi đã phải trả giá cho cuộc hành quân đi bộ suốt sáu giờ đồng hồ băng qua trảng cát đồi tranh bằng một cơn sốt nóng kinh người. Cậu y tá ở trạm trực dúi vào tay tôi liều thuốc Nivaquin. Tôi đã lẳng lặng quăng nó vào gầm phản, đắp chăn buông màn ngây ngất trong một cơn nhức đầu như búa bổ. Chập chờn mộng mị, tôi chỉ thấy mình khát nước. Tôi còn nghe thấy cả tiếng con bìm bịp kêu buồn bã trên hồ nước, những ngọn cây dương xác xơ bị pháo chém ngả nghiêng đang ứ nhựa..

Nhiều năm sau, nhớ về nàng, tôi thỉnh thoảng vẫn âm thầm tự hỏi: nàng còn dạy ở cái trường tiểu học heo hút ấy, hay đã bỏ nghề? Hoặc giả nàng cùng chồng vượt biển Thuận An trốn sang Hồng Kông, Phi Luật Tân.. Vào những năm khốn khó nhất của đất nước, sắn độn cơm, nhai hạt bo bo, đi xếp hàng mua năm lạng thịt tiêu chuẩn từ lúc gà gáy canh hai. Hay nàng đang ngồi ở một sạp hàng ở chợ Đông Ba, Tây Lộc đọc những tờ báo rẻ tiền hay những cuốn truyện tình? Tất cả đều có thể xảy ra! Hệt như cái quyết định của tôi trong một giây để đưa nàng trở lại với ngôi trường năm nào..

Bẵng đi dễ có tới hơn mười năm. Khi ấy tôi đang làm việc ở một tờ báo tỉnh K. Một buổi sáng, sau cữ cà phê ở quán Cây Sữa tôi nhận được một cú điện thoại. Đầu giây phía bên kia là giọng nói của một người phụ nữ. “Chào anh.. Anh chẳng nhớ ra em đâu. Anh là ân nhân của em ngày còn ở Huế. Em rất muốn được gặp anh, nếu anh thấy tiện..” Ân nhân nào đây? Tôi tự hỏi mình. Cô gái đã được tôi cứu thoát trong ngôi nhà cháy ở Phú Lương B, hay người đàn bà có sáu đứa con, chồng đi lính ngụy chết trận ở A Lưới? Tôi đã bảo cậu quản lý của đại đội cho chị ta cả bao gạo.. Chịu, tôi không sao nhớ nổi.

Đúng chín giờ, tôi có mặt ở quán cà phê ngoài biển, trước cửa khách sạn Hải Yến. Quán đông người nhưng tôi cũng nhận ra chiếc áo váy màu mỡ gà của người khách lạ. Người ấy đang hướng mặt về phía tôi, có ý tìm kiếm chờ đợi. Sau vài giây tôi ngờ ngợ và nhận ra người đàn bà ấy chính là nàng. Vẫn nụ cười kín đáo với hàm răng trắng lóa.. ”Nhờ đọc báo, nghe đài nên em tìm ra anh”. Nàng bảo. “Còn em sau bao năm trôi dạt đi những đâu, bây giờ mới xuất hiện?” Tôi hỏi. “Em vẫn là cô giáo, đi dạy học. Chỉ có điều em đã xa làng Triều Dương lâu rồi. Chừ em sống ở Tây Nguyên”. Trò chuyện một lúc, tôi hiểu rằng nàng đã chia tay người chồng cũ. Vào những năm sau giải phóng, anh chồng ép nàng đưa con đi vượt biên qua Mỹ, nhưng nàng không chịu. Nàng cũng không thể ở lại vùng nông thôn Quảng Điền còn nhiều thành kiến. Đã có lúc nàng định xin nghỉ dạy, về Huế mở tiệm ăn, khi một mình phải nuôi ba đứa con dại và mẹ già. Và nàng đã lên với vùng cao nguyên đất đỏ vừa đi dạy học vừa khai hoang ruộng rẫy tỉa bắp, trồng cà phê.. “Anh có biết không, một trong những lý do khiến em không theo chồng qua Mỹ, chính là chuyến theo anh vượt qua cồn cát về Triều Dương. Kỷ niệm ấy thật khó quên.. Được gặp lại anh, dù chỉ một lần, rứa là em mãn nguyện rồi..”

Và rồi nàng lại tan biến đi hệt như một cơn mưa bóng mây. Đã một đôi lần, tôi lên cao nguyên. Sau những ngày mưa ở đâu cũng ngút ngát, điệp trùng cái màu xanh của những rừng cao su, cà phê, hồ tiêu. Nàng như lọt thỏm, tan biến giữa cái màu xanh ấy.. Và tôi vẫn chưa có dịp gặp lại nàng. Tên nàng là Công Tằng Tôn Nữ Huyền Trang, nhà ở xế cổng Đông Ba.

Đ.K.C
(168/02-03)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #69 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 03:30:45 pm »

Chuyện ở hầm ngày ấy

NGUYỄN TRƯỜNG

Nơi hầm tối là nơi sáng nhất
          (Thơ Dương Hương Ly)


Vừa chân ướt chân ráo về đến xã Vĩnh lúc nửa đêm, tôi nằm chưa chợp mắt, thì pháo hạng nặng từ hạm đội ngoài khơi tới tấp dội vào rung trời chuyển đất. Dứt loạt pháo, đội trưởng du kích Lợi tuôn ra khỏi hầm gọi giật vào: "Trời sáng rồi đồng chí ơi! Chắc hôm nay địch càn vùng này thôi!". Tôi hoảng lên, quơ vội ba lô và chiếc thắt lưng lao ra. Một cảnh tượng ngổn ngang của cây cối đổ ngã đang còn khét lẹt mùi khói đạn đập vào mắt làm tôi rùng mình. Tranh thủ giữa hai loạt pháo, Lợi đem tôi chạy như bay qua mấy đám ruộng vừa gặt xong vụ tám. Đến một cồn cát dốc lài lài, Lợi bảo tôi chạy trước, còn mình đi sau để xóa dấu vết.

Cồn cát dài và rộng ra đến tận bãi biển, lưa thưa mấy hàng cây phi lao, còn toàn là xương rồng và bốm gai nhọn lúp xúp. Sau đợt pháo cấp tập kéo dài, giờ đây tất cả trở lại yên tĩnh đến lạnh lùng. Chỉ có tiếng ì ầm của sóng biển vọng vào và tiếng vi vút của hàng phi lao vật vờ trong gió sớm nghe rờn rợn như đang báo hiệu một ngày bão tố dữ dội sẽ ập tới bất cứ lúc nào.
Chạy quanh co một lúc, Lợi dừng lại, đưa tôi cầm hộ cây súng các - bin, rồi quỳ xuống dùng tay bới bới lôi lên cả cái nắp hầm đầy cát chảy ròng ròng xung quanh. Lợi giục tôi "xuống mau", xong, cửa hầm sập xuống. Lợi vội vã lao đi.

Căn hầm tối om om, bốc mùi ẩm ướt hăng hắc đến nghẹt thở. Loạt đạn pháo thứ hai lại ầm ầm trên đầu làm cho căn hầm giật lên rùng rùng như đánh võng. Ngồi một lúc, tôi bắt đầu thấy xót xáy và chẳng yên tâm chút nào. Hầm đâu mà hẹp lại ở ngay chính giữa đường đi. Chắc cũng thuộc loại "hầm làng" ai ở cũng được đây. Hoặc cực chẳng đã mới đưa tôi xuống như thế này. Nhưng nghĩ lại tôi thấy dù sao vẫn hơn là chạy nổi trên đất để thí mạng cho bom rơi đạn lạc lúc này. Bây giờ tôi mới đâm ra cảnh giác. Nhìn bộ dạng đội trưởng du kích Lợi mới quen từ lúc nửa đêm tôi thấy lo lo. Người trông rắn rỏi, điển trai mà sao mặt cứ lạnh như tiền. Khi đọc xong giấy giới thiệu của trên, Lợi chẳng nói chẳng rằng, đưa ngay tôi vào ngủ hầm tránh pháo, sau đó xách súng đi đâu đến gần sáng mới về.

Giờ đây tôi như cá trong nò. Ngồi dưới hầm tối, chỏng tai nghe tiếng đại bác, rồi trực thăng quần lui quần tới xoành xoạch cùng tiếng đạn rốc - két, trọng liên nổ chát chúa trên đầu, tôi co mình lại, tưởng tượng ra bao tình huống xấu nhất có thể xảy đến. Bỗng có tiếng chân chạy thình thịch rung đất với một giọng nói hấp tấp: "Lợi đây Lợi đây". Tôi vừa nhận ra giọng của Lợi thì cửa hầm đã bật lên: "Đồng chí cho thêm một người nữa". Một bóng người tay cầm túi xách vội tụt xuống. Cửa hầm lập tức đậy lại ngay. Tôi hết sức thắc mắc. Hầm chật mà nhét hai người ư! Trong khi tôi chưa rõ người vừa xuống là ai thì đã nghe giọng của cô gái nói trong tiếng thở dốc: "Anh là anh Thống phải không? Tội nghiệp, mới về chưa kịp nghỉ một chút lại phải chịu cực rồi!". Tôi ngạc nhiên. Song đoán cô gái cũng là du kích. "Cô ở trung đội của anh Lợi à?". "Em là y tá, em ruột anh Lợi". Cô gái còn thủ thỉ: "Căn hầm này anh Lợi tự đào lấy để ở một mình và chỉ có hai anh em biết thôi!". Nghe cô gái nói tự nhiên tôi thấy vợi bớt lo lắng phần nào.

Sau đợt trực thăng vũ trang bắn phá ác liệt là tiếng rầm rầm như cối xay lúa của máy bay phản lực và trực thăng vận. Cả không gian như rạn vỡ ra từng mảng bởi tiếng gầm ré kinh hãi của động cơ phản lực nhằm uy hiếp đối phương và hỗ trợ cho tốp đổ quân xuống vùng này. Cô gái đoán ngay trực thăng đang đáp xuống cánh đồng tôi và Lợi vừa chạy qua để tới đây. Qua lỗ thông hơi lọt xuống một thứ ánh sáng mờ đục, tôi cố quan sát xem khuôn mặt và biểu hiện của cô gái ra sao trong tình thế này. Nhưng đành chịu. Căn hầm vẫn tối như bưng.

Lúc này mọi động thái diễn ra trên mặt đất, sau một giờ ồn ào náo động, bỗng chốc yên lặng đến lạnh người. Tôi thấm mệt và lả đi, cho đến khi cô gái lay vào vai: "Ngồi dậy! Tụi nó đi xăm hầm kìa!". Lắng tai. Đúng là có nhiều tiếng chân giày bước xột xạo trên cát cùng với tiếng cọc sắt cắm xuống phầm phập nghe mỗi lúc một gần. Chốc chốc tiếng súng tiểu liên bắn chúi xuống đất đinh tai nhức óc. Sau mỗi loạt súng là tiếng la hét, đe nẹt nhằm khủng bố tinh thần của bọn lính. Rồi tiếng gọi chiêu hồi phát ra từ chiếc loa tay nghe éo éo. Tôi toát mồ hôi. Tim như muốn nhảy ra ngoài. Còn cô gái ngồi điềm nhiên như chẳng có chuyện gì xảy ra. Hình như đoán được gan ruột tôi lúc này, cô gái trấn an bằng cách ghé tai tôi thì thầm: "... Anh biết không, bọn địa phương quân và lính Hắc Báo làm ra vẻ hùng hổ thế vì tuân lệnh thượng cấp, chứ ở vùng này đã xảy ra mấy vụ xăm phải hầm, lập tức lựu đạn bật nắp tung lên mù mịt, cùng với AK mặt đối mặt sát ván một mất một còn, khiến chúng cũng từng khiếp vía kinh hồn rồi. Có lần phải gọi cả trực thăng cứu thương đến giải quyết hậu quả nữa đó! Sau mấy lần tự rước họa vào thân, nay bọn này xem ra cũng ớn, nên chỉ xăm qua loa rồi xéo ngay thôi!". Cô gái kể một mạch làm nửa tai tôi ham lắng nghe, còn nửa tai kia vẫn chỏng lên xem động tĩnh bên trên thế nào.

Khi tiếng cọc xăm hầm đã xa dần, tôi thở phào nhẹ nhõm thì cô gái cười khúc khích: "Anh hãi quá phải không? Anh em mình ngồi hầm kiểu này thì địch cần gì phải đi xăm cho mệt. Hầm ở chính giữa đường ai mà chẳng biết!". Câu nói nửa thật nửa đùa của cô gái làm tôi cứ ngẫm nghĩ mãi. Có lẽ ở một vùng giải phóng mà địch thường chà đi xát lại thành vành đai trắng nên buộc du kích phải biết cách đánh lừa như thế mới bám trụ nổi lâu dài. Giờ tôi mới thấy sự cảnh giác của mình quả ngây ngô và càng thấu nỗi gian nguy mà người chỉ huy du kích xã này phải nếm trải hàng ngày. Tôi chột dạ vì sự cả đoán của mình lúc ban sáng.

Những giờ khắc căng thẳng tột độ đã qua. Tôi ngã mình xuống cố ngủ lấy một giấc. Thế mà cứ trăn qua trở lại không sao chợp mắt nổi. Tôi quay sang cô gái: "Cô tên gì nhỉ?". "Em tên Hường ạ!". "Hường tham gia đã lâu chưa?". "Mới sáu tháng!". "Hường đã có người yêu chưa?". Chẳng hiểu sao không trả lời. "Hường học hết lớp mấy?". "Xong 12". Tôi không hỏi thêm nữa, nằm im hồi lâu. Miệng khát khô và bắt đầu ho khúc khắc. Đột nhiên một bàn tay của Hường sờ lên trán tôi. Chắc là y tá kiểm tra sức khỏe đây! Bàn tay mềm và mát lạnh cùng hơi thở âm ấm phả ra bên tai gây nên cái cảm giác mơn man dễ chịu làm sao. Một anh con trai gần ba mươi tuổi với bao ham muốn lứa đôi rạo rực trong lòng, thế mà chưa hề một lần được cầm tay con gái nói chi đến việc nằm sát bên nhau, mông kề mông, má kề má như thế này. Cảm xúc hưng phấn chạy rần rần khắp toàn thân. Tôi bắt đầu sinh tâm ý tứ... Càng nghĩ, tôi càng rạo rực. Thử đánh bạo xem sao. Thế nhưng tôi chợt liên hệ đến mấy đồng chí trong cơ quan trên rừng bị kiểm điểm, bị kỷ luật rạt gáo vì quan hệ nam nữ không lành mạnh làm tôi thấy chờn. Vậy mà ác nghiệt thay, hầm quá chật như nêm lấy nhau, khiến mỗi lần Hường và tôi trở mình, hai cơ thể cứ cọ sát vào nhau làm máu trong người tôi rừng rực, nóng bừng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM