Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:40:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn - Tạp chí Sông Hương  (Đọc 75371 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #100 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2011, 01:59:36 pm »

Qua những lời tâm sự nồng hơi men của Hùng tôi mới biết bố Hùng là một sĩ quan cấp tá chế độ cũ. Chính ông ta hồi ấy trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn địa phương quân càn quét du kích ngay trên quê hương bản quán của mình. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng ông đi học cải tạo, ngôi nhà hai tầng nằm giữa trung tâm thị xã và của cải đều bị tịch biên, cả gia đình Hùng bị đuổi ra khỏi nhà chỉ với mỗi người một xách tay quần áo. Túng quẫn, hết đường nên bồng bế nhau tìm đường về quê. Phải vất vả làm lụng kiếm miếng cơm manh áo giữa thái độ ghẻ lạnh mà đa phần dân làng và chính quyền địa phương dành cho gia đình kẻ “nợ máu nhân dân” là áp lực khủng khiếp nhất trút xuống đầu thằng con trai mới chỉ hơn mười tuổi. Thời gian mấy năm đầu mới trở về làng, Hùng còn nhỏ nên sự kỳ thị ấy chẳng ảnh hưởng nhiều tới tâm tính. Nó chỉ ngạc nhiên vì lũ trẻ con trong làng cứ tìm cách gây gổ hay xa lánh anh em nhà nó. Càng nhẫn nhịn càng bị chúng lấn áp bắt nạt, sau quá nhiều trận đòn vô cớ nên bất chấp lời mẹ răn đe, căn dặn, Hùng đánh lại bọn chúng, bao nhiêu uất khí dồn nén lâu ngày bỗng chốc trở thành liều lĩnh hung hãn làm bọn trẻ khiếp sợ...

Hùng ngừng kể, cúi sát xuống bếp lửa châm thuốc, khuôn mặt nhíu lại theo từng bụm khói đặc quánh... Tuổi hoa niên của Hùng rất khổ nhọc, Hùng mỗi ngày mỗi trưởng thành trong gánh nặng vật chất cũng như tinh thần, phần giúp mẹ lo miếng ăn, tấm áo cho bốn đứa em còn quá bé, phần lo bới xách cho bố còn nằm vô thời hạn trong trại cải tạo. Cứ sau một lần cùng mẹ đi thăm bố về, Hùng lại càng thấm thía hơn tính cách trầm lặng, tủi nhục của ông và những giọt nước mắt chua xót của mẹ… Tôi không ngạc nhiên khi biết trước đây Hùng nổi tiếng là côn đồ với hàng chục tờ kiểm điểm còn chất chồng trong uỷ ban xã. Bị cô lập bởi những định kiến, nỗi đau xót, khổ sở mà với suy nghĩ của một đứa trẻ rất dễ nảy sinh sự phá phách hung tợn bắt người khác phải nể sợ mình thì dù sao cũng đỡ hơn phải nhẫn nhịn cúi gầm mặt mỗi khi ra đường như người lớn… Vuốt nhẹ mái tóc dài mượt mà của vợ đang tựa trên vai, giọng nói của Hùng dịu xuống trìu mến: “Nói thật với anh, hồi đó chỉ có Hoài Giang chịu kết bạn với em, cũng may nhờ có cô ấy giáo dục em mới vượt qua được mọi mặc cảm rồi hoàn lương để có ngày hôm nay...”

Nhưng chưa hẳn mọi việc được kết thúc ngang đó. Khi Hùng chịu nghe lời khuyên nhủ của Hoài Giang, cải sửa tính tình để làm lại cuộc đời, thì cái rối rắm nhất, khó khăn nhất lại ập xuống, đó là chuyện tình cảm. Lúc Hoài Giang nhận ra trong nhiều năm giúp đỡ, động viên những thanh niên chậm tiến, trong tim cô bí thư chi đoàn thôn bỗng nảy nở một thứ tình cảm đặc biệt với gã con trai lỳ lợm ngang bướng và có cái lý lịch đen nhất.

Hoài Giang rất khổ tâm khi biết mình đã yêu Hùng, vì cô biết bố mình chẳng bao giờ nguôi quên được cái chết của mẹ trong một trận đánh do bố Hùng chỉ huy đơn vị địch. Ông vẫn thường quy kết bố Hùng là thủ phạm đã bắn băng đạn tiểu liên xé nát vùng ngực người vợ thân yêu của mình, nên luôn trút hết nỗi căm thù ấy lên đứa con của “thằng sát nhân, bán nước...”  Đó là những lời gầm gừ mắng nhiếc mỗi lần ông thấy Hùng, và cũng rất nhiều lần ông la mắng Hoài Giang khi cô ra sức bảo vệ gia đình Hùng bởi những đối đãi thiếu công bằng của chính quyền thôn, như chính sách vay vốn, trợ cấp gia đình nghèo... Nhưng rồi thời gian cùng những lời nói dịu dàng uyển chuyển như dòng sông của đứa con gái ngày càng bào mòn thái độ thù ghét, hằn học của ông bố. Ông không còn chửi mắng hay nhìn Hùng bằng ánh mắt toé lửa.

Oái oăm thay lúc bố Hoài Giang bắt đầu thay đổi quan niệm hận thù thì bố Hùng lại trở về làng sau hơn mười năm gánh trả nợ nần đã gieo. Bố Hùng tuy không nói ra, nhưng sự khép kín, lạnh lùng với cuộc sống là hệ quả tất yếu của mười năm dài bị cầm cố, lao khổ bằng thứ tội danh bán nước nên luôn bị chà đạp sỉ nhục mà không thể minh oan được. Ông vẫn quan niệm rằng: Trong chiến tranh, số phận của một con người chỉ là hạt bụi giữa cơn lốc xoáy, không mấy ai có thể cưỡng lại được. Ông cũng thế, có sung sướng vui vẻ gì khi phải rời bỏ bục giảng, bỏ những đứa học trò bé nhỏ để cầm súng bắn giết người khác, nhất là với những người cùng quê hương, cùng kêu lên một tiếng mẹ ơi trước khi chết. Thôi thì ông cũng chấp nhận sự đối đãi với bản thân ông như thế, ông chỉ bất bình đau xót cho những đứa con vì chịu ảnh hưởng bởi tội danh của người lớn, nên cũng bị đánh mất sự hồn nhiên trong sáng của tuổi thơ trong mặc cảm khốn khổ, trong sự đối xử không công bằng. Nên khi mãn hạn tù trở về làng, ông rất uý kị, lãnh cảm với những người có vai vế ở chính quyền sở tại như bố con Hoài Giang.

 Thái độ bất phục của bố Hùng vô tình gợi lại lòng căm ghét, thù hận của bố Hoài Giang. Tình cảnh của Hùng và Hoài Giang thời đó căng thẳng không tưởng được, có lẽ nếu không vì thương nhau quá hoá liều, thì đã phải chia tay nhau. Và rồi hai đứa quyết định bất chấp sự từ bỏ của hai gia đình, bất chấp những buổi họp kiểm điểm, kỷ luật để dắt nhau ra uỷ ban đăng ký kết hôn. Trước tình yêu và luật pháp, Hùng và Hoài Giang đã qua tuổi vị thành niên, đã có đủ quyền chọn lựa hạnh phúc cho riêng mình, nên không ai ngăn cấm được.

Hùng rất chân quê, đậm dấu ấn lam lũ khắc khổ cũng như lối suy nghĩ rất thật thà, cứ xem mọi gian nan khó khăn chẳng khác gì việc còng lưng cuốc ruộng:

- Bọn em tính rồi, cả hai ông bố đều cố chấp cứ vin vào cái quá khứ để ghét bỏ thù hận nhau, nên chắc chắn chẳng bao giờ chấp thuận cho bọn em kết hôn… nhưng cứng như đá cũng bị thời gian bào mòn hà huống chi con người. Đến đời con em là xong, hết giận. Em chỉ ân hận Hoài Giang vì thương em mà không được mặc áo cưới, lên xe hoa đàng hoàng như thiên hạ.

Đăng ký kết hôn không ai ngăn cản được, nhưng sinh sống trong làng dưới bao áp lực nặng nề từ gia đình nội, ngoại hai bên mới thật sự khó khăn bức bối. Hai vợ chồng bàn nhau ra cắm dùi đảo cát vừa tránh lời ra tiếng vào, vừa dễ kiếm được bữa cơm bữa cháo nhờ sự hào phóng của thiên nhiên.

Hồi chân ướt chân ráo ra lập nghiệp ở đây, vợ chồng Hùng chẳng có gì ngoài một chiếc thuyền thúng, vài cái nơm, nò bắt tôm cá đắp đổi qua ngày. Cứ thế mà cả ngày lẫn đêm vật lộn với cuộc sống giữa bao la sóng nước. Cái chòi bằng những tàu dừa nước cũng bao lần rách tướp, thay mưa đổi nắng cố chống chọi từng cơn lũ rừng, từng cơn bão biển. Vất vả là thế, cô đơn là thế mà cả hai vợ chồng không hề nản lòng, cứ dành dụm từng chút một cho mơ ước và hy vọng hai ông bố sẽ không còn nhìn ngắm nhau bằng những hận thù của một thời xưa cũ.

Lợi dụng nguồn thức ăn vô tận do sông, biển hào phóng ban phát từ những đợt thuỷ triều lên xuống, Hùng gom góp vốn liếng nuôi thả vịt, từ vài con ban đầu đến bây giờ đã thành vài trăm con. Ở đây bốn bề đều là sông nước, khỏi mất công chăn dắt, đỡ tốn kém thức ăn nên lợi nhuận mang về cho vợ chồng Rô bin sơn thời hiện đại khá lớn...

Hùng thật thà tâm sự:

- Vợ chồng em thu hoạch mỗi ngày được hơn hai trăm quả trứng, ban đêm còn đi lưới tôm soi cá kiếm thêm chút đỉnh nên cũng tạm ổn.

Hùng lại ném thêm những tàu lá khô vào cái bếp dã chiến. Những tên bạn già nhưng còn ham chơi của tôi cứ vô tư thi nhau xé xác chú vịt tơ béo ngậy do vợ chồng chủ đảo chiêu đãi. Ánh lửa bập bùng từ những tàu lá dừa nước, loài cây sống thành đôi và độc nhất trên cồn cát ở ngã ba sông nầy soi rõ từng khuôn mặt đỏ nhừ men rượu. Chưa kịp nuốt hết quả trứng có mùi vị ngọt bùi lẫn gian khó của vợ chồng Hùng tôi đã hỏi:

- Còn phần hai ông bố, bây giờ đã ổn chưa?

Hoài Giang vuốt lại mái tóc dài đang bù rối vì gió:

- Gia đình chồng em xuất cảnh sang Mỹ nhiều năm rồi, tháng trước ông già có về thăm cứ luôn miệng than ở bên ấy buồn lắm, chẳng có bạn bè gì, ông còn đòi về ở luôn với thằng cháu đích tôn...

Hùng vui vẻ cắt ngang lời vợ:

- Bọn em thời gian đầu mới lấy nhau rồi ra đây lập nghiệp rất gian khổ và khó khăn đủ mọi bề, hai vợ chồng đâu dám có con nên bây giờ chỉ mới có một chú nhóc, nó còn bé quá không thể ra ngoài nầy được nên phải gửi ông ngoại nuôi giùm… hết giận lâu rồi anh ạ. Nghĩ chuyện đời cũng hay, nhìn hai ông bố ngồi khề khà chung mâm rượu, dành nhau bồng ẵm cái nghiệp chướng hai đứa em sướng hơn trúng số độc đắc...

Tôi chạm cốc chúc mừng với hai vợ chồng, người du kích nhỏ tuổi nhất Huyện đội ngày xưa vừa hát một câu tình ca của người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh, vừa chuếnh choáng đứng dậy, bước dần ra phía bờ sông, giọng hát nhừa nhựa hơi men dâng theo ngọn gió từ biển thổi vào lồng lộng, chiếc bóng khập khễnh duỗi dài giữa mênh mang bờ bãi sáng loáng màu trăng.
                                  
(TCSH số 231 - 05 - 2008)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #101 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2011, 02:09:14 pm »

Ảo ảnh mùa khô

MINH HUỆ


Chúng tôi tìm được địa điểm chốt quân khá lý tưởng. Đấy là chiếc hang đá ở lưng triền núi; hang cao rộng vừa lõm sâu vào vách núi. Cửa hang được chắn bởi tảng đá khổng lồ, rất kiên cố; dù máy bay Mỹ có phát hiện thấy cửa hang mà phóng rốc két, đánh bom tấn thì người ở trong hang vẫn chẳng hề gì! B52 có rải thảm bom thì lại càng không ăn thua.

Phía trước hang là khoảng đất rộng khá bằng phẳng, chỉ cần cải tạo đôi chút là có thể dùng làm sân chơi bóng chuyền. Chúng tôi đã dựng lên trên trảng đất ấy hai dẫy nhà tạm mái giấy dầu. Nhà được che dưới tán lá xanh mượt vươn xa của gốc cây vàng anh; được bao quanh bởi những bụi cây sắn rừng, bụi cây mỏ quạ, cùng những cây leo khác mà tôi không biết tên gọi của chúng là gì, trổ nhiều hoa thơm màu trắng trông na ná như hoa loa kèn.

Đứng trước hang nhìn ra được cánh đồng Lùm Bùm: những thửa ruộng bằng phẳng hoặc bậc thang, thỉnh thoảng lại thấy nhô lên một lùm cây mua hoặc quỳ dại, tựa như chúng được một người khổng lồ nhổ chúng từ đâu đó rồi quẳng lại đây.

Hang chủ yếu dùng làm kho chứa hàng; không nên làm việc, ăn ngủ lâu ngày ở trong hang đá bởi như thế dễ mắc bệnh thấp khớp.

Không khí ở trong hang lạnh và ẩm ướt, lúc nào cũng có mồ hôi đá (nước thấm) tụ lại nhỏ xuống nền hang, tựa như dung dịch xút loãng, ngấm vào quần áo gây ngứa ngáy khó chịu lắm.

Những năm tháng chiến tranh sống ở núi rừng Trường Sơn, tôi nhận ra rằng: Không có gì ngán ngẩm bằng cứ phải nằm khàn ở trong hang đá mà nghe đếm từng giọt mồ hôi đá rơi tí tách lẫn trong âm thanh ì ầm dội qua dội lại bên vách đá của bom chùm B52 rải thảm ở nơi xa nào đó... sao mà rền rĩ đến não lòng!
Những thời khắc ấy, tôi hay nghĩ về miền Bắc... như muốn ứa nước mắt. Mẹ tôi đang ngày đêm mòn mỏi đợi tin các con. Bà năm nay tuổi đã ngoài bẩy mươi mà vẫn vất vả, lầm lũi, đơn côi... vì bà có hai thằng con thì cả hai đều đi thoát ly. Em tôi từ lâu không có tin về, đâu như nó đang chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên. Nghe nói đời sống của đồng bào Tây Nguyên đang bị giặc o ép cơ cực lắm: thiếu gạo, thiếu muối ăn đến phù thũng, mờ mắt, bạc đầu.

- Kỷ Linh ngủ đấy à?

- Không.

- Nội nhật ngày mai trời sẽ hửng.

- Sao anh biết?

- Có tiếng kêu của vợ chồng con chim thủ thỉ ở ngoài rừng đó. Nắng hạn mà cóc nghiến răng thì trời sắp mưa. Mưa nhiều mà chim thủ thỉ kêu thì trời sắp nắng. - Bu Tha giải thích với tôi như thế vừa chất thêm củi cây săng lẻ vào bếp lửa đang nấu nước. Tôi lắng nghe quả là có tiếng kêu của chim thủ thỉ thật: những âm thanh nghe rất nhỏ, mơ hồ, thì thầm lẫn trong cái ồn ào, lao xao của nước xối, mưa rơi. Trời dịu mưa, có con chim sâu dậy muộn đang lích tích gọi bạn kiếm mồi trong khóm sắn rừng trước cửa hang.
Những cơn mưa rừng tiếp nhau báo hiệu mùa khô đã hết; mưa nhỏ thôi nhưng rả rích, dầm dề. Mọi thứ ngấm nước không có chỗ phơi cứ sũng cả ra. May mà còn đống củi dự phòng bằng cây săng lẻ nên không thiếu cái đun. Củi săng lẻ ngấm nước vẫn cháy nỏ như gỗ thông và cháy không có khói. “Trời hửng nắng!” - Chỉ cần nghe nhắc đến mấy từ ấy thôi cũng thấy nhẹ cả người.

...Cả tổ công tác quây quần bên bếp lửa với chén trà nóng ngát hương, nghe Bu Tha kể chuyện. Anh rất thật thà, giọng trầm ấm, kể chuyện mà chẳng cần giấu giếm gì, về cái bản Bạc của anh, về những sinh hoạt văn hóa và tập tục của người Lào Thoong; về nỗi vất vả và kinh nghiệm đi rừng và đánh bắt cá trên sông Sê Kông... Có một chuyện mà Bu Tha kể nghe như huyền thoại, đưa sự liên tưởng của người nghe ngược thời gian về nửa chừng thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên:

Có một nhóm người Tầu (không xác định được rõ ngày, tháng, năm!) đã đến tìm kho báu ở vùng này, dọc theo hai triền sông Sê Kông. Họ đã tìm được mười tám bộ thần chủ bằng vàng của vua Hời xưa, nó được chôn cùng với chiếc sọ dừa đã hóa đá tại một hang đá khuất nẻo. (Không chừng cái hang đó lại chính là nơi chúng tôi đang ở”!”).

Theo sử sách thì vào năm 603 sau Công nguyên, vua nhà Tùy sai thái thú Châu Hoan đem quân đánh vào quốc đô nước Lân Âp, bắt được vua Hời và mười tám bộ thần chủ bằng vàng. Mỗi bộ thần chủ tiêu biểu cho một triều vua Lân Âp (truyền được 18 đời). Từ đấy nước Lân Âp bị tiêu diệt lệ thuộc vào nhà Tùy bên Trung Quốc.

Dưới thời nhà Tùy, đất nước Trung Hoa vào thời gian đó rất rối ren, nên rất có thể thái thú Châu Hoan đã không đem nộp những báu vật ấy cho vua nhà Tùy, mà đem chôn dấu ở núi rừng Trường Sơn. Chiếc sọ dừa hóa đá rất có thể là của vua Hời đã bị giết và đem chôn cùng kho báu, được yểm bùa làm thần giữ của. Tôi cần nói rõ thêm: Bu Tha là người dân tộc Lào Thoong, quê nội ở bản Bạc nhưng quê ngoại của anh lại ở Quảng Bình. Mẹ của Bu Tha là người Hời.

Trường Sơn, một mùa khô đại hạn. Trời nắng nóng đến cực độ không sao chịu nổi, suốt từ lúc rạng đông đến xế chiều, cứ hầm hập, hầm hập... Mỗi khi, có làn gió thổi qua quện theo hơi nóng từ những vách đá bị nắng thiêu đốt thì cứ như táp hơi lửa vào da thịt! Sông Sê Kông cạn kiệt, lòng sông phơi ra lổn nhổn những đá đầu sư. Từng đàn bướm đủ các màu rập rờn lượn trên những vùng nước trong xanh bị tách khỏi nhau, mà ở đó vẫn những cá to hở vây tay xách nặng. Bầu trời chói chang trong veo, từng đàn chim sải cánh bay lượn mãi trên cao, và chiều về, bao giờ cũng vậy, không thể thiếu tiếng ca thanh thót của chim họa mi. Khói lam chiều như màn sương mỏng lan tỏa trên những mái nhà sàn của bản Bạc nằm khuất nẻo sau những tàn lá cây khoọc sum suê. Có tiếng ai đó nghe quen thuộc từ phía bản Bạc, như tiếng của Kan Ly gọi chồng: “Bu Tha à...!”

Những buổi chiều trên mảnh đất hoang sơ nơi đây thật thanh bình, một nét thanh bình rất đặc trưng và vĩnh cửu, cho dù đang có chiến tranh! Bu Tha là người địa phương biệt phái sang giúp chúng tôi một thời gian để khảo sát dòng Sê Kông và đóng thuyền gỗ chở hàng chiến lược chi viện cho chiến trường khu V và Nam Bộ. Anh là tay đánh bắt cá cừ khôi nhất bản Bạc: da ngăm đen, mặt vuông chữ điền, người thấp đậm, đôi cánh tay săn chắc... Bu Tha mới ba mươi tuổi mà đã có hai con. Con gái lớn của anh mười tuổi, giúp bố mẹ được đủ việc. Cậu út mới lên ba. Kan Ly kém chồng ba tuổi, một thiếu phụ Lào Thoong xinh đẹp, khỏe mạnh, đảm đang... người gốc Cha Kơi.

Bu Tha thuộc lòng sông Sê Kông như thuộc đường đi ngõ ngách của bản Bạc: từng mô đất, tảng đá; chỗ nào có nước xoáy, sâu bao nhiêu, những hốc nào ăn thông với hốc nào... Dòng Sê Kông quanh co, uốn khúc, chỗ phình ra, chỗ thắt lại, lòng sông có nhiều đá ngầm, cứ khoảng non chục cây số lại có một thác, dưới chân một vài thác có bãi bồi. Đặc biệt có xoáy nguy hiểm và chảy xiết là các thác Hàm Sư Tử, thác Nhạy, thác Rồng.

Dọc hai bờ sông Sê Kông từ bản Bạc tới Bắc-Ca-Đon giang, nứa, tre, vầu chen nhau sin sít vươn xa xõa ngọn phủ bóng xuống mặt sông. Tiếng chim điêu điếu, chim tu hú, chim bìm bịp suốt ngày ồn ã báo hiệu một mùa khô tươi vui, nhộn nhịp của các bản bên sông. Người ta buông lưới, gõ sạp săn cá trên sông, say sưa hò hát. Song, với công việc vận tải bằng thuyền trên sông Sê Kông thì phải mùa thu mới đẹp, bởi khí hậu Trường Sơn khi này đã khô ấm, thác và ghềnh đã bị khỏa đi trong nước mênh mông, thuyền trọng tải mười tấn cũng có thể đi qua. Nước sông càng nhỏ thì thác càng dữ dội, thuyền độc mộc khả dĩ còn đi được, chứ thuyền trọng tải vài tấn thì cơ cực lắm: thuyền dễ bị mắc cạn và bục đáy khi xuống thác.

Mua thuyền của dân thì chỉ có thuyền độc mộc trọng tải chừng năm sáu tạ nên không đảm bảo được kế hoạch vận chuyển. Chúng tôi cần thuyền trọng tải từ ba bốn tấn nên phải đóng thuyền mới. Bu Tha giúp chúng tôi chọn mua gỗ đóng thuyền. Gỗ rừng phải mua của dân và phải qua lễ “đuổi ma” rồi mới được đem đóng thuyền. Dụng cụ và thợ đóng thuyền đưa từ Quảng Bình sang đây.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #102 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2011, 02:11:14 pm »

Cả đội công binh đã làm việc cật lực suốt một tháng trời, dùng sức người sức bộc phá để phá những tảng đá nhô lên mặt sông, nắn bớt những quanh co trên dòng thác, đánh dấu luồng cho thuyền đi qua... Song, về cơ bản thì những thác trên sông Sê Kông vẫn còn nguyên vẻ hung dữ.

Chiếc thuyền gỗ tam bản mang biển số 01 trọng tải 2 tấn do Bu Tha và ba thủy thủ nữa có tay nghề vững đảm nhận, dẫn đầu đội thuyền chở hàng.

Thuyền chở hàng đi ngay ban ngày, đi lẻ tẻ; được ngụy trang cẩn thận lợi dụng những tàn cây che khuất, hy vọng đội thuyền đưa được hàng đến thung lũng Mường Mây một cách an toàn.

... Tới thác Hàm Sư Tử các tay lái của thuyền 01 đã bình tĩnh cố giữ để thuyền khỏi bị lật khi lao xuống thác, thì nó lại... bị nhấc bổng đặt lên bãi bồi.

Gay go rồi đây! Các thủy thủ bị xô ngã sứt đầu xẻ trán, sấp ngửa lóp ngóp đứng dậy. Một trong số thủy thủ đã phải tức tốc chạy ngược lên đỉnh thác ra hiệu cho thuyền đi sau biết mà dừng lại. Số người còn lại thì dùng xẻng đào cát làm lạch, dỡ hết hàng ở trên thuyền xuống; dùng tre, vầu làm đòn xeo và con lăn để lăn bẩy thuyền... Vất vả, chật vật đến mãi sớm hôm sau, các thủy thủ mới đưa được thuyền xuống nước. May mà thuyền không bị thủng đáy. Con thuyền lại được chất hàng lên để tiếp tục hành trình...

Vào thời điểm đó, các thủy thủ thuyền 01 chưa kịp ngơi tay thì đã thấy trên đầu xuất hiện một máy bay trinh sát vũ trang của Mỹ! Chiếc máy bay rà sát xuống mặt sông: cánh quạt tạo nên những luồng gió dồn dập làm lật thốc những ngọn cây rủ bóng và... thuyền 01 đã lộ ra! Thấy mục tiêu, chiếc máy bay trinh sát ngoắt quay lại, bắn xối xả và dội bom tới tấp vào chỗ thuyền đang neo đậu!

Sự việc xảy ra quá bất ngờ khiến chúng tôi không kịp trở tay. Tình hình đã trở nên hết sức nghiêm trọng - nghiêm trọng hơn nhiều so với những gì chúng tôi tưởng.

Máy bay trinh sát của bọn Mỹ rất cáo, nó phát hiện được ngay đội thuyền chở hàng của chúng tôi và chuyến hàng đầu tiên của mùa khô vận tải trên sông Sê-Kong đã bị trúng bom.

Không thể bó tay mà nhìn đồng đội hy sinh, nhìn những chiếc thuyền gỗ mà chúng tôi đã tốn bao công sức mới tạo nên với những hàng chiến lược bị bom đạn vằm nát và nhấn chìm trong nước. Cũng không thể ngưng trệ việc vận chuyển hàng chiến lược chi viên khẩn cấp cho cách mạng miền.

Chúng tôi hạ quyết tâm thực hiện khẩu lệnh hành động: Địch đánh, ta cứ đi! Địch đánh ta, ta đánh trả!

Ngay sau đấy, tất cả những thuyền gỗ trọng tải lớn đều được trang bị vũ khí đánh máy bay tầm thấp.
Quả nhiên, kẻ thù đã phải đền tội: Sau đó, liên tiếp có những chiếc máy bay trinh sát vũ trang của Mỹ được xơi “kẹo đồng”, biến thành bó đuốc và đâm đầu vào núi!

“Thuyền vận tải 01 bị bom Mỹ đánh chìm. Ba thủy thủ của tàu bị thương đã bị thương nặng giạt vào bờ, còn hoa tiêu Bu Tha vẫn chưa tìm thấy...”. Cái tin sét đánh đau thương ấy nhanh chóng truyền đi dọc Trường Sơn.

Chúng tôi, những người còn sống sót, những bạn của Bu Tha cùng gia đình anh và bà con ở bản Bạc, chia thành tốp đi tìm kiếm Bu Tha dọc hai bên bờ sông Sê- Kông; đã ròng rã 10 hôm rồi mà thông tin về anh vẫn biệt tăm. Tốp chúng tôi quay lại chân thác Hàm Sư Tử, buồn và đói mệt, chúng tôi bảo nhau ngồi nghỉ ở đó một lát cho lại sức để rồi lại tiếp tục hành trình.

Và lúc ấy, bỗng xuất hiện con bướm trắng rõ to, không rõ nó từ hướng nào lại, cứ bay lượn quanh quẩn mãi chỗ chúng tôi ngồi. Người tôi bỗng nổi gai rờn rợn như có cái gì đó vô hình, run rủi, linh thiêng!
Tôi khấn thầm: “Bu Tha ơi! Chúng tôi thương tiếc anh vô hạn và đã ra đi tìm kiếm anh ròng rã ngần ấy ngày rồi... Anh sống khôn chết thiêng, hồn anh có hóa thành bướm trắng thì hãy xin dẫn dắt chúng tôi tìm được đến chỗ anh nằm!”

Tôi khấn xong thì con bướm trắng lượn quanh chúng tôi một lần cuối, rồi bay tít lên trời cao! Lòng tôi đau như thắt lại và nước mắt cứ muốn trào ra. Hình như, ở vách núi trước mặt phía xa, lóa nhòa trong nắng hình ảnh một đàn cọp đang ăn xác người! Tôi đưa tay lên dụi mắt: Không! Không có gì! Chẳng qua đấy chỉ là ảo ảnh thoáng hiện trong tâm thức ở nơi tôi.

Vâng, thực tế là vài năm lại đây có những con cọp quen ăn thịt người chết, phiêu bạt đến sống ở vùng rừng núi nơi này. Chính mắt tôi, một tháng trước đây, đã nhìn thấy dấu chân cọp in bên bờ một con suối gần chỗ chúng tôi đang ở.

... Lại một chiều gay gắt nắng đầu mùa khô ở phía tây Trường Sơn, vẫn có những đàn chim sải cánh bay lượn tít trên trời cao, vẫn có khói lam chiều như làn sương mỏng trên mái những nhà sàn ở bản Bạc nằm khuất nẻo sau tàn lá khoọc sum suê, vẫn vang lên tiếng ca thánh thốt của chim họa mi... nhưng không nghe thấy tiếng gọi chồng quen quen của Kan ly từ bên bản Bạc vọng sang.

Vào giờ này, người thiếu phụ Lào Thoong ấy đang ngồi trên một tảng đá bên bờ sông Sê-Kông, lặng lẽ buồn nhìn theo dòng nước ngóng đợi người chồng mà chị biết rằng chẳng bao giờ anh còn về được nữa!
Bu Tha đã vĩnh viễn rời bỏ chúng tôi; vĩnh viễn rời bỏ người vợ trẻ và hai đứa con thơ, rời bỏ bà con họ hàng ở bản Bạc thân thương!

......Đó chỉ là ảo ảnh về những con cọp ăn xác người! Phải tin là như vậy vì nếu không coi đó là sự thật đối với số phận Bu Tha thì... đau lòng lắm!

Song, cái ảo ảnh ấy cứ như một điều linh nghiệm ám ảnh tôi khiến tôi phải day dứt, trăn trở nhiều đêm không ngủ.

Tôi không dám hé răng thổ lộ điều này với bất cứ ai, vì ngay lập tức, tôi sẽ bị mọi người phản đối, cho tôi là mắc bệnh hoang tưởng với những ý nghĩ ngớ ngẩn- quái dị, không thể chấp nhận được.

Tôi bí mật chuẩn bị chu đáo: chiếc búa tạ, chiếc búa đanh, bộ choòng phá đá và những chiếc đục bằng thép hợp kim được tôi cứng và mài sắc....

Tôi lẳng lặng ra đi, chỉ một mình thôi, đến chân thác Hàm Sư Tử-chỗ cái vách núi mà bữa trước hiện lên ảo ảnh.

Tôi chạm khắc vào vách đá ấy một tấm bia to, bằng phẳng, có viền hoa văn và những hàng chữ thật trang trọng:

            Liệt sĩ BU THA.
Sinh ngày. ... tháng.... năm....
Đã hy sinh vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Lào-Việt ngày .... tháng.... năm....


Đời người ngắn, dài có gì là quan trọng lắm đâu. Cái chính là sống sao cho xứng đáng. Dẫu chúng tôi không tìm được thi thể Bu Tha, thì coi đấy là nơi anh yên nghỉ, để mai ngày, mọi người có thể đến được đây dựng một vòng hoa tươi và thắp một nắm nhang thơm để tỏ lòng thương tiếc anh, một con người bình thường thôi nhưng biết sống có lý tưởng-tình nghĩa thủy chung.

Hà Nội, mùa thu 2000
(TCSH số 154 - 12 - 2001)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #103 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 03:24:04 pm »

Chị Huệ

NGUYỄN NGỌC LỢI

Bây giờ thì Hồng sắp được gặp chị. Người chị mà suốt những năm tháng đi xa, ở đâu Hồng vẫn luôn nghĩ tới. Cứ mỗi lần như thế, một tình cảm thân thương choán ngập tâm hồn Hồng.

Giờ thì Hồng đã đứng đây. Ngôi nhà tranh bé nhỏ của chị vàng rực trong nắng đầu hè. Cả hàng cau nghiêng bóng, làn khói bếp mong manh. .. cũng gợi cho Hồng một cảm giác thân thuộc, một tình cảm thật khó tả. Chị và anh bước ra. Không biết chị có nhận ra Hồng không?

Chị Huệ thương Hồng lắm. Bấy giờ Hồng và chị cùng vào một khóa sư phạm miền núi. Ngôi trường sơ tán ẩn mình trong một khu rừng săng lẻ. Giao thông hào chi chít chạy dọc, chạy ngang. Mỗi độ đông về, lá rụng vàng mặt đất, xào xạc dưới bước chân đi. Bạn bè Hồng cùng lứa mười bảy, mười tám tuổi. Trai gái hồn nhiên và sức vóc. Chị hơn Hồng 2 tuổi. Hồng là dân sơ tán, ở tận một xã hẻo lánh toàn người dân tộc cuối huyện thì chị lại ở thị trấn, chị là Việt kiều ở Thái Lan về nước. Hồng đi học làm thầy giáo mà gia tài chỉ có chiếc ba lô vuông, vài bộ quần áo còn dính nhựa cây. Còn chị, nào là túi du lịch to, túi xách nhỏ, dép xăng đan. .. Chị nói nhà chị không giàu nhưng Hồng thấy chị thật sang.

Anh chị thật đẹp đôi. Anh có khuôn mặt rất đàn ông, dáng người tầm thước. Đôi lông mày lưỡi mác trên vầng trán rộng. Còn chị, tuy đường nét không còn mềm mại nhưng vẫn đẹp. Hồng nhớ hồi đó chị có vẻ đẹp thánh thiện, nhìn chị ít ai dám cợt nhả hay có những ý nghĩ u tối. Cử chỉ của chị thật dịu dàng. Chị rất khéo tay, từ thêu thùa, may vá đến nấu nướng. Hồng khen chị, chị bảo rằng đó là nhờ mẹ chị dạy bảo. Lúc nào bà cũng bảo con gái phải thế này, con gái phải thế kia. Hồng học cùng lớp với chị nên được ở gần chị. Người ta nói con gái đẹp thì ít thông minh. Hồng cũng nghĩ vậy. Nhiều bài toán thật đơn giản mà chị cứ phải loay hoay mãi. .. Thỉnh thoảng chị rủ Hồng đi chơi. Buổi chiều mát mẻ. Hai chị em đi lòng vòng qua khu nhà ở các lớp khóa trước. Qua hội trường, nhà truyền thống rồi quay về. Đi tới đâu, Hồng cũng gặp những đôi mắt ngưỡng mộ. Hồng thấy tự hào mỗi lần đi bên chị.

- Bố mẹ chị đã già rồi, chị có em trai là thằng Ngọc, nó bằng tuổi Hồng, mà sao Hồng lại giống thằng Ngọc của chị đến vậy. Ngày ở bên Thái nó gầy nhẳng. Chị đi đâu nó cũng đòi theo.

Hồng biết chị quý Hồng, thương Hồng không phải Hồng giống Ngọc của chị mà một phần còn do Hồng học giỏi, dễ mến nữa. Dạo đó là thời kỳ đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ. Nhưng nơi sơ tán của trường thì bình yên. Thỉnh thoảng mới thấy bóng vài chiếc phản lực bay qua rồi mất hút. Mỗi lần có tiếng máy bay là chị sợ run lên. Nhìn chị mặt mày tái mét, run lẩy bẩy tìm nơi ẩn nấp thì Hồng lại trêu chị, chị cười bẽn lẽn.

- Chị à, lúc sợ nom chị càng đẹp hơn. Em mong máy bay Mỹ năng bay qua để chị lúc nào cũng đẹp như vậy.

- Thằng quỉ, mi muốn chị chết hay sao? - Chị nói mà mắt chị cứ long lanh ánh lên dõi về chỗ lội dưới suối.
- Hồng cười gì thế?

- Em đang nhìn chị.

- Em thấy gì?

- Chị đã yêu rồi phải không? Hồng nhìn thấy bóng anh Thi lực lưỡng đang từ khoảng rừng bên kia xắn quần lội qua suối. Hai gò má chị ửng đỏ. Vài bữa sau thì anh Thi đến. Anh Thi học khóa trên. Anh Thi là người dân tộc. Anh to khỏe như một con gấu, dáng điệu vụng về thật tội nghiệp, nhất là mỗi lần đứng trước chị.
Bù cho dáng điệu vụng về, anh Thi rất giỏi việc đi rừng, chặt gỗ, làm nhà. Anh làm cho chị chiếc bàn học bằng nứa rất đẹp. Anh bẫy thú cũng giỏi. Thấy chị thương và quý Hồng, anh rủ Hồng đi làm bẫy gà rừng. Anh bày cho Hồng cách thắt dây, gài bẫy:

- Con gà rừng hắn khôn và tinh lắm. Nếu mình gài lộ liễu hoặc gài que chắn đường không khéo là nó không tới đâu. Hồng biết anh đang lấy lòng Hồng: - Anh muốn được như Hồng lắm.

- Tại sao? Hồng giả vờ.

- Huệ có lúc nào nhắc tới mình không Hồng?

- Sao không, lúc nào mà chị chả nhắc tới anh. Chị khen anh thật thà, khỏe mạnh, khéo tay. .. Mắt anh sáng lên:

- Mà thôi Hồng ạ, chắc mình chẳng dám đâu. Huệ sẽ không về trên đó đâu. Người như Huệ sẽ không chịu được cái khổ trên đó. Mà về quê Huệ thì mình không thể. Bố mẹ mình già lắm rồi. Mình đi, không ai làm rẫy cho. Nhớ cái rẫy lắm! Nói tới đây, đôi mắt anh như tối sầm lại.

Chị Huệ càng ngày càng thương Hồng. Dạo đó đời sống thật kham khổ. Thức ăn chủ yếu là ngô đỏ và canh bí. Giáo sinh cải thiện đời sống bằng cách phát rẫy trồng thêm sắn, ngô. Đi rừng gài bẫy, xuống suối bắt cá. Hồng hay được đi thăm bẫy với anh Thi. Chiều nào anh em đi rừng về chị cũng đứng đón ở bờ suối. Chị nhắc Hồng chờ ráo mồ hôi rồi hãy tắm.

- Tắm xong lên đây chị vò đầu cho. Chị thường ngâm bồ kết gội đầu. Mỗi lần như vậy chị thường gọi Hồng xuống "ở đây nước sâu lắm, đừng bơi ra đó”, chị nhắc Hồng rồi quay sang anh Thi. Không biết anh chị nói với nhau những gì mà Hồng thấy anh Thi cười thật tươi.

Cuối năm học thứ hai thì anh Thi nhập ngũ. Cùng lúc chị nhận được tin Ngọc lên đường. Chiều hôm đó Hồng và anh Thi thăm rẫy ngô về thì thấy chị ngồi trên tảng đá giữa suối. Chị báo tin cho anh Thi. Hồng biết bỏ về trước. Hồng thấy dạo này anh chị không như trước. Chị thường buồn bất chợt, còn anh Thi thì hơi lầm lì. Hồng có hỏi nhưng chị bảo không có việc gì đâu Hồng ạ, tính anh Thi vẫn thế mà. Không khí đưa tiễn những người lên đường thật cảm động. Hầu như cả trường đưa chân những người nhập ngũ ra tận cửa rừng. Họ nắm tay nhau, đấm vào lưng nhau. Những giọt nước mắt, những lời dặn dò. .. Anh Thi bắt tay Hồng với ánh mắt thật buồn. Lúc quay về, chị nắm chặt tay Hồng như muốn nói một điều gì. Hồng cứ để yên cho chị buồn.

- Hồng à, mong sao anh Thi đừng có làm sao. Mà em cũng đừng bỏ chị mà đi nữa. Chị không về tiễn Ngọc được. Chắc Ngọc mong chị lắm.

Họ đi rồi. Không khí trong trường trầm hẳn xuống. Anh Thi ra đi như mang tất cả sự hồn nhiên tươi trẻ của chị đi theo. Rừng núi thì âm u. Thác nước chỗ tảng đá hai người thường ngồi vẫn ầm ào...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #104 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 03:26:23 pm »

Từ hôm anh Thi đi, Hồng chẳng muốn đi thăm bẫy gà rừng nữa. Mà chị cũng chẳng để Hồng đi. Hồng có cảm giác chị như con gà mái xòe cánh che chở cho con. Bao nhiêu tình cảm chị dành hết cho Hồng. Nhiều hôm Hồng bắt gặp chị ngồi bần thần. Anh Thi gởi về được hai lá thư rồi bặt hẳn. Chị buồn héo hon. Hồng nghĩ chắc linh cảm đã mách bảo chị điều gì.

Đợt kiến tập sư phạm sau đó Hồng bị một cơn thương hàn rất nặng. Khi chị cùng mấy người đưa Hồng đến trạm xá của một đơn vị bộ đội đóng cách mấy cây số thì lưỡi Hồng đã đen lại (thật may là chị đi cùng đoàn với Hồng). Các anh chị ở trạm xá thật tốt. Họ đã cứu sống Hồng. Chị mừng lắm. Ngồi tiện mía, bóc cam bón cho Hồng, thỉnh thoảng chị lại lấy khăn lau mồ hôi cho Hồng: "Chị bảo thì Hồng không nghe. Mồ hôi đang đầm đìa mà em cứ tắm. Mà con sông Găng cũng thật hấp dẫn, bãi cát phẳng, nước xanh trong". Mấy giường bên, các anh lính trẻ cứ chăm chú nhìn chị. Chị hỏi anh này, nói chuyện với anh kia. ..

- Thôi, trưa rồi, em nghỉ nhé. Chiều nay có tiết của chị, mai chị tới.

- Cậu có chị gái tuyệt thế? - Chị đi rồi, các anh bộ đội bắt đầu tán dương chị.

Ngọc, em trai của chị đi chưa đầy năm thì hy sinh, tin báo tử đã gửi về nhà. Chị về nhà chịu tang Ngọc. Qua mấy chặng nhờ xe và đi bộ, chị tới nhà thì trời đã tối. Ngôi nhà sơ tán nép mình dưới lùm tre bên chân đồi cà phê đã chìm trong hoàng hôn. Không có ai ra đón chị. Người hay đón chị là Ngọc thì không còn nữa. Ba mẹ chắc không dậy được. Ngày còn bên Thái, hai chị em còn nhỏ. Cho đến bây giờ, những kỷ niệm tuổi thơ vẫn còn đọng đầy trong ký ức chị. Hồi đó ba mẹ lo làm ăn, chị chăm Ngọc. Ngọc gầy tong teo, lúc nào cũng quấn lấy chị. Chị và Ngọc sinh ra ở Thái nhưng luôn mang hình bóng quê hương Việt . Chị chỉ biết Việt qua lời ba mẹ kể, nên không sao hình dung nổi cuộc sống ở Việt như thế nào. Song chị rất vui khi nghe tin sẽ được về Việt . Ngọc còn dại, chưa biết gì, song nó cũng rất mong tới ngày được về. Thế mà giờ đây không còn Ngọc nữa. Trong nhà yên ắng, ngọn đèn leo lét trên bàn thờ đang nghi ngút khói hương.

- Mẹ ơi!

Mẹ dậy khêu đèn và đỡ túi xách cho chị. Huệ ơi, con đã về muộn rồi, trưa nay Ủy ban đã làm lễ truy điệu cho Ngọc rồi.

Chị thấy thương mẹ quá. Mẹ ơi, chị ôm chầm lấy mẹ.

Đêm đã khuya, qua hẻm núi, một chùm sao đang nhấp nháy. Ngọc đã hy sinh ở hướng đó. Anh Thi chắc cũng đang ở hướng đó. Anh Thi ơi, chị bỗng thốt lên. Sao anh không hiểu em? Anh có làm sao không. Chị rùng mình. Chị linh cảm sẽ không bao giờ được gặp anh nữa. Nước mắt chị ứa ra. Tự nhiên chị như thấy anh Thi bằng xương bằng thịt hiện ra trước mắt. Anh cười, hàm răng trắng khỏe nở lóa làm rạng rỡ khuôn mặt màu da nâu của anh. Bất giác chị lại nghĩ tới Hồng. Giờ này chắc nó đang mong chị. Chị quay vào, lần giở chiếc va li mang từ Thái về. Chiếc quần téc gan màu rêu, chiếc sơ mi kẻ của Ngọc để lại còn mới. Chị gấp cả bộ và cho vào túi. Chị sẽ mang xuống cho Hồng: "Chị tưởng rằng sẽ không đi được nữa. Ba mẹ chị yếu rồi. Chị định ở nhà chăm sóc ba mẹ song ba mẹ bắt phải đi. Hơn nữa chị nghĩ tới em, nghĩ tới bạn bè và các thầy ". Chị nói với Hồng khi Hồng đỡ túi cho chị.

Mùa đông lại tới, rừng săng lẻ trút lá đầy lên cái mái nứa. Lá rụng vàng sân khu nhà ở. Buổi sáng, sương mù từ suối ùa lên mờ mịt. Mùa đông ở rừng thật rét, vậy mà da dẻ chị căng hồng. Hồng thật mừng khi thấy chị vui. Có bữa chị đùa:

- Để chị giới thiệu cho em một đứa nhé, chị biết có người thương em. Hồng ngạc nhiên trước sự hồn nhiên của chị. Hay là chị có ai rồi. Mấy đứa quê anh Thi rì rầm chuyện gì nghiêm trọng lắm. Họ không cho Hồng biết, mỗi khi Hồng hỏi. Nhưng rồi họ cũng không giấu được Hồng.

Một buổi sáng trăng, không thấy chị bên bàn học, Hồng đi tìm. Qua tán lá rừng, ánh trăng soi rõ chị đang ngồi trên tảng đá giữa suối. Chị ngồi như hóa đá. Mái tóc xõa qua bờ vai chảy tràn trên tấm lưng mềm. Chị ngồi câm lặng, mặc cho thác nước tung bụi, gầm gào. Hồng để yên cho chị ngồi. Hồng không dám làm động đến giây phút thiêng liêng của chị.

Chị Huệ làm cơm dưới bếp. Anh Huỳnh ngồi tiếp chuyện Hồng:

- Hồng à! Bây giờ mới được gặp em mà anh cứ tưởng như là biết em từ lâu rồi. Phải nói rằng Huệ tả rất chính xác. Giọng nói ấm áp của anh cứ thủ thỉ: Anh là bạn, cùng đơn vị với Thi. Hai người cùng tiểu đội vận tải cơ giới của đoàn 559. Thi thật tốt bụng và dũng cảm. Thi nhắc tới em và kể cho anh nghe câu chuyện của hai người. Anh là người chứng kiến sự hy sinh dũng cảm của Thi. Xe anh bị bom trong một đêm vượt trọng điểm. Anh bị thương. Thi bế anh lên xe mình, chưa kịp lên xe thì Thi lại trúng bom. Trước khi nhắm mắt, Thi nhắc tới em và chị Huệ. Thi gởi anh cái ba lô và nhờ anh chuyển tới Huệ...

Hồng ngồi nghe anh Huỳnh kể chuyện mà không biết chị Huệ đã đứng sau lưng từ bao giờ. Bàn tay chị cứ vuốt mãi lên vai Hồng, lên tóc Hồng, đưa Hồng trở lại cảm giác những ngày ở bên chị. Một cảm xúc thân thương trào dâng trong Hồng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #105 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 03:27:29 pm »

Chuẩn bị thi tốt nghiệp ra trường thì Hồng được lệnh nhập ngũ. Mới chớm hè mà không khí thật oi nồng. Cho mãi tới bây giờ mà Hồng vẫn không sao quên được cảm xúc mùa hè năm ấy. Tiếng ve râm ran trong cánh rừng, dưới các tán cây ven suối, trong các cành hoa vỏ má nở vàng nơi thác nước. Tiếng ve đầu mùa dội vào lòng nỗi xao xuyến bâng khuâng thật khó tả. Không khí chiến tranh vào hồi căng thẳng. Ai cũng bồn chồn, đứng ngồi không yên. Không ai nói tới việc ra trường sẽ về đâu. Người ra đi cũng như người ở lại, ai cũng muốn tranh thủ chút thời gian còn lại. Không khí bịn rịn trở lại như hồi anh Thi ra đi. Chị Huệ chuẩn bị cho Hồng thật chu đáo. Thuốc đánh răng, khăn mặt, tem thư. .. Khi trao các thứ cho Hồng, chị nói:

- Em chưa thương ai phải không? Thế cũng hay, nếu không lại có thêm một người mỏi mòn như chị.

Nghe chị nói mà Hồng thương chị quá. Mấy ngày sau thì Hồng đi. Chị theo Hồng lên tận nơi giao quân. Lúc nghỉ trưa chị bảo: "Em tranh thủ ngủ đi một lúc, chập tối phải đi rồi". Hồng nằm xuống chiếc chõng tre trong một nhà dân. Chị ngồi cạnh Hồng. Khuôn mặt, giọng nói của chị dịu dàng một cách xót xa.

Hồng ứa nước mắt, chị lấy mùi xoa lau nước mắt cho Hồng. Tay chị vuốt mãi lên đầu Hồng. Trời nóng quá, chị phe phẩy quạt: "Ngủ đi em". Giọng nói ấm áp của chị như một lời ru. Hồng không sao ngăn được dòng nước mắt đang trào ra.

- Chị ơi, chị đừng buồn nữa, chị vui lên cho em đi.

- Chị có buồn đâu. Chị chỉ thương em thôi. Giọng chị thủ thỉ như dỗ dành Hồng. Tối đó Hồng hành quân. Hồng mang theo tình thương của chị đi cho mới tới mãi hôm nay.

Cơm trưa xong, anh Huỳnh dỗ con ngủ. Hồng và chị ra chiếc chõng đầu hè hóng gió. Nét mặt chị bây giờ đã dịu lại.

- Chị biết anh Thi hy sinh trước lúc em ra đi. Em gái anh Thi trên nhà viết thư báo cho chị. Chị không muốn cho em biết vì lúc đó em cũng sắp đi.

Bây giờ Hồng mới hiểu tại sao dạo đó chị lại có vẻ vui, hồn nhiên như thế, chị muốn giấu tin về anh Thi.

- Em cũng đã biết từ dạo đó! - Bây giờ thì chị ngạc nhiên thật sự: - Thế mà chị lại nghĩ là em đang giận chị. Anh Huỳnh tốt lắm Hồng ạ. Anh Huỳnh về xin dạy cùng trường với chị. Anh mang về cho chị các kỷ vật của anh Thi. Chiếc khăn tay chị tặng anh Thi trước lúc đi còn nguyên trong ba lô. Anh Huỳnh kể cho chị nghe bao nhiêu chuyện của anh Thi, càng nghe càng xót xa. Hồng ơi, anh Thi yêu chị mà chẳng hiểu chị. Anh ấy nói rằng yêu chị nhưng thấy chị như cành phong lan trên cây cao, con cá đẹp dưới suối sâu. Cá đẹp, hoa đẹp nhưng không bắt được, không hái được. Mà có bắt được, có hái được thì lại sợ hoa và cá chết mất. Anh còn nói nếu được, anh cũng không nỡ làm khổ chị. Trên quê anh khổ lắm. Anh đi mang theo tâm trạng nặng nề như vậy. Ba năm sau thì anh Huỳnh mới về đây. Hơn hai năm ở bên anh chị mới nhận lời yêu anh Huỳnh. Trong anh Huỳnh, chị tìm thấy có một phần anh Thi. Anh chị cưới nhau năm kia. Điều làm chị quý anh Huỳnh là anh tôn trọng kỷ niệm của chị.

Giọng chị rủ rỉ nhưng cặp mắt chị mơ màng như đang dõi về cõi xa xăm. Gợi lên trong Hồng những năm tháng đã qua: Rừng săng lẻ, những ngôi nhà đơn sơ mái nứa, tiếng ve râm ran. Giọng giảng bài của các thầy. Bạn bè chia tay mỗi lần về hè, về tết...

Ngoài kia, trước nhà chị, dòng sông lấp lóa nắng. Mấy con thuyền từ mạn ngược đang xuôi. Chị đang ngồi bên Hồng, dáng ngồi vẫn dáng ngồi như hôm đưa tiễn.

Mùa hè 2000
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #106 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 03:46:26 pm »

Dứa dại

ĐỖ KIM CUÔNG

Tặng anh Hữu Ngọc, anh Đoàn, Lành - Ngọc Anh. Tưởng nhớ chị Tâm


Hảo không có giấy mời. Có thể những người bạn cũ của anh ở Huế cũng đã nghỉ hưu cả rồi, hoặc giả họ bận trăm công ngàn việc nên cũng chẳng nhớ anh ở đâu mà tìm... Song điều ấy không quan trọng.

Một anh bạn đồng nghiệp cùng phòng nhận trực thay cho Hảo hai ngày, thêm hai ngày nghỉ cuối tuần thành bốn. Đủ cho anh có đủ một chuyến về . Vợ Hảo - một người đàn bà tốt bụng, biết chồng có ý muốn đi về vùng đất gắn bó nhiều kỷ niệm, không cản. Vào buổi chiều trước lúc lên tàu, chị lặng lẽ đưa cho chồng nửa tháng lương. Bảo rằng: "để anh mua nhang đèn, hương hoa cho đám bạn cũ".

Thành phố rực rỡ màu cờ hoa mừng 25 năm ngày giải phóng, thống nhất đất nước. Trên sông Hương nhiều con thuyền chăng đèn kết hoa. Nghe bảo đêm nay thành phố còn tổ chức bắn pháo bông. Ở một khoảng sân rộng trước cửa Ngọ Môn mấy anh truyền hình đang tìm chỗ đặt máy. Học sinh, sinh viên ăn mặc đẹp đẽ. Con trai áo trắng quần xanh; con gái áo dài đủ màu sắc đi dự lễ mít tinh. Chỉ có điều Hảo đã đánh mất đi cái cảm giác nôn nao đến khó tả, của cái ngày tháng 3 năm ấy. Lần đầu tiên anh đặt chân vào thành phố bất chợt được nhìn thấy những tà áo dài của con gái Huế bay phấp phới trên cầu Tràng Tiền, cầu sông Hương, dọc đường Lê Lợi... Ở quê Hảo và những người lính giải phóng chưa ai được thấy con gái đi học ăn mặc đẹp như vậy bao giờ.

"Lạy trời còn tìm thấy khóm dứa dại. Dứa dại"...

Cô bé bán xe trái cây, nhìn Hảo như một anh lẩn thẩn mắng. "Ngu chi mà ngu rứa. Thơm của người ta ngon rứa mà kêu dứa dại". Hảo cười đỏ mặt. Anh nào dám chê những miếng thơm cùng với đám ổi, cóc đã được gọt vỏ ngâm nước đường của cô bé đang cắm trên đầu những cây que. Để cho cô bán trái cây hết xui, Hảo chìa ra cho cô bé một ngàn để đổi lấy một miếng dứa đã được cô rắc vào chút muối ớt.

Chuyến tàu Thống nhất vào đến ga Huế chưa đến 8 giờ sáng. Hảo không muốn ở lại đây lâu. Anh chỉ mất thêm 17 ngàn đã được người lái xe ôm chở anh ra tới quận lị Hương Trà. Dường như cái căn cứ chi khu với hàng chục lớp rào kẽm gai, tháp canh, lô cốt... đã bị xóa sạch, thay vào đó là một thị trấn của thời mở cửa. Cũng phố xá hàng quán đủ loại, cũng nhà hai ba tầng xây theo lối mới và một số cơ sở sản xuất của huyện. Phải mất một lúc, Hảo mới tìm ra căn nhà của vợ chồng kỹ sư Thoa. "Chú ở mô đến đây, tìm tui có việc chi?". Hảo tần ngần trong giây lát. Hay anh lầm! Cô kỹ sư mới ngoài 30 tuổi, nhưng trông lam lũ tất bật. "Có phải chị là người đã gửi thông báo này trong mục "nhắn tìm đồng đội". Hảo lặng lẽ chìa ra cho chị kỹ sư mảnh giấy anh ghi vội trong một lần ngồi coi truyền hình. Hảo bảo cô gái - "Tình cờ tôi nghe được về đây gặp cô hỏi cho rõ ngọn ngành". Thoa như reo lên - "Chú biết mạ Bê của cháu thiệt sao? Mời chú vô nhà, cháu vô ý quá! Chồng cháu bữa ni lại lên thành phố dự lễ, nhưng không sao, chú cứ vô đây".
Pha xong cho Hảo chén trà, Thoa vào bàn thờ thắp nhang. Hảo bước theo cô, nhìn ký tấm ảnh người đàn bà trong khung kính. Anh lặng lẽ đặt lên bàn thờ mấy phong bánh đậu xanh, bánh cốm mang từ Hà Nội vào. Anh thấy cay cay nơi khóe mắt. Nàng đấy. Thấp thoáng trong màn khói hương, như thể Bê đang bước ra gặp người quen cũ lâu ngày. "Dứa dại...Dứa dại!". "Chú nói chi con không hiểu". Thoa ngơ ngác nhìn người khách đường xa, chưa biết rõ tên tuổi, tung tích. "Con à... Con là con Xíu phải không?". “Dạ phải! Cô kỹ sư gật đầu. Chừ con tên Thoa, chồng con tên Hỉ. Răng chú biết tên con hồi nhỏ?". Hảo cười và xoa đầu cô gái. "Giờ con đi nấu cơm cho chú ăn đi. Cả đêm qua ngồi tàu, cho đến sáng nay chú chưa có hột cơm mô vô bụng".

Nhiều năm sau, Hảo vẫn thầm cám ơn cái duyên kỳ ngộ cho anh được gặp Phước. Anh là tù binh ngụy bị đại đội của Hảo bắt được trong một trận đánh ở gần Khe Trái, sông Bồ. Gã tù binh ngụy bị thương gãy chân. Vết thương không có thuốc sát trùng, sinh dòi bọ... Tổ trinh sát tiểu đoàn đã thả gã ra trên đường 12. Phước đã không chết vì vết thương mất nhiều máu, cũng không bị nhiễm trùng sài uốn ván như Hảo đã nghĩ. Phước được đoàn công binh ngụy đi tuần đường cứu thoát và đưa về bệnh viện Trung ương Huế. Sau nửa năm điều trị, Phước giải ngũ về làng. Anh chàng Phước trở thành thương phế binh. Để rồi đúng 5 năm sau, khi Hảo và tổ điều nghiên bị kẹt lại ở chi khu Hương Cần, anh đã gặp lại cả gia đình Phước. Mạ đẻ Phước là mụ Mến, em gái Phước là Bê. Cả Phước nữa đều là cơ sở cách mạng của một xã vùng sâu Hương Trà.

Bốn mươi tám giờ nằm bẹp như một con dán trong căn hầm xây nổi, ngay dưới căn hầm nhà Bê, Hảo chưa có dịp hỏi được vì sao Phước lại là cơ sở cách mạng bí mật của xã? Hai đêm liền tổ điều nghiên tìm cách đột vào chi khu H để lên sa bàn và phương án đánh địch. Đêm thứ hai, vào tới hàng rào thứ ba bị lộ. Một trinh sát viên hy sinh còn Hảo bị thương nhẹ ở tay. Tổ dẫn đường của huyện quyết định giấu các anh vào các cơ sở bí mật của xã. Đường lên căn cứ đã bị kẹt. Trong các làng, lính bảo an lùng sục. Phía Tây đường quốc lộ, ở Văn Xá Trung, An Đôn, Phú Ổ địch càn. Lính E54 ngụy rải kín con đường chiến lược cắt lên xanh. Đêm qua lúc đưa Hảo về nhà, anh được giải thích ngắn gọn: đây là những cơ sở tin cậy của thành phố. Lúc nhận ra Hảo, Phước mừng phát khóc. Anh ta chỉ kịp dặn dò cô em phải lo chu toàn cho "ân nhân cứu mạng", rồi Phước đi lo thu xếp chỗ ở cho một người khác.

Qua cái lỗ tò vò thoát khí của hầm chứa thóc Hảo quan sát được con đường làng. Trước cổng nhà Bê còn có một quán bán hàng tạp hóa. Ban ngày Bê ngồi đấy, vừa giả đò bán hàng, vừa canh chừng địch. Lâu lâu, một cô bé chừng 4 tuổi gầy gò, tóc túm đuôi gà từ khoảng sân nhà mụ Mến chạy sang với mẹ. Thấy mụ Mến kêu nó là con Xíu. Bê là vợ của một anh lính truyền tin ngụy, người cùng làng đóng quân ở Đà Nẵng. Nghe bảo anh ta có vợ bé. Sau một trận cãi lộn với chồng, Bê bỏ đất La Chữ về quê sống với mẹ, nuôi con... Buổi trưa lúc mụ Mến sang quán canh chừng, Bê vào nhà lo cơm nước, nấu cháo và tiêm thuốc cho Hảo, cô gái đã kể cho anh nghe hết sự tình. "Đời em khổ lắm anh à...!". Bê nói. Hảo nghe câu được câu chăng, nhưng anh đoán hiểu cả. Rồi cô bảo "Mấy anh khỏi lo, ngày mai tụi em sẽ giao bản đồ bố phòng chi khu H cho các anh. Nhà mẹ em tuy ở gần đình, tụi lính qua lại luôn nhưng chồng em là lính ngụy chúng ít nghi ngờ".

Căn hầm chứa thóc, nơi Hảo trú ẩn chỉ cao hơn một mét. Phía trên được dùng làm bàn thờ, xây kín chứa thóc lúa, đồ đạc. Hầm chật, anh chỉ có thể nằm ẹp xuống sàn, hoặc ngồi thu lu. Cửa ra ngoài bằng gỗ đã được Bê khóa chặt. Mọi việc ăn uống, đi tiểu tiện đều diễn ra trong một góc tối. Lúc tiêm cho Hảo mũi kháng sinh, Bê bảo - "Ráng chịu ghen anh. Tối êm, em đưa anh ra ngoài nằm cho thoáng". Có một lần con Xíu chạy vào nhà, như thể nghe được Hảo cựa mình trong hầm thóc, nó bảo mẹ “Mạ ạ, trong hầm thóc nhà mình có chuột!” Bê bảo con gái: "Chuột đó... Đi ra ngoài chơi với ngoại, để má dọn nhà". Con Xíu nghe lời mẹ chạy ra sân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #107 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 03:48:49 pm »

Buổi chiều, Hảo lên cơn sốt. Cơn sốt kéo đến bất thần. Đầu anh như muốn vỡ ra làm đôi. Tấm chăn chiên trở nên mỏng manh. Hảo phải cuốn cả tấm dù hoa vẫn mang theo bên mình và tấm chiếu, đắp thêm cả cái bao gai mà vẫn rét run cầm cập. Hai hàm răng đánh vào nhau, tê cứng. Rồi một lúc sau lại nóng. Gian hầm thóc trở thành một lò than. Anh quằn quại bung bức có lúc chỉ muốn phá tung mảng tường để thoát ra ngoài... Hảo thiếp đi mê mệt.

Anh thấy mình đang chạy trên những cánh rừng đang bốc lửa. "Tụi Mỹ ném bom xăng tụi bây ơi!". Có tiếng ai gọi to - "Chạy cho mau". Những thân cây đang cháy xém than rơi từng cục đỏ hồng, bỏng rát nơi bàn chân. "Đây là đâu thủ trưởng". Hảo hỏi anh tiểu đội trưởng đang chạy phía trước". "Quảng Trị" Chả nhẽ chúng đốt cả cánh rừng dài hàng chục cây số? Anh tự hỏi và chạy trên con đường giao liên, đất đã cháy đen thành từng vạt. Mệt đến rã rời chân tay. Chiếc ba lô nặng, khẩu súng và chiếc ruột tượng gạo 7 kí như một khối đá đè trên vai. Đến một lúc, Hảo thấy mình ngã vào một vũng nước, nằm xen kẽ giữa những tảng đá. Khát quá. Anh vục đầu vào một tảng đá uống nước. Anh nhìn rõ từng đàn nòng nọc châu đầu đen đặc, đọng thành vũng dưới hố nước xanh rêu. Mặc. Ở một vũng nước khác, thằng Thắng, thằng Tùng, Nghi Phở, thằng Sơn, thằng Thịnh, thằng Tí bẹp, thằng Chiến, thằng Hiển cả một đám lính trần như nhộng đang ngụp lặn dưới làn nước trong vắt. "Sông gì đây tụi bây ơi!". "Nghe bảo đây là sông Xê Băng Hiêng, đất Lào rồi đấy! Vài trạm nữa sẽ đến rừng thông".

Hảo có cảm giác ai đó đang lay nhẹ anh. Một tiếng nói nhẹ như từ cõi âm vọng về. "Đồng chí bộ đội sốt cao lắm, anh Hai ơi". "Đưa đồng chí ấy ra ngoài cho đỡ ngột..."."Bữa nay địch chốt ở mô?”. "Bên xóm chùa, bên Thanh Lương đều có cả...". "Kẹt đường à? Chà nặng khiếp, anh Hai giúp em một tay...".

Hảo tỉnh dậy lúc đêm đã về khuya. Không gian im ắng. Ngôi nhà tối om. Chỉ có ngọn đèn dầu le lói như hạt đậu để trên bàn thờ Phật. Người Hảo sực nức mùi dầu gió. Ai đã xoa dầu cho anh? Ai cũng đã cởi bỏ hộ anh bộ quần áo giải phóng để mặc vào người bộ đồ pi za ma? Bê, Phước và cả mụ Mến nữa, họ đi đâu mà không thấy một ai? Họ ở đâu cả rồi? Anh cảm thấy chơi vơi, hụt hẫng như một kẻ lạc đường sau trận đánh không tìm thấy đồng đội giữa rừng già. Vết thương ở bả vai Hảo đau tức. Anh cố nhỏm dậy và sờ được can nước. Hảo tu một hơi dài. Nước đắng chát. A ha, chè xanh. Lâu quá rồi anh không còn được thưởng thức hương vị của bát nước chè xanh có chút gừng giải nhiệt. Anh còn sờ thấy được cả hộp sữa "Ông Thọ" uống dở. Hảo tu một hớp... Tỉnh cả người. Sau cơn sốt, đầu nhẹ bẫng. Anh muốn có một ai đó ở bên cạnh lúc này để hỏi nhưng chẳng có ai cả. Vẳng lên ba phát súng bắn cầm canh của tụi lính bảo an gác đêm ở ngoài đình, nhìn thấy rõ cả viên đạn đỏ lừ vạch lên nền trời. Lát sau một quả pháo sáng bắn lên tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt ma quái soi rõ bụi tre, cây dừa đổ bóng xuống khoảng sân rộng. Anh còn nhìn thấy cả phía bên kia con đường đất là cánh đồng lúa và những vạt tre làng đen thẫm... Súng lại rộ lên từng loạt, đâu như ở ngoài ngả đường Một...

Quãng 3 giờ sáng, Bê mới trở về. Cô luồn vào nhà, nhẹ như một con mèo. Hảo nằm im, giả vờ ngủ. Bàn tay cô mát lạnh sờ lên trán anh. "Sao quần áo Bê ướt nước thế này?". "Em vừa đi bám đường trở về mai đưa các anh đi. Anh bớt sốt rồi, em mừng quá. Anh nằm im chờ em mang cháo lên anh ăn".

Bê đút cho anh từng thìa cháo gà nấu nhuyễn. Ăn hết một tô cháo, người Hảo ướt đẫm mồ hôi. Bê đã thay bộ đồ đen bằng bộ đồ hoa mặc trong nhà. Trời tối, bóng cô trắng nhờ. Bàn tay Hảo ấm dần trong hai bàn tay cô. Chỉ nghe Bê nói mỗi câu. "Các anh bộ đội thiệt tội!"...

Chồng Thoa là cán bộ huyện. Anh hơn cô dễ có đến cả chục tuổi nhưng một điều, hai điều gọi Hảo bằng chú, xưng cháu. "Cháu nghe Thoa bảo chú là bạn chiến đấu của mạ cháu, từ Hà Nội vô đây tìm mộ cho gia đình cháu. Thật cám ơn chú". "Cậu đừng nói tới chuyện ân huệ ở đây, tủi lòng người đã mất. Từ bữa nhận được tin Thoa nhắn trên đài, tôi không lúc nào ngủ yên. Nghĩa tình với chị Bê tôi đâu có quên. Chỉ phải tội nghèo. Nhiều lần tôi muốn vô Huế một chuyến chơi mà chưa đi được". Chợt Hảo chỉ tay về hướng núi xa xanh. "Cậu có biết dãy núi kia tên chi không?... Không rành à. Kia là dãy Một Mái, Hòn Vượn. Còn dãy núi nằm như người đàn bà ngửa bụng lên trời là Hòn Dài. Qua bên kia sông Bồ là dãy núi 140, 165... Hồi là lính trung đoàn 4 tôi đã chốt mấy năm trời ở đó. Ngồi nói chuyện "hòa hợp" với tụi lính dù, lính thủy quân lục chiến ngụy hoài à". "Chú biết rành rẽ vậy ư?". "Thì cậu bảo...có vậy tôi mới quen được bà Bê, cậu Phước".

Phước cũng mất rồi. Sau đêm tổ trinh sát rời làng, có điệp báo cơ sở của mụ Mến bị lộ. Phước bị tụi bên an ninh của quận về bắt, chúng đánh dữ quá, nhưng anh kiên quyết không khai báo gì các cơ sở mật của ta ở vùng sâu. Phước được địch thả về ít ngày sau thổ ra huyết, chết. Mụ Mến bị tù cho đến ngày Lao Thừa Phủ được bộ đội vào đánh chiếm. Mụ cũng chỉ sống được ít năm nuôi con Xíu khôn lớn lên chút nữa rồi ra đi. Hảo đã hỏi Thoa. "Sao cháu không đi theo ba?". "Đi làm chi chú! Thoa hỏi lại anh - Sau ngày giải phóng, có lần ổng về đưa cháu vô Đà Nẵng nuôi ăn học. Ông nhủ cháu đi di tản. Lúc xuống tàu cháu bỏ trốn, trở về làng. Ở đây còn mồ mả ngoại cháu, cậu Phước và cả mạ cháu nữa. Bả không biết nằm ở nơi nào. Bao năm nay, lòng cháu đâu có yên hả chú. Thật là trời cho phước để cháu được gặp chú bữa ni".

Buổi sáng ngày thứ hai Hảo và vợ chồng Thoa ra đồng tìm mộ. Từ chiều hôm trước Thoa đã làm một mâm cơm cúng mẹ, cầu khẩn bà ngoại, cậu Phước sống khôn chết thiêng chỉ đường cho chú Hảo tìm ra nơi chôn cất mạ...Hảo chỉ đứng lặng trước bàn thờ và nhìn chăm chăm vào đôi mắt của người đàn bà trong tấm ảnh. Đã 25 năm rồi vẫn đôi mắt ấy và nụ cười ấy. Anh như thấy cả ánh chớp lóe lên của trái mìn clay mo phát nổ và những viên bi bay rào rào chém vào không khí. Toán vượt đường bị vấp phục kích đâu như quãng xóm Mới, Bầu Tháp. Cả tổ đã vượt qua đoạn đường rầy xe lửa. Bê bị trúng đạn ngay loạt đầu tiên. Lúc cõng Bê trên vai, anh còn kịp nhìn thấy cây gạo đầu làng trong ánh sáng của ngọn đèn dù. Tại đấy địch đặt một khẩu cối 61ly, chúng thả không tiếc đạn. Còn mấy ổ đạn đại liên bắn như xé vải trên cánh đồng trống trải.

Chồng Thoa định chở Hảo trên chiếc xe hon đa 67. Nhưng anh kiên quyết từ chối. "Cậu cứ để tôi đi bộ. Chân tôi dính bùn đất, tôi mới nhận ra đường". Thoa đành phải cho chồng chở đồ cúng tế, cuốc xẻng chạy ra đường lộ đứng chờ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #108 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 03:50:59 pm »

Nhiều tháng sau khi đã trở về Hà Nội, ngồi tĩnh tại ở nhà Hảo cũng không sao giải thích được hành động của mình trong buổi sáng ở làng Dương đi tìm mộ cho Bê. Vợ Hảo bảo - "Oan hồn chị Bê linh thiêng dẫn đường cho anh".

Từ mảnh sân của nhà mụ Mến, Hảo không đi theo trục đường làng nay đã trải nhựa mà anh lại lội qua con hói, cắt băng giữa đồng lúa, vượt qua những bãi mồ mả để tiến thẳng về xóm mới Bàu Tháp. Hảo linh cảm rất rõ rằng, đấy chính là con đường mà các đồng chí du kích xã ngày trước đã đưa tổ trinh sát vào làng. Anh còn nhận ra được cả một vòm cống bi dẫn nước qua hai cánh ruộng, nay đã nằm sâu dưới nền đường nhựa. Nước vẫn rỉ rách chảy qua cống. Thoa lầm lũi đi sau tay anh cầm một bó nhang. Thỉnh thoảng gặp một ngôi mộ, có bia cô dừng lại nhòm ngó. Hảo vẫy tay, gọi Thoa. "Làm gì có bia, có mộ mà con tìm!". Cho đến 10 giờ sáng, Hảo đã vượt qua con lộ và đoạn đường xe lửa. Trận phục kích xảy ra ở chỗ này đây! Anh gặp lại con đường đất dẫn vào làng Phú Ổ, Liễu Thượng... Trời ơi cây đa đầu làng vẫn còn. Nơi ấy, khi xưa mỗi lần đại đội 3 đánh về đồng bằng quanh các làng phía Tây đường quốc lộ, cây đa đầu làng Phú Ổ được chọn làm điểm tập kết. "Dứa dại...dứa dại nơi góc ruộng". Điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại như một lời cầu khấn của Hảo. Thoa bám theo sau anh cần mẫn như một cái đuôi. Cô đã thắp mấy tuần nhang mà vẫn chưa tìm ra được tung tích nơi chôn cất mẹ. Phía xa trên con đường làng, chồng Thoa bám sát bằng xe máy. Lâu lâu, anh ta dừng lại để định hướng đi theo.

"Dứa dại...dứa dại...Anh lạy em, chỉ đường cho anh, để con em được gặp mặt mẹ!". Mặt Hảo nóng bừng, mồ hôi ướt lưng áo. Nàng đã nói gì với anh nhỉ? Lúc ấy, Hảo cõng Bê thoát ra được khỏi tầm đại liên của tụi ngụy nằm phục kích ở đường sắt. Pháo địch ở Tứ Hạ nã như giã giò vào phía cửa rừng. "Em chết mất, anh ơi...!". "Gắng chịu chút nữa Bê. Lát nữa anh sẽ băng lại cho em". Hảo bảo vậy và đặt cô vào một ngôi mộ, có tường gạch vây tròn xung quanh. Ngồi đây sẽ tránh được đạn thẳng và mảnh pháo. "Anh cho em hớp nước. Khát..." Được uống chút nước như thể Bê tỉnh ra. Đầu cô gối lên đùi Hảo. Bầu trời rực sáng trong ánh đèn hỏa châu từ những chiếc máy bay thả xuống. Anh nhìn rõ gương mặt Bê trắng nhợt. Máu thấm đẫm vạt áo ngực. "Đừng đưa em đi nữa...các anh chạy đi...vào trong núi...Ban ngày chúng nó càn bắt hết...".

Đầu óc Hảo rối tung. Từ lúc gặp phục kích, đội hình, mỗi người đi một phương. Điểm hẹn tập kết cuối cùng là đầu làng Văn Xá Thượng. Bằng mọi giá, Hảo cũng không bỏ Bê. Chợt cô bảo anh "Anh cầm lấy tay em đi". Hảo cúi xuống nhìn vào đôi mắt Bê đang mở to, giọng cô yếu hẳn. "Hãy hôn em đi...Em sắp đi đây, anh ơi!”.

Đôi môi cô mềm, lạnh. Anh có cảm giác rất rõ lúc chạm vào, đôi môi của nàng hơi rung động. "Hãy tha lỗi cho em...Anh ơi!". Đôi tay cô níu chặt lấy cánh tay anh. Gương mặt Bê đẫm nước mắt. Hảo ôm chặt cô vào trong vòng tay anh. Bê có lỗi gì? Anh chỉ tiếc không có một cơ may để được gặp nàng. Đến một lúc anh thấy người Bê giật nhẹ. Linh hồn bé bỏng của nàng đã đi rồi...Tiếng súng đã ắng lặng. Chỉ còn bầu trời sao tháng bẩy đang bị cắt vụn ra bởi ánh đèn dù ma quái. Thấp thoáng trong màn ánh sáng mờ ảo, Hảo nhìn thấy bóng một người lính trinh sát đang chạy cắt băng trên đồng. Anh giả tiếng tắc kè gọi bạn...

"Dứa dại... dứa dại! ". Hảo đi như một kẻ lên đồng. Anh lội qua một đám ruộng lúa, vượt qua một vạt ruộng trồng kiệu, dãy trồng nưa... Hiển hiện trước mắt anh là một khóm dứa dại đứng ngay góc ruộng. Ở đấy còn có một khóm cúc dại, hoa nở vàng rực. Nghe tiếng chân người bước tới, ba bốn con bướm vàng và những con ong rừng đang hút nhụy hoa vội vã bay lên.

Như thể Hảo nhìn thấy nàng đang lấp ló sau cây dứa dại. Đôi chân Hảo khuỵu xuống.

Thoa thảng thốt. "Ở đây làm gì có mồ mả nào hả chú? "

Ngồi bệt trên nền đất ruộng ẩm mát, Hảo nhìn cô kỹ sư canh nông lúc này trông nhem nhuốc, bơ phờ hơn cả người đi cấy. Áo quần cô gái bê bết bùn đất. "Các chú có chôn mẹ con thế này thì mới không bị tụi ngụy sáng hôm sau đi lục soát trên đồng đào bới lên. Con ra mau lấy cuốc xẻng lại đây..."

Mới chỉ đào hơn một thước, dưới nền đất cát ẩm Hảo đã nhìn thấy mảnh dù hoa của anh cuốn quanh xác nàng...

Trong lúc Thoa ngồi khóc mẹ, Hảo thẫn thờ như một kẻ mất hồn. Mắt anh lại chạm phải những dãy núi xa mờ. Cỏ cây chưa mọc xanh trên đỉnh Hòn Vượn, Chóp Nón, Một Mái...Giữa hai dãy núi là đỉnh dốc Tranh. Từ các căn cứ của bộ đội, du kích ở vùng giáp ranh, con đường về đồng bằng qua ngả dốc Đu, dốc Cát đi qua đó. Hình như vẫn còn lại một cây khô bị bom ném cháy tự dạo Mậu Thân đứng trơ trọi giơ lên trời hai nhánh cháy như hai cánh tay trên lưng triền dốc Hòn Ngang. Ầm ì vọng lại tiếng máy cày trên đồng vắng.

Hà Nội - đêm 19/2/2001
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #109 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 03:56:54 pm »

Người bán thước kẻ

NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾN

Chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, nhận tấm thẻ thương binh, tôi trở về quê nhà. Để bớt gánh nặng kinh tế cho gia đình, tôi dã dành tất cả số tiền chính sách nhận được mở một quầy sách báo. Khách hàng của tôi khá đông.

Trong đó, người đàn ông luống tuổi có cánh tay phải teo tóp, quắt quéo là người khách thường xuyên nhất. Chiều chiều, mỗi khi đi bỏ những bó thước kẻ cho các hiệu tạp hóa trong thành phố về, ông thường ghé quầy của tôi đọc báo "cọp". Ông thường kiếm đọc mục "Nhắn tìm đồng đội" và tin tức. Thi thoảng báo có bài xã luận hoặc phóng sự hay, không có thời gian xem tại chỗ, ông mới mua về nhà đọc. Thoạt đầu, tưởng ông là người bị dị tật bẩm sinh nên tôi chỉ quan hệ với ông như những khách hàng bình thường khác. Mãi đến ngày 27-7, thấy trên ngực ông lấp lánh chiếc huy hiệu thương binh thì tôi mới quan tâm đến ông. Ông vừa vào đến quầy tôi đã niềm nở:

- Mời bác vào trong này uống với cháu li rượu nhân ngày Thương binh liệt sĩ của chúng ta đã.

Ông khẽ gật đầu rồi cầm mấy tờ báo bước vào ngồi ở chiếc ghế phía đối diện với tôi.

Tôi mở chai rượu bổ mà Ủy ban phường mới biếu sáng nay rót vào hai cốc, nói:

- Trước hết, xin bác thứ lỗi vì hôm nay cháu mới biết bác là thương binh.

Ông không nói gì, chỉ cầm li rượu cụng vào li tôi một cái đánh cốp, mắt vẫn không rời mục "Nhắn tìm đồng đội" trong tờ báo. Chờ ông đọc xong, tôi hỏi:

- Xin lỗi, bác tìm liệt sĩ nào vậy?

Ông chằm chằm nhìn tôi như để dò xét, như để xem có đáng thổ lộ tâm sự hay không. Một lúc sau ông mới nói:

- Tôi tìm hai người con. Một hi sinh trong trận đánh mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh ở Buôn Ma Thuột. Một ở cửa ngõ Sài Gòn.

Tôi vừa lặng lẽ lắng nghe, vừa chăm chú nhìn ông. tôi thấy tay ông bóp mạnh vào li rượu. Người ông khẽ rung lên. Hai mắt đượm buồn rồi bỗng sáng quắc như có lửa. Và tôi nghe dường như có tiếng tanh tách phát ra từ chiếc cốc thủy tinh trong tay ông.

Biết ông đã mất nhiều thời gian, công sức tìm kiếm tung tích của hai người con đã hi sinh và đang nóng lòng muốn biết mộ của họ ở đâu nên tôi nói:

- Bác cho cháu biết tên tuổi của hai anh để cháu tìm hộ cho. Đọc thấy, cháu sẽ báo tin cho bác.

- Thế thì quý quá! - ông mừng rỡ nói - Đứa hi sinh ở Buôn Ma Thuột tên là Nguyễn Đông Bắc, sinh ngày 31-12-1947. Còn đứa ở Xuân Lộc là Nguyễn Thu Đông, cũng sinh ngày 31-12-1947.

Tôi vừa nghe vừa ghi vào sổ. Nhưng đến ngày sinh của liệt sĩ thứ hai, sợ ông nhầm lẫn, tôi cẩn thận hỏi:

- Liệt sĩ Nguyễn Thu Đông cũng sinh ngày 31-12-1947?

Ông đáp:

- Vâng, sinh đôi mà. Tôi đã lấy tên Chiến dịch Thu Đông 1947 ở Đông Bắc, nơi mình đã tham gia chiến đấu và bị thương, để đặt tên cho chúng.

Tôi hỏi thêm để biết rõ hơn về hai liệt sĩ cần tìm:

- Thế ai là anh, ai là em ạ?

Ông chặc lưỡi, vò đầu tỏ ra ân hận, nuối tiếc về sự sơ suất của mình:

- Rất tiếc là tôi cũng chẳng biết. Sinh được mấy ngày, do mất nhiều máu, kiệt sức, hơn nữa lại quá lo lắng vì không biết tôi sống chết ra sao nên vợ tôi đã không qua nổi cơn hậu sản. Khi tôi phục viên về nhà, hai đứa đã biết lật. Tôi đã hỏi những người thân trong gia đình nội, ngoại nhưng người thì nói đứa này sinh sau, đứa này sinh trước, kẻ thì nói ngược lại. Chẳng ai biết chắc chắn đứa nào anh, đứa nào em cả. Chúng giống nhau quá mà.

Vợ mất để lại hai đứa trẻ sơ sinh khát sữa. Ông lại chỉ còn một tay, làm thế nào mà xoay xở nổi. Nghĩ thế, tôi tò mò hỏi:

- Bác nuôi hai anh khôn lớn chắc vất vả lắm? Làm sao mà bác vượt qua được?

Ông lắc đầu, nhún vai:

- Vất vả thì hết chỗ nói. Nửa đêm nằm giữa hai đứa trẻ thèm sữa mẹ khóc thét lên, không tài nào dỗ cho chúng nín được, kể cũng da diết và đoạn trường thật. Riêng bị chúng "tè" ướt mèm, phải loay hoay thay tã và thay áo quần cho cả ba cha con cũng đã đủ xâm xoàng mặt mũi. Nhưng rồi mọi vất vả cũng dần dần trôi qua. Phần thì nhờ hai gia đình nội, ngoại và bà con chòm xóm, láng giềng. Phần thì nhờ cái này! - Ông vừa nói, vừa dứ dứ cánh tay còn lại trước mặt mình. Khi chúng còn nhỏ, tôi đã phải thường xuyên bắt cóc nấu cháo cho chúng ăn. Nhờ thế chúng đã không bị chết vì suy dinh dưỡng. Chú biết đấy, hồi đó làm gì sẵn sữa bò như bây giờ. Còn khi chúng lớn lên thì tôi lại phải làm thước kẻ đi bán để nuôi chúng ăn học.

Tôi chằm chằm nhìn cánh tay ông. Lòng vừa thán phục, vừa thương cảm:

- Còn một tay, sao bác không chọn nghề cho phù hợp với mình mà lại chọn nghề làm thước kẻ? Xin làm ở một cơ quan nào đó chẳng hạn. Như vậy có phải khỏe hơn không?

Ông cười:

- Hì. .. hì. ... Ai mà chẳng biết vậy. Song mình làm sao tốt bằng người lành lặn. Không làm được việc mà chiếm chỗ của người khác để nhận lương thì coi sao được. Xấu hổ chết! Chỉ có chọn nghề làm thước kẻ mới phù hợp với tôi. Bởi vì, tôi vốn xuất thân từ con nhà thợ mộc. Thước thì thị trường lại rộng, học sinh đứa nào chẳng cần. Hơn nữa, tôi còn có sở thích muốn làm cho bọn trẻ làm quen với mực thước, với ngay thẳng khi còn nhỏ. Do đó, chỉ có chọn nghề này, tôi mới có đủ điều kiện và động lực để vượt qua chính mình.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM