Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:13:35 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn - Tạp chí Sông Hương  (Đọc 75428 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #70 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 03:32:30 pm »

Trong lúc đang phân vân với bao ý nghĩ trái ngược nhau thì một cánh tay của Hường vắt lên ngực tôi. Tim tôi phập phồng. Cứ nằm yên chờ xem. Chẳng thấy cử động gì thêm ngoài hơi thở đều đều của Hường. Có lẽ Hường ngủ quên. Tôi bỗng thấy tim mình trào dâng lên một tình cảm nồng nàn đối với cô gái. Học hành thế vẫn ở quê tham gia chiến đấu, chịu bao gian khổ ác liệt vẫn khí khái, yêu đời... Tôi cầm lấy bàn tay cô gái mân mê trên ngực mình. Bàn tay thon thon mềm mại này chắc phải là của một người đẹp đây! Tôi nằm sát vào Hường để cho hai bờ má áp vào nhau trong cái cảm giác đê mê của anh con trai tràn trề dục tính. Bất chợt, Hường tỉnh giấc, vùng vằng rút khỏi tay tôi, rồi nằm quay lưng lại như một phản ứng. Nếu dừng ngang đây thì chẳng chuyện gì. Đằng này hơi quá đà, tôi run run nói lời con tim mình cùng lúc quàng tay ôm hôn rối rít lên tóc, lên môi của Hường. Như một phản xạ tự nhiên, Hường đẩy tôi ra rồi ngồi nhổm dậy quấn tóc lại thành búi, giọng thẳng thừng, đanh và dứt khoát: "Nếu anh còn làm vậy, em sẽ bật tung hầm lên cho mà xem!". Xong, Hường ngồi né vào một góc hầm. Giận dữ. Im lặng. Căn hầm trở nên nóng bức, khó thở. Điên đầu. Bẽ mặt. Biết ăn nói thế nào đây! Rõ là hành vi suồng sã, mông muội của một kẻ không chế ngự nổi bản năng thấp hèn. Tôi lựa lời xin lỗi. Tôi xuống nước thảm hại. Nhờ bóng tối mà tôi không biết ngượng mặt ngượng miệng. Tôi thanh minh đủ điều, thao thao và chờ phúc đáp. Nhưng phía Hường vẫn ngồi yên. Chắc cô ta rắc rối đây. Không khéo lại mách với anh trai mình, hoặc tệ hại hơn, sẽ báo cáo lên trên thì quả là tai họa!

Tôi đang đắng họng, chẳng biết làm cách nào thì có tiếng đằng hắng ở góc hầm, tiếp theo là giọng ngọt pha tí dí dỏm: “Anh Thống à! Nếu anh muốn cũng được. Nhưng phải ra nơi có ánh sáng để biết mặt mũi nhau đã chứ. Rồi anh còn phải nói lời tỏ tình với em nữa, hơi mệt tí thôi, nhưng nếu được mặt được lòng thì cả hai anh em cũng đành phải chờ đợi... phải không anh?”. Ôi, tôi không ngờ lời lẽ nhỏ nhẹ, dịu dàng như mật rót thế kia! Tim tôi lặng đi. Tôi thấy mình nhỏ nhoi thế nào ấy. Dù đã mát mẻ trở lại sau câu nói có lý có tình của Hường nhưng nghĩ lại tôi vẫn thấy bứt rứt làm sao. Không hiểu Hường thật tình hay chỉ để xoa dịu lấy lòng tôi lúc này? Bởi tôi hiểu dưới hầm tối, nơi ranh giới giữa cái sống và cái chết có khi mong manh, gang tấc, vẫn có người sẵn sàng xông lên quyết sống mái với quân thù, song cũng có kẻ nảy sinh tư tưởng sống rày chết mai không biết ra sao, đã dẫn đến hành vi liều lĩnh, sống vội, thậm chí đầu hàng... Phải chăng vì cảnh giác mà Hường tỏ ra khôn khéo đối với tôi? Tôi nằm xuống suy nghĩ lâng lâng rồi thiếp đi lúc nào không hay...

Khi Hường gọi tôi dậy thì cửa hầm cũng vừa bật mở. Trời đã tối mù mịt tự bao giờ. Tôi và Hường lên khỏi hầm thì Lợi cho hay địch vừa rút bộ sang xã khác lúc chập choạng tối. Chưa biết tình hình sẽ như thế nào.
Nhìn lên bầu trời không trăng sao. Mây đen sầm xuống như báo hiệu sắp có mưa to. Gió từ khơi thổi thốc vào mang theo tiếng ầm ào dữ dội của sóng biển gây nên cái cảm giác không bình yên và lo âu thường trực ở địa bàn đầu sóng ngọn gió này. Tôi xích lại để nhìn cho rõ mặt cô gái suốt hơn một ngày nằm dưới hầm tối bên nhau, nhưng cũng chỉ thấy lờ mờ. Trong lúc đó, Lợi trao cho tôi lệnh “hoả tốc”, bảo tôi phải đi khỏi địa bàn này ngay đêm nay. Tôi đưa tay tạm biệt Hường. Không ngờ Hường nắm chặt lấy tay tôi và chỉ nói: “Đi đâu cũng đừng quên xã Vĩnh nghe anh!”.
Ngày quê của Hường giải phóng cũng là ngày tôi đang tiếp tục hành quân về phía . Sau khi giải phóng Sài Gòn, tôi được phân công nhiệm vụ mới ở đây. Dù bận việc tới đâu, ký ức về cô y tá ở xã Vĩnh với bao chuyện “nhẹ như bấc nặng như chì” hồi ở hầm cứ ám ảnh và thôi thúc tôi.

Hơn một năm sau, tôi ra ngoài này, tìm về xã Vĩnh để hỏi thăm anh em Hường. Mẹ của Hường lau nước mắt, cho biết Lợi đã hy sinh trong chiến đấu. Còn Hường được đưa lên rừng, sau đó ra Bắc. Trong gian nhà tranh mới dựng sau ngày giải phóng, tôi đến thắp hương lên bàn thờ liệt sỹ Lợi. Bất chợt tôi sững người trước bức ảnh bán thân của cô gái treo ở góc nhà. Thấy tôi nhìn ngơ ngác, mẹ của Hường mới cho hay đó là ảnh Hường hồi còn học trên thành phố. Tôi nhìn không chớp mắt. Lần đầu tôi biết mặt mũi Hường qua tấm ảnh này đây. Mẹ của Hường còn cho biết chỉ ba hôm nữa thôi Hường đi tàu thống nhất sẽ về tới nhà sau năm năm học Đại học Y Hà Nội. Tôi ngậm ngùi cho hoàn cảnh của mẹ và cứ nơm nớp chờ ngày gặp lại Hường.

Ba hôm sau, tôi lên trực ở sân ga từ sáng sớm. Đến gần trưa, con tàu Thống Nhất lù lù vào ga. Người đi đón thân nhân chen chúc. Hành khách xuống tàu đảo mắt nhìn quanh. Tôi vô cùng hồi hộp khi phát hiện một cô gái dong dỏng cao với khuôn mặt giống hệt Hường trong tấm ảnh ở nhà. Tôi gọi to: “Hường, Hường ơi!”. Nhưng có lẽ cô gái không nghe thấy. Trong lúc đó, một chàng trai rẽ đám đông xốc tới cầm giúp cô gái túi hành lý. Cô gái tươi cười ngồi lên sau xe chàng trai, rồ máy phóng đi. Lạ thật! Thế mà ba hôm trước, tôi có hỏi về chuyện riêng tư của Hường thì mẹ của Hường lắc đầu: “Số nó khó lắm. Được người được nết lại lớn tuổi rồi mà chưa chịu ai cả!". Đứng bàng hoàng một lúc, chợt tôi để ý đến một cô gái khác tay xách vai mang cũng hao hao giống Hường trong ảnh. Hay lúc nãy mình nhìn nhầm người. Có lẽ đây mới là Hường thật chăng. Tôi sấn tới: "Xin lỗi, Hường phải không?". Cô gái chỉ liếc mắt, bỏ đi bằng một câu nói lém lỉnh: "Tiếc quá, sao em không đặt tên mình là Hường nhỉ!". Bực dọc. Hết hy vọng. Đang quay lui thì một cô gái đi bên cạnh mau miệng: "Anh vừa hỏi Hường nào vậy?". Tôi nhanh nhẩu: "Hường xã Vĩnh, em Lợi". Cô gái bối rối, vội để chiếc va - ly xuống đất, trố mắt nhìn tôi từ đầu đến chân: "Vậy anh là ai mà biết em?". Tôi ngây người ra, giọng run run: "Vậy là Hường đây à! Tôi là Thống. Hường còn nhớ không?". Hường mở to đôi mắt nhìn vào mặt tôi một cách sửng sốt, rồi nói như reo lên: "A! Anh Thống đã từng ở hầm bí mật với em đây ư? Lâu quá rồi phải không? Đã gần bảy năm không có tin tức gì. Ai ngờ...".

Hai mươi lăm năm sau. Vợ chồng tôi được xã Vĩnh mời về dự lễ khánh thành nhà truyền thống xã. Đó là một ngày thu quang đãng. Đường thôn ngõ xóm rực rỡ cờ sao tung bay trong gió lộng. Ngày khánh thành nhà truyền thống cũng là ngày hội của toàn xã. Bà con từ các ngả đường nườm nượp đổ về khu trung tâm. Sau lễ đặt vòng hoa viếng nghĩa trang liệt sỹ và lễ khánh thành nhà truyền thống, mọi người háo hức vào xem các hiện vật từng thấm mồ hôi, nước mắt và máu của mình trong suốt cuộc chiến tranh "tan nhà nát cửa cũng ừ" của một thời đã qua.

Lần lượt xem từng hiện vật, bỗng nhiên mắt tôi sáng rực lên khi nhìn thấy khẩu súng các - bin trưng bày trong tủ kính với hàng tít ghi: "Khẩu súng của trung đội trưởng du kích Nguyễn Văn Lợi từng chiến đấu hàng chục trận, lập nhiều chiến công xuất sắc từ 1968 đến 1970". Bên cạnh khẩu súng là cái nắp hầm đã mục ruỗng, chữ ghi: "Nắp của một căn hầm bí mật mà đồng chí Nguyễn Văn Lợi đã che giấu, bảo vệ an toàn cho nhiều cán bộ trên về công tác ở địa phương". Tôi bồi hồi nhớ lại động tác anh Lợi nhờ cầm hộ cây súng kia để mở cái nắp hầm này, đưa tôi và em gái anh xuống ở chung một chỗ...

Chiều hôm ấy, tôi và Hường đến thắp hương và ngồi rất lâu bên mộ anh Lợi. Sau đó chúng tôi lên thăm lại cồn cát thuở nào. Nhìn quanh không còn tìm đâu ra xương rồng và bốm gai nhọn lúp xúp. Không còn biết đâu dấu tích căn hầm bí mật ngày ấy. Chỉ có phi lao hàng nối hàng dọc theo ven biển tít tắp, xanh um, phủ kín bãi bờ. Đó đây những ngôi nhà cao tầng sang trọng mọc lên trên cát, hướng mặt ra biển đông như mời gọi du khách bốn phương. Xa xa, những con tàu đại dương tấp nập ra khơi vào lộng như mắc cửi.

Tôi và Hường ung dung bước đi trên cát. Bầu trời mùa thu quê hương trong xanh đến nao lòng. Gió từ khơi xa lồng lộng thổi vào làm tóc Hường bồng bềnh trông như một thiên thần từ trong bóng tối bước ra. Bất giác tôi ôm lấy Hường, nằm ngửa lên trên cát như để nhớ lại chuyện xưa và lắng nghe hết lời nhắn gọi từ mảnh đất còn nặng bao ân nghĩa này...

     
N.T
(197/07-05)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #71 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 03:48:39 pm »

Ân tình

NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾN


Người ta thường nói xem mặt đặt tên, nhưng điều này lại không đúng với thượng tá Kha. Nhìn bề ngoài, ai cũng nghĩ ông là người khô khan, thật ra ông lại là người rất đa cảm.

Cầm tay bắt mạch cho thượng tá Kha, những đường chỉ tay của ông ta đã làm cho trung tá Thiệp hết sức ngạc nhiên nên buột miệng:

- Nói khí không phải, xưa nay, tôi thấy anh là người mẫu mực, chỉn chu đến mức khắc kỉ, lạnh lùng. Không ngờ, anh lại là người rất đào hoa và ân tình.

Thượng tá Kha nhếch mép, gượng cười:

- Gần về hưu rồi, còn đào hoa, đào hiếc gì nữa, sắp “đào ngũ” rồi thì có.

Trung tá Thiệp nhìn thẳng vào mắt thượng tá Kha, ngần ngại nói:

- Xin lỗi, anh không thích nói về mình nhưng tôi biết anh là người nhìn vợ con mình mà nghĩ đến vợ con người khác và vợ con người ấy cũng nhìn chồng, cha mình mà nghĩ đến anh và vợ con anh.

Thượng tá Kha giật mình ngồi dậy, chằm chằm nhìn trung tá Thiệp, dò xét:

- Ai nói cho anh biết điều đó?

- Tôi biết xem bói mà.

- À... ra thế! - Thượng tá Kha thở phào - Chuyện khá dài dòng. Thôi, ra bàn uống nước, tôi sẽ kể cho anh nghe.

Thượng tá Kha rót nước mời khách rồi thong thả kể:

- Hồi Cách mạng tháng Tám thành công, tôi tham gia dạy học ở Tổ Bình dân Học vụ của xã. Ở đó có cô Nụ vừa đẹp người, vừa đẹp nết. Tuổi trẻ và công việc đã gắn kết chúng tôi lại với nhau. Lúc chúng tôi đang đắm say trong tình yêu cũng là lúc tôi nhập ngũ, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ở nhà, cô ấy như một cô dâu chưa chính thức đã thay tôi chăm sóc mẹ. Sau ngày hòa bình lập lại, khoảng giữa năm 1955 thì tôi được điều về Thanh Hóa xây dựng Đường dây Thống Nhất. Về đó, gần nhà, quê tôi ở Hà Tĩnh, anh biết rồi đấy, nên tôi đã xin nghỉ phép về tổ chức đám cưới. Tôi mua quà cho mẹ, sắm sửa mọi thứ cần thiết cho đám cưới rồi mượn chiếc xe đạp của đơn vị, phóng một mạch gần hai trăm cây số về quê. Về đến đầu làng, thấy đình làng đèn đóm sáng trưng và bà con đang tụ họp đông đủ, tôi ghé xe vào. Biết tôi mới tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trở về, mọi người đã chào đón tôi như một vị anh hùng. Nhưng khi tôi đến cầm tay Nụ và hớn hở mời bà con vài ngày nữa đến dự đám cưới thì ông đội trưởng Đội Cải cách, người đang làm chủ tọa buổi họp dân chúng, nghiêm mặt nói: “Xin lỗi đồng chí Kha. Vì đồng chí là đảng viên, là cán bộ quân đội nên tôi thấy cần báo cho đồng chí biết chúng tôi đã xếp gia đình cô Nụ vào thành phần địa chủ, phú nông.”. Nghe thế, tôi choáng váng như bị trúng đạn. Còn Nụ thì nấc lên mấy tiếng rồi giống hệt một thân cây bật gốc, đổ vật vào người tôi như một cái xác không hồn.

Kể tới đây, thượng tá Kha lập cập đứng dậy mở toang cửa sổ. Nắng ấm và gió mát tràn vào căn phòng dành cho hộ độc thân chật hẹp. Ông thở sâu mấy cái rồi ngồi kể tiếp, giọng nghèn nghẹn như bị nghẹt mũi:

- Sau khi được cấp cứu, Nụ tỉnh lại. Tôi và cô Na, bí thư Ban Chấp hành Chi Đoàn, bạn nối khố của Nụ, cùng nhau dìu cô ấy về nhà. Về đến ngõ nhà mình, cô ấy như người mất hồn, ôm Na khóc nức nở: “Na ơi! Nụ không thể làm vợ anh Kha được nữa rồi. Mẹ anh ấy đang cần người chăm sóc. Thôi thì tình chị duyên em. Nụ trăm lạy, nghìn  lạy. Na có thương Nụ thì hãy thay Nụ làm vợ anh ấy.”. Xong, cô ấy gục vào vai tôi, nghẹn ngào: “Anh ơi! Số phận không cho em làm vợ của anh. Anh còn thương em thì hãy coi Na như em. Na sẽ thay em phụng dưỡng mẹ. Nghe em đi anh. Mẹ đã già yếu lắm rồi. Làm sao anh có thể bỏ mẹ ở nhà một mình mãi được?”.

Thần sắc của thượng tá Kha thay đổi hẳn. Giọng nói trở nên mếu máo. Đôi mắt trở nên mờ đục. Làn da rám nắng cũng trở thành nhợt nhạt. Kí ức đã làm ông xúc động.

Trung tá Thiệp bị câu chuyện tình éo le, lãng mạn cuốn hút, tỏ ra tò mò:

- Khi đó, thái độ cô Na thế nào?

- Na giãy nảy nói: “Nụ đừng nói gở. Nụ nhất định sẽ là vợ của anh Kha.”. Nói xong, cô ta ù té chạy để lại tôi và Nụ trong đêm tối. Còn lại hai người, chúng tôi chỉ biết ôm nhau khóc suốt đêm. Tảng sáng, tôi về thăm mẹ. Khi hai mẹ con đang hàn huyên thì dân quân xách súng đến, mời tôi lên ủy ban. Sau khi kiểm tra giấy tờ của tôi, đồng chí chủ tịch xã đã yêu cầu tôi không được quan hệ với gia đình Nụ để tạo điều kiện cho chính quyền làm việc. Tuy thế, tôi vẫn đến nhà Nụ để xem thực hư thế nào. Song tôi không gặp được Nụ. Dân quân không cho vào. Hết phép, tôi trở về đơn vị, người gầy rộc đi như vừa trải qua một cơn bạo bệnh.

Hồi đó, dính vào thành phần địa chủ, phú nông là phải ra khỏi Đảng, là phải chấm dứt con đường binh nghiệp. Không hiểu chàng lính trẻ Kha đã giải quyết mối tình trắc trở của mình như thế nào để an cư lạc nghiệp nên trung tá Thiệp hỏi:

- Anh đã giải quyết mối quan hệ “tình chị, duyên em” của mình như thế nào?

- Ở đơn vị, tôi đã gửi rất nhiều thư về cho Nụ nhưng cô ấy không trả lời. Tôi chỉ nhận được thư của Na. Nụ đã nhờ Na hồi âm cho tôi. Một năm sau, Na điện cho tôi biết mẹ đau nặng, về gấp. Tôi xin nghỉ phép về chăm sóc mẹ. Về nhà, tôi tìm Nụ nhưng không gặp. Cô ấy đã bỏ làng ra đi để lánh mặt. Không ai biết cô ấy ở đâu cả. Hết hơn nửa thời gian nghỉ phép mà mẹ vẫn nằm liệt giường. Không biết lấy ai trông nom mẹ để trả phép đúng hạn, nhất là khó an tâm công tác, khó hoàn thành nhiệm vụ, tôi đã viết đơn xin giải ngũ. Thấy thế, Na động lòng trắc ẩn, nghe lời Nụ, nhận gánh vác việc gia đình tôi. Vì cám cảnh trước hoàn cảnh của tôi, vì nhiệm vụ chăm sóc mẹ chiến sĩ Chi Đoàn giao mà cô ấy đã quyết định như vậy.

- Anh trở thành chàng Kim Trọng chứ? - Trung tá Thiệp hỏi.

- Vâng. Không cưới vợ, tôi phải giải ngũ. Hơn nữa tôi có yên bề gia thất, Nụ mới chịu về làng, mới chịu lấy chồng. Tuy hơi cập rập, không được chuẩn bị trước như năm về định cưới Nụ nhưng tối hôm sau, đám cưới vẫn được tổ chức khá chu đáo. Song oái ăm thay, khi hai họ đã ra về, tôi ra sau hè thì thấy Nụ nằm bất tỉnh giữa hàng rào dâm bụt. Tôi hốt hoảng bồng cô ấy vào nhà cùng vợ cấp cứu. Thấy tay cô ấy nắm chặt tờ giấy, nghĩ là giấy gói thuốc tự tử, tôi liền gỡ để xem. Tôi chưa lấy được thì cô ấy tỉnh. Cô ấy chằm chằm nhìn vợ chồng tôi như để nhớ chuyện gì đã xảy ra, xong vội bỏ tờ giấy vào miệng nhai. Thấy cô ấy tỉnh, vợ tôi ôm bạn than khóc: “Nụ ơi, Nụ đừng chết! Anh Kha vẫn là chồng của Nụ. Na chỉ là người thay Nụ làm cô dâu khi Nụ vắng mặt mà thôi. Nụ hãy coi đám cưới này là đám cưới Nụ.”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #72 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 03:51:52 pm »

Đôi mắt của thượng tá Kha bỗng nhấp nháy liên tục. Ông lấy tay dụi mắt. Trung tá Thiệp nóng lòng giục:

- Ý cô Nụ thế nào?

- Nụ dứt khoát phản đối. Vợ tôi cố thuyết phục thì cô ấy nói: “Nếu vì Nụ mà Na không làm vợ anh Kha thì một là Nụ phải đi biệt xứ, hai là tự tử.”. Biết Nụ đã nói là làm, vợ tôi chỉ biết ôm cô ấy mà khóc. Nửa đêm, vợ tôi lén vào buồng, tháo chiếc kiềng vàng, quà cưới dâu của mẹ tôi, để lại trên chiếc gối dành cho vợ chồng đêm tân hôn, bỏ trốn. Chuyện này chưa xong, chuyện khác lại đến. Rối như tơ vò. Khi tôi đang như người thất thần không biết xử lý thế nào, Nụ bảo tôi ở nhà trông mẹ để cô ấy đi tìm Na.

Bỗng chuông điện thoại reo lên. Thượng tá Kha xin lỗi, cầm máy nghe. Xong, mặt mày tươi tỉnh, nói:

- Thúy Kiều, Thúy Vân cùng bốn đứa con đang trên đường đến thăm tôi. Mẹ con họ đến, “thầy bói” thử đoán xem ai là vợ con tôi, ai là vợ con người khác nhé!

- Nhưng anh phải kể xong đã!

- À, mà...mà đến đâu rồi nhỉ?

- Nụ đi tìm Na. - Trung tá Thiệp nhắc.

- Tảng sáng thì Nụ dắt Na về. Nụ buồn nhưng Na lại tươi cười. Na sốt sắng báo cho tôi biết thành phần gia đình Nụ đã được sửa sai: trung nông chứ không phải địa chủ, phú nông.

Trung tá Thiệp vỗ đùi, thốt lên:

- Trời! Cách đám cưới chỉ một đêm mà trước đó không ai biết quyết định ấy sao?

- Có. Nụ biết nhưng đã muộn. Từ chỗ ở để lánh mặt, nhận được quyết định sửa sai, Nụ tất tưởi chạy về. Cô ấy chạy đôn, chạy đáo, ngã lên, ngã xuống, xây xát cả mặt mũi, tay chân. Về đến ngõ nhà tôi, thấy trong nhà đông người cô ấy không vào mà đến sau hè vạch hàng rào nhìn vào. Thấy tôi giơ tay thề: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ!”, cô ấy đã ngất xỉu.

- Chà! - Trung tá Thiệp chặc lưỡi - Rắc rối quá!

- Đúng vậy. Na thì có cớ để trả tôi cho Nụ. Nụ thì dứt khoát từ chối với lý do sợ Na phải ở quá vì dẫu sao vẫn mang tiếng là đã có một đời chồng. Năm miếng trầu là dâu nhà người mà. Còn tôi thì vô cùng bối rối. May mà nhờ đã trải qua nhiều kinh nghiệm trận mạc. Những lần đứng trước làn tên mũi đạn, trước sự sống và cái chết đã rèn cho tôi có được sự phản ứng nhanh nhạy khi phải đối đầu với các tình huống gay cấn, nguy kịch. Lúc đó, như được thần phật sai bảo, tôi bạo miệng nói: “Bắn không nên thì đền đạn. Anh có một người bạn tên là Đông, từng sống chết có nhau. Anh ấy hơn anh về mọi mặt. Anh sẽ giới thiệu cho Nụ”.

- Liều! Liều thật! - Trung tá Thiệp lắc đầu - Ngộ nhỡ anh ấy không đồng ý thì sao?

- Liều nhưng có cơ sở - Thượng tá Kha giải thích - Tôi tin là người đã cùng bạn vào sinh ra tử trước kẻ thù sẽ không bao giờ bỏ bạn trước mọi khó khăn, hoạn nạn. Hơn nữa, tôi đã thường tâm sự và cho Đông xem thư của Nụ. Cậu ta đã từng nói: “Ước gì tớ cũng có được một cô Nụ như cậu”. Tôi bạo miệng là vì vậy.

- Còn Nụ và Na nữa chứ? - Trung tá Thiệp thắc mắc.

- Tôi không ngờ lời nói đó đã có tác dụng xoay chuyển tình thế. Nụ ngúng nguẩy đấm thùm thụp vào lưng tôi. Na thì vừa nhảy cẫng lên, vừa vỗ tay đôm đốp rồi giục tôi đi mời Đông về. - Giọng ông trở nên trẻ trung, dí dỏm - Gỡ được thế bí, tôi liền thoát khỏi vòng vây. Hai hôm sau, tôi mang “quân tiếp viện” về ứng cứu.

Trung tá Thiệp vui lây và gật gù thán phục:

- Tài! Tài thật! Làm thế nào mà anh thuyết phục được bạn mình?

- Ra đến đơn vị tôi tìm gặp Đông ngay. Tôi kể cho cậu ta biết mọi chuyện. Khi tôi nói ra ý định của mình, cậu ta nắm chặt tay tôi nói: “Tớ và cậu là một. Cậu đã yêu thì chắc tớ cũng thế. Vả lại, không thành công cũng thành nhân. Ít nhất tớ cũng giúp được cậu giải quyết tốt hơn công tác dân vận”. Điều đáng lo là liệu Đông và Nụ có chiếm được cảm tình của nhau hay không mà thôi. Không ngờ, vở kịch do tôi dàn dựng đã được hai người nhập vai rất nhanh. Họ làm như vậy là vì hạnh phúc của vợ chồng tôi. Sự tế nhị của họ đã làm cho chúng tôi bớt áy náy. Nhờ vậy, hôm sau tôi và Đông yên tâm trở về đơn vị, trả phép đúng hạn. Từ đó, Đông và Nụ thư đi từ lại với nhau thường xuyên. Dần dần, tình yêu nảy nở. Cuối năm 1957, hôn lễ của họ được tổ chức. Tôi được cử về đại diện cho đơn vị và họ nhà trai, quê chú rể ở tận Quảng Trị mà.

Cùng xây đắp hạnh phúc cho nhau, tình bạn, tình đồng chí của họ thật trong sáng và cao thượng. Nhưng tại sao thượng tá Kha lại nhìn vợ con mình mà nghĩ đến vợ con người khác? Ông là người ân tình, độ lượng hay đồng sàng dị mộng? Nghĩ thế, trung tá Thiệp phân vân hỏi:

- Hai gia đình sống thế nào?

- Chúng tôi như hình với bóng của nhau. Tôi và Đông càng tri âm, tri kỉ hơn trước. Na và Nụ cùng dạy một trường, cùng ở chung một dãy nhà tập thể, chỉ cách nhau một bức vách nên tối lửa tắt đèn có nhau. Con cái cũng rất giống nhau. Đêm tân hôn của Đông và Nụ cũng là đêm vợ chồng tôi động phòng hoa chúc sau hơn một năm kết hôn. Kết quả là hai chàng quý tử đã ra đời. Cuối năm 1958, tôi và Đông rủ nhau về phép, chúng tôi lại có thêm hai cậu con trai,cũng như lần trước, mỗi đứa chỉ cách nhau vài ngày. Những năm tiếp theo, tôi và Đông cũng đều về phép với nhau. Đến đầu năm 1961 thì Đông đi B. Anh ấy tình nguyện trở về quê hương chiến đấu nên được điều động về Quân khu Trị Thiên. Từ khi anh ấy vào chiến trường, sợ Nụ buồn, nhớ chồng, tôi không về phép nữa. Năm 1972, Đông hy sinh khi tiến về giải phóng Quảng Trị. Ngày mẹ con Nụ nhận giấy báo tử, tôi đã về thăm và dự lễ truy điệu. Thấy tôi, Nụ than khóc: “...Nhờ anh mà em có được anh Đông. Thấy anh, em càng thương nhớ anh ấy. Anh thì về đây. Còn anh ấy sao lại bỏ mẹ con em ra đi?”. - Thượng tá Kha im lặng cố nén cơn xúc động rồi kể tiếp. - Sau lễ truy điệu, vợ chồng tôi đã bàn với nhau là phải có trách nhiệm với vợ con của người đã khuất. Mỗi lần tôi mua quà gì cho vợ con thì cũng đều mua cho mẹ con Nụ. Vợ tôi chăm sóc, dạy dỗ con mình như thế nào thì cũng chăm sóc, dãy dỗ con của người đã hi sinh như thế. Nhờ trời, cả hai đứa đều khỏe mạnh, chăm ngoan và đều đã tốt nghiệp đại học như hai đứa con của vợ chồng tôi.

Bỗng hai người đàn bà và bốn chàng trai ùa vào. Họ tíu tít hỏi han và quấn quýt lấy thượng tá Kha. Tình cảm mà họ dành cho nhau cùng câu chuyện chứa chan ân tình trong tình bạn, tình đồng chí, tình yêu, tình người vừa nghe đã làm cho trung tá Thiệp không thể nhận ra trong số họ ai là vợ con của thượng tá Kha, ai là vợ con người khác. Nhưng thật kỳ lạ, ông lại nhìn thấy nụ cười của người nơi chín suối.

         
Trại sáng tác VHNT TT.Huế,
                 Vinh Hiền, 8 - 2004

                          N.Đ.S.T
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #73 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 04:01:26 pm »

Về cội

NGUYỄN TRƯỜNG


Chiều xuống. Lúc mặt trời sắp lặn sau dãy núi phía tây cũng là lúc người ta thấy ông già xóm Chùa thường mon men tới thả câu ở cái bến sông này.

Ông lặng lẽ đến rồi lặng lẽ đi như chẳng để ai bận tâm đến mình. Nhiều khi ông ngồi như phỗng, chẳng bắt chuyện với ai, cũng chẳng quan tâm tới tiếng cá quẫy lao xao dưới nước. Vẻ mặt lúc nào cũng thẫn thờ như đang chìm đắm trong một tâm tưởng sâu kín, hoặc mơ màng theo một hình bóng nào đó có liên hệ với ông từ phía bên kia. Có khi bóng đêm phủ kín mặt sông đã lâu, ông mới đủng đỉnh xách câu ra về. Người thì cho ông "ấm đầu", kẻ lại bảo ông bực chuyện đời muốn tìm chốn tĩnh tâm...

Ở cái làng quê này, các vị cùng lứa với ông đều đã lên lão cả rồi. Riêng ông cứ hây hây như một bậc tráng niên. Vóc dạc săn chắc. Tóc tuy điểm bạc mà răng cỏ y nguyên. Bọn trẻ xóm Chùa hay đùa vui ông là "60 năm vẫn chạy tốt!". Ông cười ha hả, cũng pha trò tếu lâm chọc cười lại không thua.

Sau ngày nghỉ hưu, cơ ngơi của ông trên thành phố đều giao hết cho vợ chồng đứa con trai để một thân một mình về sống với mảnh vườn xưa xanh um cây trái và ngôi nhà cổ của cha mẹ để lại. Ngày ngày ông lấy bàn cờ, chén rượu, hoặc buông cần trên sông làm thú vui với các bạn đồng niên thời còn để chỏm học trường làng với nhau. Thỉnh thoảng ông lại rong xe đi giao du đó đây để thăm đồng chí đồng đội vài ba ngày mới về. Bà con dòng họ thấy ông thui thủi, ai cũng khuyên ông bước tiếp. Nhưng tính ông khó, ông thấy không có ai sánh nổi bà vợ tâm phúc của mình. Từ ngày bà lâm bệnh qua đời, ông đành ở vậy như một nỗi cam chịu, chẳng tơ tưởng chuyện gối chăn ở lứa tuổi này làm gì nữa.

Thế rồi hôm nọ ông lên thành phố thăm con. Nếu như người ta không kể ra với ông chuyện người đàn bà bên kia sông hồi nào cùng với cô con gái từ Mỹ mới về và hiện đang ở dưới quê thì ông đâu hay biết gì. Vừa về tới nhà thì ông đã xon xen sang thăm mẹ con bà ấy. Nhưng không hiểu sao khi ra giữa dòng ông đột ngột đổi ý, lặng lẽ quay ghe lui. Và thế là chiều nào ông cũng xách câu tới ngồi đây như để soi bóng mình xuống dòng nước trong xanh in sắc trời vời vợi. Trước mắt ông từng đàn chim trắng từ đâu ngoài biển xa nối đuôi nhau bay là là dọc sông hướng về phía núi. Nắng thu trải vàng như lụa xuống đôi bờ tre rũ bóng hiu hiu trong gió chiều. Ông ngồi lặng yên với bao ký ức xa xăm của thời trai trẻ hiện về, làm ông bàng hoàng đến nao lòng.

Con sông Lợi Hà đổ từ nguồn ra phá, không dài, rộng hẹp theo khúc. Mùa hè sông cạn, nước lội ngang rốn. Trẻ con hai bờ tha hồ ra giữa dòng nô đùa, bơi lặn. Có một thời chúng chia ra hai phe hai bờ đánh giặc giả với nhau. Vui thì thật vui. Không ngờ trong một trận "thuỷ chiến" kịch liệt gây nên thương tích cho cả đôi bên, làm cho bên thắng bên thua từ đó về sau coi nhau như "quân thù" mà giữa dòng sông là "trận mạc" bất khả nhượng. Hễ trẻ con bên này bơi ra tắm giữa sông thì trẻ con bên kia nhào xuống, hai bên rượt đuổi nhau tới số. Tiếng la hét náo loạn một khúc sông. Người lớn không sao cản nổi. Các cu cậu ấy sau này lớn lên thành nam thanh nữ tú mà mối "hiềm" kia vẫn để bụng, đã dẫn đến chuyện con gái bờ nào lấy chồng bờ nấy, lâu ngày thành "lệ" của một vùng quê.

Hôm ấy, giữa trưa hè chang chang, Trần ngồi hóng mát ở bờ sông, chợt thấy một cô gái đánh trần xuống tắm sông một mình ở bờ bên kia. Chàng lén nhìn không rời mắt. Sau một hồi bơi bì bõm, đột nhiên thấy cô gái chới với, sau đó chìm nghỉm khỏi mặt nước. Nhanh như sóc, chàng trai nhảy tõm xuống sông, sải tay chốc lát đã tới bên kia, kịp vớt cô gái lên, rồi vác chốc ngược sau lưng mình, vừa chạy vừa la cấp cứu. Xóm làng nghe tiếng chạy tới. Phải mấy phút sau cô gái mới tỉnh lại, cả thẹn đến chín mặt. Mọi người đều hú hồn hú ví cho cô Mận, con gái cô cả Sằng, suýt nữa chết đuối nếu không có chàng trai lực lưỡng và quả cảm ở làng bên.

Tiếng lành đồn xa. Chẳng bao lâu cái "lệ" cố hữu trên cũng mất dần, không còn mấy ai nhắc tới nữa.

Mận là hoa khôi trường trung học, từng làm "xôn xao oanh yến" ở cái quận ngoại thành này. Cô có mái tóc dài óng mượt như suối nước tuôn đều xuống đôi bờ vai thon, trông quí phái và sang trọng hẳn trong đám bạn gái cùng trang lứa. Duy chỉ có đôi mắt sóng sánh như đang ẩn chứa một điều gì bi lụy bên trong làm cho gương mặt cô gái lúc nào cũng u u buồn buồn thế nào ấy.

Sau cái hôm suýt chết đuối đến giờ, Mận cứ vào ngẩn ra ngơ. Ngày nào cô cũng xuống bến nước bâng khuâng nhìn sang bờ bên kia với một nỗi mong chờ khắc khoải cháy lòng. Bỗng đâu sáng hôm đó, cô bắt gặp chàng trai hôm nọ đang chèo ghe từ từ cập vào chỗ cô đang đứng. Cô hồi hộp định bỏ chạy lên bờ thì chàng trai lên tiếng: "Mận quên tôi rồi à?". Cô gái nửa mừng vui nửa bối rối: "Quên răng được người đã cứu sống em!". Cả hai cùng cười. Mận mời chàng trai vào nhà. Ông cả Sằng đi vắng. Hai người ngồi nói chuyện suốt buổi. Chẳng mấy chốc họ phải lòng nhau. Từ đó về sau, hai người thường qua lại trên sông. Rồi tình yêu nảy nở. "Mới đầu trăng gió sau ra đá vàng". Say đắm, khắng khít tưởng khó rời nhau nửa bước. Dân làng ai cũng trầm trồ khen họ đẹp đôi, lại như có duyên trời định.

Sau khi rõ đầu đuôi ông cả Sằng một mực ngăn cấm con gái quan hệ với chàng trai bên kia sông. Ông vin chuyện đã thành "thói" trong dân gian ở đây, rằng, trai gái hai bờ sông này mà lấy nhau thì sớm muộn cũng vợ nơi chồng ngả, hoặc nếu có ăn đời ở kiếp thì con cái chẳng ra gì. Tuy nhiên, cả làng này ai lạ gì ông cả Sằng. Sở dĩ nói vậy là vì ông đã đem con gái mình hứa hôn với Vệ đang học trường võ bị sĩ quan Đà Lạt, là con trai một của ông chánh Thừa giàu có nhất vùng này.

Vệ và Trần là bạn cùng lớp cùng trường hồi còn học phổ thông trên thành phố. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Trần vào đại học, còn Vệ chọn con đường binh nghiệp để tiến thân. Vệ cũng thuộc hạng đẹp trai, học giỏi, nhà giàu. Chỉ vì Vệ có cái tính dương dương tự đắc khiến không ít bạn bè xa lánh. Vệ cũng tán tỉnh lắm cô gái mà chẳng đậu được cô nào. Thấy Mận đẹp người đẹp nết, Vệ cũng rắp rem từ lâu, song thấy khó, vì Mận đã yêu Trần. Nay Vệ chỉ còn cách dựa vào "chước" của ông chánh Thừa mà thôi.

Nhân ngày đầu xuân, chánh Thừa đến chơi nhà cả Sằng. Ngồi uống trà, thấy nhà cửa cả Sằng làm dang dở vì thiếu tiền, chánh Thừa gợi chuyện cho cả Sằng mượn ít vốn. Cả Sằng mừng rơn. Sau đó, để đáp lễ, cả Sằng đến thăm nhà chánh Thừa và được chủ nhà thết đãi thịt béo rượu ngon. Giữa lúc chén tạc chén thù, Chánh Thừa gợi ý muốn làm su gia, thế là cả Sằng gật gù tâm đắc liền.

Vào quân trường một thời gian, Vệ xin phép về nhà đi hỏi vợ. Dẫu biết người ta đã gắn bó nhau thắm thiết, Vệ vẫn phớt lờ, mang cân đai áo mão sĩ quan đến nhà như để khoe mẽ với cha con cả Sằng. Cả Sằng hí hửng, sốt sắng cho nhà chánh Thừa làm lễ ăn hỏi vội vội vàng vàng như để phòng xa một chuyện mà ông lường trước có thể xảy ra, mặc cho con gái ông vật vã, khóc than đến đâu.

Trần không ngờ sự thể ập tới nhanh chóng dẫn đến nông nỗi này. Anh mạnh dạn gặp ông cả Sằng để nói điều hay lẽ phải. Nhưng ông đã dùng quyền uy của người cha trong gia đình còn rặc đầu óc phong kiến hủ bại để bác tất. Anh đến tìm Vệ trong khi hắn cố làm lấy được để coi như "chuyện đã rồi", xong, đã hấp tấp chuồn đi tự bao giờ.

Sau cái lễ ăn hỏi phũ phàng ấy, Mận dở sống dở chết như cái xác không hồn. Giờ đây cô chỉ còn tin cậy vào Trần, bởi nước mắt mình đã bất lực, không lay chuyển nổi lòng dạ người cha. Ngờ đâu cái đêm Trần chèo ghe sang, không phải để bàn chuyện tốt lành, mà cũng chỉ để khuyên Mận nên làm theo sự sắp đặt của cha, khiến Mận gục đầu, khóc rũ rượi. Khi Trần không còn gì để nói nữa, Mận đột ngột vùng dậy chạy bổ xuống sông. Hoảng lên, Trần lao theo ôm chặt lấy Mận vực lên ghe của mình. Hai người lời qua tiếng lại không ai chịu nghe ai. Rồi chẳng hiểu thế nào họ lại cùng nhau chèo ghe ngược lên thượng nguồn đến tận khuya mới về. Kể từ dạo ấy trở đi, hằng đêm Mận thường trốn nhà theo Trần thả ghe lênh đênh trên sông vắng. Buồn tủi thân phận mình, lại xót xa cho người yêu, Mận đã quyết "nhị đào thả bẻ cho người tình chung" suốt cả tuần trăng như thế.

Đến hồi ông cả Sằng biết chuyện thì "nước đã đến chân". Nhân lúc Vệ ra trường, ông vội vã cho nhà chánh Thừa làm lễ vu quy ngay trong tháng.

Hôm gia đình Vệ làm lễ rước dâu, pháo nổ dòn bên kia sông, thì bên này cảnh sát cùng một trung đội nghĩa quân ở địa phương nổ súng truy bắt Trần vì có kẻ phản bội khai báo ra cơ sở hoạt động nội thành do Trần phụ trách. May sao Trần đã thoát được lên cứ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #74 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 04:02:28 pm »

Bao năm cầm súng chiến đấu trong hàng ngũ quân giải phóng, vào sinh ra tử khắp các chiến trường, Trần vẫn không sao nguôi được chuyện tình oái oăm của mình bên dòng sông năm nào. Mỗi lần nhớ đến Mận là mỗi lần căm thằng Vệ đến nát lòng. Hắn đã gây nên hai chuyện tày đình: cướp giật tình yêu của bạn và quay lại cái nền nếp gia phong cổ hủ để cô gái phải chịu số phận "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó", về làm vợ hắn như thế kia. Hắn cố tình làm kẻ tình địch trong khi hắn là quân địch trên chiến trường. Thù này rõ nhân đôi để anh không chùn tay súng mỗi khi gặp hắn bất cứ ở đâu.

Mùa hè đỏ lửa 1972. Cứ điểm 302 của địch thường xuyên bị pháo kích và có nguy cơ bị tấn công nhổ khỏi vị trí trong chiến dịch này. Tin mật từ Tham mưu Trung đoàn: một đại đội bộ binh địch đang sửa soạn tăng viện cho 302. Lệnh trên giao cho đại đội trưởng Trần khẩn trương lên phương án tác chiến và trực tiếp chỉ huy một đại đội tăng cường chặn đánh bằng được lực lượng chi viện cho 302.

Sau khi quân báo nắm chắc ngày giờ đich xuất phát, đại đội trưởng Trần bí mật ém quân mai phục từ lúc trời chưa sáng ở trục đường lâu nay địch thường chủ quan là khu vực an toàn nội giới mỗi lần điều quân bằng đường bộ lên 302.

Đúng 9 giờ sáng hôm đó, một đoàn xe chở quân có tăng thiết giáp yểm trợ ùn ùn nhằm hướng 302 tiến lên. Chờ tất cả lọt gọn vào ổ, lệnh phát hoả gióng lên, các cỡ súng đồng loạt nổ rền chặn đầu, khoá đuôi trong giây lát. Bị tấn công bất ngờ, hai xe bọc thép đi đầu bốc cháy, cả đoàn quân xa hơn chục chiếc hoảng loạn, dồn đống lại. Hầu hết số tân binh trên xe lăn cù xuống đất, buông súng xin hàng, nhốn nháo, thất thần như gà vướng tóc. Cả đoạn đường mù mịt khói đạn. Trong đám hỗn quan hỗn quân ấy không thấy có tên chỉ huy đoàn xe. Hỏi riết, một hàng binh mới chỉ chỗ ẩn trốn của tên đại uý. Hắn ngồi dấu mình trong một hốc đá gần đó, đinh ninh chẳng ai nhìn thấy. Đại đội trưởng Trần cùng hai chiến sĩ bò sát tới, lên tiếng gọi hàng. Nhưng tên đại uý vẫn im hơi lặng tiếng với khẩu tiểu liên tử thủ lăm lăm trong tay. Khi biết chỗ ẩn trốn bị lộ, hắn len khỏi hốc đá, men theo bụi rậm, định bỏ chạy lên núi. Đại đội trưởng Trần đưa súng lên ngắm bắn thì kịp phát hiện ra tên đại uý ngoan cố kia chính lại là Vệ. Anh cho lính bắn chỉ thiên uy hiếp, rồi tự xưng tên mình để gọi Vệ đầu hàng. Thấy không còn cách nào khác, Vệ đã đưa hai tay lên. Trần bực dọc quát vào mặt: "Sao mày khờ đến thế hả Vệ!".

Đám hàng binh nhanh chóng đưa về tuyến sau, được đối xử tử tế. Sau một ngày nghe cán bộ binh vận nói chuyện, đến chiều, tất cả đều được phóng thích. Trước lúc ra về, Vệ gặp Trần nói lời của người vừa tỉnh ngộ: "Cám ơn bạn đã không bắn. Lần này về nhà, tôi sẽ bỏ ngũ để kiếm nghề làm ăn lương thiện thôi!".
Mùa xuân 1975, Vệ mang lon trung tá. Lúc mũi tiến quân của Trần vào giải phóng thành phố cũng là lúc Vệ đưa cả gia đình lên máy bay di tản sang Mỹ.

Gần 30 năm định cư bên đó, chẳng hiểu sao hai vợ chồng sống ly thân. Sau này Vệ lấy vợ khác. Còn cô Mận ngày nào nay đã là bà Mận thì luôn mong đợi một ngày trở về nước. Nỗi nhớ cố hương cứ bứt rứt, thôi thúc không yên. Mãi đến mùa thu năm nay, bà mới cùng con gái hồi hương.

Những ngày đầu về sống lại trong ngôi nhà cũ của mình, bà đã khóc âm thầm vì cha mẹ nay chẳng còn ai, vì cuộc hôn nhân đã không hạnh phúc lại xô đẩy bà lưu lạc đến chừng ấy thời gian ở chốn đất khách quê người mà bà không ham không muốn. Nay như lá vàng mùa thu rụng về cội, bà chỉ biết ngậm ngùi khổ tủi cho duyên phận bẽ bàng của mình.

Từ hôm trở về, ngày nào bà cũng xuống bến nước ngày xưa để nhìn sang bờ bên kia với một nỗi nhớ da diết những đêm trăng trên sông, cùng một hoài bão bấy lâu canh cánh bên lòng. Làm sao ai kia hiểu nỗi đoạn trường cái ngày bà về nhà chồng cũng là ngày hay tin người yêu bỏ nhà đi kháng chiến? Và làm sao người ta tha thứ cho bà giữa lúc người yêu vào giải phóng thành phố cũng là lúc bà bỏ chạy khỏi đất nước này?... Mới đó mà đã ba mươi năm rồi! Không hiểu bây giờ ông ấy đang ở đâu? Bà nôn nóng. Bởi lâu nay bà vẫn hy vọng sớm muộn cũng gặp được ông ấy vì một sự thật hệ trọng có thể ông chưa biết tới. Và bà tin cái sự thật ấy sẽ làm cho ông hạnh phúc mà thông cảm tất cả cho bà...

Chiều nay bà Mận ra ngồi bờ sông. Khúc sông ở đây quá rộng nên người ở hai bờ khó nhận ra nhau. Vậy mà bà Mận vẫn để ý một người đàn ông ngồi câu cá bên kia sao mà hao hao giống ông Trần ngày xưa đến thế. Bà xuống đò định chèo sang, nhưng nghĩ lui nghĩ tới thấy không nên. Bà ngại lắm chuyện. Đến lúc có người cho bà hay hoàn cảnh ông Trần hiện giờ ở bên đó, bà lấy làm tủi tủi mừng mừng, mới quyết định cùng con gái sang sông.

Chiều thu yên ả. Những vạt nắng cuối ngày trên mặt sông mỗi lúc một nhạt dần. Chỉ còn những tia nắng mỏng manh lọt qua kẽ lá từ hàng cây lộng gió bên kia chiếu vật vờ xuống bến nước tạo cho đôi bờ cảnh tranh tối tranh sáng trông ngoạn mục.

Như mọi buổi chiều, ông Trần vẫn tới ngồi chỗ cũ. Vừa thả câu một lúc, ông bỗng thấy bóng ai bên kia trông giống bà Mận thuở nào đang cầm tay một sô gái bước xuống đò, chèo hướng mũi vào bến nước ông ngồi. Ông đâm bối rối, vội vàng xách câu bước nhanh về nhà như có ai đuổi sau lưng. Vừa điông vừa tự hỏi: Phải chăng hai mẹ con bà Mận sang sông tìm mình? Mà sao mình lại bỏ chạy như thế này nhỉ? Tự dối lòng làm gì khi chính mình cũng mong gặp bà ấy vì cái chuyện nghi nghi hoặc hoặc từ những ngày xưa?...

Băn khoăn hội hộp bởi những suy đoán thực thực hư hư trong đầu. Ông đứng lặng ở góc nhà, mắt đăm đăm ra phía bờ sông. Ông định quay trở lại bến nước khi nãy thì bất chợt có tiếng người ngoài ngõ đi vào.
Đúng là hai mẹ con bà ấy đây rồi! - Ông thốt lên trong cổ họng với một niềm vui dè dặt mà lòng lại như đang nhóm lửa...

 
N.T
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #75 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 04:18:11 pm »

Chuyện tình nơi Cửa bể

NGUYỄN NGỌC PHÚ


Quán rượu của o Tam lúc nào cũng đông khách, phần lớn là khách quen. Quán ở gần bến, thuyền câu về cập bờ chỉ nhảy ba bước đã có thể cụng bát với nhau rồi.

Rượu ở đây ngon, rượu nếp của dân chuyên nấu bằng mạch nước nguồn. Giếng nước trong văn vắt, rượu sủi tăm như mắt mèo đựng trong hũ sành nút bằng lá chuối khô càng để lâu càng ngọt. Thứ "cao gạo" này uống vào cứ lịm dần, lịm ở đầu lưỡi, lịm lên con mắt rồi thấm dần từng tế bào, cả cơ thể ngấm trong rượu từ chân lông, kẽ tóc, giấc ngủ cũng lịm đến. Cũng men ấy, cũng công thức pha chế ấy, cũng nếp lứt, cũng ủ như thế nhưng hễ thay nước ở làng khác là rượu đã biến chất rồi. Dân chợ huyện nhà nhà nấu rượu và nuôi lợn rất nhiều, con nào cũng béo nung núc, lông mượt nằm chềnh ềnh phơi bụng bên những bờ tre lót bằng lá tre khô. Chúng không thèm dúi mũi vào các bụi môn, bụi khoai. Lợn được nuôi bằng hèm rỗng ruột chóng lớn. Vì thế ở làng này có một nghề khá phổ biến nữa là mổ lợn. Đàn ông người nào mặt cũng hum húp nặng trịch, ra đường chỉ thấy cúi gằm nhìn xuống, ngồi uống ruợu tay cứ xoa xoa như thói quen hai tay, hai dao mài vào nhau trước lúc chọc tiết lợn.

O Tam mù từ nhỏ. Trước o là anh Nhất, anh Nhì đều hy sinh ở chiến trường. Hồi các anh ấy ở nhà thường dắt o đi chơi ra sân đình xem chợ. O chỉ nghe tiếng người mua bán mặc cả nhau đã hình dung ra được chỗ nào bán trầu, chỗ nào bán hàng xén. Vui nhất vẫn là nơi bán cá. Con gái làng biển vừa bán, vừa đếm. Họ đếm lạ lắm. Một chục thì đếm thành 11 con, gọi là chục chẵn, 10 con mới là chục trụi. Rồi họ lại đếm bằng tiếng lóng nữa nghe cứ như hát vậy mà chưa có sai bao giờ. Khác với các cô gái làng biển da ngăm đen, chân đi vòng kiềng, người cứ chúi về phía trước, dáng thâm thấp, nặng chình chịch - o Tam người dỏng cao, nước da trắng và cái miệng cười thật xinh có cái lúm đồng tiền, duyên đáo để. Những lúc o ăn trầu, hai gò má ửng hồng, khối cô mắt mũi đàng hoàng phải thua xa. Giọng o nói nhỏ nhẹ bên những người đàn ông quen "ăn sóng nói gió" sừng sững chắc nịch như dãy núi Nam Giới. O Tam giống như khe nước Hao Hao mát rượi làm chùng lại những bắp gân nổi cuồn cuộn như những múi dây chăng buồm: O Tam rót rượu thật tài. Rót từ hũ vào những chiếc chai thuỷ tinh màu xanh hơi đục, đế dày in chữ nổi có từ thời Pháp thuộc, o bảo thế. Rượu rót đố nhiểu ra ngoài một giọt. O lấy rượu quen "thổ", chỉ nhấp nhấp một chút là biết được chất lượng.

Những buổi tối sau khi đám khách chân nọ đá chân kia xiêu vẹo bá vai nhau xuống thuyền đánh một giấc dài cho các bà "nội trợ" cầm lái ra đến rạo là vừa sáng - o Tam ngồi tựa cửa vào vách tường trên bộ phản gỗ mun láng bóng có thể soi gương được. Cả ngày, người o như được ướp trong hơi rượu thơm nồng và không khí bỗ bã của đám thực khách bây giờ như muốn được rũ bỏ bằng cách nhấp từng ngụm nhỏ bát rượu được đựng riêng trong cái hũ sành giấu dưới góc chân phản. O đang nhấm nháp mình. Thỉnh thoảng tiếng thạch sùng tặc lưỡi, bầy chuột rúc rích và con mèo mun lặng lẽ trườn vào lòng o lim dim mắt. O khóc, từ hai khoé mắt rỉ ra những giọt nước nóng hổi rơi xuống lông mèo. Không biết bộ lông mượt và ấm áp đã thấm hết bao nhiêu ký ức buồn tủi của o. Đám đàn ông đến ồn ào như giông, như bão, o bị cuốn vào chuyện đong đếm đến lúc họ đi, không khí chùng xuống như những ngày biển êm khiến lòng o lại nổi sóng, hụt hẫng. Mà đàn ông cũng kỳ, có những chuyện phải giấu thì họ lại rủ rỉ với nhau khi có hơi men. Tai o thính lắm. O cứ tưởng tượng ra những chuyện kín của họ. Trí tưởng tượng bao giờ cũng bay bổng hơn hiện thực đêm đêm dày vò o. O đâm nghiện cái mùi mồ hôi nằng nặng, mùi tóc rối, đâm nghiện cả cái chạm tay, chạm vai với da thịt sần sùi. Nhiều khi vuốt vuốt bộ lông mượt của con mèo hay mép phản phẳng lì trơn bóng vô hồn, o cứ thèm cấu xé một vật gì đó nóng hôi hổi, xù xì thô nhám. O nhận ra từng người qua giọng nói, qua bước chân và qua mồ hôi mặc dầu chưa có người nào dám sàm sỡ với o kể cả những kẻ nát rượu quen uống chịu và trả bằng cá. Họ quý o, nể o, nhìn o thật thánh thiện từ cái bờ vai thon thả, suối tóc chảy dài.

Trong đám khách uống rượu ấy, o Tam để ý một người con trai lơ lớ giọng ngoài Bắc. Anh uống một mình lặng lẽ không say chỉ đến lúc đứng lên trả tiền giọng mới hơi lạc đi. Cứ chập tối là anh đến ngồi một góc, uống chậm cho đến lúc vãn khách. Hỏi dò o Tam mới biết: Người ấy tên là Tuấn - con trai Hà Nội chính cống. Đi bộ đội ở đặc công thuỷ. Trong một lần đánh tàu ở Cửa Việt anh bị thương. Khuôn mặt khá đẹp trai của anh bây giờ nhăn nhúm, chằng chịt vết sẹo. Mắt, mũi cũng bị biến dạng đi qua hàng chục ca phẫu thuật chỉnh hình. Anh quyết định ở lại làng chài này vì nghe đâu anh có một người bạn chiến đấu quê ở đây đã hy sinh ở chiến trường. Và suốt ngày anh cùng với chiếc thuyền con trên biển. Anh thạo nghề câu lưới. Chỉ đến tối anh mới lên bờ nhờ bóng đêm che đi khuôn mặt dị dạng của mình mà đám trẻ con chưa quen nhìn anh đã khiếp. O Tam lại nghe người ta bảo nhau: Ông Tuấn ấy "sát cá" lắm; hay cá sợ khuôn mặt của anh. Nghe nói ngày trước, dân đi biển thường lấy nhọ nồi bôi vẽ lên mặt hình thù những con thuồng luồng thè lưỡi ra dọa cá. Một đêm trăng rằm sau khi hết khách, trời đã về khuya. Mùa hè nóng bức bối, o Tam lần xuống bến đá tắm. Làn nước mát như muôn ngón tay mềm ve vuốt da thịt o. Vẳng lại tiếng gà eo óc gáy. Thảng thốt, o cởi bộ đồ ngoài và lần ra xa bờ. Hình như o muốn tìm khoái cảm qua làn da mơn man con nước thuỷ triều sóng sánh ánh trăng. O khoả tay bơi nước vào. Quá mải mê, đắm chìm trong những giây phút hoà nhập với thiên nhiên, o tự nhiên bị mất phương hướng và không nhận ra phía bờ nữa. Cứ thế o mon men bước trầy, bước trật nơi sâu, nơi cạn. Bỗng nhiên o bị hẫng và rơi vào ven nước chảy của lạch sông. O chới với định kêu lên nhưng nhận ra mình đang ở trần nên lưỡi o líu lại. O đạp nước tung toé như con cá bị mắc câu. Nước xô vào mũi cuốn o đi. O chỉ còn kịp nghe tiếng mái chèo mơ hồ đâu đó đập nước cạnh mình rồi lịm dần.

Người đến kịp thời cứu o Tam chính là Tuấn. Từ lâu, Tuấn đã để ý đến o. Vừa ngồi uống rượu, Tuấn vừa ngắm nhìn o, nhận ra ở o Tam có nét gì quen quen như đã gặp ở đâu rồi mà không sao nhớ nổi. Nhà Tuấn ở cạnh hồ Thuyền Quang. Ngày nhỏ Tuấn đã say mê câu cá. Đêm xuống, Tuấn xách chiếc cần câu cùng ít mồi làm bằng mắm tôm luyện với bột giã viên nhỏ như kẹo mắc vào lưỡi câu uốn bằng dây thép mảnh đi câu trộm cá hồ. Có hôm, câu mãi chẳng được con cá nào, Tuấn đang bực mình thì nghe tiếng thở hổn hển. Ngoái lại đằng sau thấy một cặp đang mắc câu xoắn xuýt vào nhau như rắn trên bãi cỏ dưới chân chiếc ghế đá. Thì ra một ả điếm đã "ám" Tuấn từ đầu hôm đến giờ mới bắt được khách. Tuấn vụt đứng dậy đá phăng chiếc giỏ đựng cá xuống hồ, bẻ đôi chiếc cần câu dẻo quánh lùi lụi đi về nhà như một gã "trê" bẹp đầu vừa thoát nạn. Từ đó Tuấn cạch không ra hồ câu buổi tối nữa. Nhiều lúc bần thần nhớ Hà Nội đến nao lòng nhưng mặt mũi thế này, thôi đành làm gã dân chài; vả lại nhà Tuấn cũng đã nhận được giấy báo tử từ lâu. Trận đánh đó Tuấn cùng với anh Dũng - người con trai làng biển ở vùng này, một con rái cá nổi tiếng được giao nhiệm vụ đánh chiếc tàu chở xăng. Mọi việc diễn ra khá thuận lợi nếu như Tuấn không bị chuột rút, anh Dũng vừa bơi vừa dìu Tuấn. Tốc độ của họ chậm lại. Mìn nổ, cả bồn xăng lớn trên tàu bùng cháy, sáng như ban ngày. Xăng tràn xuống nước rực đỏ như một biển lửa - Tuấn bị bỏng nặng, khuôn mặt cháy xèo xèo. Anh Dũng có tài lặn đã ngụp xuống đẩy Tuấn thoát ra khỏi con rắn lửa đang cuộn tới. Những ngày Tuấn ở viện quân y buồn chán, anh Dũng thường đến chơi và kể cho Tuấn nghe về làng chài của mình.

Cái làng thật lạ. Một nửa sống trên bờ chủ yếu theo đạo thiên chúa, còn một nửa sống trên những chiếc thuyền câu nối lại với nhau như bè, như mảng. Nghe nói ngày trước họ chính là dân Bồ Lô - một tộc người nghe đâu là gốc Chiêm Thành. Đến nay họ vẫn còn giữ lại vài đặc điểm riêng của bộ tộc ấy như: Lưng hơi cong, cổ rụt, tóc xoắn. Họ sống thành cộng đồng, lấy thuyền làm nhà, con cái đẻ ra cứ lổm nhổm trên thuyền như cua. Sản phụ đẻ xong họ ném rau thai xuống biển, vì thế có một dây vô hình nào đó gắn những đứa bé ấy với nghề biển. Chúng biết học câu trước khi học đếm, mà học cũng để nhìn được mặt chữ và đếm tiền mà thôi. Người chết, họ phải mua đất trên bờ để chôn, bí quá thì chở sang núi Nam Giới lật đá làm huyệt. Có lần cao hứng, Dũng còn hứa gả em gái út cho Tuấn. Nghe Dũng kể, Tuấn đã hình dung ra cô gái đó có chiếc mũi dọc dừa và đôi mắt buồn mơ mộng. Dũng chép miệng và nhìn ra xa như hình dung ra em gái mình ở đâu đó phía cuối chân trời đang nổi mây bồng bềnh. Đôi mắt của út đã làm cho bao chàng trai mê mẩn. Nghe út nói thèm sim thế là sáng mai vừa chưa tỏ mặt người đã có một chàng trai thập thò ngoài cửa vạt áo cuộn lên đựng đầy sim chín; thì ra chàng ta đêm đó đã thắp đuốc chèo thuyền sang núi Nam Giới để hái sim kịp đưa về cho người mình yêu trước lúc trời sáng. Chao ôi, những quả sim mòng mọng nước ấy cứ ám ảnh Dũng mãi. Đến lúc bị thương nặng trước lúc nhắm mắt Dũng vẫn ao ước được ăn một quả sim chín. Quả sim ấy Tuấn đã hái được ở khe núi mang về, nhưng Dũng không ăn mà chỉ hôn đôi môi lạnh ngắt của mình lên màu da mọng chín của quả sim và anh khẽ mỉm cười rồi tắt thở.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #76 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 04:19:29 pm »

Đêm đó, sau khi uống rượu ngà say, Tuấn xuống chiếc thuyền con của mình định chèo sang núi thì linh tính một điều gì bất ổn mà chiếc thuyền ra giữa dòng cứ xoay tròn. Một cái xoáy nước lớn như cái lúm đồng tiền của mặt sông phụng phịu làm cho anh bần thần, rã rời tay chèo. Bãi sú đã hiện ra trước mặt. Anh cho thuyền tấp vào, buộc dây vào cây sú. Bỗng nhiên Tuấn nghe tiếng đập nước. Một khuôn hình phụ nữ như được tạo bằng ánh trăng, hai cánh tay trần khoả vào nước, mái tóc đen dài, đôi bờ vai thon - O Tam!

... Tuấn bế o Tam đặt lên chiếc phản gỗ. Anh cuống quýt mở rương lấy áo cho o bỗng nhìn thấy mấy tấm ảnh kẹp trong cuốn sổ tay rơi ra. Tuấn bàng hoàng kêu lên: Anh Dũng! Người con trai trong ảnh chính là Dũng. Phía đằng sau tấm ảnh có ghi dòng chữ quen thuộc của Dũng: "Tặng út Tam của anh - anh Nhì". Thế mà Tuấn cứ đi tìm mãi. Nguyễn Anh Dũng là tên của một thủ trưởng đặt cho anh sau một trận đánh khá ác liệt. Từ đó các bài báo viết về anh đều lấy tên Dũng - người làng không ai biết chiến công của anh, họ chỉ quen gọi anh là Nhì: là thứ hai con của ông Tám Thành, cháu của cố Tứ Lợi ở làng Ngũ Đại.

Khi nghe tin anh Tuấn cưới o Tam mọi người trong làng ai cũng vui. Từ bữa đó quán o Tam sôi nổi hẳn lên. Các con "sâu rượu" đãi Tuấn bằng tất cả sự phóng khoáng của dân biển. Một đêm mùa đông sau khi vãn khách, Tuấn bỗng thấy o Tam lằng lặng đóng cửa sớm hơn mọi ngày và thắp ba nén nhang lên bàn thờ. Hương trầm thơm đánh thức trong Tuấn bao nhiêu kỷ niệm. Nhìn lên tờ lịch trên tường, Tuấn chợt giật mình: đúng ngày này, năm ấy anh Dũng hy sinh ở trạm quân y tiền phương. Đến nay o Tam vẫn chưa biết ngày hy sinh của anh mình vì giấy báo tử gửi về đề tên: Nguyễn Anh Dũng, Tuấn hỏi: "Sao hôm nay em lại thắp hương". O Tam bảo "Em buồn quá! Nhớ hai anh Nhất và Nhì quá! Tội nghiệp chết mà không biết ngày giỗ". Đêm đó, hai người nằm cạnh nhau, o Tam báo cho Tuấn biết tin mừng là o đã có thai. Tuấn khấp khởi mừng. Đôi bàn tay sần sùi đầy vết sẹo của dây cước ăn vào thịt các đốt ngón tay cứ xoa mãi trên cái bụng phập phồng của o. O Tam kể: trước lúc lên đường đi bộ đội, anh Nhì đã nói cho o nghe về mối tình của anh với một cô gái trong làng theo đạo Thiên chúa. Cô ấy là người hát thánh ca hay nhất của nhà thờ. Họ thường hẹn gặp nhau ở đồi sim bên núi Nam Giới. Anh đã để lại một giọt máu đó là thằng Sim cháu bà Lục Tú hiện nay. Thằng Sim - Tuấn thảng thốt kêu lên. Đúng, thằng Sim, cái thằng da thịt trắng trẻo, má phúng phính như con gái, đi cùng thuyền với Tuấn. "Thế còn mẹ của Sim" - Tuấn hỏi: "Mẹ của Sim đã chết khi mới đẻ ra nó" - O Tam rủ rỉ nói - "Chị ấy đẻ khó, đưa lên bệnh viện; các bác sỹ bảo phải mổ. Hoặc là cứu mẹ thì mất con. Được con thì mất mẹ. Chị ấy bảo: "Đây là giọt máu duy nhất của anh ấy, của dòng họ ấy, các bác sỹ cứu cháu. Còn tôi thế là toại nguyện rồi. Khi gặp anh ấy bên kia tôi không còn gì phải hối hận".

Đến gần ngày o Tam sinh con, Tuấn ở nhà chăm sóc. Đàn ông vượt biển còn có bạn bè, đàn bà "vượt cạn" chỉ một mình. Cái đêm o Tam trở dạ, cả cái đám thực khách ở tửu quán gần như không ngủ, họ vừa nhấm rượu vừa lặng lẽ nhìn nhau không ai nói gì. Không khí như chùng hẳn xuống. Bà Hiểu hộ sinh của trạm xá xuống đỡ đẻ cho o Tam ở phòng trong. Đám đàn ông ngồi ngoài kẻ đun nước người về lấy áo lót cũ của con cái mình cho "gặp may". Khi nghe tiếng khóc oa oa của đứa bé, Tuấn đẩy cửa bước vào. O Tam lịm đi. Câu đầu tiên khi o tỉnh dậy hỏi Tuấn: "Anh ơi con mình có đầy đủ chân, tay, mắt mũi không? Tuấn rối rít "Lành lặn cả em ạ, bàn tay năm ngón, mũi đẹp lắm, con gái mũi dọc dừa, lớn lên khối chàng mê. Đôi mắt hơi buồn giống như Đức mẹ Ma-ri-a đồng trinh". Từ khoé mắt của o Tam những giọt nước nóng hổi lăn xuống gò má, hai tay o ghì lấy khuôn mặt của Tuấn hôn lên mắt, lên mũi, lên từng vết sẹo chằng chịt của anh. Khuôn mặt rạng rỡ - Bà Hiểu quay mặt giấu đi những giọt nước mắt vào chiếc khăn mỏ quạ của mình.

Sau khi o Tam "mẹ tròn con vuông", nhiều lúc thấy Tuấn bế con nựng nựng một lúc rồi im bặt; O Tam trực giác một điều gì đó không yên ổn trong Tuấn. O hỏi: "Hình như anh có điều chi buồn?". Giọng Tuấn chùng xuống: "Anh sợ con mình sau này lớn lên nhìn thấy mặt mũi cha". O Tam lại khóc. Những giọt nước mắt bây giờ không thấm vào lông mèo nữa mà nhoà vào má đứa con gái còn đỏ hỏn.

Sau một chuyến đi biển dài ngày về, Tuấn bỗng thấy nhà mình đầy ắp tiếng cười của trẻ con. Thì ra lũ trẻ nghe tin Tuấn uốn diều giỏi đã đến nhờ anh làm những con diều sáo ra gò biển thả. Từ đó, bao giờ o Tam cũng dự trữ những túi kẹo dành cho lũ trẻ. Nhất là những đứa bé nhát gan cứ thập thò ngoài cửa, thấy Tuấn về là chạy cuống quýt: "Ông ba bị chúng mày ơi!" bây giờ cũng đã sà vào lòng anh.

Đêm tháng ba "rét nàng Bân", thuyền của Tuấn đi đánh cá Chim. Trước lúc nhổ neo bỗng nghe thấy tiếng o Tam gọi: "Anh Tuấn ơi!" - Tuấn và thằng Sim sững người lại khi thấy o Tam phăm phăm xuống bến như người mắt sáng - Thì ra, tấm áo len o đan cho Tuấn đêm ấy đã xong nút cuối cùng. Bằng một linh cảm nào đó, o bước đi trong đêm theo sự dẫn dắt của một con người vô hình tìm đúng thuyền của Tuấn. Tuấn vội nhảy lên bờ: "Em về đi, con đâu?". O Tam gục vào vai Tuấn. "Anh ơi! Hay là anh về với em đi! Con em gửi cho bà Thất Bát hàng xóm rồi" - Tuấn nghẹn giọng: "Anh phải đi, đang mùa cá Chim - bây giờ em về kẻo con mong". O Tam sững sờ: "Em không biết đường về nữa đâu" - Tuấn đành nhờ bà Cửu Vạn dắt về.

Chuyến đi biển được rất nhiều cá Chim. Con cá Chim thật lạ, câu không ăn. Nó bơi thành bầy lấp lánh lật nghiêng, lật ngửa như những chiếc đĩa trắng - Dân biển phải chọn người da dẻ thật trắng bơi vào lưới; cá Chim theo người vào luôn. Hôm đó, ông Mười Hoá ngồi trên cột buồm nhấp nhổm như con thú rình mồi phát hiện ra một bầy cá Chim rất đông. Thằng Sim hăng hái xin lặn xuống nước vì da nó trắng nhất. Tuấn đưa cho nó bát nước mắm sánh màu cánh gián và dặn: "Cẩn thận nghe Sim, dạo này lắm Mập xà, thấy động phải lên ngay". Thằng Sim lặn xuống thấy cá đông, nó mê mải bơi một vòng, phía sau chân nó có hàng trăm con cá Chim theo nó để vào lưới. Bỗng nhiên ông Mười Hoá kêu lên: "Sim ơi! có Mập xà, lên thuyền nhanh đi cháu" - Mọi người nhìn về phía cây rạo bằng tre trồng giữa biển khơi thấy lưng con Mập xà nổi lên như lưng trâu. Thằng Sim luống cuống, tay chân rối rít không bơi thêm được. Cá Mập mắt kém nhưng mũi thính lắm. Nó đang hít hít tìm mồi và bơi về phía Sim. Tuấn bỗng kêu to: "Sim, đứng yên đừng bơi nữa". Anh vội lấy con dao nhọn chuyên uốn lưỡi câu đâm vào đùi trái của mình và lặn xuống biển phía sau lái con thuyền. Màu máu đỏ loang tan ra trong nước. Con Mập xà ngửi thấy mùi máu quay ngoắt lại tấn công Tuấn - Mọi người tranh thủ kéo Sim lên thuyền. Khi họ quay lại thấy Tuấn đang cầm dao bơi đứng đối mặt với con Mập: Nhưng sức anh yếu dần, sau một cái quẫy mình của con cá làm cho thuyền nghiêng hẳn đi, Tuấn không còn để lại dấu vết gì ngoài chiếc áo len và chiếc quần bộ đội màu cỏ úa trên thuyền.

Nghe tin Tuấn chết mất xác, một họa sĩ điêu khắc từng sống nhiều năm ở Hà Nội về hưu ở làng chài này đã nặn cho anh một bức tượng thạch cao theo tấm hình của Tuấn chụp trước lúc lên đường, khuôn mặt đẹp trai, lành lặn, pha chút hào hoa, lãng tử. Ngày hạ huyệt, tất cả thực khách quán o Tam mù đều có mặt. Họ mặc cho bức tượng chiếc áo len và chiếc quần cỏ úa. O Tam nhờ Sim trồng lên đầu mộ một cây dương. Bây giờ cây dương ấy đã vút cao chẻ ra hai nhánh như hai bàn tay đang ấp ủ nâng đỡ cả bầu trời trong xanh thoảng gợn chút đám mây màu vẩy cá - Màu mây báo hiệu mùa bão sắp đến...

 
Hà Tĩnh - tháng 4 năm 2003
 N.N.P
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #77 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 04:29:39 pm »

Người tù chăn dê núi Cẩm

NHẤT LÂM


Không biết duyên cớ từ đâu mà cô Ngọc ở Hà Nội chạy lên Thái Nguyên rồi dừng chân dưới chân đèo Nhe mở quán qua ngày.

Ngày ấy núi rừng thật bí hiểm, con người không đụng chạm đến rừng, đến cây lá. Ai vào rừng kiếm lâm thổ sản, đốn cây... thì có cái lễ xin rừng. Lễ là một con gà, cánh sơn tràng thì có đầu heo, mâm xôi, chai rượu và bông ba hoa trái, tùy mức độ của con người, miễn là lòng thành. Người ta bảo rừng thiêng lắm, kẻ nào xúc phạm đến rừng, đốn chặt bừa bãi là bị trừng phạt. “Ham của rừng thì rưng rưng nước mắt”.

Đèo Nhe nằm trên tuyến đường của hai tỉnh Tuyên- Thái, một bên núi cao rừng rậm, một bên rừng rậm suối sâu. Nước chảy ầm ào quanh năm. Con đường như sợi chỉ mảnh mai chạy giữa rừng xanh bất tận. Trong ngày cũng vắng bóng người, họa hoằn mới có tiếng vó ngựa của bà con dân tộc Tày, Nùng... qua lại như người sơn nhân. Kháng chiến, nơi đây trở thành căn cứ địa cách mạng, được canh gác cẩn thận. Cơ quan đóng ở rừng sâu, trong những cái lán dưới tán cây già, dọc triền suối, được gọi là An Toàn khu (ATK).

Không hiểu sao một cô gái xinh đẹp như Ngọc, dừng chân trên dặm đường khói lửa lại tấp về đây, mở quán qua ngày. Với cái tên “Quán Ngọc” để các chàng trai trẻ có dịp lên về hai tỉnh Tuyên -Thái dừng chân và ngắm.

Anh chàng Điền là người hay đến quán, gần như chủ nhật nào cũng có mặt. Điền ở xa quán cả chục cây số. Chàng trai tú tài trường Bưởi Hà Nội lẽ nào không cảm mến một cô Ngọc đồng hương phiêu bạt lên đây. Để rồi duyên nợ kéo hai người vào trại giam, rồi sau chung thủy trọn đời, nhưng đó là chuyện dài sau này.

Ra khỏi cổng trại giam Cẩm Sơn, ông Điền đứng lặng nhìn trời, nhìn đất, nhìn mông lung... nhìn người qua lại trên quốc lộ số 3 hết sức vội vàng. Người nào cũng đội mũ rơm, vòng lá ngụy trang. Cả nước lại đối mặt với cuộc chiến tranh chống Mỹ, một tên xâm lược giàu mạnh và tàn bạo nhất hành tinh. Vì thế mà ác liệt hơn cuộc chiến chống Pháp mà thế hệ ông Điền tham gia ngày Hà Nội khói lửa, rồi lên rừng và ông bị vạ. Ông không hiểu do đâu, tại làm sao mà họ có thể gán cho ông cái tội ấy. Tội làm gián điệp. Ông thông thạo tiếng Pháp. Ai đã học bậc trung học thời ấy mà chẳng thông thạo tiếng Pháp như ông. Ông nói chuyện với một sĩ quan cấp tá bị ta bắt làm tù binh.

Ông nhớ như thuộc làu những gì mình đã nói với viên sĩ quan Pháp ấy, và thậm chí nói rất hoa mỹ, đúng lập trường: Cuộc chiến tranh mà chính phủ Pháp gây nên là phi nghĩa, chính nhân dân Pháp cũng lên án và ủng hộ cụ Hồ Chí Minh. Một sĩ quan cấp tá như ông đã tham gia đánh Đức Hít-Le bị cụt một tay, ông phải là người ủng hộ chúng tôi kháng chiến, như các ông kháng chiến chống phát xít Đức chiếm đóng nước Pháp.

Tên thiếu tá De Courté đi đường dài ngày, áo quần lem luốc râu ria xồm xoàm, tiều tụy như người ăn mày trên nẻo đường chiến tranh. De... cúi gầm mặt lấm lét nhìn anh bộ đội cụ Hồ giảng cho nghe bài học vỡ lòng về một cuộc chiến tranh phi nghĩa. Anh ta giỏi tiếng Pháp, còn hơn cả người Pháp ít học, lại còn tặng De... cả nải chuối với mấy điếu thuốc lá mà hắn thèm rỏ dãi. Viên thiếu tá tù binh và có lẽ là cả Ngọc, họ đoán rằng: anh này nhất định là cấp chỉ huy trong bộ đội cụ Hồ. Họ đâu biết, Điền chỉ là một chiến sĩ bình thường của cục Địch Vận có nhiệm vụ thông dịch, viết những tờ truyền đơn bằng chữ Pháp để gửi đến nơi nào có binh lính Pháp đóng đồn, vô vùng tạm bị chiếm. Điền làm việc ấy quá khỏe, chẳng khác nào một sinh viên đi làm gia sư cho cô cậu đang học tiểu học. Vì thế anh có thời gian đến quán Ngọc tán chuyện cho vui và cũng để khỏa lấp thời gian hàng ngày.

Ông Điền quá xúc động, được nhìn mây trời, sông núi tự do. Đành rằng những ngày tháng chăn đàn dê đông mấy trăm con, chẳng bị ai câu thúc. Sáng mở chuồng, đàn dê chen lấn xô đẩy, con nào cũng có mục đích riêng; con thoát ra đi kiếm sống, con đực xồm thì chăm chăm vào chuyện ấy, con nhỏ bị kẹt, kêu lên như ai đâm cổ. Ông đem theo bi đông nước, một quyển sách, đôi khi vớ được quyển sách hay, nguyên bổn tiếng Pháp của các tác giả lớn: Dumas, André Maurois, ... thế là vui rồi. Ông đọc như ăn tươi nuốt sống con chữ in trên trang giấy ố màu. Khẩu phần trưa đạm bạc khó ai tin, nhưng là sự thật: vài khúc sắn với dúm muối. Cả nước khó khăn về lương thực, gạo cho bộ đội, cán bộ cũng hụt hơi, nhiều tháng mậu dịch xin khất nợ, đào đâu ra gạo ăn cho tù nhân. Những năm sau ở trại, quản giáo, rồi giám thị trưởng cũng nể ông, họ lấy làm tiếc, nếu ông không bị cái vạ tiếng Tây thì bây giờ ông là sếp của sếp trại trưởng này. Không ai quản ông, nhưng ông vẫn là người tù, người tù chăn dê.

Giờ đây ông ra khỏi trại, có giấy tờ hẳn hoi, do ông thứ trưởng ký. Ông đi một đoạn đường khá dài, dài đến bốn- năm cây số và nhìn lui, trại giam sau núi mờ dần. Nơi ấy đã giữ lại của ông thời gian hơn mười năm. Cuộc đời tù quá đắng cay mà ông chẳng biết vì sao thượng đế lại chọn ông. Trong khi ông gánh chịu, chẳng một cơ quan nào, hay một ai tra cứu xét lại cho ông nhờ. Vậy mà ông tưởng như mới đây thôi. Ông reo lên: ôi tự do...

Cái quán nước bên quốc lộ 3 chỉ là mấy tàu lá cọ che tạm nắng mưa, chẳng có gì đáng kể, thuốc lá điếu bán lẻ, kẹo lạc, nải chuối tiêu vàng vỏ, nước chè Thái ủ kín ấm chuyên với cái phích tre. Bà già chủ quán nhìn ông và đoán ra người tù được tha, nhưng bà chưa hỏi vội.

Bưng chén nước ấm trong tay, ông xúc động, ông đưa lên bờ môi và tự hỏi: Về đâu bây giờ...? Trong giấy phóng thích đã ghi rõ “Không được cư trú ở Hà Nội”. Trong khi ông là người Hà Nội gốc, thật khó xử. Làm sao báo cho Ngọc và người thân. Sau giây phút vui sướng tột độ khi được tự do bước ra cổng trại giam, đến lúc này thì ông âu lo dằn vặt: Về đâu!

Ngày Mỹ ném bom miền Bắc là ngày 5 tháng 8 năm 1964. Ngày ông Điền ra trại là ngày 10 tháng 8 năm 1966. Đợt tha này là nhân dịp lễ Quốc khánh, mà sao cả trại đông vậy chỉ có mình ông. Mình vô tội... - Ông tự hỏi, tự trả lời rồi thưởng thức chén trà Thái.

- Ông đi về Quán Triều, cũng đến dăm cây số, xuôi tàu, nhưng nghe đâu tối mới có tàu chạy. - Bà chủ quán nói với ông.

- Vậy bà cho tôi ngồi đến chiều nhé!

- Thì tôi có lấy tiền ngồi của ai đâu, thằng Mỹ nó thả cái ầm là hết, mà sao không báo cho người nhà đến đón?

- Nào tôi có biết là mình được tha.

- Máy bay, máy bay...

Súng phòng không bắn lên trời từ phía khu gang thép. Ngồi trong cái hầm kèo của bà chủ quán, nghe đạn nổ, ông Điền mường tượng như ngày ấy ở đèo Nhe, chỉ có khác cô chủ quán là Ngọc, một cô Ngọc trẻ đẹp, dân Hà Nội tản cư, và máy bay Pháp bay đến dội bom Na Pan Khu ATK, loại máy bay cánh quạt bay với tốc độ gấp ba bốn lần xe du lịch hiện đại. Bây giờ không lực Hoa Kỳ kiêu ngạo Thần Sấm, con Ma, thập tự chinh với tốc độc siêu tốc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #78 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 04:31:31 pm »

Hôm ấy cũng đẹp trời, Điền từ cơ quan xuống quán Ngọc, đang nói chuyện sau một tuần xa nhau, từ dưới đèo đi lên là ba anh bộ đội với một tù binh người Âu. Có lẽ họ đi từ xa, dài ngày nên mệt mỏi. Đặc biệt là tên tù binh lê đôi dép kiểu Bình Trị Thiên không muốn bước, tóc râu bờm xờm như người rừng hoang dã. Khi bọn họ vào quán, tên tù binh ngồi bệt xuống đất không khách sáo và Điền thấy thương. Ngoài cái dáng tiều tụy, tên tù binh cụt một tay, nom càng thiểu não. Uống ly nước ngon lành, nét mặt người tù bớt mệt mỏi, và đôi mắt sáng lên khi thấy mấy nải chuối treo ở cái sào nứa thật ngon mắt.

Điền bắt chuyện và hai người như cái duyên định mệnh gặp nhau, họ nói tràng giang tiếng Pháp như suối chảy. Tên tù binh không ngờ nơi đèo heo hút gió lại có một người am tường tiếng mẹ đẻ của y, có thể nói là rất trí thức.

- Vâng thưa ông tôi là một tù binh, một thiếu tá bị bộ đội Ông Hồ bắt tại mặt trận, trên một cánh đồng, tôi đâu ngờ lầy thụt đến khủng khiếp.

- Hình như cánh đồng ấy là Hải Lăng tỉnh Quảng Trị.

- Vâng ở đó có một thánh đường, tên như con gái đẹp Thanh Hương.

- Ồ thế thì tôi biết rồi, ông là thiếu tá De Courté chỉ huy trận càn quét huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị và bị bộ đội 95 của chúng tôi tiêu diệt, còn ông thì may hơn, bị bắt sống và đang nói chuyện với tôi.

- Vâng thưa ngài đúng vậy.

- Ông đã đi bộ từ Quảng Trị ra cả tháng trời, vất vả thật, nhưng vì chiến tranh và do chính phủ Pháp gây nên.

- Thưa ông đúng vậy, các ông có giết tôi sau khi lấy cung?

- Giết ông... Nếu giết ông thì đưa ông ra đây làm gì... Ông sẽ được hưởng chính sách nhân đạo của cụ Hồ và nhân dân Việt . Ông được đối xử tốt, nghỉ cho lại sức rồi được tha về nước qua con đường biên giới Việt Trung như hai ông Trung tá Le Par và Charton. Ông biết đấy, bộ đội chúng tôi chỉ thả tự do cho ông bằng con đường ấy.

Viên thiếu tá họ De quý tộc rạng rỡ nét mặt và cám ơn chính sách nhân đạo của cụ Hồ Chí Minh.
Điền được đà và trước người yêu càng nói càng hăng. Cô Ngọc vốn đã yêu mến Điền, nay thì bái phục và mừng lắm. Kháng chiến thành công, vợ chồng về lại Hà Nội thế là trọn vẹn, con đường hạnh phúc Ngọc đã ôm ấp từ ngày gặp Điền và quen anh. Còn mấy anh bộ đội dẫn tù, họ cho rằng đã gặp một chính ủy ở An Toàn khu.

Khi tên tù binh đi rồi, Điền còn ngồi lại nói hươu nói vượn- Tên này có giá lắm. Hắn dòng dõi quý tộc, tham gia thế chiến đánh Đức cụt tay, đáng lẽ về hưu, lại qua Đông Dương. Đúng là thực dân nòi mà chắc muốn leo lên đại tá, ai ngờ đại nhục...

Điền cầm mũ nan chào Ngọc và hẹn chủ nhật đến, nếu... Cũng vừa lúc máy bay Pháp đến ném bom cháy. Chúng bay dọc sông Lô rồi bất ngờ cắt bom vào rừng Nứa. Loại bom có chứa xăng bột, nứa bén vào cháy đỏ lựng trời.

Lửa cháy đến chiều, nhờ có trận mưa nên lửa dập tắt, đúng là trời cứu phe ta.

Một tuần sau, các chiến sĩ cảnh vệ đến bắt Điền tại nơi làm việc và dẫn anh đi trong đêm. Đi như vậy hơn một tuần rồi dừng chân ở một cánh rừng. Bị bắt với Điền có đến bảy tám người, nhưng chẳng ai biết họ ở bộ phận nào. Riêng Ngọc, Điền chẳng biết gì, sau này Ngọc xin được thăm anh mà không gặp, họ cho nhận thư và anh xúc động rơi nước mắt.

Cả đêm Điền mất ngủ, anh được giam bằng hệ thống kín đáo giữa rừng có rào gai và hào sâu, cảnh vệ cầm tiểu liên kín đáo. Chỗ này là đâu. Mù tịt, bởi chẳng có ai liên lạc với ai. Ngày ăn hai bữa cơm tù kháng chiến, nói đúng hơn là ăn hai bữa sắn, rồi bắp già, rau rừng. Bù lại nước trà rất ngon và thoải mái uống.

Người ta ra câu hỏi đánh máy trên giấy, anh cứ việc trả lời, phải giải trình hàng mấy trang giấy mới tạm đủ cho một câu hỏi. Anh viết bằng một loại văn đã học trường Pháp Việt bậc Tú tài.

“Tôi có bằng tú tài... là do học giỏi nên có học bổng, chứ gia đình tôi bình thường, bố là thợ sắp chữ, mẹ buôn hàng xáo. Tiếng Pháp được sử dụng chính trong nhà trường, tiếng Anh mới là ngoại ngữ, tôi biết cả hai thứ tiếng là nhờ vậy.

Với tên tù binh họ Đờ là sự tình cờ gặp nhau trong quán cô Ngọc người Hà Nội tản cư, tôi cũng là dân Hà Nội gốc, gặp và quen và thân và yêu. Tôi yêu cô Ngọc”


Anh viết thế nào cũng bị người phụ trách cho là thiếu thành khẩn, chưa đạt. Điền không hiểu thế nào là đạt.

Sau này chuyển trại Cẩm Sơn, anh mới biết, đạt có nghĩa là nhận tội làm chỉ điểm để máy bay Pháp ném bom.

Thì ra vậy!

Điền ra đi từ ngày Hà Nội khói lửa, anh chiến đấu ở khu chợ Đồng Xuân, đơn vị được lệnh rút qua bên kia sông Hồng, không hiểu từ đâu, anh được điều về làm công tác địch vận ở bộ phận chuyển ngữ, Việt sang Pháp và ngược lại. Điền bất ngờ đến rụng rời là mình bị bắt vì tội danh làm gián điệp cho Pháp.
Số người ăn sắn tù như anh đã hết, họ được tha được minh oan... vô tội. Anh còn lại một mình. Về trại Cẩm Sơn anh mới biết kháng chiến chống Pháp đã thắng lợi.

Trại giam núi Cẩm Sơn khá đông, được chia thành đội, mỗi đội từ 25 đến 30 tù nhân, ghép vào như vậy để hình thành từng bộ phận lao động như trồng rau, chăn nuôi, tưới cây.

Ông Điền đề xuất nuôi dê và ông xin giám thị trưởng trại được đi chăn như ông Tô Vũ đời xưa. Trại trưởng mừng và cho cấp dưới đi mua dê, còn chuồng trại thì do tù làm lấy, không đâu có kỷ luật và nhiều tài vặt như ở trại tù này. Cái gì họ cũng làm được và khéo tay.

Với quyển sách cầm tay, hàng ngày ông Điền lùa đàn dê lên núi Cẩm vừa chăn vừa đọc sách. Sách ông mượn thư viện trại, nhưng là của chị Ngọc lên thăm và cung cấp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #79 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2011, 04:33:13 pm »

Ngọc về Hà Nội đến thăm nhà mới biết ông chuyển trại và gắn bó thăm nuôi. Nhờ có Ngọc, ông liên lạc được với đồng đội từ khi ở bộ đội thủ đô. Thế là tròn 15 năm mới có tin tức và Điền được tự do, và Mỹ đã ném bom miền Bắc. Cô Ngọc xinh đẹp ngày nào nay là chị Ngọc thủy chung với anh Điền, nhận lời sống trong cái lán tre lá cũng ở bên này núi Cẩm. Ông Điền chăn dê nuôi gà, bà Ngọc bán quán, may vá nuôi sống nhau. Hai con người Hà Nội gắn bó nhau như tiền định, cùng đi kháng chiến, cùng liên lụy và theo nhau cho đến bây giờ. Cô Ngọc chỉ có thời gian ngắn, riêng Điền lao đao như Thúy Kiều. Kiều nhan sắc tài hoa, còn Điền đẹp trai học giỏi Pháp ngữ và vạ miệng.

Mỗi lần lùa dê lên núi, ông Điền trìu cảm nhìn bạn đời mà ông quý không có một loại ngọc nào sánh được, cho dù đó là ngọc quý lưu ly.

- Máy bay hay đến về chiều, em đừng đi đâu xa nhé, đừng ra gần quốc lộ...

Ngọc đùa:

- Ông Tô Vũ ơi, chính ông mới cần gìn giữ, thằng Mỹ ngồi máy bay nó thấy dê là ông xơi bom đấy.

Đời ông không may chuyện này, hóa hay chuyện khác. Nhờ có Ngọc ông được bù đắp những tháng ngày của cuộc đời còn lại. Nếu Ngọc có với ông một đứa con thì thật đầy ắp trọn vẹn.

Tháng tám ở vùng bán sơn địa nắng màu vàng như hổ phách, sương sớm tan lá rừng biêng biếc và về đêm trời se lạnh. Người dân hai bên sườn núi Sơn Cẩm chờ sương tan là đi hái chè, lứa chè cuối cùng trong năm rồi đẵn cành chờ mùa xuân ra lộc. Một vụ chè mới bắt đầu.

- Máy bay... máy bay... máy bay.

Mặt đất rung chuyển, tiếng bom dội xuống, súng phòng không tầm thấp tầm cao bắn lên trời, tên lửa vạch ngang dọc tìm mục tiêu... Và

- Trúng rồi, bà con ơi rơi rồi... kìa dù đỏ, máy bay cháy.

Một tiếng nổ như quả núi nổ tung vì một nguyên nhân nào đó.

Chiếc dù đỏ lơ lửng rồi rơi đâu đó trong cánh rừng vào huyện Phú Lương, có ai đó bảo sau núi Chúa.

* * *

Khi chiếc xe U-oát dừng trước nhà, vợ chồng ông Điền cũng vừa ăn cơm xong, ông đang điều chỉnh đài bán dẫn để nghe bản tin chiều, bà Ngọc làm việc gì đó phía sau.

Ba bóng người xuất hiện, ba anh bộ đội áo quần giày mũ còn mới. Người đi đầu tiên lên tiếng.

- Xin chào hai bác, chúng tôi là bộ đội ở quân khu.

- Vâng xin chào các anh, nhưng mà các anh tìm ai.

- Chúng tôi đến gặp bác... bác là bác Điền...

- Vâng tôi là Điền đây, các anh gặp tôi có việc gì chứ, mời ngồi tạm uống chén nước.

Cả khách lẫn chủ ngồi quanh bộ bàn ghế trúc vàng không còn mới, nhưng rất ưa nhìn. Loại trúc vàng tỉnh Bắc Kạn. Anh bộ đội có tuổi vào đề:

- Bộ đội ta vừa bắn rơi máy bay trưa nay, tên phi công đã bị bắt đang ở chỗ chúng tôi.

- Vâng.

Ông Điền như muốn nói thì tôi có liên can gì.

- Đồng chí tư lệnh quân khu muốn khai thác để biết ý đồ mà có kế hoạch lập trận địa phòng không. Quân khu không có ai nói thạo tiếng Anh, và đồng chí nhờ bác giúp cho.

- Nghĩa là quân khu nhờ tôi làm thông dịch.

- Vâng thưa... đồng chí.

- Quả thật tôi có biết tiếng Anh, nhưng bỏ lâu rồi, vả lại... tôi xin các anh.

Bà Ngọc từ sau nhà đi ra và nói không kiêng dè:

- Không, chẳng thông dịch thông diếc gì cả, ông đã lao đao lận đận vì nói tiếng Tây với thằng Đờ gì nhỉ... bây giờ nói với thằng Mỹ giặc lái thì tàn đời. Xin các anh tha cho nhà tôi.

- Thưa bác đó là chuyện đau lòng mà khi ra đi đồng chí tư lệnh đã dặn chúng tôi là... Vâng chuyện quá khứ làm bác buồn là phải. Đồng chí tư lệnh quân khu biết và có lần bảo chúng tôi có dịp đến thăm hai bác. Thời chiến mọi chuyện có thể xẩy ra. Bây giờ cả nước dốc lòng dốc sức đánh Mỹ mong bác gái thông cảm để bác ông...

- Không, là tôi nói vậy, ông ấy quyết định, đừng để tôi đi thăm nuôi dài ngày ở trại giam. Bạn bè một thời là trung tá, đại tá... họ có biết chữ Pháp chữ Anh đâu. Ông thì biết giỏi, đến thằng Pháp ấy cứ mẹc xì mẹc xì rối rít để rồi làm một ông Tô Vũ.

Bà nói một tăng như cái lò xo lâu ngày bị dồn nén nay bùng ra.

- Thôi mình ạ, số phận cả thôi, mà tôi có làm điều gì không phải đâu. Bây giờ cả nước đánh Mỹ sao mình lại từ chối. Vả lại đã có ai đuổi tôi ra khỏi hàng ngũ anh bộ đội cụ Hồ, chưa ai cho tôi về hưu giải ngũ cả. Bây giờ quân khu đến đón. Thôi mình để tôi đi. Các anh chờ tôi thay bộ quần áo tươm tất, nói chuyện với ba thằng Mỹ là...

- Thế này bác ạ, bác cứ đến quân khu, mọi thứ đã có sự chuẩn bị đầy đủ cho người lính ra trận.

Ông Điền xúc động nhìn bà Ngọc như nói với vợ: Đó em thấy không...Bà ra tận xe tiễn chồng, xe chạy, bà nhìn sao và như thấy mình năm nào trên đèo Nhe.

                                       
N.L
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM