Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:00:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhà lao cây dừa  (Đọc 64879 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #50 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 07:20:06 pm »

10.

Cùng lúc đó, từ phía căn cứ Dương Tơ, có một tốp người len lách trong rừng đi ngược trở lại khu vực nhà tù. Họ ăn mặc không giống ai đủ kiểu, nón ba nút vàng của Mỹ, súng ga răng, súng cạc bin đủ cả.

Thoạt trông như một tốp thám báo thiện chiến chuyên lùng sục trong rừng. Nhìn kỹ khi họ rửa ráy dưới suối mới chợt nhận ra rằng: Cả tốp đều đi dép râu và trên khuôn mặt sau khi được lau chùi kỹ, nó hiện ra cái nước da sốt rét rừng tái tái màu xanh chì. Họ là ai vậy và lúc này họ đang đi đâu?

Mời các bạn cùng tôi ngồi xe máy đi hai chục cây số từ thị trấn đến Dương Đông rồi rẽ trái vào một con đường bò cát trắng phau dẫn tới nhà ông Ba Lon, một con người chỉ huy kỳ cựu của lực lượng vũ trang trên đảo.

Ông không có ở nhà. Tôi phải ngồi chờ đến gần chiều tối mới thấy ông lọm khọm đánh đàn bò ba mươi con từ ngoài đồi trở về. Rõ ràng khi biết tôi đến đây vì lý do gì, ông không mấy cởi mở. Vừa hùi hụi quát mấy con chó giống Phú Quốc luẩn quẩn dưới gầm bàn, ông vừa nói lơ đễnh bằng cái giọng còn giữ được nguyên chất Quảng Trị.

- Chú coi, tiêu năm nay không hiểu sao vàng rụi hết trơn. Coi như bỏ. Tôi chuyển sang chăm mấy con bò thay thế. Chu cha! Thời buổi này sao mần ăn khó quá trời!

Tôi đưa mắt phóng nhìn khắp khu vườn râm mát và rộng dài, chạnh nghĩ: Nếu mai mốt hòn đảo cô đơn xa đất liền hàng trăm ki lô mét này trở thành đặc vùng sầm uất thì cái mảnh vườn đẹp như một cánh rừng ôn đới nơi đây dứt khoát phải tạo nên một mảng du lịch thơ mộng cho trẻ em đến căm trại vui chơi, cho con trai con gái đến dựng những mái lều bạt mà tâm sự chuyện trò rủ rỉ giữa thiên nhiên.

- Chú muốn biết chuyện cũ à? - Giọng ông Ba Lon vẫn đều đều, rõ ràng là không muốn bắt chuyện - Tôi giới thiệu đến Năm Sĩ nghe! Ông là chính trị viên huyện đội, có trào lại là huyện đội trưởng, ông biết nhiều lắm đó. Bọn này gọi ông là thổ công trên đảo.

- Dạ! Tôi đi tìm rồi anh Ba. Nhưng anh Năm Sĩ không có ở nhà. Anh lên rẫy cả tuần mới về. Đang vào vụ mần ăn, tìm người khó lắm anh Ba ơi!

- Vậy hả! Chú gặp Tư Tâm chưa? Tư Tâm ngày trước nhiều năm làm đại đội trưởng đại đội chủ công của huyện sau làm huyện đội và giờ này đang làm bí thư huyện ủy, đại biểu quốc hội đó.

- Dạ, tôi có biết, anh Ba! Nhưng thời buổi ổn định chiến lược kinh tế này, gặp được mấy ông nghị sĩ đâu có dễ. Anh Tư đi Hà Nội họp rồi, tất nhiên tôi sẽ chờ gặp bằng được vị cựu đại đội trưởng này.

- Thôi, được rồi - ông Ba Lon thở dài - Vậy chú muốn hỏi tôi điều gì nào? Hỏi ngắn, hỏi ít thôi nghe! Chuyện qua lâu rồi, bỗng dưng bắt nhớ lại ngang hông, coi chừng lộn xộn đó nghe! Sao? Chuyện tù vượt ngục hay chuyện chiến tranh trên đảo?

- Cả hai.

- Tham quá trời vậy chú Hai!

Ông cười, cái cười làm giãn nở khuôn mặt đã có nhiều nhăn nhúm qua thời gian năm tháng. Vậy là ổn! Tóm lại ông đã cười, sáu mươi tư năm sống ở đời, ngót ba mươi năm trận mạc gian nan, lại chục năm về già lo làm ăn sinh sống, tưởng rằng người lính già đã chôn chặt quá khứ vào góc vườn sâu tăm tối rồi, nhưng không, chỉ cần qua một nét cười trầm mặc là đủ nhận thấy ông vẫn thuộc về ngày hôm qua, những ngày ác liệt cam go nhưng cũng thật nhiều lãng mạn tốt đẹp mà ai đã trải qua một lần thì không bao giờ quên được nữa.

- Tôi nói chuyện tù trước rồi sau đó xen kẽ, nhớ đâu kể đó nghe!

Sau hiệp định Giơnevo, địch đưa tù chính trị ra. Lúc đó tại Cây Dừa đã có mốt ố tù quân sự rồi. Vậy là đảo lúc đó hình thành hai nhà tù trung ương và một nhà tù của quận. Ba cái tất cả. Số tù có khi đông hơn số dân.

Trước tình hình đó, huyện và xã đều thành lập ban binh vận để hướng mục tiêu ứng phó với nhà tù. Nhà lao Cây Cầy ta đã bắt mối được ba nội tuyến nằm sâu trong hàng ngũ địch, nhà lao Cây Dừa khá hơn, ta đã nắm trọn được một trung đội do một chuẩn úy quân cảnh chỉ huy. Người chuẩn úy này tên là gì, ở đâu, tôi cũng quên mất rồi. Nhờ đó, ta có thể thường xuyên đưa thuốc men, tin tức vô trong tù và cấy được cả nhau thai đưa vô bồi dưỡng cho anh em bị thương tật ốm yếu nữa. Hơn một năm sau, có một trăm tù bên phía Cây Dừa đề nghị với ta xin ra cùng với nội tuyến - Người này tên là Lắc thì phải. Ta chỉ chấp nhận năm mươi vì như chú biết đó, ra dễ nhưng nuôi khó, tổ chức đưa về đất liền lại càng khó hơn. Trong năm chục người đó có cả anh Phạm Văn Khỏe, em ông Phạm Hùng, chắc chú...

- Dạ, có nghe anh Năm Trì nói, anh Ba!

- Ừa! Ra thoát, ta tổ chức đưa về đất liền phần lớn, còn lại hầu hết đều là cán bộ chủ chốt của lực lượng vũ trang trên đảo cả. Tôi còn nhớ mấy anh như Tám Đảo, Bảy Y, Ba Lửa... nhiều lắm, chiến đấu có nghề, dũng cảm lắm. Sau đó đều hy sinh rải rác trận này trận khác hết. Tôi thường nói với mấy anh trên tỉnh, trên khu, trên cả Trung ương rằng, sự nghiệp đấu tranh của Phú Quốc không thể tách rời được công sức và sự hy sinh vô điều kiện của anh em tù thoát ngục ra.

Sau đó chúng đưa tù chính trị về Côn Đảo hết, cuốn theo cả nội tuyến. Như vậy từ đó chỉ còn một nhà lao Cây Dừa. Ta tiếp tục chủ trương làm binh vận và đấu tranh chính trị. Lúc đó ta chưa có chủ trương võ trang nên kẻ địch làm căng lắm. Anh Năm Trì cho thành lập một tổ diệt ác, bắt đầu là anh Hai Hiến, sau đó đến tôi làm tổ trưởng. Cũng là một thứ tổ trá hình thôi. Năm 1960 tổ này phát triển lên thành một tiểu đội, hay gọi bằng đội cũng được, đội có mười hai người do anh Năm Sĩ chỉ huy, tôi và anh Hai Khánh làm phó. Thời kỳ này huyện ủy do anh Chín Kỳ làm bí thư.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #51 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 05:42:54 pm »

Ngày 20 tháng 12 năm 1960, đội võ trang ra quân trận đầu ở đồi Ông Lang, đánh một B địch. Trận đầu mới lạ lên thắng không ngon. Cây Tôm xông của Năm Sĩ phát hỏa không nổ nên ta nổ súng không đều. Gọi là nổ súng cho oai chớ hồi đó chỉ có một cây Tôm xông trao cho chỉ huy, hai cây Mỹ mòng, một cây trường mas, còn lại là súng hơi, lựu đạn trái na... Nhưng cũng diệt được 4 tên, ta không ai bị làm sao hết. Bà con phấn khởi lắm. Địch lại kháo nhau: "Đ.mẹ có lực lượng ở Bắc vô, coi chừng nghe!".

Trên đà thắng, đầu năm 1961, đánh tiếp đồn dân vệ Hàm Ninh theo kiểu bán biệt động đóng giả lính vô thẳng đồn. Thắng tuyệt đối, thu hết trơn vũ khí, kêu tù binh xếp hàng giáo dục ba điều bốn chuyện rồi thả luôn. Sau trận này, vũ khí ra đầy nhóc, tha hồ xài.

Cùng trong thời gian đó... Mà ủa! Tôi đang nói cái gì vậy? Có đi lạc quá sâu sang chuyện đánh đá bên ngoài không?

- Dạ không! - Tôi cười - Anh Ba đang nói vô khía đó. Không có bên ngoài, sao có bên trong? Nhà tù với Phú Quốc là một, cái nay fnawmf trong cái kia, cái kia bao bộc cái này, cùng chung số phận, cùng chung thắng thua mà anh Ba!

- Ừa! Đúng là báo chí văn chương mấy chú, nói kiểu gì cũng được. Vậy tôi cứ kể nghe, rồi tùy chú sàng lọc. Cái nào trùng thì bỏ, cái nào mới thì nghe...

Cùng trong thời gian này, phong trào diệt ác ôn lên mạnh dữ lắm! Nói thế nào nhỉ? Đành rằng ba quả đấm, ba mũi võ trang, chính trị, binh vận đều giáp công, nhưng cái món võ trang, diệt ác là tối quan trọng, chuyện chiến tranh năm ăn, năm thua, nói miệng không với kẻ thù đâu có đặng. Nói mười không bằng bứt đi của chúng được một. Cho nên vấn đề diệt ác theo tôi phải được ghi thành một cuốn sử riêng của Phú Quốc. Diệt ác nhiều khi trở thành chủ đạo, thành nghiêng lệch cán cân trong những tình thế cách mạng hết sức mỏng manh, thành giá đỡ vực dậy hai mũi chính trị và binh vận kia. Nói vậy không hiểu có sai nguyên tắc, lập trường Đảng không, nhưng thực tiễn chiến tranh đã chứng minh điều đó hoàn toàn trúng. Như vậy là từ Giơnevơ đến khi đồng khởi, đảo đã ra tay trừ khử được thằng Cường, thằng Lắc, cai Sen, thằng Đức, thằng Chanh phòng nhì... Nhiều lắm! Ác giả ác báo, lấy độc trị độc, chúng nó rung động, bà con hăng hái yên tâm hẳn lên. Phải tới gần 50 lính ngã lòng ngã sang ta. Hơn một trăm thanh niên rủ nhau trốn quân dịch vô rừng trong vòng vài ba tháng. Một lực lượng đáng kể đó chứ, hả? Có người ta lập ngay một trung đội mạnh, mạnh cả số lượng lẫn vũ khí. Vũ khí ư? Thiếu gì! Lấy của nó mà đánh lại nó, mệt nghỉ chú à!

Sau đồng khởi, sức ta lên như diều gặp gió. Diệt ác, phá kềm, vây đồn... Cứ ào ào... Sau trận Hàm Ninh, đánh tiếp một trận giao thông trên con lộ cạnh. Không giết được ác ôn nhưng bắt được một cha cố người Mỹ bự con lắm. Năm Sĩ giáo dục rồi thả. Sau này trong một trận phục kích diệt của nó non tiểu đội thuộc lực lượng hải thuyền vùng 4 chiến thuật ở đặc khu Cây Dừa, chúng khủng bố đem ba người dân di cưu ra bắn, chính vị cha cố này đã đứng ra can giáo, phát động dân đấu tranh. Ít tháng sau, nghe nói chúng đưa ông cha này về Sài Gòn.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #52 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:02:55 pm »

Mấy trận sau này do tôi bị thương nên không dự được nhưng nằm ở trạm xá nghe súng bên ta nổ giòn mà khoái trong bụng dữ lắm! Trận Bãi Bổn diệt gọn một tiểu đội bảo an đi lùng sục nè! Trận đánh một toán biết kích ở ấp Dương Xanh, Bằng Quỳ thuộc Dương Tơ nè! Tuy nhiên trận này bị lộ, bọn ác ôn chạy ỉa cứt trong quần nhưng về sau chúng cũng không dám đi lại nghênh ngáo làm tàng nữa. Kẻ thù co lại thì quần chúng bung ra, luật đấu tranh sanh tồn là vậy. Hàng chục ấp chiến lược bị phá rã, nhìn bà con mình đổ về xóm cũ mần an dưới ánh nắng mặt trời mà mát ruột gan.

Đến năm 1962, ta thành lập được huyện đội. Ấy, chú đừng tưởng cái chuyện lập huyện đội này không có đáng nói. Đúng! Cái từ "huyện đội" đâu có nghĩa bao nhiêu, nhưng phải đặt trong hoàn cảnh thế địch mạnh hơn ta gấp ngàn lần, bao lâu nay nó ỷ thế lắm người nhiều súng lấn ta từng bước thì mới thấy sự ra đời của một tổ chức vũ trang tên là "huyện đội" nó có ý nghĩa lớn lao thế nào. Nó là biểu hiện từ nay trên hòn đảo côi cút này đã hình thành một thế đối đầu bạo lực bất phân thắng phụ, chớ có đùa!

Huyện đội bước đầu có sáu chục tay súng. Thế cũng đã nhiều. Năm Sĩ là chỉ huy trưởng. Sau đó tôi ra viện thay Năm Sĩ, Năm Sĩ chuyển sang làm chính trị viên. Tất nhiên bí thư đảng ủy huyện đội kiêm bí thư huyện ủy vẫn là đồng chí Bảy Kiên tức Giang Lạc Đăc (lúc này anh Chín Kỳ trở về tỉnh rồi). Một khi đã có cơ cấu huyện đội, tất nhiên phải kéo theo những tế bào cơ bản. Lực lượng võ trang xã, ấp, cũng chính thức ra đời mà ta thường kêu bằng xã đội, ấp đội. Thành lập cả công trường tức công binh xưởng chế vũ khí tự tạo đủ cả: mìn trái, bộc phá sào bê ta, hỏa lôi công, súng ngựa trời, súng nẻ từng viên, dao găm, mã tấu... do anh Hai Nguyên làm công trường trưởng thay ông Ba Bông chuyển sang công tác khác.

Bước qua năm sáu bốn, ta tập kích vô sân bay khi tướng râu dê Nguyễn Khánh đến đảo thị sát. May cho ông cố ba đời nhà hắn, trời xui đất khiến thế nào hắn lại đáp xuống sau nên không chết. Hận cú chết hụt vang danh xấu ra cả thế giới này, hắn rắp tâm trả đòn, trả đòn từng nấc một, trả đòn rất thâm độc. Hắn đánh ngay vô cái địa thế cô đơn của đảo bằng ngón phong tỏa nhà nghề dài ngày. Ngón đòn này đã có kết quả, đẩy hòn đảo dần ngã sang một tình thế mới và dẫn đến cái chết sau này của anh Giang Lạc Đắc như chú đã biết.

Nhưng muốn phong tỏa được cái hòn đảo can tràng, có bề dày truyền thống bất khuất này đâu dễ dàng gì, chú! Ta vẫn làm tới. Làng xã chiến đấu vẫn ra đời và tồn tại. Kẻ địch bị bó chân bó tay ở khắp mọi nơi. Công tác đấu tranh chính trị và binh vận dâng thành cao trào. Khu dinh điền tại Cầu Sấu, nơi bọn địch tin tưởng nhất bị chà sát trong một đêm. Hai chục thanh niên trai tráng bỏ ra với cách mạng. Khu vực An Thới vốn là trọng điểm bình định của nó, nay bỗng thành trọng điểm nổi dậy của ta.

Trong đó, không thể không kể đến sức mạnh đấu tranh chính trị của đội quân đầu tóc. Cuối năm sáu tư, để xúc tiến chiến lược phong tỏa, hải quân địch bắn xối xả vô đất liền vô rừng rú và vô cả xóm ấp. Đứa nhỏ con anh Năm Bôi bị trúng đạn chết, lập tức hơn ba trăm chị em khiêng xác cháu lên tận bộ chỉ huy hải thuyền đòi bồi thường đền mạng. Bọn chỉ huy này không biết đối phó sao đánh hứa sẽ hạ lệnh ngừng bắn vô bờ biển. Ít ngày sau Hai Hoa là vợ tôi dẫn đầu mười chị em kết hợp với mũi võ trang cũng lên bộ chỉ huy hải quân đòi không được bắn vô hoa màu, gia súc làm hại đến tài sản bà con. Bộ chỉ huy còn đang vò đầu bứt trán thì ta nổ súng vô một giang thuyền hỗ trợ đắc lực cho toán 10 người này. Rút cục, chúng lại phải hứa hẹn... Còn nhiều, nhiều lắm những vụ đấu tranh hợp pháp như thế khiến kế hoạch phong tỏa án ngữ và thiết lập vành đai trắng đoạn đường từ An Thới đến Dương Tơ của chúng tiến hành rất trật vuột, có lúc phải ngưng lại.

Bên trong đất liền, lực lượng ta tiếp tục tiến công. Trận Vũng Tàu ấp Cây Bến là một trận gây thối động lớn. Chúng chết một trung đội, phải kêu trực thăng lấy xác.

Rồi một trận đánh càn căng thẳng suốt 15 ngày trước lực lượng hỗn hợp hải lục không quân cấp trung đoàn của chúng, với đủ cả máy bay, tàu chiến. Lực lượng ta gồm có cả bộ đội lẫn dân quân du kích và dường như cả đảo làm nhiệm vụ tiếp tế, dân công cho trận đánh càn. Rút cục chúng phải hối hả rút chạy, bỏ lại một trung đội xác chết. Ta không ai bị sao. Vậy mới kỳ chớ!

Tiếp đến một trận tập kích ban ngày cướp xác tại Cầu Cũ Bà Điểm thắng ngon lành. Trước đó, chúng phục kích bắn chết một cán bộ thông tin đằng mình và giữ xác lại trong đồn. Tư Tâm chính trị viên và Ba Thống, đại đội trưởng đã lên một phương án táo bạo cướp xác ban ngày. Xác đồng đội ta lấy được và chúng phải trả giá bằng một trugn đội thương vong hoàn toàn.

Và ngay trong thời kỳ mất liên lạc với tỉnh, lúc đoàn của anh Năm Trì chưa ra, lực lượng võ trang huyện dù đã teo tóp đi nhiều nhưng vẫn đủ sức dạy cho cả Mỹ lẫn ngụy một bài học xương máu nữa khi lần thứ hai chúng dùng cả hải lục không quân đánh vô Khu Tượng sau lưng ta. Trận càn mang cái tên hay ho: "Ba lượn sóng thần" diễn ra đúng 10 ngày đêm không ngơi nghỉ. Chúng tưởng phen này dứt khoát sẽ nghiền đầu não và lực lượng cách mạng ra cám, nhưng rồi sau mười ngày ba cái lượn sóng thần mắc dịch ấy lại lộn đầu nhấn chìm chúng xuống. Địch lại phải ôm đầu máu trở về với tổn thất: một trung đội bị diệt, một máy bay đầm già bốc cháy.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #53 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2011, 07:09:26 pm »

Sau đó với sự kiện đồng chí phó bí thư tỉnh ủy tìm ra đảo với lô vũ khí xã hội chủ nghĩa đầu tiên. Đảng đã hà hơi vũ khí hiện đại ra tiếp sức, lực lượng ta sau một thời gian phòng ngự bị động bắt đầu bung ra lấn sân địch từng bước như đồng chí Lâm Kiên Trì chắc đã kể với chú! Tôi không nói lại nữa. Rồi sự kiện Mậu Thân xảy ra trong lúc chúng tôi chỉ nghe đài, nghe radio để phối hợp hành động với toàn chiến trường. Tất nhiên trước đó, sau khi anh Năm trở về được ít ngày, một đồng chí phái viên ở tỉnh ra đã truyền đạt mệnh lệnh chuẩn bị lực lượng cho chúng tôi, nhưng chuẩn bị để làm gì? Thời điểm hành động là lúc nào, thì chính đồng chí phái viên đó cũng không biết. Vậy là đảo vẫn hành động không chênh với thời gian của toàn miền là bao.

Nếu nói cho văn vẻ theo kiểu mấy chú thì Phú Quốc được gắn với đất mẹ bằng một mạch máu vô hình. Đã gắn rồi thì trong kia đất liền nóng lạnh thì ngoài này đứa con cũng nhức đầu sổ mũi theo. Đã mấy mươi năm nay, do địa hình cách xa chúng tôi đã hành động theo kiểu nhức đầu sổ mũi tự giác như thế mà chưa bao giờ đi lạc đường hướng.

Đêm ấy nghe đài thấy các nơi đánh dữ quá, chúng tôi cũng quáng quàng tập trung hết thảy lực lượng, cả du kích các ấp, xã rùng rùng kéo đi bao vây thị trấn, bao vây sân bay và xé lẻ bao bao vây luôn đồn bót ở khắp mọi nơi. Khí thế dâng ngút trời.

Bọn địch chắc đã nắm được thông tin toàn cuộc nên sợ hãi nằm im. Tưởng phen này mở mặt muôn đời, phen này hòn đảo sẽ sạch bách bóng thù, phen này dứt khoát các binh đoàn chủ lực sẽ ào ạt đổ bộ xuống đảo kín đất kín trời làm một trận "sạch không kình ngạc". Nhưng rồi đợi hoài, đợi hủy, vẫn không thấy gì. Sau một vài tổn thất không đáng kể bọn địch đã dần dà tỉnh lại và cùng với tình hình tạm lắng trong đất liền, chúng bắt đầu bò ra phản kích trở lại. Nó hơn mình cả ngàn lần, lại đủ cả hải lục không quân, mình sức mấy mà bao vây, ép sát được hoài: Vậy là phải rút. Vừa rút vừa ngơ nác vừa tiếc nhểu nước miếng.

Bắt đầu từ đó, đảo bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ đen tối, hãi hùng của toàn Đảng toàn dân trên đảo. Nhưng thời kỳ này Phú Quốc mở ra những trang sử oanh liệt và rạng rỡ nhất. Trong đó, không thể không kể đến sự xuất hiện của các đồng chí tù vượt ngục. Ví như vai trò của nhóm anh Hai Hội, Tư Phước ra đã thành lập được một phân đội đặc công đánh đông dẹp bắc khiến kẻ địch ngán sợ lắm.

Sau Mậu Thân, lượng tù binh trong nhà lao Cây Dừa lên đến 40 ngàn người từ khắp các chiến trường, các quân binh chủng đưa về. Và trong vô vàn công việc ngổn ngang của một cấp ủy thời chiến, huyện ủy lúc đó do anh Hai Hiến đứng đầu đã đề ra một nghị quyết về tù binh. Tiếp tục bồi dưỡng cán bộ nội tuyến để nắm tình hình bên trong, tiếp tục đánh động để anh em tù binh biết tin mà quyết tâm ra và nhanh chóng thành lập những nhóm nhỏ ở Dương Tơ, ở đặc khu An Thới, ở khắp chu vi nhà tù để sẵn sàng đón tiếp nếu anh em ra được. Chỉ trong vài tháng, số tù binh trở về rừng đã có tới trăm người, mỗi người trở về một kiểu, nhiều chuyện cảm động và thương tâm lắm, nếu viết chú chớ có quên những cảnh này.

Một lần, nhân xuống Dương Tơ làm với xã đội do Hai Sửu phụ trách. Đã gặp Hai Sửu chưa? Chưa à? Chưa thì rất nên gặp, đây là con người đánh giặc đẹp nhất toàn đảo đó. Đáng lẽ Hai Sửu phải được phong anh hùng nhưng...sông có khúc người có lúc mà chú. Một chị cơ sở ở trong ấp đến báo: "Cách đây mấy ngày bà con có nghe thấy súng ở khu vực nhà tù nổ dữ lắm, sau đó thấy cả lính dẫn chó đi lùng sục khắp nơi". Tù trốn rồi! Tôi phán đoán vậy và kêu Hai Sửu cho người đi đón, không anh em lại đi lạc vô đồn địch chết uổng. Hai Sửu cử ngay Sáu Thảnh dẫn một tổ đi...

Ba hôm sau tổ của Sáu Thảnh trở về dẫn theo 6 anh em tù người ngợm nát bấy, trên thân thể không còn một mảnh vải, để hở ra những cặp xương sườn còng queo tội lắm. Hỏi ra mới biết đó là nhóm tù của Ba Toản.

Ba Toản lúc ấy... coi nào, bây giờ cậu ta ước chừng 50 tuổi thì lúc ấy, vô năm 1968... Hai mươi năm... Khoảng hai bảy, hai tám tuổi thôi nhưng dòm như ông già 60. Hai mắt trũng sâu, tóc tai lởm chởm, đám trắng đám đen, da dẻ cóc cáy vàng bũn, giọng nói phều phào đứt đoạn như người không có phổi.

Bằng cái giọng đó, Ba Toản kể lại chặng đường vượt ngục của mình, nghe như chuyện trong phim mà thời gian trôi qua lâu rồi, tôi vẫn còn nhớ lõm bõm được chú à!
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #54 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 06:40:40 pm »

... Cái lúc khắp xung quanh vang tiếng giày đinh, tiếng chó sủa khiến ai nấy nhìn nhau mắt bạc phếch ấy, Ba Toản chợt phát hiện ra đám cỏ voi cao quá đầu người mọc trên lớp sình đặc sệt, nổi váng vàng váng đỏ. Một kỹ thuật nghiệp vụ lóe lên trên đầu, Ba Toản kêu anh em nhanh chóng bẻ mỗi người một lóng cỏ voi ngậm vô miệng rồi chui vô bụi cỏ, vùi sâu người xuống để hở ống cỏ một đoạn lên trên mà lấy không khí để thở. Mọi người vừa thực hiện xong động tác đó thì bọn lính cũng ập đến. Chúng đứng lố nhố trên miệng ao sình, xưa chó xuống. Những con chó lội ào ào, miệng há ra đỏ lòm như miệng cá sấu. Chúng quầy nát cả ao sình, chui vô cả bụi cỏ, sủa lên mấy tiếng ằng ặc rồi ào ào lội trở lại, mình mẩy bê bết bùn hôi hám. Bọn lính văng tục mấy câu, đá thí mạng vào be sườn chó mấy cái rồi cả người lẫn chó kéo nhau đi nơi khác. Lát sau, họ đội sình đứng dậy, kiểm qua kiểm lại thấy thiếu một người. Vậy là tất cả lộn trở lại lụi hụi mò... Lát sau, họ lôi lên một thân hình rũ rượi gần như không thở. Đó là Dũng, quê Hà Nam, do sức khỏe yếu quá không chịu nổi mà ngất xỉu trong lòng sình. Hô hấp nhân tạo, đổ nước vô mặt chờ cho Dũng tỉnh lại, họ dìu nhau đi tiếp. Đến một con suối, cả nhóm thay nhau xuống tắm một chập cho trôi hết sình rồi nhìn nhau cười mếu máo. Tất cả lại trở lại sạch sẽ tinh tươm như cũ, chỉ phải người không ra người chút thôi.

Ngày hôm đó, cả nhóm hầu như không tiến thêm được bước nào, la bàn, bản đồ không có; người địa phương hoặc am hiểu về Phú Quốc chút xíu cũng không nốt. nên cứ nhắm đại hướng mặt trời mọc mà cắt rừng đi. Đi về hướng đó, dù không gặp căn cứ thì cũng gặp biển, gặp biển rồi sẽ tìm cách vượt về đất liền. Nhưng họ đâu có biết bờ biển bị phong tỏa dày đặc, nếu không có tiếng giang thuyền nổ máy rì rì thì cả nhóm đã sa vô cạm bẫy của tụi trinh sát thủy quân rồi.

Đêm đó họ chui vô rừng nằm tiếp. Muỗi, đói và mưa rả rích khiến cho không ai ngủ được. Nằm ôm nhau dưới những tán lá kết thành mái sơ sài, nghe mưa rơi trên xứ lạ mà nghĩ ngợi bao điều gần xa. Gần sáng, bấm nhau dậy tìm đường. Vừa ló khỏi vạt rừng ướt sũng, họ chạm ngay vô mặt lộ đỏ. Chết cha rồi! Mất bao sức lực, hai ngày sau họ lại trở về vị trí ban đầu. Hụt hẫng và thất vọng, họ oải người nằm bệt xuống. Có người phàn nàn: "Thôi không đi đâu nữa hết. Cứ nằm đây, chết thì thôi, không chết, bọn lính bắt được nhốt trở lại vào tù còn khỏe hơn". Ba Toản không nói nửa lời, lầm lì dẫn mọi người cắt rừng đi tiếp. Cậu ấy không đi về hướng đông nữa mà chuyển hẳn sang hướng bắc. Sau này tôi hỏi tại sao lại chọn hướng đó, Ba Toản trả lời: "Linh cảm thôi anh Ba! Linh cảm của thằng lính trinh sát thôi chớ có biết hướng nào là ta, hướng nào là địch đâu".

Đêm đó họ ngủ trong trảng tranh. Mưa càng to, mưa suốt đêm, một người lấy lá che cho hai người ngủ, kiểu ngủ ngồi bó gối để mặc cho nước lạnh chảy ròng ròng từ đầu xuống chân. Sớm sau đi nữa. Một người lên cơn sốt rét run cầm cập không bước nổi, phải thay nhau cõng đi. Ếch mang mình ếch còn không xong, huống chi còn đèo bòng. Tốc độ đi chậm như sên bò nhưng không ai kêu ca, không ai chịu rớt lại. "Khổ cực nhưng mà ham lắm! Nếu không lăn ra chết thì trước mặt là cả một khoảng trời tự do", Ba Toản nói lại với tôi như vậy.

Đêm thứ tu họ lạc vô một rừng chuối rậm rạp. Xa xa dưới thấp có ánh đền le lói. Đèn thiệt hay đom đóm? Mà nếu đúng đèn thì đèn dân hay đèn địch? Đói quá mắt mờ không phán đoán nổi. Họ bẻ đọt chuối ăn nhồm nhoàm rồi kéo lá chuối che người ngủ qua đêm.

...Sáng ra, mới bừng mắt dậy họ đã giật thót người. Thì ra đêm qua họ đã nằm kề một dòng suối mà không hay. Và lúc này đây, dưới dòng suối mùa mưa đục ngầu ấy đang có một toán người ăn mặc không ra ta, không ra lính đang rửa chân tay. Tất cả sẽ cho rằng đây chính là một toán biệt kích đi sục sạo trong đêm trở về nếu họ không phát hiện ra những đôi dép râu dưới chân những người kia. Khoan! Có thể bọn biệt kích cũng thường đi dép râu để đánh lạc hướng lắm chớ. Họ chú mục quan sát cách rửa mặt bằng tay và nước da xanh tai tái của tốp người lạ mặt. Mười phần đã tin bảy. Lính ngụy không thể có nước da sốt rét quan thuộc và lối rửa mặt bằng tay kia. Chỉ đến khi đám người lôi cơm vắt ra chấm muối tiêu ăn ngon lành thì đoàn Ba Toản mới hoàn toàn tin hẳn. Họ lẳng lặng đi ra khỏi chỗ nấp mà hai cánh tay khẳng khiu cứ muốn đưa về phía trước định làm một vòng tay ôm đồng đội mà không được! "Các đồng chí ơi! Các đồng chí có phải là anh em mình đó không?". Một người tù nghẹn ngào nói được từng ấy tiếng rồi lăn ra, ngất xỉu...

Thưa các bạn! Người lính già Ba Lon còn kể với tôi nhiều chuyện lắm; kể về chiến tranh, kể về thời bình, về những chiến công và mất mát những tháng ngày sau đó, kể về cả sự tồn tại của những người tù vượt ra sống, chiến đấu trong đội hình của đảo như thế nào. Ông kể chậm rãi, không khoa trương, không có một lời đại ngôn xa cách. Những tư liệu của Sáu Ái, của anh Hai Phi, của Ba Toản... đã chứng minh điều đó.

Nhưng tôi xin tạm dừng ở đây. Bởi lẽ lạm phát tiền tệ đã là một bi kịch, lạm phát tư liệu và chữ nghĩa trong lịch sử lại còn nguy hại hơn. Tôi chỉ muốn hỏi thêm ông về một hình ảnh lờ mờ mà không hiểu sao cứ ám ảnh day dứt trong tôi hoài.

Tôi lại hỏi ông có nghe một người tù nào tên là Quang vượt ra không? Ông lắc đầu!

- Ra nhiều lắm! Một số ở lại cầm súng như Hai Hội, Tư Phước, Ba Toản... một số đưa về đất liền, số nữa tản xuống hoạt động tại các ấp xã hay chuyển sang khắp các ban ngành của huyện. Tôi nhớ trong đó có một người tên là Hòa, Trương Văn Hòa gì đó, to cao như Mỹ, vốn là anh hùng quân đội vượt ra được. Anh này không ở lại đảo lâu. Anh hùng là do Trung ương quản lý, mình địa phương giữ lại sao được nên tìm cách đưa về trên. Vậy thôi. Còn tôi không nhớ hay không để ý có ai tên Quang cả. Chú thử tìm hỏi coi.

Tạm biệt ông Ba Lon với đàn bò vang rực nắng chiều và khu vườn râm mát như một mảnh rừng thơ mộng, tôi khăn gói lên đường tiếp tục cuộc hành trình cô độc của mình.

Chiếc đài to tướng chạy pin để trên bàn ăn cơm của ông tiễn đưa tôi bằng một bản tin nóng bỏng về vùng vịnh Pécxich... Ngày 15 tháng 1 tới, nếu Iraq không nhân nhượng, nửa trái đất sẽ ngập chìm trong lò lửa chiến tranh...
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #55 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2011, 06:13:16 pm »

11.

... Không chỉ ở lớp trẻ mà ngay trong lớp người già đã gánh trên vai hai, ba cuộc kháng chiến cũng không nhiều người biết về nhà tù Phú Quốc, và nếu có một ai đó hiểu rằng hòn đảo ấy ngày trước là một hòn đảo tù đau thương thì thường họ chỉ nhắc tới huyền thoại đào hầm..

Huyền thoại đào hầm... Vậy là đã hàng chục ngày trôi qua tôi cũng đã gặp gỡ hàng chục người, hàng chục các nhân chứng sống nhưng một nhân chứng thực sự đào hầm lại tìm chưa ra! Tôi thoáng hốt hoảng! Chui rào, bò rào, giật súng để thoát ngục tôi đã nghe kỹ càng rồi và sẽ còn tiếp tục được nghe nữa, nhưng con người khoét hầm bằng xương bằng thịt tìm không thấy thì coi như cái thực thể nhà lao Cây Dừa mới dựng được khung mà chưa có lục phủ ngũ tạng. Coi như rỗng tuềnh rỗng toàng. Tôi đã đánh điện, đã viết thư về Thanh Hóa hỏi tin Lê Xuân Các - người anh hùng đào hầm mà Ba Toản có nhắc đến. Một tuần sau, ở đấy trả lời không rõ Lê Xuân Các đi đâu? Hỏi thăm vài nhân chứng nữa, họ nói Các đã đem gia đình vào Sông Bé lập nghiệp. Tôi nhảy xe đi Sông Bé. Chao ôi! Sông Bé đất rộng người đông, nhiều huyện lắm xã, biết tìm cái tên "Các" ở chỗ nào? Thà rằng có một Lê Xuân Các là giám đốc, là cán bộ tỉnh, cán bộ huyện hay chí ít là cán bộ xã thì khả dĩ có thể tìm ra. Nhưng thân phận những người tù binh trong chiến tranh đã mấy người được may mắn như thế, hay là giải phóng một cái, họ giũ bỏ tất cả trở về với đời làm dân, với đất đai lam lũ.

Nửa tháng trời rong ruổi không tìm được người cần tìm nhưng rõ là hên, tôi đã may mắn gặp được những nhân chứng sống khác mà nếu thiếu họ, cái thực thể Cây Dừa cũng không còn là Cây Dừa.

Một trong những người đó là anh Sơn, đang giảng dạy triết học tại đại học Cần Thơ, anh là một người cao, gầy, giọng nói quê hương Bác nhỏ nhẹ và khúc chiết như chính cái nghề nghiệp của anh đòi hỏi như vậy. Anh tiếp tôi trong căn hộ mới xây xinh xắn của vợ chồng anh. Có lẽ nếu gọi là dấu vết của những năm tháng tù đày thì ở anh, người ta sẽ tìm thấy ít nhất.

Anh không nói về anh mà nói về một vụ đi củi giật súng chạy thoát đến hơn bốn mươi người mà anh có biết và chứng kiến. Đó là chuyến ra hùng mạnh đông đảo nhất của lịch sử vượt ngục tù Phú Quốc, nó tạo thành thế đối tỉ với sự kiện ra ít nhất, ra một người của chàng trai Hà Nội tên là Tín như đã nói ở trên.

Sơn bị giam trong khu tù hạ sĩ quan. Khu này hầu hết là tù binh bị bắt trong đợt tổng tiến công Mậu Thân. Là khu giam thường nên cuộc sống lao tù không đến nỗi quá nghẹt thở như các khu biệt giam, khu cấm cố nhưng cũng đủ kinh rợn để mỗi người tù đều tự hình thành một ý chí thoát ngục xung lửa ở trong đầu.

Trước khi ra được, Sơn có những kỷ niệm đau đáu không thể quên trong những ngày đen tối đó.

- Cứ mang cái kiểu bóp cò thẳng căng của người lính vào tù là không ổn, anh ạ! - Anh nói - Mình là kẻ bị trói, nó là kẻ cầm roi, mình thiếu mềm dẻo một chút là trả giá đủ. Tôi nhớ dạo ấy, để giết thì giờ và để tự trấn an đầu óc cho đừng nghĩ ngợi ngang ngửa, tôi có rủ vài ba anh em nữa mượn sách tiếng Nga của bọn quân cảnh để tự ôn, tự học. Thằng trung úy Hiển, dân công giáo toàn tòng nổi tiếng độc địa, thấy vậy, hắn cười khẩy, lấy chân đá đá vào cuốn sách trên tay tôi, hất hàm hỏi:

- Mày là Bắc kỳ hả? Dân Bắc kỳ ham học dữ heng! Vậy nghe tao hỏi, trả lời cho thật đây: Bắc hay Nam sống khá?

Tôi biết thằng ác ôn này tính chuyện gây sự, nhưng không thể nói chiều lòng nó, bèn giả bộ ngơ ngác để có thì giờ suy nghĩ.

- Ông trung úy định hỏi cái gì khá? Văn hóa hay thể thao?

- Sống khá! Cuộc sống của bọn mày khá hay thua cuộc sống trong này? Tức là cái miếng ăn nhét vào mồm ấy. Nói cho thật.

- Cuộc sống trong này tôi đâu có biết mà so sánh, ông trung úy! Vao Nam một cái là ở rừng luôn, ngày hay đêm, năm này qua năm khác, đều đập mặt vào rừng, có được xuống dân ngày nào đâu mà biết.

- Được! Mày trả lời khá - Hắn cười gằn - Nghe hỏi nữa đây: Mày có chấp nhận cuộc tiến công Mậu Thân tầm bậy tầm bạ của Đảng chúng mày là bại không?

- Mậu Thân ấy à? Vâng! Thắng hay bại, lính trang cùng đinh nằm xó rừng như tôi đâu có rõ. Chuyện ấy là chuyện trên cao, bí hiểm lắm! TÔi cũng như ông, cứ trên ra lệnh tiến là tiến, ra lệnh lùi là lùi, nhiều khi có rõ tại sao tiến, tại sao lùi đâu. Theo binh pháp thì chắc ông trung úy biết, tôi không dám qua mặt, nhiều khi tiến chưa phải là thắng và lùi cũng không có nghĩa là thua.

- Thôi! - Nó quát - Cộng sản lắm cái mồm! Vào đây rồi mà còn lắm cái mồm! Bọn bay khổ vì lắm lý luận, lắm chữ nghĩa quá đấy. Bao nhiêu tuổi?

- Cái gì tuổi cơ?

- Tôi hỏi anh bao nhiêu tuổi?

Thấy hắn đã xuống giọng "anh - tôi" đàng hoàng, tôi khoái trong bụng nhưng ráng không xuống thế:

- Tôi sinh ra cùng với đất nước!

- Nói cái gì?

- Chắc ở ngoài đó ông trung úy không còn lạ gì ông bà cha mẹ chúng ta đều thoát khỏi kiếp nô lệ tủi nhục vào năm 1945. Tôi sinh năm đó.

- Đ. mẹ! Thằng nay chơi xỏ quốc gia. Lính đâu! Cho nó ra sân giẫm gai mây, coi nó còn già hàm được không?

Tôi bị giẫm gai mây thật! Mây rút ở rừng về, chúng đem phơi nắng cho quắt lại, riêng những cái gai dài bằng nửa đốt ngón tay lại dẻo quánh, chỏng lên trời. Chúng rải cả bụi, cả bó như thế bắt tôi giẫm chân trần lên. Giẫm bước thứ nhất, gai đâm lút gan bàn chân buốt thấu lên tận óc. Giẫm bước thứ hai, mắt nổ hoa cà hoa cải, giẫm bước thứ ba, thần kinh mụ mị không còn biết mình giẫm lên cái gì nữa. Giẫm bước thứ tư... người mạnh nhất cũng té dụi. Té dụi, chúng nó đánh giữa mặt bắt cho đứng lên. Bước tránh chỗ không có gai, chúng nện than củi dài cả mét vào xương ống chân bẻ lái cho trúng gai. Đây là một hình phạt ghê rợn ai đã trải qua một lần đều tởn đến già, chưa nói hai gan bàn chân sưng tấy cả tháng sau mới nhúc nhích được.

Tối đó trở về nhà giam, lên cơn sốt nóng rên hừ hừ, đồng chí bí thư chi bộ đến bên, vừa rửa nước muối vào chỗ đau cho tôi vừa rủ rỉ.

- Đừng làm thế, Sơn ơi! Chúng nó ăn lương chỉ để tìm mọi cách hành hạ mình. Đánh bạc thua cũng kéo mình ra nện. Đi uống rượu về cũng ghé phòng giam quật chơi vài hèo. Thậm chí vào ấp ghẹo gái không xong, trở về cũng trút hận vào đầu tù... Khiêu khích, ăn miếng trả miếng với chúng có ích gì, chỉ thiệt thân.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #56 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 06:48:54 pm »

Ngay lúc đó tôi thấy lời khuyên ấy đúng nhưng càng về sau tôi thấy càng không ổn. Luật tù đày, mình càng xuống nước nó càng làm tàng... Mình gồng lên, dù trước mắt có tổn hại nhưng sau lại thoáng ra. Tuy vậy, qua câu nói của đồng chí bí thư, tôi cũng nghiệm ra một điều: Sự mềm mại khéo léo bao giờ cũng hái lượm được kết quả nhiều hơn sự thô ráp cứng queo.

Ví dụ, nhân một ngày lễ của ta, ngày Quốc khánh mồng hai tháng chín, tên đại tá chỉ huy trưởng nhà tù đi cùng với tên đại tá cố vấn Mỹ xuống thị sát khu tôi. Thông thường vào những ngày này: Ngày toàn quốc kháng chiến, ngày thành lập quân đội, ngày thành lập Đảng, ngày sinh của Bác Hồ... chúng thường vô cớ lôi tù ra đánh chết bỏ, với hy vọng làm thế sẽ tiêu hủy nhuệ khí người tù do ngọn lửa của những ngày lễ ấy hun đúc lên. Về phía ta, ta cũng thường nhân những ngày quan trọng đó mà mở những cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, đòi quyền được đối xử đàng hoàng như những tù bin chiến tranh... Cho nên đó là những ngày rất dễ dàng đẫm máu nếu không có sự chỉ đạo kịp thời.

Hôm ấy cũng vậy. Chắc muốn làm đẹp lòng tên cố vấn Mỹ mày râu nhẵn nhụi có cái cười thật giảo hoạt, tên đại tá Việt Nam bắt cả khu trên năm ngàn tù binh ra sân banh tập hợp. (Nên nhớ, trong tù một số khu có sân banh để lòe bịp các đoàn quốc tế, để xin đô la Mỹ nhét vào túi chứ có trái banh nào lăn ở đó đâu. Sân banh trong tư tưởng người tù thực chất chỉ là cái pháp trường, cái đấu xảo, cái nghĩa địa đẫm máu và nước mắt). Đối diện với năm ngàn người ốm yếu, rách rưới là một tiểu đoàn quân cảnh súng ống lăm lăm trong tay để sẵn sàng hủy diệt nếu có lệnh của thượng cấp. Hơn một trăm cái xác của khu Tân sinh hoạt diễn ra đầu tháng trước đã là một bài học đắt giá với chúng tôi ở những hoàn cảnh tương tự như thế này. Có một sự chỉ đạo chung mơ hồ từ đâu đó lan ra khắp các hàng tù: "Kiên Nhẫn... Hết sức kiên nhẫn và khôn khéo. Bằng giá nào cũng không để rơi vào âm mưu khiêu khích của chúng".

Thằng đại tá Trần Vĩnh Đắc, con rể của tướng Lê Văn Tỵ vung vẩy cái can bị bạc trong tay, giọng ngọt nhạt:

- Thưa các chiến hữu! Xin cứ được gọi các bạn bằng hai chữ chiến hữu và xét đến cùng chúng ta đều là người lính, chỉ khác người lính đứng hai đầu chiến tuyến. Nhưng không sao, chiến tranh thua thắng là sự thường phải không các bạn?

Nó mới nói tới đó, nhưng tôi đã thấy sôi người lên! Ai bạn bè, chiến hữu gì với nó. Hàng ngàn xác chết chôn ngoài nghĩa địa kia là từ đâu nếu không phải từ cái miệng dẻo quẹo có hàm râu con kiến và nụ cười nhã nhặn một cách giảo hoạt của thằng quan thầy nó kia! Nhưng một lực cản vô hình nén đè lồng ngực của chúng tôi lại. Thằng này xưa nay có ra mặt đứng trước tù nhân bao giờ. Bữa nay nó xuất hiện thế này chắc không phải là điều bình thường, chúng tôi chợt linh cảm thấy một điều gì đó ghê gớm đang sắp tiến đến.

- Hôm nay là ngày Quốc khánh của các bạn! Phần nào đó cũng là ngày Quốc khánh của tất cả chugns ta, có phải không? (im lặng) Tôi nói thế bởi vì ông Hồ Chí Minh của các bạn xét theo lăng kính lịch sử nào đó cũng là một thứ anh hùng dân tộc, chỉ tiếc sau đó ông đi sai đường. Rất tiếc, theo lẽ ông đã trở thành một thánh nhân của giống nòi này. Nhân đâu xin báo cho các bạn một tin không vui. Bác Hồ của các bạn đang trên giường chết. Ông sẽ chết như con người ra đời có sinh có tử vậy thôi. Chỉ buồn các bạn đi theo đường lối của ông mà nửa đường đứt gánh. Ông đã đưa tất cả các bạn vô ngõ cụt vô phương.

Tai ù đi, chúng tôi không còn nghe thấy gì nữa! Nó vừa nói cái gì vậy? Có thật như thế không? Hay lại chỉ là một động tác giả mà chúng tôi đã nghe đến nhàm tai. Bởi lẽ, thỉnh thoảng bọn giám thị đi qua, lại nói trổng vào phòng: "Cách mạng chúng mày tới số rồi!... Đại tướng Thanh của chúng mày ngoẻo củ tỏi rồi! .... A ha! Hà Nội bị san thành bình địa, những thằng tù cuồng tín kia có nghe rõ không?" hoặc "Bác Hồ của chúng mày sắp chết rồi!... Chết hồi hôm rồi..." Chúng tôi hơi đâu để ý đến lời khiêu khích gọi đòn của bọn khát máu nên làm thinh, mặc dù lần đầu nghe cũng thấy choáng váng. Chúng tôi bảo nhau: "Nó nói vậy là cách mạng đang lên. Nó nói Bác mất tức là Bác đang sống. Nó sợ, nó đang run sợ, đừng chấp. Được cái, nhắc đến Bác, thằng khốn nạn nhất vẫn phải gọi là "Bác" một cách kính nể, có thằng nào dám buông một lời hỗn láo về Ông Cụ đâu. Khoái!". Nhưng hôm nay lại do chính thằng này nói ra? Một thằng chỉ huy trưởng có học vấn, lại mang khát vọng một tương lai sáng lạn, liệu nó có dám cược cả danh dự của nó lẫn ông bố vợ đại tướng của nó để đổi lấy một trò đùa giỡn chơi có hại đến uy tín này không? Hay là... Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Trong hàng đã có những xáo động khiến bọn quân cảnh vội vàng tiến lên một bước dè chừng.

- Xin chia buồn - cái miệng ngọt nhạt nói tiếp - xin thành thực chia buồn với các chiến hữu phe đối nghịch. Càng đáng chia buồn hơn khi tất cả đều biết rằng bên cạnh cơn hấp hối của ông lãnh tụ Cộng sản đó, chính trị ủy của các bạn đang tan rã, rình rập hất đá nhau để giành quyền lực bá vương. Tin mới nhất: Tướng Giáp đã triệu hồi được hai sư đoàn tinh nhuệ kéo về bao vây Ba Đình, sẵn sàng dùng vũ lực tiếm ngôi.

Thế này thì khốn nạn thật! Nếu nó dừng lại ở mệnh đề thứ nhất thì đã gây được tác động, nhưng nó lại sa đà vào mệnh đề tiếm ngôi sau đó thì khác gì nhại luận điệu của đài BBC mà chúng tôi thường có dịp nghe hồi còn ở ngoài. Thằng con rể dòng dõi này mất tư cách thật rồi.

- Nhân ngày đáng nhớ này - Nó cao giọng - Bộ chỉ huy nhà tù quyết định tăng thêm khẩu phần ăn cho tất cả tù binh 0,1 gram cá mỗi ngày một đầu người.

Chúng tôi bụm chặt miệng để khỏi cười phá lên. Cả gram cá thôi đã phải vứt bỏ, tăng thêm 0,1 gram để làm gì? Thật đốn mạt. Nói đùa, chính câu nói đểu giả của hắn đã làm năm ngàn con người dịu đi. Thử hình dung xem: Nếu hôm đó chúng tôi biết tin Bác ốm nặng sắp mất thật thì điều gì sẽ xảy ra? Mậu Thân đã không đâu vào đâu, (xin lỗi, lúc ấy tôi nghĩ thế chứ đã được hiểu kỹ về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa chiến lược của nó đâu) rồi cuộc sống tù đày khổ ải, bây giờ lại Bác mất nữa thì đời cầm súng vô vọng quá! Vậy còn xá gì nữa mà không xông lên xé xác bọn ăn thịt người đang hiện diện ở ngay trước mặt kia. Năm ngàn con người có thể sẽ chết hết nhưng cái nhà tù này cũng chẳng còn gì. Thật phúc cho chúng nó và cũng... còn may cho chúng tôi.

Nhác thấy câu nói của mình không gây một hiệu quả gì trong đám đông, thậm chí những ánh mắt giễu cợt tù đó bay lên tỏa vào thân hình hắn, lại thêm cái nhún vai không mấy hài lòng của viên cố vấn Mỹ đứng cạnh chẹn ngang lấy họng, tên đại tá bảnh bao và choáng lộn những khuy bấm, khuy cài trên quân phục thoắt nổi giận, y vẫy tên trung tá Phước, trưởng ban chiến tranh chính trị lại gần, vừa nói cái gì đó vừa xỉa đầu can xuống đám tù đen đặc hết nửa sân banh. Tên Phước gật đầu rồi bật ngón tay. Một đại úy to con, đen đúa như người Nùng bước ra. Tôi nhận ra hắn là trung úy Long, giám thị trưởng nổi tiếng về sự tàn bạo và cũng chính vì thói quen tàn bạo đó mà hắn được vinh thăng từ thiếu úy lên trung úy, từ giám thị thường lên giám thị trưởng nội trong vòng ba tháng. Thằng này lấy chủ trương đàn áp làm sách lược. "Thằng cứng đá cho mềm, thằng mềm đá cho chết, chết rồi cần thiết dựng dậy đánh nữa!". Hắn thường tuyên bố như vậy và nhiều lần ra tay trực tiếp. Nghe đòn hắn học thuật đánh người từ Mỹ về và một khi hắn ra tay thì chẳng mấy người sống sót nổi. "Lành đập cho què, què đập cho què luôn!". Hắn cũng lại nói như thế và làm đúng như thế. Hắn đập tù ở mọi nơi, ở mọi lúc. Vợ hắn lên thăm, hắn vẫn đập, đập xong rồi thở hồng hộc cho vợ quạt mát rồi trở vào đập nữa. Mẹ hắn lên thăm cũng vậy. Bà mẹ đi đạo, không chịu nổi hành vi của con, đã buông lời khuyên: "Mày làm ác, sau này xuống địa ngục bị bỏ vạc dầu đó con". Nó trả lời: "Trước khi tôi bị bỏ vạc dầu, tôi cho mấy thằng Cộng sản cuồng tín này vào vạc dầu trước đã".
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #57 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2011, 11:26:49 am »

Kềnh kệnh chuyển dịch cái thân xác nặng ít nhất 80 kilo ra trước hàng người, tiếng nói ồm vang như phát ra từ chum vại, tên trung úy ác ôn gườm gườm:

- Đ.mẹ! Bây giờ hô nghe bay! Tao hô gì thì bọn bay hô y sì theo đó. Thằng nào không hô bắn bỏ tại trận.

Phương án này các chi bộ Đảng chúng tôi đã dự kiến nên chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Những ngày đâu, chúng cũng tập họp bắt tù hô tầm bậy tầm bạ, anh em chưa có kinh nghiệm nên chơi rắn trở lại, rút cục chúng nổ súng xối xả làm thiệt mạng hàng chục người. Đầu óc thân thể chúng tôi căng chằng để chuẩn bị đối phó. Đây thực sự là một cuộc đấu trí mà cái giá phải trả là mạng sống của mình, và toàn bộ nội dung của sự đấu trí đó là cách hô lái để chuyển đổi ý nghĩa, vậy thôi.

- Nước Nam là của người Nam - Nó hét.

Câu này chuyển đổi không khó, chỉ việc đệm chữ "Việt" vào trước chữ Nam cuối cùng là xong, chỉ có điều phải đệm thật nhẹ, đệm bằng hơi gió, đệm như không đệm gì cả mới ổn. Chúng tôi hô:

- Nước Nam là của người Việt Nam...

Không rõ có hài lòng hay không, trung úy Long gào tiếp:

- Quân lực Việt Nam cộng hòa bất khả chiến bại!

Câu này rắc rối hơn một tí. Bất khả là không có khả năng. Khả năng là có, vậy chỉ còn cách hô ghép "bất khả thật nhanh "bất" hô nhẹ "khả" nhấn mạnh nghe như chỉ có mỗi chữ "khả" thôi. Bởi lẽ hàng ngàn con người đều hô thì việc còn hay mất, nhẹ hay nặng một chữ thật khó mà phân biệt. Tất nhiên, năm ngàn người không phải người nào cũng hô lái, được như thế, chủ yếu trông vào mấy hàng đứng đầu đã có ý sắp đặt trước, những hàng đứng sau chỉ cần ầm ào theo. "Quân lực Việt Nam cộng hòa... khả chiến bại!". Bọn tôi hô đúng như thế và lần này cũng thoát.

Câu cuối cùng:

- Chúng tôi nhất quyết không đi theo Đảng cộng sản Bắc Việt - câu này tương tự như câu trên, chỉ việc "nuốt" khéo đi chữ "không".

- Chúng tôi nhất quyết... đi theo Đảng cộng sản Bắc Việt!

- Tốt! Thứ tự giải tán!

Đại loại là như thế anh ạ! Thực ra xét đến cùng là hòa. Nó tưởng mình hô theo nó, mình biết mình hô theo mình. Nó có biết nó thua đâu và nó cũng đâu có hay mình thắng, nếu sau này nó phán đoán ra thì cũng muộn màng rồi, có thằng nào tự tay vả vào mặt mình bao giờ.

Nhưng nó lại có tác dụng khích lệ tư tưởng và siết chặt đội ngũ tù binh ghê lắm! Năm ngàn con người đều phát ra những lời thề công khai giữa nắng gió, phát ra từ lồng ngực u uẩn của mình kia mà.

Tuy vậy, đêm hôm đó về trại, tất cả chúng tôi đều không ngủ được. Lời thông báo của thằng đại tá Đắc cứ ám ảnh chúng tôi. Cả trại muốn ngồi dậy, muốn hỏi nhau, muốn tìm ở các đồng chí lãnh đạo một lời khuyên, một lời giải đáp nhưng không dám nhúc nhích. Đèn trong phòng sáng choang, chỉ cần ngồi tụm năm tụm ba, rì rầm trò chuyện là bọn quân cảnh ập vào thét lác rồi. Có lẽ đêm ấy tất cả chúng tôi, những người tù ở một hòn đảo xa ngái đều nhớ về Hà Nội, nhớ về Bác. Hình ảnh Bác chưa bao giờ sáng rõ trong trí não đã từng chai mòn đi vì những trận đánh đập bạo tàn của bọn như đêm nay... Bác Hồ ơi! Bác đừng chết nhé! Bác không thể chết... Cuộc chiến tranh còn đang lâu dài ác liệt, chúng cháu đang khổ cực lắm... Bác đừng bỏ chúng cháu mà đi... Bác Hồ ơi!

Trong đêm giá lạnh hun hút khí núi tràn về, những người tù không manh quần tấm áo nằm co quắp lấy nhau trên bệ xi măng đã thành tâm nguyện cầu như vậy. Hy vọng như vậy.

Đó là đêm mồng hai tháng chín năm 1969. Bốn mươi ngàn tù binh Phú Quốc đều chẳng ai ngờ rằng, đấy chính là đêm Bác vĩnh biệt dân tộc ra đi mãi mãi. Tin này mãi đến tối ngày hôm sau, tối mồng ba, chúng tôi mới biết! Một người lính quân cảnh vốn xưa này, có thiện cảm với trại tù đã chọn đúng phiên gác của mình mở khe khẽ cái đài đen bên hông làm bộ đi qua đi lại trước cửa tù... Ban chấp hành Trung ương Đảng... Hội đồng Nhà nước... Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đau đớn thông báo cho toàn thể đồng bao và chiến sĩ...Giọng chị phát thanh viên Đài tiếng nói Việt Nam nấc nghẹn đã báo cho chúng tôi cái tin khủng khiếp đó. Chúng tôi cũng nghẹn lặng người đi... Thế là hết! Thế là không còn một tia hy vọng mỏng manh nào nữa! Tại sao lại có thể nhanh như thế được Bác ơi... Bác chết rồi! Bác chết thật rồi mà chúng cháu, những đứa cháu, những đứa con của Bác vẫn còn bị giam cầm tủi nhục ở đây! Chúng cháu không thể... Có lẽ đó là đêm đau đớn nhất của cả dân tộc và của cả chúng tôi. Đêm ấy không ai nói một lời nào, chỉ thỉnh thoảng trong phòng giam lạnh lẽo lại vang lên những tiếng thở dài, tiếng sụt sịt và cả những tiếng nấc nghẹn ngào không kìm nén được. Ngoài kia ngay những người lính quân cảnh cũng đi lại khẽ khàng hơn. Dưới ánh sáng đèn tù, thoáng thấy những đôi mắt ngấn lệ của một vài người trong đám lính rằn ri ấy...

Bác mất rồi! Phải biến buồn đau thành sức mạnh, người lính nào chả tự chủ lòng như thế nhưng ở trong tù, biến thành sức mạnh thế nào đây? Thành ra nỗi đau nhân đôi, đau trong sự bất lực. Song cũng kỳ lạ lắm! Chắc anh đã biết trong tù làm gì có đủ quần áo mà mặc; vải áo vải quần xé ra lau vết đau, lau mủ máu, lau vệ sinh sạch trơn rồi, nhưng không hiểu bằng cách nào, sáng hôm sau ngay trước cửa trại đã xuất hiện một hàng chữ trắng viết trên nền đen rộng một tấc, dài hai chục tấc: "Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại". Tôi hiểu đây là kết quả của công tác binh vận hoặc tầm nhìn xa có ý thức chuẩn bị trước của liên chi ủy trại tù. Nói thật anh ạ! Giữa nhà tù khổng lồ đâu đâu cũng rờn rợn khí tử thần, cái khẩu hiệu giống một chiếc băng tang đó thúc mạnh vào ngực ghê lắm! Ngay bọn giám thị cũng bị bất ngờ và choáng váng. Chúng chỉ dám lặng lẽ gỡ xuống rồi đem đi chứ không gầm gào như mọi lần. Bọn quỷ sứ cũng có một góc sâu thẳm trong trái tim đen tối giành cho vị lãnh tụ anh minh mà kích thước bao trùm lên trên cả những hận thù chính trị tầm thường.

Chưa hết! Ít ngày sau, chúng tôi được bên khu sĩ quan ném đá sang báo tin: Bên đó anh em đã thay nhau trích máu vẽ lên một hình ảnh Bác Hồ ngay trên tường thiếc. Sau lại thay nhau? Thân tội tù gầy guộc tựa xác ve, chỉ một người làm sau đủ máu vẽ nên hình Bác? Phải mươi, mười lằm tù góp máu lại mới tạm gọi là có chút màu đỏ nhờn nhợt vạch lên tôn thiếc. Rất tiếc bây giờ cả khu tù không còn lại một dấu tích gì, chứ không trên tường thiếc đó chắc chắn vẫn còn những vệt đỏ mờ mờ. Bởi bì sau đó, bọn giám thị bắt tù cạo rửa, tưới nước thế nào cũng không sạch, làm cách sao hình dạng đôi mắt và hàm râu Bác vẫn hiện ra.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #58 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 06:12:41 pm »

Nghe đến đây, tôi siết chặt tay anh Sơn:

- Quý hóa quá! Rất cảm ơn anh Sơn đã cho tôi nghe được những kỷ niệm xúc động. Cảm ơn!

- Bây giờ tôi kể về vượt tù - Sơn chớp chớp mắt lảng đi cái siết tay của tôi - Nếu nói về vượt tù thì có lẽ nhà lao Phú Quốc là nơi có nhiều cách thức vượt phong phú thiên hình vạn trạng nhất trong các nhà tù toàn quốc. Tôi nói điều này không sợ võ đoán vì nhà lao này toàn quân nhân thì bao giờ cũng giàu năng lực hành động và bản lĩnh hành động. Người lính thường đồng nghĩa với sự quyết liệt phải không anh? Mà hành vi vượt tù đòi hỏi sự quyết liệt dữ lắm về cả phương diện tư duy lẫn phương diện thực hiện.

Ngoài chui rào, ngoài bám gầm e, chui thùng rác, thùng phân, ngoài đào hầm khoét ngạch... Một trong những phương diện quyết liệt ấy là đánh lộn, cướp súng trốn tập thể. Đây là dạng thức hữu hiệu thường được anh em áp dụng nhất.

Như anh đã biết, tù không phải chỉ là tù ngồi một chỗ. Ngày ngày, chúng sử dụng anh em đi làm đủ trò tạp dịch: bẻ củi, đào hào, chặt gỗ, dọn chuồng phân hố xí, giặt giũ, rào hàng rào... Nói chung đi bẻ củi về cho nhà bếp hay đi chặt gỗ trên núi về củng cố nhà trại là thứ tạp dịch chúng tôi chấp nhận. Nhưng bắt tù bỏ sức đi đào công sự, làm hàng rào để trói chặt thêm đời tù túng là chúng tôi không chịu. Không chịu luôn cả những tạp dịch tầm bậy như dọn chuồng phân hố xí cho lính hoặc nấu nướng giặt giũ, lấy củi cho vợ con nó. Các cuộc đấu tranh thường nổ ra ở mấy nội dung này và máu người tù cũng hay đổ ra ở đó. Đổ thì đổ nhưng phải đi hầu hạ kẻ thù và vợ con kẻ thù là dù có chết chúng tôi cũng không chịu. Sau này, thấy găng quá, chúng cũng bỏ qua luôn việc này.

Trở lại việc ra rừng bẻ củi. Rừng gần thì đi bộ. Rừng xa thì nhảy ô tô. Thoạt đầu chúng còn chủ quan lơ là cho rằng tù binh Phú Quốc có cho chạy cũng chẳng biết đi đâu nữa huống chi là trốn. Và chúng áp tải tù lấy lệ. Mười tù, có khi hai mươi tù chỉ có một hay hai lính cầm ngang súng nghễu nghện đi theo trông coi. Và gọi là trong coi cho có vẻ chứ vào mí rừng rồi là chúng bỏ mặc anh em, bấm nhau mò vào ấp kiếm rượu, kiếm gái giải khuây rồi chiều lại, huýt còi tập hợp tù trở về. Thật đơn giản và nhẹ nhàng. Thời gian đó tù không có hiện tượng trốn thật. Núi rừng mênh mang biển trời bát ngát, biết trốn đi đâu về đâu? Sau đó, nhờ có mấy trận đánh phục kích cướp tù của lực lượng cách mạng huyện thành công nên anh em mới hình thành ý thức vượt ngục và bọn lính cũng kìm kẹp gắt gao hơn. Trước là một kèm mười, sau là một kèm năm... một kèm hai. Thấy tù vẫn trốn được, chúng áp dụng luôn tỉ lệ một kèm một. Tỉ lệ này xuất hiện sau Mậu Thân, khi lượng tù lên quá nhiều. Anh thử hình dung mười người tù lẻo khẻo đi té lên té xuống lại có mười thằng lính vâm vạm, súng ống lăm lăm ghì gầm bên cạnh thì làm sao còn thoát được nữa.

Vậy mà chúng tôi vẫn thoát đó, thoát được cả bốn mươi hai người một lúc. Lần thoát đông đảo nhất trong các lần thoát ngục. Nhưng riêng tôi lại không thoát, thế mới khốn khổ chứ. Tôi xin kể.

Mùa mưa sắp đên, biết rằng chúng sẽ huy động tù đi bẻ củi ồ ạt để dự trữ, nên chúng tôi ngấm ngầm chuẩn bị. Trước hết là thành lập một đội hình ngon lành gồm toàn những người trẻ khỏe và chí cốt. Trẻ khỏe thì dễ rồi! Trong hơn một trăm người oặt ẹo, anh nào có sức một chút là lựa được ngay. Khái niệm "có sức" ở đây có nghĩa là còn ăn uống, còn đi lại được. Và thực chất chúng cũng chỉ chọn những người như thế để vào rừng. Vậy là cả ta lẫn địch đều ngầm chọn một đội hình sao cho thật khớp. Còn "chí cốt" thì cũng không khó mấy. Chỉ cần ở với nhau vài tháng là biết tư chất của nhau ngay. Anh nào gan góc, anh nào nhu nhược nó lộ ra lồ lộ không thể lẫn lộn được. Chí có cái anh làm mật vụ, làm chỉ điểm có khó phát hiện hơn một tý nhưng vẫn cứ lòi ra. Tuy nhiên, không chỉ căn cứ vào phong độ, tư chất chung chung. Từng tổ đảng, từng chi bộ bí mật đứng ra cử người, chọn người. Có người được chọn lại không muốn ra, có người không được chọn lại tình nguyện xin ra. Thành thử vấn đề nhân sự cũng xáo trộn rắc rối lắm.

Có nhân sự ổn định rồi, chúng tôi bắt đầu tranh thủ tập luyện. Trong tập luyện có cả rèn luyện thể lực và tập luyện kỹ thuật. Tập luyện lén thôi, tập luyện trong đêm, giờ ra sân hóng gió buổi chiều. Tập luyện hai người, ba người một. Tập luyện không cho kẻ thù đoán biết và không cho cả nội bộ được hay. Nước đời tù tội khó thế đó. Có khi đối phó trong nội bộ còn phức tạp hơn đối phó với kẻ thù.

Tất nhiên, trong năm mươi người phải có một người cầm đầu. Đây là một trận đánh táo bạo, có lên phương án thì dứt khoát phải có người chỉ huy. Có đó hoàn toàn bí mật, cái đó không thể công khai bàn tán, cử ra. Người chỉ huy cũng như người chủ trì Đảng thường là người khuất bóng nhất, thậm chí còn làm ra vẻ con người cầu an tiêu cực nhất để dễ bề che mắt, dễ bề chỉ đạo lãnh đạo. Nghĩ cũng hay! Trong lao tù, tất cả những khái niệm về địa vị, về quyền lực đều được xem xét dưới dòng chính thống. Chỉ huy ư? Lãnh đạo ư? Có vinh dự bổng lộc gì đâu ngoài một quyền lợi duy nhất: quyền lợi được khổ trước, chết trước mọi người. Chuyện kết nạp Đảng cũng vậy. Trong tù, qua thử thách, có những đảng viên thối chí không được mời sinh hoạt, có những đảng viên gần như vô hình bị loại ra khỏi Đảng (tôi nói "vô hình" bởi lẽ làm gì có một công văn chính thức quyết định hay khai trừ và ai đứng ra ký?). Nhưng cũng có những quần chúng ưu tú được gia nhập Đảng. Vào Đảng lúc này có nghĩa là tự đứng vào đội ngũ những người tính nguyện hy sinh vì sự sống của anh em. Cho nên khái niệm địa vị và quyền lợi chính trị lúc này thật hết sức trong sáng, hết sức nhân văn. Tôi nói thế không hiểu có đao to búa lớn quá không nhưng thực chất đúng là như vậy.

Tôi có một nghĩ ngợi bên lề: Trên chiến trường, người lính được sàng lọc hết sức ngặt nghèo, cái giả, cái thật, cái xấu cái tốt, cái cao thượng, cái thấp hèn không có chỗ lộn sòng. Người lính trong ngục tù, lại một lần nữa được sàng lọc nghiệt ngã hơn. Những cái gì bên ngoài còn mù mờ đánh lận được, vào đây được phanh phui ra hết. Vậy mà...
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #59 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2011, 06:35:43 pm »

Anh Sơn ngừng lại, trên vầng trán của người dạy triết cấp đại học thoáng ưu tư. Nắm bắt được điều đó, tôi hỏi:

- Vậy mà sao anh? Anh cứ coi tôi là bạn tâm tư...

- Vâng! Vậy là từ lò lửa địa ngục trở về, người lính bị đánh đổ đồng như nhau hết. Cũng buồn...Nhưng mà thôi - Anh cười - Tính tất yếu của lịch sử phải không anh? Tôi nói đến đâu rồi? À... Đang nói về người cầm đầu. Người cầm đầu đó có thể nhiều anh em không biết nhưng tôi nghĩ rằng tôi đoán ra. Đó là một đại úy trinh sát chủ lực, nhưng vào đây anh chỉ khai là thượng sĩ anh nuôi, mang biệt danh Tư Lì, còn tên thật là gì, thú thật tôi không hay. Nghe nói anh này ngày trước là võ sư nhất đẳng huyền đai, tức võ sĩ đai đen gì đó. Trong tù kham khổ đói khát là thế mà anh ấy vẫn rất linh lợi, rắn rỏi. Trước khi đi ngủ và buổi sớm tỉnh dậy, bao giờ anh cũng đi mấy bài quyền cho mồ hôi vã ra rồi làm gì thì mới làm. Thân thể anh ấy hầu như miễn dịch với tất cả các bệnh hắc lào, ghẻ lở và phù thũng mà người tù thường mắc. Tính anh ấy trầm lặng, hay ngồi im tọa thiền hàng giờ không nói năng, không vui buồn, không giận dữ, chỉ có đôi mắt trũng sau là ánh đỏ lên, nên chúng tôi kêu anh là Tư Lì. Tư Lì bằng việc làm của mình đã kéo theo được hàng chục người, trong đó có tôi, sáng tối tập luyện như anh. Tập cho qua thời gian, cho thoáng đãng phần nào trong đầu, cho khỏi u uất đập đầu vào tường mà chết chứ tập hay không tập cũng thế thôi. Tôi nghĩ vậy, cho đến khi đội hình thoát ngục được bí mật hình thành, tôi mới láng máng nhận ra hành động và vai trò của con người lì lợm gần như sống thoát ra ngoài mọi người này. Một tuần sau, đúng như dự đoán, thằng giám thị kêu ông trại trưởng cắt 42 người đi bẻ củi. Đã có thống nhất ngấm ngầm từ trước, ông trại trưởng kêu tên những người đã dự kiến ra khỏi hàng. Tất nhiên 8 người nào đó phải ở lại. Rất buồn là trong tám người không may đó lại có tôi. Hẫng hụt một chút nhưng không sao! Không ra lần này thì ra lần khác dù mỗi lần ra mỗi khó hơn. Miễn là 42 anh em kia lần này trót lọt.

Ho đi rồi, cả ngày hôm đó, dù làm gì thì làm nhưng trong lòng chúng tôi nóng như có lửa đốt. Ai cũng hướng về mé rừng cầu mong cho anh em mình đừng gặp điều rủi ro gì, cầu mong cho đừng nghe thấy tiếng súng nổ từng tràng. Giật súng chạy trốn mà còn để nghe súng nổ thì có nghĩa là hết, là bại là sẽ không còn một ai sống sót trở về cả. Căng thẳng và nặng nề lắm! Nặng nề đến nỗi thằng giám thị cũng phải kêu lên: "Bọn bây chết vợ cả rồi hay sao mà nín khe vậy?".

Cho đến trưa vẫn không nghe thấy động tĩnh gì, chúng tôi đã khấp khởi mừng thầm. Thành công rồi! Thoát rồi! Cố gắng lên các đồng chí ơi! Các bạn cứ yên tâm ra trước. Ngày mai chúng ta sẽ gặp lại nhau tại một căn cứ trong rừng!

Thế rồi vào khoảng xế trưa, một tín hiệu nữa khẳng định thêm mong mỏi của chúng tôi: Từ sân bay, chiếc trực thăng vội cất cánh bay xiên bay xéo vào tất cả các cánh rừng lân cận. Liền đó, trong khu vực nhà tù thấy bọn quân cảnh chạy qua chạy lại nhộn nhạo cùng với hàng đàn chó săn được xua tới tỏa ra ngoài hàng rào. Chúng đang hốt hoảng đi lùng sục hòng bắt lại anh em mình. Vấn đề là có thoát ra khỏi tầm truy lùng của chúng nó không? Ngồi trong phòng giam, lòng dạ chúng tôi một lần nữa bồn chồn khôn tả. Cứ một tiếng tắc độp của đạn thẳng, một tiếng cảo đùng của rốc két thả từ trên máy bay xuống từ nơi xa vẳng đến là lồng ngực ai nấy đều nhói lên như chúng bắn, chúng thả vào chính con người mình.

Đến chiều tối thì mọi việc lại trở về vẻ yên ắng thường ngày. Người lính quân cảnh đeo đài cho chúng tôi biết tin Bác mất hôm nào, đã tìm cách thông báo cho chúng tôi toàn bộ diễn biến của sự việc...

Vừa ra khỏi trại, 42 tên quân cảnh, đúng, 42 tên không hơn không kém đã bắt đám tù đi dồn cục lại, còn chúng nó đi rải rác thành thế chặn đầu chặn đít để phòng ngừa bất trắc. Kiểu đi thế này thật bất lợi, 42 tù làm sao có thể dứt gọn được 42 lính ở tư thế lệch như vậy. Cho nên phải nén nhịn chờ thời cơ. Thời cơ nào? Chắc chắn nó không thể xảy ra lúc đi, cái lúc mà đối phương còn hoàn toàn tỉnh táo và ra sức đề phòng rồi. Vậy chỉ còn chờ lúc về. Lúc về hai bên đều mệt và đói. Ta thì bó củi lặc lè trên vai, nó thì đã có phần nào chểnh mảng, dưới sự điều khiển ngầm của anh Tư Lì (Sau này khi ra gặp lại, anh em còn sống sót có kể), bằng cách nào đó như giả vờ đánh tuột củi, giả vờ vấp ngã, giả vờ đi nhanh, đi chậm lại... để gióng đều được hàng với tụi lính. Tức là tụi lính đi hàng dọc trên bờ đê, anh em đi hàng dọc dưới thấp sao cho cứ một người tù đi kèm được một người lính, không để quãng cách quá so le. Bọn lính không để ý, chỉ muốn mau mau áp tải được cái đám tù "của nợ" này về trại đặng còn du hí với vợ con, với cờ bạc nhậu nhẹt. (Anh nên lưu ý: Vợ con lính không ở cố định kiểu khu gia đình như một số nơi khác mà chỉ thỉnh thoảng lên thăm chồng con ít bữa rồi lại về. Vợ con bọn giám thị, bọn chỉ huy tối cao cũng thế).

Còn cách trại khoảng ba cây số, thấy đội hình ta đã áp sát đều đội hình địch, một người - như đã tập luyện và phân công trước, lăn đùng ra, chân tay giãy giụa như bị trúng phong. Cả hàng lính đột ngột dựng lại và thằng lính đi kế đó hạ súng bước tới kẻ bị nạn... Tôi mở ngoặc đơn một chút. Có lần ở trại tù bên cạnh, anh em làm động tác giả khéo hơn là đang đi, một người chìa tay ra hộp quẹt zip bô đã chuẩn bị sẵn vào mắt thằng trưởng toán: "Có phải quẹt này của ông không?" Nổi máu tham nó nhận bừa, vừa chìa tay ra là bị tóm ngay lấy quật ngã luôn. Nhưng đấy là một toán nhỏ hai, ba thằng, còn đây là cả một trung đội 42 tên... Tôi kể tiếp! Thằng lính hạ súng bước tới kẻ bị nạn... Thời cơ hành động đã điểm. Tư Lì hô lên một tiếng "sát" rợn người... Nhanh như cắt, theo một thế võ tước súng, quật ngã đối phương đã được bí mật tập luyện thành thạo trong trại, từng người quăng của nhào tới tên lính của mình. Trong chớp mắt, 42 tên lính hoàn toàn bị tước vũ khí. Đứa ngã dúi dụi, đứa loáng quáng đưa hai tay lên trời, đứa bỏ chạy thục mạng, đứa lại cứ đứng chết trân, nằm há hốc không hiểu gì cả... Lệnh không được bắn ban ra - Đây là một cái lệnh hết sức sáng suốt vì nếu không, hận uất bao ngày dâng lên, dứt khoát anh em sẽ đánh đòn thù và để rồi sau đó, hàng chục hàng trăm anh em khác còn trong vây hãm sẽ bị trả giá tàn khốc - Và theo phương án đã phổ biến, từng tổ nhanh chóng tản khai vào rừng...

Đúng lúc ấy trực thăng bay lên vào quân cảnh từ mọi hướng túa ra... 42 người là 42 thực thể xa lạ, không hề có khái niệm gì về địa hình, đường xa nên cứ hướng rừng mà chạy. Kẻ thù đoán biết điều này và chúng cũng có phương án rượt tù của chúng nên dần dần anh em bị chết tắc trong vòng vây. Trên trời trực thăng thả rốc két, dưới đất lính dàn hàng ngang càn từng thước rừng... Thỉnh thoảng lại vang lên một tràng đạn khoái trá... CHo đến mãi một tuần sau, 42 anh em chỉ chạy thoát về căn cứ Dương Tơ năm người. Số còn lại lần lượt bị bắn gục hết. Số năm người còn lại này, sau những trận chiến đấu ác liệt trên đảo, trên đất liền, cũng thay nhau hy sinh hết... Tất nhiên trong đó có cả người cầm đầu, anh Tư Lì!

Đây là một bi kịch phải không anh? Bi kịch trong chiến tranh nhưng lại có giá trị cổ xúy những người con nằm lại trong vòng vây hãm của kẻ thù. Từ đó, anh em vượt ra nhiều hơn. Người vượt lần sau rút bài học người vượt trước nên hầu hết trót lọt. Sau vụ 42 người này, chính bọn chỉ huy quân cảnh cũng tỏ ý kính nể mình. Thằng Đắc ra lệnh cho bộ hạ chôn cất anh em đàng hoàng, chôn mỗi người một mồ chứ không chôn ù xọe chung đụng như trước kia.

Vụ vượt ngục táo bạo này rung động tới cả nội các Sài Gòn. Đại tá Đắc dù là con rể tướng tổng tham mưu trưởng nhưng số phận cũng chuẩn bị lung lay để chuẩn tướng Tân về thay. Và nó có một độ vang xa trên trường quốc tế. Ba hôm sau đài BBC đưa tin: "Hàng chục tù binh cộng sản Việt Nam đã táo bạo giật súng đối phương trốn chạy giữa ban ngày. Sự việc này buộc người ta phải xem xét tới trách nhiệm và bổn phận của những quan chức hữu trách liên đới tới nhà tù Phú Quốc".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM