Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:43:48 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn - Tạp chí Sông Hương  (Đọc 75378 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #80 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 08:17:45 am »

Chuyện kể sau chiến tranh

NGUYỄN THỊ LÊ NA


Chiếc Suzuki chồm lên trên con dốc ngoằn nghoèo ghồ ghề đất đá. Người đàn ông cố giữ lấy tay lái dù vậy vẫn không tránh khỏi quệt vào đám cây cỏ dại ven đường. Xe chạy chậm dần và dừng hẳn trước ngôi nhà tranh thấp lè tè nép bên ngọn đồi heo hút. Người đàn ông khoác chiếc túi xách căng phồng rồi đi thẳng vào nhà vừa lúc ánh chiều sắp tắt.

Nụ lúi húi vật lộn với đám củi ướt, khói xộc vào mắt, vào mũi cay xè không hề biết đến sự hiện diện của người đàn ông lạ mặt. Mãi đến khi thắng bé kéo lay vạt áo:

- Mạ ơi! Có ai hỏi mạ tề!

- Nụ... Nụ không nhận ra anh à? Anh đây mà! Quân đây mà ...

- Anh ...!

Cả cơ thể Nụ run lên, hai bàn tay lấm lem cứ xoa xoa vào nhau luống cuống vì thừa thãi. Cứ thế, thời gian như ngừng trôi trong ánh mắt sững sờ, trân trối của Nụ nhìn người đàn ông đang đứng trước mặt, nụ cười rạng rỡ trên gương mặt chuyển sắc hồng rồi tái, miệng lắp bắp những lời không rõ nghĩa. Thằng bé không hiểu gì im lặng nép vào mẹ, ngây thơ nhìn chằm chằm vào người khách lạ. Bất chợt, Nụ khóc nấc lên, quay mặt kéo vạt áo lau dòng nước mắt tuôn trào.

- Anh còn tìm tui mần chi nữa! Lâu sau Nụ mới cất tiếng nghẹn ngào.

- Nụ không mời anh vào nhà ư?

Người đàn ông vẫn giữ giọng nhẹ và êm khiến Nụ sực tỉnh cơn mê, quay sang thằng bé:

- Con sang nhà bác Thơm chơi, cho mạ nói chuyện với khách!

- Dạ! Thằng bé ngoan ngoãn, lon ton khuất sau hàng rào.

Nụ tĩnh tâm nhìn kỹ người đàn ông đối diện. Vẫn gương mặt ấy, đôi mắt ấy, nhưng vầng trán cao hơn bởi cái đầu húi cua ba phân, chiếc áo sơ mi sặc sỡ những chim cò bận với chiếc quần Jean bốn túi bạc màu ôm lấy một cơ thế đã bắt đầu nặng nề. Cái con người hiện tại khác với ngày xưa quá; ở anh ta dường như không còn chút hơi hướng của ngày xưa ấy nữa. Ngày ấy, Quân hiền lành, tốt bụng. Bọn con gái trong làng đứa nào cũng mê cái dáng người rắn rỏi, lại thông minh học giỏi và khéo tay. Công việc của Đoàn thanh niên vào tay Quân đều êm chèo mát mái. Nụ xinh đẹp và hiền thục. Hai người phải lòng nhau tự khi nào...

Quân đảo mắt nhìn quanh một lượt, rồi nhìn Nụ:

- Nụ, em gầy đi nhiều quá. Chắc cuộc sống của em vất vả lắm?

- Tui chẳng có chi vất vả cả. Rừng núi vây quanh, bầu bạn, hàng xóm bao bọc. Con cái vui vầy... Còn anh, lâu nay sống có được bình yên không?

- Nụ à, có chút quà cho em với con...

Người đàn ông như không hề để ý đến câu hỏi của Nụ, cúi xuống túi xách rồi lần lượt xếp lên bàn những thứ hàng xa xỉ mà Nụ chưa một lần mơ tới:

- Chắc Nụ giận anh nhiều lắm, nhưng hôm nay thực lòng anh xin chịu tội với em. Chiến tranh trận mạc, chúng mình không tìm được nhau. Giờ anh cầu xin em để hai cha con về sống với nhau, không được dài lâu thì dăm bữa nửa tháng cũng được. Cuộc sống ở thị xã dù sao cũng đỡ vất vả hơn...

Quân nói một mạch không hề biết Nụ đang thực sự hoảng hốt:

 - Anh nói răng, anh muốn đưa con tui về với anh ư? - Nụ không tin ở tai mình nữa.

- Anh biết như thế em sẽ rất buồn, nhưng dù sao anh là cha nó...

- Anh mà cũng tự nhận mình là cha thằng bé ư? - Đôi mắt thất thần của Nụ nhìn thẳng vào người đàn ông, nước mắt lưng tròng: Thì ra, lâu nay anh đã biết nó là con anh rồi? Vậy bao năm nay đi đâu, răng anh không một lần hỏi thăm, anh có biết mạ con tui đã sống thế nào không? Bây chừ anh còn muốn đưa nó đi...

Sự uất ức khiến Nụ nói không hết câu. Cảm xúc gợn lên khi nhìn thấy người mình trọn đời tôn thờ, yêu dấu phút đầu qua đi. Dường như nỗi đau dồn nén đã lâu nay có dịp bùng lên như ngọn lửa, gương mặt Nụ đanh lại:

- Nếu anh đến đây chỉ vì mục đích đó thì anh về đi và đừng bao giờ đến đây nữa!

- Nụ... anh xin em...

Quân nói chưa hết câu, Nụ gắt lên:

- Anh đi đi.

Người đàn ông đứng lên lầm lũi đi trong bóng đêm vừa sập xuống. Gương mặt rắn đanh, xám lại vì thất vọng và tức giận.

Chiếc xe chồm lên lao vào bóng tối, nhả lại làn khói đen kịt cùng mùi xăng khen khét xộc vào mũi. Nụ nằm vật ra giường. Sự việc quá đột ngột, quá phũ phàng làm Nụ không còn kịp trở tay, không kịp suy nghĩ. Đôi mắt nhìn hun hút vào màn đêm dày đặc bao phủ, mặc cho đàn muỗi vo ve quanh mình. Nụ quay cuồng với bao ý nghĩ. Làm thế nào bây giờ? Thằng bé là kết quả của tình yêu nồng thắm đầu đời của Nụ... Một đêm, máy bay đánh vào làng, cha mẹ và đứa em trai còn nhỏ của Nụ ở trong hầm bị trúng bom. Đêm đó, Nụ đi trực chiến ở bờ biển. Quân đã nhặt từng mảnh xác của mỗi người, chôn cất tử tế. Điều đó càng làm Nụ yêu Quân hơn. Quân như người cha, như người anh trụ cột trong gia đình Nụ. Nhưng rồi Quân cũng ra đi. Anh nhập ngũ ít ngày sau đó. Quân đi rồi, Nụ đứng ngồi không yên cũng hăng hái ghi tên vào thanh niên xung phong với hy vọng gặp lại Quân ở chiến trường. Tiểu đội của Nụ chốt ở cung 20, đoạn có ngầm Ta Lê, nằm phía Tây Trường Sơn, suốt ngày san lấp hố bom thông đường cho xe qua. Vẫn chưa gặp lại Quân. Cứ mội lần nhìn bộ đội hành quân vào , Nụ không kìm mình  được cứ hét toáng lên hỏi có ai là Quân làng Trung Lộc trong đó không! Đáp lại Nụ, ai cũng nhận mình là Quân cả. Sau mỗi lần như thế, Nụ lại buồn nhưng cứ tin vào hy vọng. Sự trẻ trung trong sáng của những trái tim thiếu nữ như thách thức tất cả, bom đạn, chết chóc, mọi eo xèo căng thẳng của chiến tranh gần như chỉ làm họ thêm cứng cáp.

Không biết Quân có nghe thấu  những thổn thức trong lòng Nụ không, mà buổi sáng ấy, một buổi sáng như thực như mơ của chiến trường, họ đã gặp nhau. Sau một đợt thông đường, Nụ đang ngồi bên con suối kỳ cọ những lớp đất còn dính bết hai bàn chân, thì Tím hớt hải chạy đến: "Nụ ơi! Có anh bộ đội tìm mi tề!" Như có linh tính mách bảo, Nụ biết đó là Quân. "Là anh Quân đó, Quân của tao đó!" Nỗi vui mừng chảy tràn trên cả khuôn mặt vẫn còn lấm lem của Nụ. Họ cứ ghì chặt lấy nhau như đã xa nhau cả thế kỷ. Một tiếng đồng hồ cho một cuộc gặp gỡ quả là quá ít so với việc Quân chạy bộ 50 cây số đến gặp người yêu. Tiễn nhau đến một khoang cỏ, hai người dùng dằng, không nỡ chia tay, sợ ngày mai không còn gặp nhau được nữa. Và trong niềm hoang sơ của bạt ngàn cây rừng như che chở, họ đã trao cho nhau nỗi niềm đam mê thánh thiện. Giữa vũ trụ bao la và tình yêu của hai trái tim đang còn rất trẻ, những ràng buộc, những ước lệ của con người đặt ra đã trở thành vô nghĩa. Nụ ngả đầu vào ngực Quân cảm nhận bàn tay của Quân đang vuốt trên mái tóc vẫn đang dày và óng ả: "Anh về báo cáo với đơn vị, rồi chúng mình cưới nhau nghe Nụ?". "Dạ, em sẽ chờ anh. Lâu mấy em cũng chờ!". 
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #81 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 08:19:47 am »

- Mạ, mạ ơi! Ông khách về rồi à? Tối thui ri răng mạ không thắp đèn lên?

Tiếng thằng bé lay thức, giục Nụ ngồi dậy.

- Để mạ dọn cơm cho con ăn. Nụ nói và kín đáo lau nước mắt.

- Mạ, răng mạ khóc rứa, ông khách nói chi mạ à?

Nụ không nói gì. Thằng bé xích lại gần chị hơn, thỏ thẻ:

- Mạ ơi, bác Thơm nói cha con cũng có chiếc xe vừa to vừa đẹp như của ông khách đó, đúng không mạ? Không biết khi mô cha lên đây mạ hè?

Nụ lau vội dòng nước mắt nhìn thắng bé trân trân, nói như quát:

- Không phải rứa mô, con đừng nghe tầm bậy!

Rồi như thấy mình vô lý, Nụ dịu dàng:

- Thôi, ăn cơm đi kẻo đói, con!

Thằng bé bưng bát cơm vẫn không thôi nhìn Nụ dò xét. Còn chị thì nhìn nó với bao nỗi yêu thương, bao niềm tủi cực. Đã mười tuổi mà trông nó còm cõi như đưa bé lên sáu, lên bảy. Gầy nhẵng, xanh xao đến tội nghiệp. Những ngày tháng vất vả dọc các tuyến đường đạn bom rồi đến lâm trường trồng rừng, thằng bé đã không đủ dinh dưỡng...

Nụ cắp cái rá định sang nhà Thơm vay lon gạo nấu cháo cho con thì giật mình bởi âm thanh của tiếng động cơ chói tai đến gần. Lại là anh ta. Lần này anh ta đi cùng một phụ nữ thật sang trọng. Vẻ quý phái toát ra từ quần áo, dáng đi, và cả những đồ trang sức trên người cô ta nữa. Chưa kịp định thần, người phụ nữ tự giới thiệu mình là vợ Quân rồi nói luôn không cần rào đón:

- Chị Nụ à! Chắc chị đã hiểu mục đích của vợ chồng em lên đây. Em biết chị đã chịu nhiều khổ sở, nhưng không lẽ cuộc đời chị đã khổ rồi còn để thằng bé phải khổ theo. Em mong chị hãy để nó về sống với chúng em. Em hứa sẽ thương yêu chăm sóc nó như con đẻ của mình...

Người phụ nữ dừng lời, lôi từ túi xách ra một gói vuông vức được gói ghém cẩn thận, dè dặt đẩy về phía Nụ.

- Chị à, đây là chút lòng thành, em mong chị hãy nhận lấy. Chị cũng đã vất vả nuôi thằng bé bao năm...

Quân đệm thêm lời vợ:

- Đây là số tiền đủ giúp Nụ tạo lập cuộc sống mới, Nụ có thể...

Nụ im lặng. Vợ chồng Quân nín thở dõi mắt theo từng cử chỉ của Nụ. Nụ cầm lấy gói  tiền to như viên gạch bọc trong giấy báo, hiểu rằng người ta đang trả cho tuổi thanh xuân của mình. Ngày Quân trở về đơn vị, lòng Nụ như có một khoảng trống không thể gì lấp đầy được. Lại càng lo lắng hơn khi Nụ cảm thấy cơ thể mình có những biểu hiện khang khác. Tháng thứ nhất, thứ hai còn là những nghi ngờ, nhưng đến tháng thứ ba thì Nụ không thể giấu được. Cả tiểu đội xôn xao. Nụ bị truy bức, chất vấn, dằn lên dằn xuống như một kẻ tội phạm. Đứa bé trong bụng cứ lớn dần lên cùng với những thấp thỏm đợi chờ của mẹ. Mỗi loạt bom dội về là trái tim Nụ thêm một lần nhức nhối... Nụ không biết, hay đúng hơn là Nụ không tin mình đủ sức đợi chờ xoay xở giữa rừng Trường Sơn ra sao để sinh con và chờ Quân quay lại. Nhưng gần nửa năm trôi qua, Quân vẫn bặt vô âm tín.

Giữa lúc Nụ phải sống dở chết dở vì những nguyên tắc của tổ chức thì chiến tránh kết thúc. Người ta vui niềm vui chiến thắng nên không mấy ai còn nhớ đến chuyện riêng của Nụ nữa. Thế nhưng, sinh con ở chiến trường cũng khó, mà mang cái bụng vượt mặt về quê lại càng khó hơn khi không có Quân bên cạnh. Chao ơi! Hạnh phúc! Nụ sắp có con. Hạnh phúc đấy nhưng ai sẽ chấp nhận cái hạnh phúc mà Nụ đang có? Nụ hiểu rằng gia đình Quân sẽ không chấp nhận đứa bé khi không có chí ít một lời của Quân. Nụ đành xin chuyển về làm công nhân ở lâm trường Khe Su với hy vọng rằng Quân sẽ tìm đến.

Thấm thoắt đã mười năm, Nụ lấy Trường Sơn đặt tên con để mãi mãi hoài niệm về những điều không bao giờ cũ. Thằng bé lớn lên trong sự âm thầm chịu đựng đan xen những thấp thỏm đợi chờ của mẹ. "Hãy chờ anh nghe Nụ ..." Chỉ một câu hẹn hò mà Nụ đã bỏ quên cả thời con gái. Bao năm qua, chiến tranh đã kết thúc, Quân đi đâu, sao không trở lại tìm Nụ như đã hứa? Hay anh đã vĩnh viễn nằm lại một góc chiến trường nào đó rồi chăng? Ý nghĩ đó làm tim Nụ nhói đau. Thời thiếu nữ đã trôi vào quá khứ, Nụ lấy cuộc sống của con để tạo niềm vui và lãng quên số phận. Nhưng con người đâu phải gỗ đá, chính những cái đời thường nhất lại làm Nụ phải khổ sở. Những đêm một mình đối diện với chính mình, kỷ niệm cũ ở chiến trường cứ len lỏi gặm nhấm trái tim Nụ. Nỗi nhớ Quân lại cồn cào cháy bỏng. Cuộc sống đối với Nụ vốn khắc nghịêt lại càng khắc nghịêt hơn giữa thiếu thốn trăm bề ở vùng xa xôi heo hút này.

Hình như Thượng đế có một lần mỉm cười với Nụ. Nụ được tin Quân đã về. Mẹ con Nụ tươi hẳn lên, ấm áp hẳn lên giữa cái lạnh thấu xương của miền rừng núi mùa đông. Ai cũng vui lây niềm vui đang ngời lên trong từng ánh mắt, lời nói của Nụ. Cứ nghĩ đến giây phút gặp lại Quân, Nụ bước đi mà không hề cảm nhận được những đợt gió rét cứ táp vào mặt. Đôi chân đưa Nụ về đến ngõ nhà Quân lúc nào không biết. Nụ đứng tần ngần trước ngõ hồi lâu. Không biết bây giờ Quân thế nào? Anh ấy có nhận ra bé Sơn ngay không nhỉ? Nó giống anh ấy như tạc, mà... mình cũng già đi nhiều, liệu... "Ai như cô Nụ đã về thế?". Tiếng bà Bung làm Nụ giật mình. "Ôi! Bác Bung! Bác làm chi mà đi đường này?". "Ờ, sang giúp bà Tùng lo tổ chức lễ cưới cho thằng Quân đó!" "Bác nói răng? Anh Quân cưới vợ à? Cưới ai?" "Nghe đâu cô vợ là con một ông to ở Bộ cơ! Mà cũng mừng cho ông bà Tùng, bao năm vò võ mong con, cứ tưởng nó hy sinh rồi ấy chứ?" Nụ không tin ở tai mình nữa. Đã từng chịu đựng bao hoàn cảnh mà giờ Nụ thấy đất trời như chao đảo dưới chân. Làm sao có thể tin được một điều đang có thực, rằng cái anh bộ đội trẻ trung đã từng vượt bộ 50 cây số để đến gặp người yêu một giờ đồng hồ, giờ vai đeo quân hàm trung tá đỏ thắm, rằng cái anh bộ đội đã từng hứa hẹn Nụ đợi chờ đang sánh duyên cùng con gái một cấp cao ở Bộ... Hóa ra những gì Nụ ấp ủ lâu nay chỉ là cơn gió thoảng qua. Sao số phận lại trêu ngươi cuộc đời của Nụ chứ, cơn cớ gì Nụ lại trở về đúng hôm nay mà không phải một ngày nào khác? Cơn cớ gì con chị lại phải chứng kiến cảnh trớ trêu này? Giờ thì còn gì để Nụ ở lại đây thêm nữa. Nụ âm thầm lặng lẽ dắt con trở lại lâm trường trước bao ánh mắt ngỡ ngàng của mọi người. Nỗi đau đớn ê chề choán lấy tâm hồn Nụ. Nhưng liền đấy chợt lòng quyết tâm một niềm tin sắt đá rằng Quân của Nụ đã chết, chết thực sự trên cõi đời này; và rằng, bé Sơn là của riêng chị, duy nhất chị.

Quân nhìn bàn tay Nụ run run khi cầm gói tiền, khẽ nhếch mép cười, vẻ đắc thắng. Nhưng Nụ không cất gói tiền vào rương như anh ta tưởng, chị khẽ cười và bất ngờ vung tay ném ra sân.

- Tui không không ngờ anh là một kẻ bạc tình bạc nghĩa lại bạc nhược đến thế. Tui thiếu thốn cực khổ thật, nhưng không hề bán con. Các người định dùng những đồng tiền này để mua con tui ư? Để đền bù cho quá khứ tủi nhục và tuổi thanh xuân của tui ư? Các người định sắp xếp cho tương lại của tui ư? Sao các người lại có thể nhẫn tâm thế nớ?

Quân hoảng hốt chồm theo nhặt lại những đồng tiền xanh màu lá cây bay tung tóe. Còn người vợ vẫn nhỏ nhẹ, dường như lường trước được sự việc:

- Chị, em biết chị giận anh Quân là đúng, nhưng vì hoàn cảnh...

- Phải, bây giờ các người đổ lỗi cho hoàn cảnh, nhưng đã mười năm rồi chứ có phải ngày một ngày hai mô!

Nụ lẳng lặng đến bên con, ôm chặt lấy thằng bé như sợ có ai cướp mất. Trong mê ngủ thằng bé quờ tay ôm lấy mẹ như bản năng vô thức.

- Các người về đi. Tui không cần những thứ các người mang đến. Cầm lấy và đi đi.

Nụ rít lên, lời nói bật ra từ cuống họng chỉ đủ cho vợ chồng Quân nghe với tất cả sự uất ức, tủi nhục. Nụ ngồi bệt xuống thềm nhà, vỗ về con trong trạng thái hư hư thực thực giữa sự ê chề, đau đớn quyện trong tình mẫu tử trào dâng. Thằng bé là hiện hữu tình yêu của chị, là một phần cơ thể của chị, là niềm tin, là ý chí để chị vượt qua biết bao gian truân, khổ cực. Làm sao ai có thể mua những thứ đó bằng tiền?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #82 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 08:21:32 am »

Đã mấy tháng trời trôi qua kể từ ngày Quân đến cùng vợ, mọi chuyện tưởng như đã ngủ yên dưới tầng ký ức, Nụ cố quên tất cả để sống nuôi dạy bé Sơn khôn lớn bằng tất cả nỗi đau bị phụ bạc và lòng thương con vô bờ bến của một người mẹ làm thay bổn phận người cha. Nhưng số phận lại một lần nữa thử thách bản lĩnh của Nụ. Con người ấy vẫn không buông tha cuộc đời của chị. Quân lại tìm đến nhưng không phải một mình, cũng không phải cùng vợ, mà với bà mẹ. Nụ muốn hét vào mặt anh ta rằng anh là một gã đàn ông tráo trở, bạc nhược, rằng anh ta không đáng để Nụ phải đau khổ đợi chờ vò võ bao năm qua, anh không có quyền đến đây làm khổ mẹ con Nụ thêm nữa. Nhưng trước mắt Nụ là bà Tùng già nua, gương mặt khắc khổ hằn những vết nhăn.

Bà móm mém nhai trầu, vẻ khép nép mở lời:

- Con ơi, mạ là người bạc phước. Sinh được có mỗi mình thằng Quân mà nó không ra chi. Biết được cơ sự thế ni, mạ đã bắt nó đi đón con về, không cho nó cưới người khác...

- Thôi chuyện đã rồi, ván đã đóng thuyền, bác đừng nhắc lại nữa. Nụ khẽ khàng ngắt lời bà Tùng, nước mắt rơm rớm.

- Con nói phải. Chừ nhắc lại khác chi đem dao cứa vết thương cũ. Đứng vào hoàn cảnh con, mạ cũng đau đớn tủi cực lắm. Có điều...

Nụ lại cướp lời:

- Bác hiểu cho con như rứa là được rồi. Thôi, chừ anh Quân đưa bác về, con xin lỗi phải đi tưới mấy luống cây mới ươm.

Nụ nói và nhớm gót bước đi, vẻ dứt khoát không có gì phải nói đi nói lại nữa. Nhưng bà Tùng đã quỳ mọp, phủ phục tấm thân khô đét xuống bàn chân chị. Cả con người bà rung lên trong cơn tuyệt vọng:

- Nụ ơi! Mạ lạy con. Suốt đời này mạ coi con như con dâu của mạ. Trời đang trừng phạt thằng Quân, trừng phạt gia đình mạ. Con vợ nó trời không cho sinh nở. Ông nhà lại đang bị bệnh hiểm nghèo... Mạ xin con cho thằng cu Sơn về ít bữa, ông cháu gặp một lần. Đó là ước nguyện cuối cùng của ông ấy...

Bà Tùng nói và khóc hu hu như trẻ con. Nụ vội đỡ bà Tùng dậy và vùng chạy lên đồi. Chị chạy như bay qua những triền đất sỏi vượt qua đỉnh đồi với những cây mới trồng cao ngang vai người. Chị chạy như người mất hồn, bàn chân gai cào rớm máu tưa tướp. Cuối cùng dừng lại ở một mái đồi trồng toàn cây huện, tán rợp một vùng trời. Đây là những vùng rừng Nụ cùng mấy chị em trong tiểu đội thanh niên xung phong trồng khi mới chuyển về lâm trường. Nó cũng đã được gần mười năm. Chị dừng lại, tựa lưng vào một thân cây, thở dốc. Chao ôi, sự đời sao trớ trêu thế? Vợ Quân không thể có con ư? Người đàn bà giàu có và đài các ấy lại không sinh nở được ư? Nụ thấy bủn rủn cả chân tay, hai đầu gối mình quỵ xuống từ lúc nào. Nỗi buồn thấm tận cùng chân tơ kẽ tóc, thấm cả vào mọi ý nghĩ của chị, đến nỗi chị ngỡ mình là người đàn bà không con kia. Hóa ra, với người đàn bà, nỗi đau không con còn lớn hơn nỗi đau không chồng. Bỗng dưng chị bật khóc. Chị khóc cho thân phận người phụ nữ. Ông Tùng lại bị bệnh hiểm nghèo ư? Việc bà Tùng lọ mọ đến đây xin thằng Sơn về, hẳn bệnh ông đã vào giai đoạn cuối. Ngày xưa, khi Nụ còn ở nhà, trong làng, ông bà Tùng được tiếng là người ăn ở phúc đức nhất. Ở đâu nhà cháy, hầm sập; ở đâu có người bị nạn, ông bà đều lao đi cứu chữa, giúp đỡ, sẻ chia khó khăn. Bây giờ chính ông đang đối diện với cái chết mà không ai có thể giúp gì được. Tự dưng Nụ thấy mềm lòng...

Chị quay trở về, Quân và bà Tùng vẫn còn đợi ở đó. Nghĩa tử là nghĩa tận, chị sẽ cho thằng cu Sơn về thăm ông Tùng. Nhưng chị chưa kịp mở lời thì cu Sơn đi học đã về, nhanh miệng chào khách. Cậu chàng đi chiếc xe đạp của mẹ, không ngồi được trên yên, đành ngồi lên chỗ uốn cong của hai thanh xiên, trông rất buồn cười. Nhìn mặt Quân cứ nghệt ra khi trông thấy thằng bé, khiến sự co kéo trong Nụ lại dâng lên tức nghẹn lồng ngực. Hơn mười năm chị vật vã nuôi con một mình, vật vã với nỗi đau sinh nở, vật vã với dư luận xã hội, vật vã với thiếu thốn, tủi cực. Vậy mà, anh ta lặng câm ở chân trời góc bể nào đó! Giờ để thằng bé về dưới đó, nó sẽ như chim tìm được đàn, như sông tìm được biển, biết nó có còn nhớ tới mẹ không? Làm sao chị sống nổi nếu thiếu thằng bé, thiếu đi niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, thiếu đi chỗ dựa duy nhất và cũng là vũ trụ bao la ấy.

Thằng Sơn đẩy xe vào nhà và đi ra sau giếng rửa mặt. Bà Tùng nhìn theo giọt máu của mình, nụ cười giãn rộng, đôi mắt già nua cũng nheo cười. Nụ chợt thấy thương hại cho cả hai mẹ con bà Tùng, liền lên tiếng:

- Thưa bác, nghĩa tử là nghĩa tận, con sẽ cho cháu Sơn về thăm ông nội nó ít ngày.

- Mạ ơn con lắm, Nụ ạ - Bà Tùng nhanh nhảu nói, cầm lấy bàn tay Nụ, nước mắt rơm rớm.

- Anh cám ơn em lắm lắm - Quân rối rít tiếp lời, khom  người muốn cầm tay Nụ nhưng lại không dám.

- Nhưng để con hỏi ý kiến cháu nó đã, bác ạ.

Nụ nói với bà Tùng, không hề để ý đến Quân. Chị ra kéo cu Sơn vào buồng. Hai mạ con ngồi lên chiếc giường ngủ. Đầu óc Nụ rối tung lên, không biết nên bắt đầu từ đâu, nói thế nào cho con trai hiểu. Chị vừa nghĩ vừa đưa tay vuốt lại mặt chiếu cho phẳng, bất ngờ chạm phải cái gì ghồ lên ở góc chiếu. Nụ tò mò lật ra, thấy một bọc quần áo của bé Sơn đã gói ghém cẩn thận ở đó tự lúc nào.

- Sơn, con nghe mạ hỏi! Con gói quần áo làm chi mà không nói cho mạ biết?

- Dạ... con....

- Con... Có phải con biết hết chuyện rồi không?

- Dạ... Hôm trước bác Thơm nói cho con nghe hết, bác còn nói ông nội ốm rất nặng... Con muốn... nhưng con sợ mạ...

Nụ nhìn thằng bé sững sờ, rồi bất chợt chị ôm chầm lấy con. Ra thế! Người ta bảo lá rụng về cội, quả không sai. Nụ chợt thấy nhẹ nhõm trong lòng khi nghĩ rằng con mình đã lớn, đã là bạn của mình được rồi. Chị định mắng cho nó mấy câu, nhưng không hiểu sao lại nói:

- Sơn này, con nên đưa nhiều quần áo đi theo. Về dưới đó, có thể con phải ở lại lâu với ông bà nội.
Nói rồi. Nụ quay mặt lén lau dòng nước mắt nhạt nhoà trên má.

- Mạ, mạ đừng khóc, con về thăm ông rồi quay về với mạ...

Tiễn bà cháu, cha con đi một quãng, Nụ bước thấp bước cao trên con đường ngoằn nghoèo đầy cây cỏ dại về căn nhà tranh quen thuộc. Cô đơn và trống trải dâng ngập cõi lòng. Chưa bao giờ chị có cảm giác chơi vơi, hụt hẫng như lúc này. Mặt trời ối đỏ như máu nghiêng hẳn về phía núi. Nụ nhóm bếp nấu cơm cố đánh tan cảm giác đơn độc. Khói bếp như làn mây mỏng luồn qua chái bếp. Không biết khói bếp hay một cái gì khác làm mắt chị cay cay.

                           
Tháng 07/2003
                                N.T.L.N
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #83 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 08:46:16 am »

Người chợ Kệ

DƯƠNG ĐỨC KHÁNH


Cho đến thời buổi này, cái chợ làng Thanh vẫn đông một khúm lèo tèo dưới tán cây sen cổ thụ vào buổi chiều xế. Vẫn làng tàng, xập xệ như cái tên gọi xưa nay: Chợ Kệ!. Cái tên chẳng ăn nhập gì đến tên làng, tên đất nhưng nó gắn liền với bản chất xuề xòa, nhân hậu của những lớp người quê bao đời nghèo khó.

Người làng kể, thuở trước ven sông Bồ cứ hai ba làng mới có được cái chợ. Chợ làng Thanh đông đúc cũng nhờ người làng dưới làng trên. Một hôm có người đàn bà làng Hạ mang thai sắp đến ngày sinh nở, đang giữa buổi chợ chiều sắp tan bỗng đau trở dạ. Vật vã, rên la đến ngất lịm! Cả chợ xúm lại. Là đàn bà với nhau, cũng từng qua lần đi biển mồ côi nên ai cũng cảm thấy quặn lòng. Thế là mỗi người một tay, kẻ giúp chăn người giúp chiếu. Cuộc vượt cạn nơi góc lều quán chợ cũng mẹ tròn con vuông!

Chuyện phúc đức là vậy nhưng về sau có người ác mồm ác miệng rằng: Đàn bà làng khác đến đẻ rơi đẻ rớt giữa chợ làng mình là điềm xui, điềm gở! Có ngày cũng “chợ tàn làng mạt!”… Mụ Thợ Rèn - người ra tay bà đỡ bất đắc dĩ hôm ấy thì ngoe nguẩy xua tay: “Ôi dào! Ông trời có mắt, mình cứ ăn ở cho phải, ai nói chi mặc kệ! Cứ “kệ” là qua hết!”. Rứa là chợ Kệ có tên từ đó.

Chẳng biết ông trời có bao giờ trông thấu, nhưng lòng dạ Mụ Thợ Rèn và những câu chuyện quanh cái sự “kệ” của mụ thì mấy đời người làng cũng còn nhắc.

Cái lò rèn - cơ nghiệp một đời của vợ chồng mụ là mái tranh cũ kỹ, xiêu vẹo trên mỏm đất đầu bến chợ. Ông Thợ Rèn người gầy gò, chậm chạp, nhưng bù lại, mụ to cao, chắc nịch, lanh lợi khó ai bì. Mụ ngồi trên sạp tre cao nghệu, lừng lững như một nữ tướng, hai cánh tay phì phụt hai ống bễ đen sì như hai nòng đại bác trong Thành Nội. Mỗi bận sắt chín đỏ, ông gắp ra đặt lên đe là mụ nhảy xuống, thủ búa tạ. Nghề cả đời quen rồi. Cứ nhìn mụ vã mồ hôi hì huỵch giáng một loạt mấy chục búa rúng rính mặt đất, đàn ông sức vóc cũng phải ngao ngán!

Người giỏi giang thường nặng tật. Mụ có máu mê coi đua ghe - là một cây cổ vũ hăng nhất làng. Cứ hễ đến dịp làng mở hội đua ghe là có phải rèn gươm cho vua thì mụ cũng dẹp, cũng kệ! Và bất kể gần xa, làng nào tổ chức đua, có ghe làng Thanh tham dự là có mặt mụ. Mụ thức nửa đêm, nấu cả mủng xôi bưng theo. Tới nơi mụ phân phát cho những tay đua người làng người một vắt to tướng trước giờ vào cuộc.
Mụ đứng trên bờ, mỗi bận ghe làng lướt ngang là mụ lao xuống nước, cầm nón vừa tát vừa “Dô khoan la hè! Dô khoan la hè!”. Bận nọ ở bến Lở làng Hạ Lang, mụ say sưa hô tát, khum lên khum xuống một hồi, cái quần lĩnh lưng vận sũng nước, tuột luốt! Mụ mặc kệ! Nước sông Bồ thì trong leo lẻo. Đàn ông trên bờ vừa la vừa cười hô hố! Mụ cứ tát, cứ hô cho tới khi ghe làng qua khỏi, mụ quăng theo luôn cái nón móp méo tơi tả rồi mới thủng thẳng, kéo quần lên!... Lần ấy ghe làng về “nhứt phá”, giựt luôn giải “tam liên thắng”, cờ trống tưng bừng mặt sông! Mụ vừa đi vừa chạy trên bờ, tay vung lên trời: “Nhờ tau đó! Nhờ tau đó!”

Có lẽ thường “mặc kệ cái sự đời” như thế nên mụ mới đặt cho người con trai duy nhất tên là Tùy. Người làng gọi là Tùy “say”. Người chú thấp đậm, tính khí cũng “tào lao xịt bộp” giống mụ mười mươi, chỉ khác là sau này chú không theo được nghề thợ rèn. Hồi ấy làng nước bom đạn triền miên, trai tráng phải chui nhủi trốn tránh nạn quân dịch. Một lần bị bọn cảnh sát bao vây, bí quá, chú nhảy thỏm vô ngồi trong lu dú chuối. Biết bọn chuyên ăn bẩn, tay chú kẹp sẵn tờ bạc một trăm giơ lên. Một thằng giở lu liền chụp ngay tờ bạc rồi giả bộ chửi đổng, kéo cả bọn lùng sục nơi khác. Lần đó chú thoát. Nhưng cũng không ít lần chú bị bọn chúng rượt đuổi, chạy trối chết!

Về sau sẵn mấy sào ruộng ông bà để lại, chú dựng lều đêm ngủ luôn ngoài đồng. Rứa mà được lắm việc. Ban đêm giữa đồng có thể nhìn hút tầm mắt tận chân núi, đêm nào trực thăng cũng thả pháo sáng quanh các căn cứ Mỹ. Chú thức cả đêm, ngồi đoán tọa độ những chiếc dù rơi. Mờ sáng chú cắt đường đồng, và dường như mười chiếc dù rơi xuống đồng làng là vào tay chú hết bảy! Nhà chú mền mùng các thứ toàn bằng vải dù. Thằng cu Rớt con chú cũng mặc tà lỏn bằng vải dù, thấy cả chùm “ớt cà” lồ lộ. Chú còn mấy cái để dành lúc xóm giềng có đám tiệc, chú cho mượn che rạp. Hôm đạp lúa xong, chú đem cái dù mới tinh bung ra đậy luôn đụn rơm mới xây. Ui chao, nó vừa vành vạnh, có sẵn cả cái lỗ tròn trên chóp vừa tròng vào đỉnh trụ, cứ y như là nước Mỹ sản xuất chỉ cho chú đậy đụn rơm không bằng! Hàng xóm nhìn qua kêu: “Chà, Tùy chơi sang như Mỹ hè! Chú đứng phủi phủi tay, giọng tưng tửng: “Chiều qua, tui mới “đánh” một cú tê-lê-phôn khẩn cấp cho tụi Mỹ: A lô, trời sắp mưa dầm rồi, gởi cho tau thêm cái nữa đậy đụn rơm chơi! Rứa là sáng ni tui ra đầu cồn… nhận hàng! Hề hề... ”

Mấy bữa trời lụt, dân chợ ít ai sẵn xuồng ghe, phải lội nước lở cả chân. Còn chú thì ung dung ngồi gọn lỏn trong chiếc “ca-nô” bằng cái vỏ xốp đựng quả đạn quả bom gì đó của Mỹ, có mũi có lái đàng hoàng. Tay chú sai sải cây dầm đôi bơi ra ghếch lên nền miếu góc chợ ngồi rung đùi uống rượu tỉnh khô!... Bác Đới thợ hàng mã ngồi trong nhà ới ra: “Bộ mới “đánh dây thép” nữa hả Tùy!” - “Ơ… cái ni là hắn “gởi trực tiếp”. Chiều qua tui đang đứng giữa đồng… một thằng L 19 bay ngang, tui chỉ tay xuống ra dấu: Lụt! lụt! Rứa là hắn bay vòng lại, thả xuống! Hề… ”

Cái nền miếu cạnh cây sen góc chợ là chỗ tụ tập chơi đùa của lũ con nít. Chú thường ra đó ngồi uống rượu, chú nói: “Ngồi đây, cảnh sát có ụp tới cũng nhiều đường mà chạy!”. Nói vậy chớ tới lúc ngà ngà, chú hát hò một hồi, gió sông thổi lên hiu hiu là chú lăn ra ngủ khò. Trời có sập chú cũng kệ!... Ruộng mấy sào, cày bừa xong là giao sấp cho vợ con, say sưa nhưng cũng chẳng phiền hà chi ai. Cứ mỗi chuyến đò là có mấy o bán rượu làng Phước Yên, Hương Cần gánh ngang qua. Mối quen cả. Mấy o cứ việc đong đầy bi-đông thoải mái cho chú, rồi tới mùa, chú đong lúa đong nếp lại cho mấy o nấu rượu. Rứa là huề!

Ở làng thời đó người rượu chè say sưa như chú cũng hiếm. Đàn ông trai tráng lớp thoát ly theo Giải phóng, còn lại cũng bị bắt quân dịch cả. Mấy lão nông thì chiều về thường ghé quán mụ Gái, móc đồng bạc kẽm, đứng tợp vài ly là vác cày vác cuốc về nhà, chẳng ai uống kiểu “đong lúa” như chú.
Đến chiều nọ, chú đang ngồi khề khà vừa nhìn bọn trẻ chơi túm rễ sen đánh đu, bỗng từ đàng xa lù lù… một thằng Mỹ, tay cầm chai rượu bước chệnh bước choạng, miệng như đang hát nghêu ngao. Lúc đầu tưởng tụi lính, chú tính nhớm cẳng chạy. Nhưng bọn trẻ thì biết rõ, đó là thằng Mỹ “say” trong cái tốp lính Mỹ “chạy làng”!... Đêm căn cứ Ti-bon trên núi Mệ bị pháo quân giải phóng tấn công, cả trái núi đỏ lựng như hòn than khổng lồ... Mờ sáng, cái thứ bay dạt về đồng làng không phải là những chiếc dù mà là… một tốp lính Mỹ te tua xơ mướp bị đẩy xuống từ một chiếc trực thăng! Chúng la ó hoảng loạn, xí lô xí la như bồ chao bể tổ một hồi rồi thất thểu kéo nhau vô náu trong nhà thờ hoang.

Chiều nào bọn trẻ ra cồn thả diều cũng gặp những cái đầu vàng cháy gục xuống rũ rượi, mũ sắt úp xuống cỏ, ngồi ôm súng ngóng phía góc trời. Lúc sau chiếc trực thăng liệng tới, thả xuống mấy thùng vuông. Cả tốp xúm lại, lao nhao quanh một thằng cầm một xấp dày những bức thư… Những bàn tay to bè run run từng tấm ảnh áp vào ngực, rồi hôn lấy hôn để, mắt mũi giàn giụa… Có thằng đang đọc thư bỗng bật lên quay quắt như điên dại… Những chai rượu được bật nắp, tu ừng ực… Rồi từng loạt đạn điên loạn bắn xối xả lên trời lẫn tiếng gào thét. Từng gương mặt đỏ ngầu vằn lên giận dữ như đang nguyền rủa một ai đó…
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #84 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 08:48:09 am »

Bọn trẻ quen mặt thằng Mỹ “say” bởi mỗi lần từ ngoài cồn kéo về, hắn thường lếch thếch sau chót, chẳng hàng ngũ chi cả. Mặt mũi lơ lơ láo láo như thằng hề. Cái mũ có hình con ó trắng hắn đội quay ngược đằng sau… Mấy bữa nay hắn thường lang thang dọc đường làng, nghêu ngao những bài hát tiếng Việt như con nít nói ngọng. Bọn trẻ cứ chạy theo cười rần rần! Hôm đi ngang vạt mía hắn bẻ một cây rồi cầm cả cây mía dài ngoằng, cạp ngang ngấu nghiến khiến bọn trẻ cười nôn ruột!...

Lúc hắn khệnh khạng tiến lại gần, bọn trẻ cười rộ lên. Chú Tùy cũng đang hứng, giơ giơ cái bi-đông vẫy vẫy. Rứa là hai ông thần men hút lại! Bi- đông và chai cụng nhau cái cốp! Chú Tùy vỗ vỗ ra dấu mời hắn ngồi xuống nền miếu.

- “Hê lô!... du… tên chi? Chú Tùy hỏi, pha tiếng Mỹ học lóm rồi chỉ vào mấy chữ trên túi áo hắn.

- Tô ny Phớt sờ! Hắn nói.

- À, rứa là tên Phớt!... Phớt là “phớt tỉnh ăng lê”... Mình tên là Tùy - Tùy chợ Kệ! Ô kê!... Uống!...
Qua-Việt-Nam- bao-lâu-rồi?

Hắn gật gật rồi đưa hai ngón tay: “Hai... nam!”

Chú vỗ đùi cái bốp: Ha! Rứa là nói tiếng Việt được! Ô kê! ... Mình là... chống quân dịch - không thèm đi lính! ... Đánh thuê - chết uổng mạng! Hiểu chưa? Ở đây - uống-rượu-hát hò chơi! ... Chờ hòa bình... Về nước-với-vợ-con! Hiểu chưa! ... Uống! Khà... Ngon không? Ngon hơn Uyt-ky không?

- Ô kê! Num bờ oan! Tuyet!Tuyet!...

Rượu ngấm. Chú bắt đầu hát, rồi hò… Hắn ngồi nghểnh cổ nhìn rồi gục gặc hát theo.

Bọn trẻ cứ lăn ra mà cười. Đến lúc hắn đứng dậy loạng choạng bước đi, không biết đứa nào đã bày đầu ra bài hát, cả bầy chạy theo vỗ tay hát ghẹo: “Hành quân xa không có tiền mua phở/ Trở lui về mà xin vợ vài trăm!...” Vậy mà cách có mấy buổi chiều hắn đã thuộc, giọng hắn ò ò theo bước đi khật khưỡng: “Hanh quan xa khong co chien mo phọ…”

Và cứ chiều nào chú Tùy gặp thằng Phớt là bọn trẻ cứ như được xem một chương trình ca kịch hò vè tạp lục khỏi mua vé. Mỗi đứa bẻ một nhánh lá sen lót đất, ngồi bệt khoanh tay ngóng cổ chuẩn bị những trận cười nghiêng ngửa.

Một lần, rượu sắp cạn thì dáng một o gánh rượu vừa lên đò. Thường thì o ghé, nhưng nay thấy chú đang nghí ngố với thằng Mỹ, o hoảng hồn sụp nón le te cố chạy cho khỏi… Vạt áo lụa tím bay bay trông càng duyên dáng…

“O ơi!... O Hường!”... Chú kêu giật mấy tiếng o mới khựng lại. Mặt o tái mét, rồi đỏ bừng!... Ngập ngừng một hồi o mới đặt gánh xuống cách một khoảng xa. Bọn trẻ phải xách bi-đông lại. Tay o run lập cập, rượu đổ cả ra đất! Xong o vội vã quẳng gánh chạy.

Cặp mắt xanh lè của thằng Phớt cứ nhìn theo ngây dại… Chú nói: “Đó là o - bán - rượu!”… Rồi giọng chú ngâm vè: “Còn trời còn nước còn non/ Còn o bán rượu/ ta còn say sưa… ta còn say sưa!… Hắn gật gù vẻ đắc ý rồi bẹ theo: “Cọn tròi/ cọn nuoc/ cọn non… Hô hô! Num bờ oan! Tuyet!... Cọn o ba ruou… !
Dứt vè tới hò. Chú gõ lóc cóc nhịp chày điệu hò giã gạo: “Hò hô hố hô… Đáo tới nơi đây…” Lúc cao hứng giọng chú càng thanh, càng vang…

Phía gốc sen đầu dưới, mấy mụ gánh khoai sắn, trầu chè đã lác đác họp chợ chiều. nghe giọng chú hò ai cũng ngong ngóng…

Điệu hò thức dậy trong các mụ một thời trẻ trung xa xưa. Thời làng nước còn yên bình… Những đêm trăng thanh thậm thịch tiếng chày… Gạo trắng mấy cối rồi nhưng tiếng chày tưởng chừng không bao giờ dứt. Mấy mụ thường kể, đôi lúc hết gạo còn đổ cả trấu vô mà giã, mà hò! Trai gái hò đối hò đáp, say sưa tới thâu canh…

“Hò hô hố hô!... Đáo tới nơi đây… ! Tiếng hò càng vang bởi cái giọng ồ ồ của thằng Phớt bẹ theo.

“Ơi cha! Mệ cô cái thằng Tùy say, hết chuyện nghịch tặc nghịch đời chưa! Hắn dạy thằng Mỹ hò!”. Mụ Lé vừa sắp bánh ú bánh tét vào mẹt vừa chửi vừa cười. Mụ Thêm thì lườm đứt con mắt, giọng chanh chua: “Ơi dà! Hò với giã!... Mậu Thân hắn “giã” cả trăm quả ca-nông tàu vô cái làng ni rồi! Chưa bưa à! Răng còn hò với giã!!.”. Mụ đang lầm bầm xỉa xói thì giọng chú Tùy oang oang: “Mấy mụ ơi!... lắng tai mà nghe Mỹ hò giã gạo này… Hò hô hố hô!...”. Chú bắt nhịp.

“Đáo tói noi đay/ đát nuoc la lung/ nghe con chim keu tui cung sơ… Họ hô!...”

“Mấy mụ nghe được chi không? Để tui hò “thông dịch” lại cho mấy mụ nghe: Hò hô… Đáo tới nơi đây/ đất nước lạ lùng/ nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run ví cũng… ờ run! Hò hô!... Đó, mấy mụ nghe hay chưa!...

Mụ Thêm vỗ đùi ra chiều hả hê: “Ờ, không run răng được!... Chết gần hết rồi mới “chạy làng” về đây! Không run răng được!”. Cả chợ cười cái rần. Mụ Lé nổi hứng: “Chà, hò nghe hợp tình chi lạ! Đây, thưởng cho… một đòn bánh tét! Hai anh em ăn cho no mà hò!...” Lại một trận cười.

Mấy cái trò hò hát đã ăn thua gì! Chú còn nghĩ cách bày nhiều trò ngoạn mục khác khiến cả làng phải cười nhiều trận đến khản cổ!...

Đó là buổi chiều trước hôm làng tổ chức đua ghe. Sau mấy ngụm rượu phừng phừng, chú rủ thằng Phớt xuống bến chợ. Thấy chú đứng chỉ chỉ chỏ chỏ ra cột vè giữa sông. Cột vè là một cây tre ngà cắm xuống lòng sông, trên ngọn có lá cờ ngũ sắc phấp phới… Chú đứng múa may giải thích với hắn về điều lệ cuộc đua. Tay chú ra bộ cầm dầm bơi “Hò hồ dô khoan! La hè! La hè!...”. Hắn ra vẻ thích thú gật gật, cười cười “Ô kê! Ô kê!...”
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #85 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 08:49:12 am »

Rồi không biết chú dặn dò thế nào mà đến sáng mai, lúc ba hồi trống nổi lên, xóm làng tề tựu đông đủ thì từ phía nhà thờ hoang, dáng thằng Phớt cũng lênh khênh đi ra…

Giọng chú Tùy bô bô, tếu táo: “Xin trình với làng, với bà con: Hôm nay ghe phe Tư - chợ kệ có một tay đua “đại kì khôi” xin tham gia!...” Chú chỉ tay phía thằng Phớt - “Một tay đua đến từ… bên tê đại dương! Hề hề… Xin trình làng!”...

Chú thủ sẳn cái áo thun xanh viền đỏ của đội đua tới dúi dúi vào tay hắn. Hắn lột quần áo lính bỏ gốc sen hăm hở tròng áo thun vào, nhưng đứng kéo mãi cũng không tới quá ngực, cứ như bắt người lớn mặc áo con nít ba tuổi! Hắn đứng cười ngố ngáo rồi hươ tay làm động tác thể dục, bày cả cái bụng đầy lông lá! Cả làng rộ những trận cười vỡ chợ!... Chú Thao người phe Nhì lên tiếng đùa: “Ơ, ghe phe tư chơi chi có Mỹ nữa hè! Ai bơi cho lại!...”

Giọng chú Tùy cà rỡn: “Mỹ dưng mà… thành dân chợ Kệ rồi!... Biết uống rượu Hương Cần, biết hò giã gạo… được mụ Lé thưởng bánh tét đàng hoàng nghe! Hề!...

Đến lúc những đội đua sắp hàng làm lễ vào cuộc, hắn cũng khép nép đứng vào. Và lần lượt như mọi người, hắn cung kính cắm nén nhang lên bàn thờ Thành hoàng nghi ngút khói trầm và bắt chước chắp tay vái ba vái… Lúc ấy bỗng nhiên những tràng cười lặng phắc. Chú Thao cũng đứng gật gù, mỉm mỉm...

Trống nổi lên. Cuộc đua bắt đầu.

Hắn ngồi một cặp với chú Tùy và nhất cử nhất động theo chú… Đến vòng thứ nhì coi bộ hắn đuối! Những nhát chèo bắt đầu rời rạc, lỗi nhịp rồi buông xuôi luôn! Hắn há hốc thở, mặt mày tái mét…

Tới pha lộn vè, các ghe tranh nhau khép vòng quyết liệt. Bỗng bọn trẻ la lên giữa tiếng trống giục và tiếng reo hò: “Ghe phe Tư lật!... Chết cha thằng Phớt chìm rồi!... Khống! Hắn nổi lên! Hắn biết bơi!...
Trong cuộc đua, pha lộn vè là gay go, hấp dẫn nhất, ghe lật là chuyện thường! Kinh nghiệm, sự điêu luyện là lúc này. Nó đòi hỏi những tay đua phải nhanh nhẹn xao nước, rồi phải nhịp nhàng, đồng bộ phóng lên ghe tiếp tục cuộc đua… Nhưng những động tác này đối với một thân hình nặng nề - một người Mỹ như thằng Phớt thì phải học tới “bạc râu” may ra mới theo kịp!... Hắn bị bỏ lại! Chới với giữa cột vè một lúc rồi bơi vô bờ, ngồi thở hồng hộc!...

Thằng Phớt bỏ cuộc, tất nhiên! Nhưng chú Tùy lại thành công thêm một mẻ gây cười để đời cho cả làng…

Thấm thoắt mà đã hơn ba chục năm trời. Tôi - người kể lại câu chuyện này là đứa trẻ “đầu chưa sạch cứt trâu” trong đám trẻ của cái chợ Kệ ngày ấy. Vừa qua, tôi mới gặp lại chú Tùy tại Đồng nai. Lâu ngày chú cháu gặp lại nhau mừng khôn xiết!...

Người làng tôi vào miền Đông lập nghiệp gần hết nửa làng. Mấy năm gần đây bà con đều phất lên nhờ nghề trồng tiêu… Cứ nhìn vườn tiêu xanh mướt, bát ngát hơn hai héc-ta của chú đủ biết cuộc sống gia đình chú sung túc nhường nào… Xấp xỉ sáu mươi, già đến nơi rồi nhưng cái tính “tào lao xịt bộp” của chú vẫn như ngày nào! Lúc tôi mở miệng định hỏi “chiếu lệ” về đời sống… , chú đã xua tay, giọng tưng tửng: “Ui dào, khỏi hỏi!... Tiền bạc tau chừ… lâu lâu phải kêu thím mi… chất ra sân, phơi! Để mối mọt ăn hết!” Thím ngồi bên lườm chú: “Ba mi thì cứ tật tào lao không bỏ, cháu chắt cười cho!” Chú hề hề: “Ơ, chú cháu tui lạ chi nhau! Dân chợ Kệ mà lị!”

…Ngồi khề khà với chú trên bộ sập vuông vức, cao nghệu. Tôi bỗng nhớ cái nền miếu cạnh gốc sen của chú cháu ngày nào, gợi nhắc: “Chú còn nhớ thằng Phớt không chú!” - “Ui chao! Cái thằng bạn Mỹ nhớ đời! Quên răng được… à, mà không biết hắn còn sống hay chết hồi đó rồi!...” - “Hắn còn sống chú ơi!... Năm ngoái cháu về quê, gặp hắn trong đoàn cựu binh Mỹ ghé thăm làng mình, tìm chú quá trời!”. Chú nhảy dựng lên, vỗ đùi bôm bốp: “Ui chao! Rứa à! Thiệt rứa à!”. Tôi tính đùa chú cho vui (nhưng biết đâu có thật rồi cũng nên. Nghe nói mấy năm qua, rất nhiều đoàn cựu binh Mỹ tìm về làng tôi), thấy chú tin như đinh đóng cột, sẵn trớn tôi phịa luôn: “Hắn ghé chợ Kệ, quay phim chụp ảnh không sót chỗ nào!... Rồi còn lại ngồi chỗ nền miếu trầm ngâm xúc động, ra vẻ nhớ chú lắm!”… Chú cứ há hốc nhìn tôi, vỗ đùi lia lịa: “Ui chà!... Rứa cháu thấy hắn có già dữ không?” -“Cũng già nhưng không khác mấy, vẫn cái gương mặt ngố ngáo như hề, gặp là cháu nhận ra liền!”…

Chú nốc liên tiếp hai ly rượu, rồi cao giọng: “Trái đất tròn! Rồi có ngày tau với hắn cũng gặp lại!... À, mà nghe nói hột tiêu của mình phần lớn xuất qua Mỹ!...” Chú vỗ cái bốp: “Rồi! Tau sẽ đi Mỹ!” Rồi chú vỗ bùm bùm xuống bộ sập: “Này, trong này là hai tấn rưỡi, tau đang trữ, chờ giá! Tau sẽ “mần” một chuyến “xuất khẩu tự túc”!... Qua bên đó, tau sẽ đi tìm thằng Phớt! Uống rượu với hắn… hai ba tháng đã đời chơi! Hà!…”
Lúc chia tay tôi đã chếnh choáng, chú còn vỗ vai: “Dứt khoát tau sẽ đi Mỹ! Tau phải gặp lại thằng Phớt mới được!...”

Tôi nói vói lại: “Qua bên đó chú nhớ tổ chức một trận đua ghe… với một buổi hò giã gạo… giới thiệu với nước Mỹ luôn nghe chú!...”

- “Cha cái thằng… con nít nhớ dai!... Dân chợ Kệ! Hề!...

                                   
D.Đ.K
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #86 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 09:06:59 am »

Khúc ngoặt của dòng sông

ĐỖ KIM CUÔNG


Nấn ná mãi tôi mới quyết định đi thăm Hiền. Quãng đường hơn trăm cây số, vượt qua đèo Cả không có gì đáng ngại. Chỉ hơn ba giờ đồng hồ ngồi xe đò và hơn một giờ nữa trên chếc xe ngựa của ông Sáu cụt chân là tôi đã có thể tới làng Vĩnh Hiệp Nam, về ghềnh Đá Đỏ. Nhà cô giáo Hiền ở đó.

Thắm - cô học trò tôi đã từng làm chủ nhiệm 3 năm ở khoa Văn cao đẳng sư phạm cũng sống ở đó với mẹ và đi dạy học. Trường trung học cơ sở nơi Thắm dạy học cách nhà 15 cây số... “nhưng chiều thứ bảy nào, dạy xong tiết cuối cùng, muộn mấy em cũng đạp xe về ghềnh Đá Đỏ, thầy ạ - trong một lá thư Thắm viết cho tôi như vậy - Chẳng phải em nhớ mẹ, mà em yêu những mỏm núi đá và con sóng, bờ cát nơi này. Thầy ơi, biển ở đây thật đẹp. Phía bờ đông hầu như quanh năm suốt tháng sóng đánh tơi tả vào ghềnh đá. Vậy mà chỉ cần vượt qua một yên ngựa nhỏ sang phía bờ tây, chui qua dưới tán rừng thông đã gặp bãi cát trắng mịn màng. Mặt nước êm sóng có thể nhìn thấy cả những mảng rêu xanh sâu vài chục sải... Thầy đã nghe thấy địa danh Vũng Rô bao giờ chưa?”.

Tôi không ám ảnh bởi chưa tới được Vũng Rô. Sự chậm trễ nấn ná để thu xếp về ghềnh Đỏ một chuyến xuất phát từ sự cẩn trọng. Tôi không muốn cho mẹ con Hiền phải vỡ mộng. Người thiếu phụ phải chật vật nuôi ba đứa con nhỏ bằng đồng lương giáo viên tiểu học ít ỏi đã quá khổ rồi. Một thời gian dài chị buồn phiền và bị gây khó dễ khi làm việc vì dư luận định kiến bởi có chồng đi lính ngụy? Cơ cực để có được từng cân gạo đong bằng sổ hàng tháng. Khổ vì những bản kiểm điểm theo từng học kỳ, từng năm để được Hội đồng giáo viên xác nhận đủ tiêu chuẩn dạy đám học trò lít nhít ở một làng chài nghèo thiếu chữ. Đã có năm, Hiền không được công nhận là giáo viên dạy giỏi vì có anh cán bộ xã phê bình một cô giáo ngày chủ nhận lại đi bán bánh canh cho con nít... Nhưng cái thời kỳ khốn khó đó, đồng lương giáo viên tiểu học không đủ nuôi sống bốn mẹ con Hiền lại thêm bà mẹ già luôn đau yếu. Hiền nhẫn nhục chịu đựng để thực hiện ý nguyện của người chồng quá cố. Bằng mọi giá Thắm chỉ cho tôi coi những vết sẹo trên cánh tay cô. Đó là kết quả của những ngày hè hai mẹ con Hiền đi vào bãi rác Mỹ ở căn cứ Đông Tác đào sắt vụn, dây thép gai, bán phế liệu. Đi lượm phế liệu cũng phải đi đào trộm. Du kích, bộ đội bắt được sẽ phạt tiền, thu đồ nghề. Tôi không ngờ một cô sinh viên khoa văn lại rành rẽ cả việc gỡ những trái mìn díp, mìn râu, dám cưa cả những trái pháo lép để lấy cát tút bán đồng nát. “Cực lắm thầy ơi!”. Câu nói của cô học trò nhỏ cứa vào lòng tôi. Để xác minh mối quan hệ giữa mẹ con Hiền với một người quá cố từ lâu, tôi cần có thời gian. Tôi không muốn vì sự thiếu cẩn trọng của mình mà làm cho trái tim của Hiền và các con cô nhói đau thêm một lần nữa. Họ đã quen với sự thiếu vắng hình ảnh người cha mười mấy năm nay. Nhưng mỗi lần lên lớp giảng văn, bất chợt nhìn ánh mắt của Thắm, cô học trò nhỏ ngồi ngay bàn thứ hai là tôi nghĩ ngay đến đôi mắt, giọng nói của người lính ngụy trong sư đoàn Thủy quân lục chiến ở chốt Cồn Nổi năm nào.

Nhiều năm đã trôi qua, trong cơn mê mụ, doi đất Cồn Nổi vẫn hiện về. Nhập nhòa trong ký ức hỗn độn của tôi là những rặng tre la ngà, những cây mít, cây bưởi bị bom pháo chém cụt ngọn, lá cành xơ xác bị phá nát từ dạo Mậu Thân. Vài ngôi nhà dân chỉ còn sót lại mảng tường cao chưa tới một mét nham nhở vết đạn... Doi cát ấy, nằm ngay trên bờ bắc của sông Bồ, đã làm cho dòng sông về đến đây gãy khúc, tạo ra bên lở bên bồi. Dăm bảy hộ dân ở làng Hiền Sĩ đã ra cồn dựng nhà lập vườn. Trong cuộc giao tranh “giành đất cắm cờ” mùa xuân 1973, khi bị các sư đoàn ngụy phản kích, bộ đội của Sư đoàn 324 giữ được một nửa cồn. Nửa còn lại do quân ngụy chốt giữ. Khi đại đội bộ binh của tôi tiếp nhận chốt, tình hình chiến sự ở đây đã yên. Phía quân ta và quân ngụy đang sống trong những ngày “hòa hợp”. Ranh giới phân biệt giữa ta và địch chỉ là một lạch nước nhỏ và một căn nhà lợp tranh, phên thưng bằng lồ ô, có bộ bàn ghế đóng bằng tre để hai bên tới ngồi nói chuyện, đấu lý đảm bảo cho các điều khoản 4 bên đã ký ở Paris được thực hiện. Căn nhà đặc biệt ấy được gọi là “nhà hòa hợp”. Cách căn nhà chưa tới 30 mét đã là chốt của chúng tôi và phía bên kia là lính bộ binh của sư đoàn Thủy quân lục chiến ngụy được đánh dấu bằng những lá cờ nửa xanh, nửa đỏ và cờ vàng có 3 sọc.

Chính ở trong ngôi nhà “hòa hợp” và những ngày giữ chốt Cồn Nổi, tôi quen Thực. Theo quy ước, cứ vào 8 giờ sáng thứ 3 và thứ 6 trong tuần, quân ta và quân ngụy cử ra một tổ tới nhà “hòa hợp” để trao đổi, trò chuyện. Những ngày đầu mới gặp nhau, bên nào cũng đưa lý lẽ để thuyết phục phía bên kia mình là chính nghĩa, anh kia xâm lược. Người bảo anh ăn lương Mỹ, cầm súng hại dân bán nước. Kẻ bảo anh dùng súng Nga Xô, Trung cộng tàn phá quê hương... Cãi vã một hồi mãi cũng nhàm chán. Họ mời nhau uống chè BLao, hút thuốc lào Vĩnh Bảo, ăn kẹo mè xửng Huế, kẹo nu ga Hà Nội... Rồi tỉ mẩn hỏi nhau tên tuổi, quê quán. Những họng súng AK, AR15 không còn chỉa vào nhau để dè chừng. Nhưng đêm đêm súng vẫn nổ. Ây là những phát đạn bắn chỉ thiên của một vài chốt ngụy phía bờ nam sông Bồ nghe tiếng chuột chạy rúc rích, hay đàn nhím ăn đọt măng tre tưởng trinh sát, đặc công mò vào. Lâu lâu, một trái mìn gài bị nổ bất chợt. Mìn ở vùng giáp ranh thì nhiều vô kể. Mìn ta gài, mìn địch gài, mìn du kích gài và cả những bẫy mìn dài hàng trăm mét để phòng thủ tuyến chốt trong những ngày tranh chấp. Đêm nào cũng nghe tiếng mìn nổ.

Nhiều năm sau, tôi đọc những cuốn sử, những bài báo tổng kết về chiến tranh cách mạng đã cố dò tìm những chi tiết, sự kiện về cái thời kỳ “hòa hợp” ấy, nhưng ít người nhắc đến. Mặc dù cái thời khắc hy hữu của một cuộc chiến tranh chỉ kéo dài chưa tới 4 tháng. Nhưng tôi không thể quên được Thực, một viên thượng sĩ ở tuyến chốt Cồn Nổi và những người lính ngụy có những cái tên rất Nam Bộ: Tư Thiêm, Út Lượt, Ba Đòn... Giấu sau cái vẻ ngoài của những bộ quần áo rằn ri, xanh xám, mũ sắt, ba lô cồng kềnh súng đạn là những gương mặt sạm đen vì mưa nắng và những mối lo toan sau những cặp mắt mệt mỏi, chán chường. Một lần nói chuyện, Tám Thực cho tôi hay anh là con thứ 7 trong nhà. Cha anh làm nghề dạy học ở Bình Định. Ông cụ mất đã lâu. Tám anh chị em trong nhà đều là thầy cô giáo dạy tiểu học và đệ nhị cấp. Thực học xong trường Sư phạm cộng đồng duyên hải Nha Trang, anh được bổ về dạy học ở Vĩnh Hiệp Nam ngay dưới chân đèo Cả. Anh lấy vợ ở đấy và đã có 3 con. Thực tưởng đã thoát đi lính, chẳng ngờ trong một cuộc dồn quân bắt lính... Những cuộc trò chuyện như vậy rất hạn chế, vì hai bên đều giữ ý. Nhưng hai cụm chốt ở gần nhau nên tôi vẫn thường nhìn thấy Thực và những người lính ngụy. Thỉnh thoảng chúng tôi lấy được gùi rau lang, chuối rừng trên rẫy, anh nuôi lại san sẻ cho những người lính ngụy ở chòi gác phía bên kia một ít. Họ chủ yếu là ăn gạo sấy với đồ hộp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #87 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 09:07:51 am »

Tháng 10, miền Trung dầm dề trong những cơn mưa. Nhưng ít ai ngờ năm ấy lụt to đến vậy. Mưa có hai ngày đêm nước sông Bồ, sông Hương đã dâng cao nhấn chìm đồng bằng xứ Huế. Cả một dải đất dưới chân bình độ 28 kéo dài từ sông Ô Lâu đến tận sông Bồ trở thành biển nước mênh mông. Doi đất Cồn Nổi chỉ một đêm nước đã nhấn chìm sâu 2 mét. Nhờ có phòng bị trước, chúng tôi đã đóng sẵn những mảng bè lồ ô ở ngay khu vực chốt. Nửa đêm, nước lên đến đâu, bè lồ ô nổi lên tới đấy. Người và súng đạn, lương khô chất cả lên bè cột chặt vào thân mít, cây muỗm to hơn thân người. Chỉ nghe tiếng nước sông réo gào, cuộn chảy. Mưa đổ sầm sập xuống những tấm tăng luôn bị gió giật liên hồi. Vẳng lên trong đêm, tiếng súng bắn chỉ thiên gọi cấp cứu ở một chốt nào đó. Lẫn trong gió cả tiếng người la hét... Rồi lại chìm lấp trong tiếng mưa rơi xối xả.

Hửng sáng, tôi nhìn ra sông không biết đâu là bờ. Chiếc bè của chúng tôi nước dâng lên đã bám tới nửa thân cây muỗm. Làng Lai Bằng, làng Hiền Sĩ chìm trong nước. Rặng tre lồ ô chỉ còn trơ lại vạt lá xanh trên ngọn nổi vật vờ giữa dòng nước bạc. Phía nam Cồn Nổi, nơi đại đội lính ngụy chốt giữ không còn để lại dấu tích. Đứng từ đài quan sát trên ngọn cây muỗm, tôi nhìn không thấy bóng dáng một người lính ngụy. Họ đã chạy đi đâu trong đêm Thủy Tinh nổi giận? Dòng sông mênh mông cuộn chảy cuốn theo những cây rừng to bị đánh bạt gốc từ trên nguồn đổ về. Bầy quạ đậu đen đặc trên những cành cây trụi lá đứng rình rỉa xác một con nai chết trương bụng trôi theo dòng nước.

Sáu ngày sau nước mới rút. Đi trên lớp phù sa nhão nhoẹt chúng tôi sang khu vực chốt phía nam của quân ngụy. Trận lũ cuốn mất một phần đất phía đuôi Cồn Nổi. Hầm hào sụt lở cả. Một người lính ngụy nào đó đã kịp cột cái xoong vào chạc cây xoan chưa bị nước cuối đi. Trong một căn hầm sập, xác một người lính ngụy bị những bao cát đè chỉ chòi một bàn chân lên khỏi mặt bùn. Trong mớ rào gai bùng nhùng của bụi tre lồ ô tôi đã lượm được chiếc ba lô của một người lính ngụy khác. Ngoài mớ áo quần dính bùn đất còn có một gói gạo sấy, nước ngấm gạo đã chua. Và một tập thơ có tên “Rừng dậy men mùa” của Đông Trình. Lần giở qua, tôi biết ngay đấy là chiếc ba lô của Thượng sĩ Thực. Tập thơ ấy, Thực đã mua tại Đà Nẵng, với một dòng chữ viết bằng mực bút bi “Thân yêu tặng Hiền và các con của ba. Hẹn ngày về Gành Đỏ...”. Tôi nhìn quanh quất khu vườn tan tác sau trận lụt. Thực và những người lính dù chạy đi đâu trong đêm nước dâng?...

Cô giáo Hiền không ngăn được nước mắt khi cầm cuốn sách trên tay. Đã bao năm trôi qua, tập thơ được tôi bọc kỹ trong lớp giấy ni-lông “Đúng là nét chữ của chồng em rồi... Ảnh hay đọc sách. Đi đâu có cuốn nào hay là mua và gửi cho mẹ con em cùng đọc”. Hiền đặt cuốn sách lên bàn thờ và thắp nhang. Trong khoảng không gian mờ tỏ, tôi nhận ra tấm ảnh Thực. Ảnh trẻ. Còn rất trẻ. Trên một mảng tường còn thấy treo cả tấm ảnh chụp hai vợ chồng ngày cưới cùng với những tấm bằng khen của Hiền, của Thắm qua từng năm học.

Hiền quay ra bàn nước, nét mặt chị đã tỉnh táo trở lại. “Con Thắm nhắn: Mẹ cố giữ thầy ở lại chơi. Chiều nay tan giờ họp rút kinh nghiệm con sẽ về”. Mới ngoài tuổi 40, nhưng trông Hiền không còn trẻ. Chị phải lo toan vất vả nhiều vì con cái, công việc.
Nắng đã tàn sau dãy Đại Sơn, chỉ còn một chỏm vàng treo trên mỏm Đá Bia. Mỏm đá đen lớn, ngạo nghễ nổi lên giữa đám núi lô xô hiểm trở của vùng đèo Cả. Cách nhà Hiền không xa là ngôi trường tiểu học. Trường đã được xây mới, hai tầng với 10 phòng học khang trang. Hiền đã chỉ cho tôi coi dãy phòng học, nhà trệt còn sót lại sau ngày giải phóng nay đã được tu bổ, thay mái tôn bằng ngói. Những căn phòng học cũ kỹ ấy là nơi Thực đã từng dạy học. Hiền còn khoe: “Anh phó chủ tịch huyện bây giờ từng là học trò của nhà em. Lâu lâu ảnh xuống xã công tác đều ghé thắp hương cho thầy...”.

Tôi lững thững đi ra biển. Con đường mòn chạy dọc theo một bên triền núi một bên là những đìa tôm. Không gian yên tĩnh. Mặt biển xanh lục, từng đợt sóng ào ào đạp vào ghềnh đá. Liệu ở một nơi nào đó, Thực có nghe thấy tiếng lũ trẻ đang ê a đọc bài văng vẳng trong gió và tiếng chim bìm bịp giấu mình trong bãi đầm lầy khua động cả buổi chiều?

                                     
Đ.K.C
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #88 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 02:00:37 pm »

Thợ đóng cối xay

ĐỖ KIM CUÔNG


Quán cà phê cây sứ của vợ chồng Tư Hiền nằm ngay mặt tiền con đường nhỏ dẫn ra biển. Quán không trang hoàng đèn xanh đèn đỏ, không quầy két, không người chạy bàn, chỉ dăm ba bộ bàn ghế nhựa rẻ tiền.

Chưa rõ mặt người anh Tư đã đưa đám bàn ghế đặt dưới gốc cây trứng cá, trong lúc đó vợ anh - chị Hiền nhóm lò than đun nước sôi, chế sẵn vào những chiếc phích. Quán lẹp xẹp vậy mà đông khách. Cà phê pha đậm, thơm ngon. Khách uống cà phê sớm là những bác đạp xích lô, xe thồ rỗi việc, dăm anh công an trông coi trong trại tạm giam mắt đỏ ngầu vì phải thức đêm, các bác hưu trí đi tập ngoài bãi biển trở về vừa nghe bản tin buổi sớm, vừa bàn chuyện thế sự. Quán cà phê cóc của anh Tư chị Hiền đã có mặt ở đây cả chục năm trời. Căn hộ cấp bốn trong dãy nhà gia binh bị bao quanh bởi đám dây thép gai bùng nhùng, nằm sát khu đất hoang, chó ỉa sau ngày giải phóng chia cho cán bộ, công nhân viên không ai buồn nhận, bây giờ thành ra có giá. Mặt tiền rộng 8m, ăn sâu 5m giáp với tường rào của nhà tạm giam. Ngày vợ chồng Tư Hiền đến đây cỏ dại mọc dày. Con nít chơi đùa chỉ sợ rắn cắn. Đi ra hơn trăm mét đã là bãi cát ven biển, chạm mặt đã gặp dãy núi đá lô nhô của Hòn Tre, Hòn Chụt. Đêm sóng vỗ vào bờ cát nghe cồn cào nôn nao cả ruột gan. Rừng cây phi lao ngoài bãi cát mọc xen lẫn những bụi bờn bờn, cây gai, khoai lang dại, chỉ tiện cho đám cướp giật và những cô gái điếm hành nghề.

Hơn 20 năm sau, dãy phố nhà Tư Hiền thành ra có giá. Đường trải nhựa, gạch lát vỉa hè. Một đoạn phố ngắn vài trăm mét đã mọc lên dăm bảy cái khách sạn, nhà nghỉ cao năm bảy tầng. Gian nhà tập thể của vợ chồng Tư Hiền cũng “ăn theo” tân trang lại, nâng mái đổ tầng. Đã có nhiều người tới dạm mua ngôi nhà để xây biệt thự, khách sạn. Anh Tư chị Hiền nhất quyết không là không. Đồng lương hưu ít ỏi và mấy ly cà phê, thêm dăm chục đĩa bánh bèo, bánh hỏi bán cho đám con nít ăn sáng trước khi tới trường đủ để cho hai vợ chồng già sống no đủ. Niềm vui mỗi ngày là được nghe tiếng chân quen thuộc, tiếng gậy tre đánh chó của mấy bà già trong xóm đi bơi biển qua gọi xéo vào nhà hối thúc chị Hiền trở dậy nhóm bếp, nổi lửa. Anh Tư sau lúc bưng cà phê cho khách ngồi lặng lẽ nhìn vị giáo sư già vừa đánh cờ tướng, vừa bình phẩm những nhân vật mà ông quen biết từ ngày còn ở Hà Nội, nay người thăng quan tiến chức, mai có kẻ ra hầu toà. Đối thủ cờ của vị giáo sư thường là một anh nhà văn về hưu, cũng có khi là nhà đạo diễn kiêm biên kịch cho những vở tuồng, thiếu chân một bác xích lô cũng là đối thủ. Mỗi sáng, một ly cà phê đen đặc quánh đủ để ông đánh cả chục ván cờ có thua, có thắng. Có những hôm thiếu tay chơi cậu hoạ sĩ là người lót đường. Cậu hoạ sĩ trẻ đáng tuổi con trai út của giáo sư, mới ra trường được vài năm. Không xin được vào cơ quan nhà nước, cậu đi chép tranh thuê cho Galeri trên phố và âm thầm vẽ tranh để hy vọng một ngày nào đó sẽ nổi tiếng.

Một buổi sáng, lúc quán còn vắng khách cậu hoạ sĩ dõng dạc tuyên bố: “- Năm năm nữa cháu sẽ tổ chức một cuộc triển lãm tranh cá nhân mang tên “Vẻ đẹp biển!”. Cậu ta bình thản uống ly cà phê đen rồi nói tiếp: “ Dứt khoát lúc ấy cô chú Tư sẽ là khách mời đặc biệt của cháu”. Ông giáo sư thủng thẳng: “Hẳn cậu không quên tôi chứ?”. “Quên sao được bác. Bác là vị khách đặc biệt thứ hai”. Ông giáo sư đùa: “Cậu có định mời ông dân biểu”. Ông “dân biểu”, vị giáo sư già vừa nêu có tên là Xu cũng thỉnh thoảng uống cà phê ở quán cây sứ. Ông dân biểu đã ngoại thất thập, nhưng có cô vợ trẻ. Ông Xu đã từng được bầu trúng Hội đồng Nhân dân của phường một lần cách đây đã lâu, tính khí thất thường, hay quan trọng hoá từ chuyện to tới chuyện nhỏ. Ông giáo sư không ưa, hay gọi đùa ông Xu là ông dân biểu. Hai vợ chồng ông Xu sống trong một ngôi biệt thự cũ, đã hoá giá. Tháng đôi ba lần, ông Xu ra uống cà phê, mỗi lần ông Xu uống không bao giờ anh Tư cầm tiền của ông ta trả cho ly cà phê sáng. Nhắc tới ông dân biểu, cậu hoạ sĩ nói: “Không ông Xu cháu sẽ đưa vào tranh cùng với chiếc cối xay của chú Tư… Chú có chịu không?”. Anh Tư nghe cậu hoạ sĩ nói vậy, vội xua tay: “Chết chết ai lại đi đưa cái cối xay vào tranh. Chỉ có tôi cổ giả mới giữ nó”. Cậu hoạ sĩ vụt đứng dậy vươn vai và nói: “Chú Tư ơi! Chú là người thợ đóng cối xay cuối cùng của thế kỷ XX. Cháu dám cá với chú bây giờ không còn tìm đâu ra người thợ đóng cối xay nữa”. Chị Hiền đang ngồi xếp bánh bèo ra đĩa, góp chuyện: “Nè, chú Đông, vẽ ai thì vẽ nhưng vẽ cái cối xay của cô là phải trả tiền đồ làm mẫu. Tài sản quý giá của cô chú đó nghe”. Cậu hoạ sĩ hùng hồn tuyên bố: “Cô muốn lấy bao nhiêu tiền nhuận mẫu cháu cũng trả”.

Trên tầng hai nhà anh Tư quả là có một cái cối xay lúa, đan bằng tre đóng đất nện. Hàng răng gỗ đóng ở hai mặt thớt chiếc cối xay đã mòn vẹt. Một bên tai cối tròn nhẵn thín vẫn còn đính ở đấy chiếc tràng xay bằng gỗ. Chiếc cối xay như một bảo vật của gia đình. Không sợ trộm cắp bẻ khoá, đục tường vào nhà lấy đi đem bán đồ cổ và có bán cũng chẳng ai mua. Vài chục năm nay người dân quê đã xay xát gạo, đánh bóng gạo bằng máy. Chiếc cối xay trở thành mẫu vật để cậu hoạ sĩ vẽ tranh. Câu chuyện về chiếc cối xay đất ấy lại liên quan tới một đoạn đời của ba con người, tình cờ tôi biết được sau những lần ngồi uống cà phê, xin phép chép lại hầu bạn đọc.

Tôi nhớ có hôm, ông giáo sư vừa đánh cờ tướng với cậu hoạ sĩ, buột miệng hỏi: “Quái lâu nay không thấy ông dân biểu đi tập ngoài biển nhỉ?”. “Ông dân biểu của bác có chuyện rồi!”. Cậu hoạ sĩ vẫn không dời mắt khỏi con mã, chỉ chờ ông giáo sư sơ hở là chụp. Tôi ngồi hóng hớt nghe được một câu: “Cô vợ trẻ với ông dân biểu không đồng thuận ý kiến. Ông dân biểu quen ăn mỡ heo. Cô vợ trẻ biểu ăn dầu đậu nành giảm béo. Chẳng hiểu họ tranh luận những gì, một lúc thấy bàn ghế xô nhau và kết cục là chai dầu đậu nành vọt qua cửa sổ bay thẳng từ tầng sáu xuống dưới đất”. “Khủng khiếp! Cậu có bịa không đấy nhóc?”. Ông giáo sư giương mục kỉnh như có ý không tin. “Cháu bịa, cháu chết?”. “Ấy đừng chết… Cậu chết thành phố ta lại mất một tài năng văn nghệ…”. Ông giáo sư chép miệng và nhanh tay nhón một quân pháo trong lúc cậu hoạ sĩ không để ý, căng cổ ra cãi. Anh Tư ngồi nghe chuyện cười khùng khục trong cổ họng, đế thêm: “Hệt như ngày nào lão ta quăng cái mũ sắt lính ngụy từ nhà sàn xuống tận dưới suối khi phát hiện ra tôi ôm hôn cô Hiền, làm chết cả một bầy cá xanh”. Chị Hiền đang mải pha chế nước mắm chấm bánh bèo ở gần đấy, liếc xéo chồng hứ một tiếng: “Gớm cái ông này, ai thèm hôn ông?”. Nhưng tôi biết rõ chi tiết thứ hai ném mũ sắt chết cả một đàn cá suối là bịa. Hoạ cái mũ sắt lính nguỵ có nhồi thủ pháo, lựu đạn. Nhưng trong câu chuyện đùa của anh Tư về cái mũ sắt ném chết cá còn ẩn chứa cả nỗi uẩn khúc, éo le của người trong cuộc. Chỉ có điều sau bao nỗi thăng trầm của hai người đàn ông và một người đàn bà, chiến tranh đã không cướp đi một ai. Đã có thời họ là đồng đội của nhau, nhưng cũng là tình địch của nhau. Có lúc kẻ nọ hành xác, đày đoạ kẻ kia. Nhưng đến một ngày người kia lại đến đè ngửa kẻ nọ, nếu không ông ta sẵn sàng cầm dao đâm chết đứa con trai ruột của mình dám lấy sạch tiền của ông để đi bao gái và đánh bạc.

Câu chuyện bắt đầu từ một trạm xá tiền phương của một đơn vị đóng ở bờ nam Khe Trăng. Gọi là trạm xá cho oai, thực ra chỉ có một ông bác sĩ trạm trưởng, một ông chính trị viên và sáu cô vừa là y tá vừa là hộ lý, nấu ăn. Ở trạm xá ngoại trừ ông bác sĩ và ông chính trị viên, số y tá, hộ lý vừa phải lo chăm sóc thương binh vừa phải đi gùi gạo, nấu cơm, đi hái rau rừng, đi cáng thương. Khi có địch càn y tá, hộ lý cũng phải cầm súng đi chốt gác. Làm nhiệm vụ bảo vệ, cáng thương cho trạm xá còn có một trung đội vận tải, nhưng họ không thuộc biên chế của trạm xá. Công việc bận rộn nhất của trạm xá là mỗi khi sư đoàn, trung đoàn mở chiến dịch còn không chẳng mấy khi trạm xá có đông thương binh, bệnh binh. Những ca thương binh nặng, trạm xá chỉ sơ cứu rồi cho chuyển đi Quân y viện 94, Viện 26… Có lúc bình thường ở trạm xá chỉ có vài ca thương binh nhẹ, nhiều nhất là lính sốt rét; nhưng để lo cho đủ miếng ăn, lo chạy càn, bảo vệ thương bệnh binh nhiều khi rất vất vả. Vào mùa mưa lũ, nước sông Hương, sông Bồ dâng cao. Mưa trắng núi, trắng rừng, trạm xá không có gạo dăm bữa, nửa tháng là chuyện thường. Để có cái ăn cho thương binh, các cô hộ lý, y tá của bệnh xá phải mang quần áo, thuốc men - chủ yếu là thuốc sốt rét, thuốc cảm, đau bụng, viên C, mì chính, muối vào sâu trong rừng gặp đồng bào đổi sắn, đổi lúa, rau lang… Đường rừng đi bộ tới được các bản người Pacô, Vân Kiều cũng mất vài ba ngày.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #89 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 02:03:14 pm »

Anh Tư là lính bộ binh của KX bị mắc kẹt ở trạm xá Khe Trăng vừa tròn hai tháng mười tám ngày. Anh bị thương vào cánh tay. Viên đạn AR15 của tên lính ngụy đi phục kích chỉ đủ sức phá vỡ một rẻ xương cánh tay. Giá như Mỹ không đổ quân càn ở Động Chuối, núi Bông, Dốc Chè, và trận lũ đầu mùa nhấn chìm sông Bồ, Khe Trăng, Khe Lu hẳn anh Tư đã được đưa ra ngoài Viện 94 để điều trị. Ông Xu ngày ấy là chính trị viên bệnh xá đến gặp Tư động viên: “Đồng chí bị thương, nhưng không nguy hiểm đến tánh mạng. Giáp ranh địch đang càn. Sông Bồ đang lụt. Trong lúc chờ đợi, đồng chí ở lại với anh em trạm xá… Chờ thời cơ… Tôi thay mặt cấp uỷ, lãnh đạo trạm xá phân công nhiệm vụ chính trị cho đồng chí như vậy… tư tưởng đồng chí đã thông chưa nào? Khi công việc hoàn thành, tôi sẽ chấm điểm thi đua gửi về cho đơn vị”. Tư suýt phì cười khi nghe ông Xu huấn thị, hệt như những buổi ông tập trung cả trạm xá có cả thương bệnh binh để thông báo tình hình thời sự. Loanh quanh vẫn chỉ là chuyện ta thắng, địch thua khắp nơi quân dân miền đang vùng lên quật khởi đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào… Nghe ông Xu nói xong, Tư bảo: “Ở đơn vị tôi không ai người ta chấm điểm thi đua. Bộ đội chỉ có mỗi việc sáng đi chốt gác, bám địch. Chiều tối đi đồng bằng, gặp tụi bảo an thì đánh không thì vào nhà dân mua gạo, đậu phộng…”. Ông chính trị viên trạm xá phê bình ngay: “Đơn vị cậu không chấm điểm thi đua, báo công là khuyết điểm”. Tư nghe và chỉ cười. Cái “thời cơ” mà Tư phải chờ đợi là mỗi buổi sáng theo các o đi vào rừng bẻ măng giang và hái môn vót. Hạnh phúc nhất là được vào rẫy đồng bào gùi sắn, gùi lúa. Xay giã lúa nương để có hạt gạo cũng công phu lắm. Buổi tối, các cô nấu ăn, phục vụ đưa lúa xuống hầm, bịt vải vào đầu chày giã lúa trong những chiếc mũ sắt Mỹ. Hì hục cả đêm cũng chỉ được vài lon gạo. Một lần Tư bảo ông Xu: “Anh cho tôi đóng một cái cối xay, xay lúa!”. “Cối xay! - Ông chính trị viên reo lên - sáng kiến… sáng kiến! Cậu biết đóng cối hử, khá lắm. Tôi sẽ báo cáo với trên”. Tư chẳng biết cấp trên là ở đâu. Nhưng sáng hôm sau ông Xu đã thông báo: “Lãnh đạo đồng ý cho đồng chí đóng cối xay, xay lúa. Ta còn kháng chiến lâu dài, còn phải nhờ cậy đồng bào nhiều …”.

Tư được cấp năm lon gạo, một lon muối, một muỗng mì chính và vác theo túi đồ nghề vào rừng chặt lồ ô, chuốt nan đan cối. Khó nhất là tìm đâu ra gỗ nhãn, để làm dăm đóng cối. Mất một ngày trời, Tư leo núi tìm được cây dẻ gai thay cho gỗ nhãn làm nêm cối. Bao năm không cầm đến cái cưa, cái tràng, cái đục, phải vài ngày cánh tay Tư mới đỡ nhức mỏi. Nghề đóng cối xay Tư học lỏm được ở bác Cả Điền. Ngày hè nghỉ học ở làng, Tư đi theo bác Cả Điền sửa cối, đóng cối mới cho bà con nông dân. Bác Cả Điền đi trước vai khoác chiếc tay nải trong để bộ đồ nghề làm cối, tay xách chiếc điếu cày. Tư gánh mấy vòng răng cối gỗ nhãn, theo sau. Gia chủ nào gọi vào đóng cối, sửa cối là ngày hôm ấy hai thầy trò có cơm rượu thịt. Tư sáng dạ, lại khéo tay hay được bác Cả Điền khen. Anh đâu ngờ rằng một ngày kia lại trở thành người thợ đóng cối xay bất đắc dĩ trong rừng.

Bước sang ngày thứ năm thì Hiền đến. Cô mang vào cho Tư thêm 5 lon gạo, muối và mì chính. “Ông Xu lệnh cho em mang gạo, muối cho anh và coi thử công việc đến đâu để em về báo cáo với thủ trưởng. Chiều em về phải mang theo gùi rau”. “Thủ trưởng của cô quan tâm tới lính gớm nhỉ. - Tư nói giọng trêu chọc cô y tá - Rau khỏi cần đi kiếm, chốc tôi cho. Tôi tìm thấy ở đây cả một khe núi mọc đầy môn vót, môn thục, tai voi…”. “Thế thì nhất em rồi. Bù lại, trưa nay em nấu giúp anh ăng gô cơm…”. “Trao đổi vậy là công bằng”. Tư bảo và anh lại tập trung vào công việc đóng cối. Hiền là học sinh Đồng Khánh, hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên bị lộ, theo ông chú lên rừng từ sau đợt Mậu Thân - 68. Những ngày nằm ở trạm xá, hình như Hiền có cảm tình với Tư. Tư cũng thật sự thích cô. Không hẳn vì cô ăn nói nhẹ nhàng, có duyên mà vì cô là người có học thức, hiểu biết. Khi biết Tư đã tốt nghiệp tú tài - theo cách gọi của người - cô càng quý trọng anh hơn. Nhưng cũng vì Hiền là hoa khôi của trạm xá nên cô cũng là người hay bị mấy anh thương bệnh binh, cánh lính vận tải đàm tiếu, thêu dệt nhiều chuyện. Một trong những người mà Hiền căm ghét và tỏ ra có ý khinh thường chính là ông Xu - chính trị viên của trạm xá. Ông Xu mới ngoài 30 tuổi, đã có vợ và một con ở quê. Xuất thân là một anh nông dân chạy máy nổ bơm nước, sau mấy kỳ đại hội xã viên được bầu vào chân phó chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp. Lần lữa mãi, vào những năm 1970, Xu mới phải nhập ngũ. Sau 9 tháng huấn luyện, học tập Xu được phong thiếu uý dẫn quân đi B. Ai ngờ vào chiến trường Xu bị giữ lại điều về làm chính trị viên cho trạm xá. Các cô y tá và cả mấy anh lính hay thóc mách đồn rằng ông Xu từng bị vài cô (còn cô nào thì đấy là điều bí mật nội bộ!) cho ăn tát và hắt nước vào mặt khi hứng tình, ông Xu giở trò sàm sỡ. Đã có cô vốn từng là y tá, hộ lý ở trạm xá phải lặng lẽ khoác gùi, ba lô chuyển đi công tác ở đơn vị khác.

Bữa cơm được dọn ra dưới tán cây rừng. Đã lâu, Tư có được một bữa ăn ngon đến vậy. Hai lon gạo nấu đầy một ăng gô Liên Xô. Hiền bổ một hộp cá nấu với mì chay ông Phật. Chỉ một loáng, hai người đã chén sạch cơm và mì chay. Mồ hôi chảy nhễ nhại trên gương mặt sáng xanh của Tư. Hình như Hiền ăn ít hơn, có ý nhường cho anh. Trong lúc cô y tá của bệnh xá nằm ngủ trên võng, Tư đã tranh thủ hái xong cho cô gùi rau. Anh không ngủ, ngồi chẻ từng mảnh nhỏ gỗ dẻ để tối hong khô trên than lửa. Dăm cối xay làm bằng gỗ nhãn là tốt nhất, nhưng giữa rừng sâu đào đâu ra nhãn? Đang chăm chú mài con dao găm Liên Xô vào phiến đá, tự nhiên Tư thấy nóng ở lưng. Anh chưa kịp quay lại đã thấy Hiền vòng hai tay qua ngực anh và áp má nàng vào tấm lưng trần nhớp nháp mồ hôi. “Em yêu anh!” Tư chỉ nghe được ba chữ ấy. Đầu óc anh quay cuồng vừa như hoảng loạn bởi điều lớn lao nhất bất ngờ ập đến, vừa xúc cảm trào dâng bởi hạnh phúc đến không ngờ.

Hiền là cô y tá đẹp có tiếng ở trạm xá, cha mẹ cô ở thành phố đều đi dạy học. Một ông anh trai là bác sĩ, cô là sinh viên nhưng lại ham mê cách mạng. Gia đình, anh em có những bất đồng về chính kiến, nhưng sự nhiệt tình và lòng hăng say khát vọng của tuổi trẻ, muốn đổi đời mà Hiền đã bỏ nhà, bỏ học đường đến với cách mạng, đi kháng chiến. Những ngày Tư nằm trạm xá, được cô chăm sóc. Anh biết cô là người có bản lĩnh cứng cỏi, có phần ương bướng của một cô gái tự ý thức được trách nhiệm về bản thân mình. Chỉ có điều Tư không hiểu sao Hiền lại lựa chọn anh để nói câu ấy. Tư chỉ là một trong số cả trăm thương bệnh binh, dừng chân nơi trạm xá. Phải nhiều năm sau nữa, khi trở lại rừng tìm về thác đá ở Khe Trăng, gặp lại Hiền anh mới hiểu hết câu nói ngắn gọn, kiệm lời của người con gái.

Còn bây giờ? Rừng trưa nghiêng ngả trong những đợt gió đổ ào ào trên tán lá cây xanh rợp một khoảng trời. Con thác Bơn đổ nước ào ào xuống Khe Trăng, bươn bả vượt qua những ghềnh thác, hẻm núi đổ ra sông Bồ. Đã nhiều lần Tư và những người lính bộ binh KX đi đánh địch ở vùng sâu, vào làng gặp dân mò mẫm quanh các xóm ấp La Chữ, An Hoà, Kim Long. Nhìn về phía đông, thành phố hừng lên trong ánh điện. Ngọn đèn trên đỉnh Phu Vân Lâu chớp đỏ. Từng trái hoả châu xanh lét treo trên bầu trời hắt xuống mặt nước sông Hương lấp loáng. Thành phố Huế đấy, nhưng trong tâm thức của Tư và những người lính thấy xa xôi vời vợi, cách trở. Còn bây giờ một người con gái Huế bằng xương bằng thịt đang hiện hữu ngay bên anh. Hai con người ở hai vùng đất khác nhau, chưa có thời gian dài để trò chuyện, quen biết, nhớ mong. Nhưng trái tim họ cùng nhịp đập thổn thức và hoà quyện làm một trong niềm đam mê say đắm. Họ nằm thả mình trên một tảng đá lớn bên bờ Khe Trăng rất lâu. Không gian im ắng. Chỉ có tiếng nước dưới lòng khe, tiếng con tắc kè kêu bảy tiếng thảng thốt. Nếu không có tiếng máy bay OV10 lâu lâu đảo vòng trên đầu phát ra thứ âm thanh quái dị, không ai nghĩ chiến tranh, bom đạn chết chóc ở liền kề. Chợt Tư buột miệng: “Thật phi lý!”. Hình như Hiền hiểu được điều anh nghĩ, nàng ghì anh xuống và nói: “Chỉ có tình yêu của anh và em hiện hữu”. Có tiếng pháo nổ đâu đó nổ ở ngả địa đạo 310. Hiền ngồi dậy, vấn tóc: “Không khéo địch càn, anh à”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM