Khởi nguồn đề án tàu hộ vệ tên lửa Gepard-3.9
Đề án tàu hộ vệ tên lửa Gepard-3.9 là kết quả của quá trình hợp tác và chuyển giao công nghệ nghiên cứu, thiết kế tàu chiến đấu giữa các đơn vị thiết kế tàu quân sự hàng đầu của Việt Nam và Liên bang Nga, nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ của lực lượng hải quân và ngành công nghiệp đóng tàu quân sự Việt Nam trong giai đoạn mới, đồng thời phục vụ hoạt động xuất khẩu vũ khí hải quân của Nga nói chung, cũng như duy trì năng lực nghiên cứu và đóng mới tàu quân sự của các đơn vị trong ngành công nghiệp tàu quân sự liên quan của Nga nói riêng.
Cuối thập niên 1980, những cuộc gây hấn và xâm lấn do lực lượng tàu thuyền dân sự và nhà nước nước ngoài thực hiện trên những khu vực biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam tại khu vực Biển Đông diễn ra ngày một gia tăng nghiêm trọng. Để bảo vệ vững chắc chủ quyền trên biển và chiến đấu phòng thủ biển đảo khi có tình huống phát sinh, lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam cần được trang bị và tái trang bị các loại tàu chiến đấu mặt nước hiện đại và có khả năng chiến đấu cao.
Dựa vào tiềm lực công nghiệp quốc phòng và khả năng đáp ứng của nền kinh tế trong nước, cũng như cân nhắc tình hình khu vực và quốc tế những năm đầu thập niên 1990, các viện nghiên cứu chiến lược và chuyên ngành thuộc Bộ Quốc phòng và Quân chủng Hải quân đã đề xuất chiến lược phát triển trang bị vũ khí, khí tài hải quân đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020, trong đó tập trung vào việc phát triển nội lực công nghiệp đóng tàu trong nước thông qua hoạt động tiếp thu chuyển giao và từng bước làm chủ công nghệ đóng tàu quân sự để tiến tới tự chủ tất cả các công đoạn thiết kế, đóng mới, sửa chữa, nâng cấp, cải hoán các loại tàu quân sự hiện đại phục vụ quốc phòng.
Đại tá Đào Ngọc Thạch – Viện trưởng Viện thiết kế tàu quân sự Tổng cục Công nghiệp quốc phòng là đơn vị thiết kế tàu chiến trong nước đầu tiên tiếp xúc với chương trình đóng tàu hộ vệ tên lửa 2000 tấn (ảnh:
www.ctwel.com)

Trong khuôn khổ chiến lược phát triển trang bị vũ khí, khí tài hải quân được Bộ Quốc phòng phê duyệt, Viện thiết kế tàu quân sự thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và Kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp quốc phòng) và Bộ tư lệnh Hải quân được giao chuẩn bị chương trình đóng tàu đến năm 2000 (mã số chương trình ĐT-2000), với mục tiêu cụ thể là qua trung gian Rosoboronexport đặt mua đề án thiết kế chi tiết các loại tàu hộ vệ tên lửa thế hệ mới được thiết kế phù hợp với quan điểm và địa bàn tác chiến biển đảo nước ta từ các viện thiết kế tàu quân sự có uy tín của Liên bang Nga, rồi tự đóng trong nước dưới sự cố vấn kĩ thuật của chuyên gia bạn. Năm 1997, ban soạn thảo dự án “Chương trình ĐT-2000” đã chọn sơ bộ bản vẽ tuyến hình và bố trí chung của một số mẫu tàu hộ vệ tên lửa cỡ nhỏ và cỡ lớn do các viện thiết kế tàu quân sự phía Nga cung cấp, trong đó
Viện thiết kế đề án Phương bắc (
Северное проектно–конструкторское бюро =
СПКБ) cung cấp 2 mẫu: tàu hộ vệ tên lửa hạng nhẹ PS-500 và tàu hộ vệ tên lửa cỡ lớn KBO-2000.
Hình chiếu dọc và bố trí chung các mẫu tàu hộ vệ tên lửa KBO-2000 và PS-500 do Viện thiết kế đề án Phương bắc cung cấp cho dự án ĐT-2000 (hình sưu tầm)

Trong khi ban soạn thảo đang hoàn chỉnh dự án đóng mới tàu hộ vệ cỡ lớn “Chương trình đóng tàu K” để trình cấp thẩm quyền phê duyệt vào đầu năm 2000 thì xuất hiện nhiều thông tin bất lợi từ quá trình hoàn thành, thử nghiệm và nghiệm thu tàu hộ vệ tên lửa đề án PS-500. Chiếc tàu hộ vệ BPS-500 đầu tiên (số hiệu HQ-381) thuộc Chương trình đóng tàu P gặp nhiều trục trặc trong quá trình đóng, cũng như không đáp ứng được các tiêu chí đồng bộ và vận hành trong giai đoạn thử nghiệm và kiểm định nghiệm thu vào nửa đầu năm 2001. Sự thất bại của Chương trình đóng tàu P có nhiều nguyên nhân phát sinh từ việc lựa chọn đơn vị thiết kế phía Nga, từ hiệu quả của đơn vị tham mưu, giám sát, kiểm định chuyên ngành và kinh nghiệm tiếp thu chuyển giao công nghệ đóng tàu trong nước. Hệ quả là dự án “Chương trình đóng tàu P” được thay bằng dự án “Chương trình đóng tàu M”, theo đó kết hợp đặt đóng mới và chuyển giao công nghệ đóng tàu M trực tiếp tại Nga kèm theo giấy phép đóng loạt tàu M tại Việt Nam, còn dự án “Chương trình đóng tàu K” phải làm lại từ đầu. “Chương trình đóng tàu K” được điều chỉnh và phê duyệt sau này vào năm 2003 chính là khởi nguồn của chương trình đóng tàu Gepard-3.9.
(
còn tiếp)
Bài tổng hợp có sử dụng tư liệu từ một số thủ trưởng cao cấp đang công tác tại BQP và được chỉnh sửa theo qui định bí mật CNQP 