thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2011, 11:15:13 am » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU) ____________________________________________________________________________________
.... (Tiếp theo) c) Các biểu thị ý định khácCó ít dấu vết về các ý định của Chính phủ Đài Loan. Tuy nhiên, năm 1956, chính phủ này khi đối mặt với các yêu sách của Philippin đối với quần đảo Trường Sa đã tìm cách nêu ra các quyền của mình (101). Và việc tăng cường các công sự ở đảo Ba Bình đã kèm theo các cuộc đối thoại năm 1971 với chính phủ Philippin, trong đó mỗi bên khẳng định lại các quyền của mình. Lập trường của Philippin khá dao động về mặt ý định. Biểu thị đầu tiên về chủ quyền của nước này (đối với quần đảo Trường Sa) là vào năm 1951. Nhưng 20 năm sau, Chính phủ Philippin vừa chiếm đóng khá nhiều đảo vừa tuyên bố là không đưa ra các yêu sách về lãnh thổ đối với quần đảo này, nhưng lại đồng thời tiếp tục các cuộc đối thoại về vấn đề đó với Trung Hoa Dân quốc. Như vậy, đến năm 1975, ta thấy: - Trên quần đảo Hoàng Sa, có sự chiếm đóng 100% của Trung Quốc, các yêu sách được duy trì mạnh mẽ của Nam Việt Nam và thái độ của Việt Nam Dân chủ cộng hoà bị mờ nhạt bởi các sự kiện của chiến tranh; - Trên quần đảo Trường Sa, sự thường trực của một yêu sách rất rõ ràng từ phía Chính phủ Sài Gòn tiếp theo sự chiếm hữu của Pháp, và những yêu sách nhiều lần và ít lập luận hơn của hai nước Trung Quốc và Philippin. Tất cả các quốc gia này, trừ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, đều chiếm đóng một số đảo nhỏ. Nước Pháp đã im lặng từ 1956 mặc dù chưa bao giờ từ bỏ chính thức các quyền của họ trên các đảo ở Trường Sa. 4.2 Sự trở lại của một nước Việt Nam thống nhất sau chiến thắng năm 1975Những năm sau 1975 sẽ đem lại ít thay đổi ở quần đảo Hoàng Sa. Các đảo đó đã bị Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chiếm đóng bằng quân sự, cụm phía Đông từ năm 1956 và phía Tây từ năm 1974. Các cơ sở hạ tầng đã được Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc phát triển đáng kể ở đây. Ở quần đảo Trường Sa, sau tháng 4-1975, quân đội Việt Nam thay thế đội quân của chính quyền Sài Gòn trên các đảo nhỏ do các đội quân này chiếm giữ. Năm 1977, Philippin tăng cường bố trí quân sự trên bảy đảo của quần đảo (102). Tháng 9-1983, Malaysia chiếm đóng một số đảo san hô. Cuối cùng, tháng 3-1988, Trung Quốc đưa quân đội đến một số bãi ở Trường Sa; một cuộc đụng độ hải quân quan trọng dẫn đến việc mất một số tàu Việt Nam và một số lớn thuỷ thủ Việt Nam thiệt mạng. Và từ ngày đó, Hải quân Trung Quốc có mặt tại quần đảo này. Đài Loan duy trì một đơn vị đồn trú tại đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa: đảo Ba Bình. Về mặt yêu sách, chúng đã trở nên phổ biến. Trung Quốc duy trì các yêu sách của mình đối với hai quần đảo và tận dụng mọi cơ hội để nhắc lại các quyển lịch sử và khẳng định lại chủ quyền của họ. Philippin đã mở rộng yêu sách của họ đối với một bộ phận quần đảo Trường Sa. Đài Loan giữ các yêu sách của mình. Malaysia, đến chậm hơn, lập luận rằng họ cũng có một số quyền. Việt Nam cảnh giác cao độ trong việc tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với toàn bộ hai quần đảo. Yêu sách này là sự liên tục các quyền của vương triều An Nam xưa kia, sau đó là của Pháp thay mặt cho nước Việt Nam thuộc địa và đã có sự chiếm đóng thật sự hai quần đảo. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm đóng Hoàng Sa năm 1956 nhưng nhất là năm 1974, sau đó đển chiếm đóng một số đảo nhỏ của Trường Sa năm 1988 đã kéo theo sự mất yếu tố vật chất đối với Việt Nam. Chính phủ Việt Nam hình như rất chú ý không để cho việc này chuyển hoá thành một sự từ bỏ do thiếu các dấu hiệu ý định. Vì vậy, chính phủ này đã hết sức lo lắng tăng thêm các dấu hiệu này và không bỏ lỡ dịp nào để nhắc lại các quyền của họ. Chính phủ này đã làm việc này qua rất nhiều hành vi, thông cáo hoặc tuyên bố. Ta thấy những dấu hiệu đó dưới dạng các văn bản hành chính sát nhập các đảo vào một số tỉnh: sắc lệnh ngày 13-7-1961 của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm; Nghị định ngày 6-9-1973 của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hoà; Quyết định ngày 9-12-1982 của Hội đồng Bộ trưởng Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc các văn bản liên quan tới lãnh thổ trên biển, các ấn phẩm sách trắng hoặc các tác phẩm, tư liệu khác, các tuyên bố chính trị tại các cuộc gặp gỡ quốc tế, các phản kháng chống lại các hành vi của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, của Trung Hoa Dân quốc hoặc của tất cả các quốc gia khác liên quan tới các quần đảo như các phản đối ngày 30-12-1978, ngày 7-8-1979, ngày 5-2-1980 và ngày 11-8-1980, hoặc các tuyên bố trong khuôn khổ một số hội nghị quốc tế, nhất là Hội nghị Khí tượng thế giới 1975 tại Colombo và Hội nghị Khí tượng khu vực II (châu Á), khoá 7 tại Giơnevơ tháng 6 -1980. Trong suốt giai đoạn đó, cuộc tranh chấp chắc chắn đã kết tinh từ trước đã đưa mỗi bên đến chỗ tiếp tục hành động nhằm duy trì và cải thiện vị trí của mình. Như vậy, trong hiện trạng thực tế của tình hình và nếu ta đặt ra ngoài trường hợp của nước Pháp, thì có hai nước tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa và năm nước ở quần đảo Trường Sa. ____________________________________________________________________________________________________ 101. Xem Charless Rousseau: Tạp chí tổng quan về công pháp quốc tế, tr. 830 102. Theo Le onde, ngày 12-5-1978 .... Phần tiếp theo: CHƯƠNG IV CÁC KẾT LUẬN VÀ CÁC CƠ SỞ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2011, 03:11:54 pm » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU) ____________________________________________________________________________________
.... (Tiếp theo) CHƯƠNG IV CÁC KẾT LUẬN VÀ CÁC CƠ SỞ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Đã gần ba thế kỷ lịch sử đặt dấu ấn lên quy chế pháp lý của các quần đảo này. Phần lớn các công trình được công bố cho đến nay về chủ đề này đều chỉ tính đến các yếu tố có thể kiểm chứng trong giai đoạn gần đây nhất, nghĩa là sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Các dữ kiện lịch sử cổ hơn thường chỉ được nhắc đến qua việc lặp đi lặp lại các tư liệu do các nước liên quan đưa ra hoặc được các trung tâm nghiên cứu phụ thuộc họ công bố. Về mặt này, đã có một sự mất cân bằng đáng kể về phía có lợi cho luận cứ của Trung Quốc là luận cứ được truyền bá tốt nhất. Trong công trình này tôi cố gắng tiếp cận luận cứ do các quốc gia hữu quan lập ra, nhưng cũng kiểm tra các luận cứ lịch sử cổ xưa nhờ sự giúp đỡ từ nguồn tư liệu của trường Viễn Đông bác cổ của Pháp và từ các lưu trữ của Pháp trong thời kỳ thuộc địa. Việc cân đối lại các nguồn tài liệu tra cứu dẫn tới một sự thay đổi cách làm cho hồ sơ được sáng tỏ. Từ đó, ta sẽ tổng kết qua hai câu hỏi sau: Ta có thể lập được một phác hoạ quyền của bên này và bên khác như thế nào? Luật quốc tệ hiện đại đưa ra các viễn cảnh nào để giải quyết một cuộc tranh chấp phức tạp đến như vậy? 1. THỰC CHẤT CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI CÁC QUẦN ĐẢOCác yếu tố đưa ra ánh sáng qua các giai đoạn lịch sử được xem xét ở trên xác nhận là nên xử lý riêng cho từng trường hợp quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. 1.1 Trường hợp quần đảo Hoàng SaỞ đây chỉ có hai nước liên quan là Việt Nam và Trung Quốc. Các quyền của Việt Nam lâu đời hơn và vững chắc hơn mặc dù các đòi hỏi của Trung Quốc đã được cụ thể hoá nhờ việc chiếm đóng bằng vũ lực cách đây 39 năm đối với một bộ phận quần đảo và cách đây 21 năm đối với bộ phận kia. Việc xem xét một cách chi tiết các danh nghĩa lịch sử như tôi đã cố gắng thể hiện trên các trang trước dựa trên các tư liệu chắc chắn nhất, chứng tỏ danh nghĩa của Việt Nam đã được khẳng định rõ ràng ngay từ đầu thế kỷ XVIII. Các luận cứ mà Trung Quốc viện dẫn cho đến nay không cho phép xác nhận sự tồn tại các mối quan hệ pháp lý xưa của thiên triều Trung Quốc đã tan biến với sự đồng ý của Trung Quốc khi Pháp đến, và trong mọi trường hợp cho thấy không còn tồn tại các quyền có lợi cho Trung Quốc đối với các đảo nhỏ này. Danh nghĩa của Việt Nam đã từng bị suy yếu do sự thờ ơ của chính quyền thực dân trong những thập kỷ đầu tiên của chế độ thuộc địa nhưng không đến mức từ bỏ thật sự bởi vì nước Pháp, bắt đầu từ một thời điểm nào đó, đã quản lý thật sự quần đảo Hoàng Sa và khẳng định rõ ràng các quyền của họ. Mối quan tâm của Trung Quốc đối với các vùng đất không người ở này chỉ có ý nghĩa một yêu sách chủ quyền bắt đầu từ năm 1909. Yêu sách này được khẳng định đối lại với một danh nghĩa của Việt Nam được thiết lập trước đó hai thế kỷ. Trong suốt nửa đầu của thế kỷ XX, chỉ có ba biểu hiện ý chí của Trung Quốc thực hiện các quyền trên quần đảo Hoàng Sa (1909 – 1921 – 1932) và thêm nữa chúng chỉ có thể diễn ra do sự phản đối không đầy đủ của chính quyền thực dân. Nhưng luật phi thực dân hoá xây dựng dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc nhằm bảo vệ các dân tộc, nhất là khi họ bị nằm dưới quyền bá chủ của một cường quốc khác, đã cho phép chống lại các hành động có thể làm tổn hại các quyền không thể chuyển nhượng của họ. Những năm chiến tranh thế giới và thời hậu chiến đã tạo ra những hoàn cảnh khiến cho các đảo nhỏ không có người ở đã nhiều lần bị sang tay (về quân sự). Các nhà chức trách Pháp, và đồng thời với họ là các đại diện người Việt Nam, rồi chỉ có các đại diện của nước Việt Nam sau khi người Pháp ra đi, đã chiếm đóng các đảo trong phạm vi tương quan lực lượng cho phép họ làm việc đó và không bao giờ ngừng khẳng định các quyền của mình. Trên điểm này chỉ có những ngập ngừng xảy ra trong cuộc chiến tranh thứ hai ở Việt Nam, trong một số lập trường của các đại diện của Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Các lập trường này, tuy được giải thích là do hoàn cảnh và do sự phụ thuộc rất nặng nề của Chính phủ Việt Nam vào Trung Quốc, nhưng không thể ảnh hưởng đến nhận xét rằng Việt Nam có một danh nghĩa cao hơn danh nghĩa của Trung Quốc. Bằng sự im lặng trong bản tuyên cáo Cai - rô hay trong hoà ước song phương với Nhật, Trung Hoa Dân quốc đã từ bỏ các quyền của mình. Yêu sách của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thể hiện từ năm 1951 không phải như một sự khẳng định một danh nghĩa lặp lại của thời kỳ trước, cũng không phải như một quyền được rút ra từ tính thật sự của sự quản lý. Chỉ còn lại lợi thế của họ, đó là sự chiếm đóng bằng vũ lực năm 1956 và sau đó năm 1974. Nhưng có hai lý do tạo ra trở ngại cho việc chuyển hoá sự chiếm đóng đó thành một danh nghĩa. Lý do thứ nhất nằm trong quy phạm hiện đại có tính mệnh lệnh về việc cấm sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Lý do thứ hai nằm trong các tuyên bố nhắc đi nhắc lại của Việt Nam phản kháng sự chiếm đóng bất hợp pháp đó, bảo tồn các quyền của họ có từ xưa, bởi vì “ việc sở hữu một lãnh thổ không chấm dứt chỉ do việc mất đi sự chiếm giữ vật chất, cần phải kèm theo việc mất đi đó ý định từ bỏ lãnh thổ” (1). _____________________________________________________________________________________________ 1. Faul Fauchille: “Tranh chấp ranh giới giữa Braxin và Anh”, Tap chí tổng quan công pháp quốc tế, 1904, tr. 138. .... (còn tiếp)
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2011, 10:52:30 pm » |
|
Sau Việt Nam, Philippines, TQ sẽ gây hấn với nhiều quốc gia khác? Các chuyên gia bình luận chính trị quốc tế cho rằng, thứ nhất, mặc dù cả Philippines, Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Brunei đều bị tác động trực tiếp bởi sự bành trướng, đòi chủ quyền phi lý của Trung Quốc song không gian biển của các quốc gia nằm gần Trung Quốc nhất sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Thứ hai, là nếu Trung Quốc không cố khẳng định chủ quyền đối với các không gian biển thuộc về Philippines và Việt Nam thì những tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với các không gian biển của Malaysia, Indonesia và Brunei sẽ vô giá trị. Điều này cho thấy, mặc dù Trung Quốc có thể chấp nhận thỏa hiệp đối với vùng biển ở cực Nam của yêu sách “đường lưỡi bò” thể hiện sự nhận vơ của họ cốt sao giữ cho Malaysia, Indonesia và Brunei không lên tiếng phản đối mạnh mẽ trong lúc Trung Quốc giải quyết tình hình với Philippines và Việt Nam. Như vậy, có thể nhận thấy rằng chưa chắc Trung Quốc rồi đây sẽ tự nguyện hạ giọng trong các tuyên bố chủ quyền đối với những không gian biển thuộc chủ quyền của Philippines và Việt Nam. Mặt khác, nếu như Trung Quốc đạt được ý đồ của họ đối với Philippines và Việt Nam thì chắc chắn sau đó sẽ đến lượt Malaysia, Indonesia và Brunei. Việc Philippines gửi thư ngoại giao cho Tiểu ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc sau vụ bãi Cỏ Rong cho thấy rằng nước này đang áp dụng UNCLOS (Công ước Luật biển quốc tế của Liên Hiệp Quốc) để bảo vệ các quyền của họ ở biển Đông. Các chuyên gia cho rằng nếu Việt Nam cũng sử dụng cơ quan pháp lý này, hai nước sẽ có một khung thông tin, hiểu biết và hợp tác chung. Ví dụ, nếu Việt Nam và Philippines có thể bày tỏ sự ủng hộ lẫn nhau qua con đường ngoại giao trong những sự cố như sự cố bãi Cỏ Rong và tàu Bình Minh 02, Viking 2 thì việc làm đó sẽ có tác dụng tốt trước dư luận quốc tế. Biện pháp căn bản hơn là chuyên gia và nhà ngoại giao của hai nước nên tiếp xúc với những đối tác và người đồng nhiệm ở Malaysia, Brunei và Indonesia để xác định chính xác quần đảo Trường Sa gồm những gì và không gian biển của quần đảo Trường Sa thực sự là bao nhiêu. Bằng cách này cả 5 quốc gia nói trên sẽ thống nhất và vạch rõ được đường ranh giới của những khu vực có tranh chấp và những khu vực không có tranh chấp ở biển Đông. Điều này sẽ giúp cho cả 5 nước với tư cách cá nhân và tư cách tập thể chống lại những ý đồ của Trung Quốc nhằm mở rộng tranh chấp biển Đông tới những khu vực không có tranh chấp. Ngoài ra, về mặt đối ngoại điều này còn góp phần thuyết phục cả thế giới rằng công cuộc đi đòi công lý của cả 5 quốc gia này xứng đáng được cả thế giới ủng hộ. Cách đây nhiều ngày, Ngoại trưởng Philippines đã lên tiếng thúc giục các quốc gia trong vùng đang có tranh chấp biển Đông hãy gia nhập Bộ luật quốc tế ngăn ngừa xung đột vũ trang và thúc đẩy các giải pháp giải quyết tranh chấp. Theo Manila, cần một Bộ luật quốc tế bảo đảm cho mỗi quốc gia liên quan một tiếng nói bình đẳng, bất kể sức mạnh kinh tế và quân sự đến đâu và ngăn cấm mọi hành động đè bẹp luật pháp, ỷ mạnh hiếp yếu, lấn chiếm biển đảo bằng vũ lực. Hiện nay các nước Đông Nam Á và Trung Quốc có một thỏa thuận không trói buộc là DOC nhưng Trung Quốc đã liên tục vi phạm thỏa thuận này. Mặt khác, Ngoại trưởng Philippines cũng nói rằng sự hiện diện quân sự của Mỹ “là đảm bảo an toàn” cho vùng biển có tranh chấp. Bộ trưởng quốc phòng Philipines, ông Voltaire Gazmin nhận định, Mỹ “có quyền lợi trong việc duy trì ổn định, an ninh và tự do tại tuyến hằng hải nhộn nhịp thứ nhì thế giới”. Ông cũng cho rằng sự có mặt của Mỹ có tác dụng răn đe mọi hành động bất hợp pháp ở vùng biển này. Sau tháng 7/2011, một loạt các hội nghị quốc tế quan trọng gồm Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á sẽ được tổ chức. Các nước có tranh chấp chủ quyền biển Đông cần chủ động hơn đối với tình hình khu vực. (Theo Giaoduc.net) Tin đăng lại Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Quansu/THSK/LA89833/default.html
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2011, 10:56:49 pm » |
|
Trung Quốc chuẩn bị đưa giàn khoan khủng ra Biển Đông Bất chấp việc gửi công hàm phản đối của Philippines, Trung Quốc sẽ vẫn triển khai một giàn khoan khổng lồ và bắt đầu tiến hành khoan tại khu vực tranh chấp ở Biển Đông.
Trang web tin tức InterAksyon (Philippines), nhật báo Chosun (Hàn Quốc) đều đăng tải tin tức này. Báo Chosun cho biết, các phương tiện truyền thông Trung Quốc đưa tin, một giàn khoan nước sâu khổng lồ mang tên Marine Oil 981, lần đầu tiên sẽ được thử nghiệm trong tuần này để chuẩn bị cho việc triển khai ở Biển Đông vào tháng 7. Trong khi đó, hôm qua (14/6) trang InterAksyon dẫn lời ông Joey Salceda - Thống đốc tỉnh Albay của Philippines rằng, Trung Quốc sẽ triển khai một giàn khoan khổng lồ tại vùng đang tranh chấp ở Biển Đông. Ông Salceda cho hay, giàn khoan Marine Oil 981 thuộc sở hữu của Tập đoàn Dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC), nhà sản xuất dầu khí ngoài khơi lớn nhất nước này. Tân hoa xã ngày 24/5 đưa tin, Marine Oil 981 là giàn khoan nước sâu khổng lồ, dài 114m, rộng 90m, cao 137,8m và nặng 31.000 tấn. Với kích cỡ mặt sàn bằng sân bóng đá chuẩn, giàn khoan này có khả năng hoạt động ngoài khơi ở độ sâu tối đa 3.000m và khoan khoảng 12.000m chiều dài. Số tiền đầu tư để xây dựng giàn khoan Marine Oil 981 vào khoảng 6 tỉ Nhân dân tệ (923 triệu USD). Nhà thầu là Tập đoàn Đóng tàu quốc gia Trung Quốc (CSSC) đã mất hơn 3 năm để hoàn thành. Được trang bị thiết bị hiện đại cùng hệ thống định vị toàn cầu, CNOOC 981 có thể chịu được những rung chấn do bão lớn gây ra. Hiện giàn khoan này đang trong quá trình thử nghiệm trên biển trước khi được triển khai vào tháng 7. Mặc dù thông tin không đề cập địa điểm cụ thể nơi Marine Oil 981 sẽ tiến hành khoan, nhưng nhiều người tin rằng, đó sẽ là Trường Sa, quần đảo đang tranh chấp. Salceda nói, ông “lúng túng trước hàng loạt tin tức về Biển Đông, đặc biệt là sáu vụ xâm nhập và những tuyên bố cố chấp của Trung Quốc”. Trong thư điện tử, Thống đốc tỉnh Albay nhấn mạnh: “Giờ đây, những lo ngại của tôi đã tìm thấy nguồn gốc sâu xa: Trung Quốc sẽ thiếp lập giàn khoan khổng lồ ở vùng biển tranh chấp vào tháng 7 tới, nghĩa là chỉ ba tuần nữa”. Trong bản tin của mình, Tân Hoa xã từng trích lời Chủ tịch CNOOC rằng, Marine Oil 981 “là cơ hội tốt để củng cố nỗ lực thăm dò dầu khí nước sâu, đồng thời đảm bảo an ninh năng lượng cho Trung Quốc” và rằng, giàn khoan sẽ được lắp đặt trong vùng biển của Biển Đông và bắt đầu thăm dò dầu khí vào tháng 7. Marine Oil 981 thậm chí được mệnh danh là “tàu sân bay” bởi kích cỡ và thiết kế chuyên dụng nhằm đối phó với những cơn sóng mạnh của Biển Đông. Theo tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc, giàn khoan nước sâu sẽ được đưa tới điểm đến bằng các tàu kéo mạnh, sẽ “giúp Trung Quốc thiết lập một sự hiện diện quan trọng hơn ở khu vực phía nam rộng lớn chưa được khai thác của Biển Đông”. Chính khu vực này (bao gồm cả quần đảo Trường Sa) là nơi Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền chồng lấn với bốn quốc gia Đông Nam Á: Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei. Trong tháng 2, một thông tin do đài truyền hình quốc gia Trung Quốc (CCTV) cho hay, CNOOC có kế hoạch đầu tư 350 tỉ Nhân dân tệ (54 tỉ USD) trong 5 năm tới để khai thác tài nguyên dầu và khí tự nhiên. Trong số này, CNOOC dự kiến dùng 20 tỉ Nhân dân tệ để khai thác và phát triển dầu khí vùng nước sâu. "Chúng tôi sẽ tiếp tục tập trung vào việc thăm dò và khai thác ở Biển Đông trong tương lai gần”, giám đốc điều hành CNOOC Dương Hoa nói trong một cuộc họp báo về chiến lược kinh doanh của công ty năm 2011. Ngày 9/6, Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo các nước láng giềng châu Á ngừng tìm kiếm dầu ở gần quần đảo Trường Sa đang tranh chấp, thậm chí còn thề sẽ khẳng định chủ quyền của mình với khu vực giàu tiềm năng dầu khí ở Biển Đông bất chấp chồng lấn chủ quyền với nhiều nước khác (Theo Vietnamnet) Tin đăng lại Nguồn tin: http://vitinfo.vn/Muctin/Quocte/LA89827/default.htm
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2011, 11:38:09 pm » |
|
Biển Đông: Không thể trông chờ lòng tốt của kẻ khác Tác giả: Giáp Văn Dương Lịch sử đã cho thấy, trông chờ vào lòng tốt của kẻ mạnh là một sai lầm. Với chủ quyền quốc gia thì đó là sai lầm lớn nhất và không được phép mắc phải. Vì thế, không còn cách nào khác là phải tự mình cứu mình trước. - TS Giáp Văn Dương đặt vấn đề. ASEAN xé lẻTrong lúc căng thẳng ở Biển Đông ngày càng gia tăng thì nội bộ ASEAN - diễn đàn chính được kỳ vọng giải quyết tranh chấp Biển Đông một cách hòa bình - lại đối mặt với nhiều vấn đề nóng có khả năng gây mất đoàn kết nghiêm trọng trong khu vực. Ngày 9/6/2011 vừa qua, sự kiện tàu cá Trung Quốc được hộ tống bởi 2 tàu ngư chính xông vào cắt cáp tàu Viking 2 của Việt Nam cùng với sự kiện ngày 26/5/2011 khi 3 tàu hải giám Trung Quốc đã vào sâu trong thềm lục địa của Việt Nam, cách mũi Đại Lãnh thuộc tỉnh Khánh Hòa của Việt Nam 120 hải lý để uy hiếp và cắt cáp của tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, đã làm nổi lên những đợt sóng mới, tiếp nối những căng thẳng đã có về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Trong khoảng thời gian đó, Thái Lan và Campuchia lại đang bận bịu với việc đưa nhau ra Tòa quốc tế vì tranh chấp đền Preah Vihear ở gần biên giới của hai nước, sau một thời gian đối đầu bạo lực. Chỉ trước đó không lâu, Lào với dự định xây đập thủy điện Xayaburi trên sông Mekong dưới sự đầu tư của Thái Lan, có nguy cơ tổn hại lớn đến nguồn nước và môi trường sinh thái của Campuchia và Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam, đã gây lo ngại sâu sắc của nhiều giới nhiều ngành, không chỉ ở những nước trực tiếp bị ảnh hưởng, mà còn cả trong một số tổ chức môi trường quốc tế. Tàu Viking 02 của Việt Nam bị tàu Trung Quốc cắt cáp trong vùng 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam. Ảnh PVN Với thực tế đó, ASEAN đang bị xé lẻ trước nhiều vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp đến sự phát triển, ổn định và an ninh của khu vực, đặc biệt với vấn đề tranh chấp Biển Đông, được dự báo sẽ ngày càng phức tạp và có nguy cơ trở thành điểm nóng của khu vực và thế giới. Tranh chấp Biển Đông diễn ra giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Vì thế, ASEAN nghiễm nhiên được coi là diễn đàn khu vực để thương lượng giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Tuy nhiên, Myanmar - một thành viên của ASEAN -lại bày tỏ quan điểm đứng về phía Trung Quốc trong tranh chấp. Một số nước khác chỉ kêu gọi chung chung, không bày tỏ chính kiến rõ ràng vì không có lợi ích trực tiếp ở Biển Đông. Sự đoàn kết nội bộ của ASEAN đang bị thử thách nghiêm trọng. Trên thực tế, thỏa thuận về quy tắc ứng xử của ASEAN và Trung Quốc (DOC 2002) hầu như vẫn chỉ nằm trên giấy, ít có giá trị ràng buộc. Trong khi đó, Trung Quốc với tiềm lực vượt trội về kinh tế và quân sự lại gia tăng áp lực tranh chấp toàn diện và đưa các tàu "ngư chính, hải giám" đi quấy phá vùng biển các nước ASEAN; liên tục dùng ngoại giao chi phiếu và viện trợ quân sự đối với các nước không có tranh chấp trực tiếp để kiểm soát và gây chia rẽ trong nội bộ ASEAN. Tự mình cứu mìnhVậy phải làm gì trong bối cảnh này? Trông chờ vào lòng tốt của Trung Quốc - nguyên nhân chính của căng thẳng bằng việc đòi hỏi 80% diện tích Biển Đông thuộc chủ quyền của mình - hay tự mình cứu mình trước khi quá muộn? Lịch sử đã cho thấy, trông chờ vào lòng tốt của kẻ mạnh là một sai lầm. Với chủ quyền quốc gia thì đó là sai lầm lớn nhất và không được phép mắc phải. Vì thế, không còn cách nào khác là phải tự mình cứu mình trước. Vậy cứu mình bằng cách nào? Không còn cách nào khác là làm cho mình mạnh lên và lôi kéo bạn bè, đồng minh, những người có cùng lợi ích và mối quan tâm đứng về phía mình. Nhưng làm mình mạnh lên bằng cách nào? Không còn cách nào khác là đoàn kết lòng dân, làm cho dân tin. Muốn thế, lãnh đạo phải gương mẫu, bản lĩnh, có tâm có tài, và quan trọng, phải vì dân trước hết, phải đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Vì nhân dân, thời nào cũng thế, đều nhìn vào lãnh đạo để hành xử. Nhân dân phải được tôn trọng và bảo vệ, phải được lắng nghe, phải được thông tin về mọi diễn biến lớn của đất nước. Được như thế, dân sẽ không ngại hy sinh để bảo vệ đất nước. Trong cuộc chiến pháp lý, những nghiên cứu về Biển Đông, được công bố trên các tạp chí và sách báo quốc tế, sẽ có sức nặng quyết định. Vì thế, chính phủ cần công khai khuyến khích và hỗ trợ các trường đại học, các viện nghiên cứu liên quan đến Biển Đông, tăng cường đội ngũ các nhà khoa học nghiên cứu về Biển Đông trong nhiều lĩnh vực khác nhau để từ đó xây dựng cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông. Còn lôi kéo bạn bè, đồng minh? Với ASEAN, do có khác biệt nhiều về Tôn giáo, Văn hóa và Thể chế chính trị, nên những mối quan tâm chung không hẳn đã đồng qui. Việt Nam không thể chấm dứt tranh chấp đền Preah Vihear nếu Thái Land và Campuchia không muốn, cũng không thể quyết định thay cho Lào trong việc dừng xây dựng thủy điện Xayaburi. Vì thế, sợi dây khả dĩ nhất để liên kết các nước ASEAN là triển vọng xây dựng một khu vực an ninh, thịnh vượng và chia sẻ những lợi ích chung thông qua hợp tác, tuy còn ở dạng tiềm năng nhưng có thể trở thành hiện thực nếu biết khai thác. Với Biển Đông, lợi ích chung đó chính là sự bình yên, tự do hàng hải và sự đảm bảo các lợi ích hợp pháp của quốc gia theo Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982. Trong số năm nước có tranh chấp với Trung Quốc thì có đến bốn nước ASEAN, đó là: Việt Nam,Phillipines, Malaysia và Indonesia và cũng không loại trừ Brunei, khi nói đến đường lưỡi bò. Với ý đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc, thể hiện qua "đường lưỡi bò" trong bản đồ họ trình lên Liên hiệp quốc ngày 7/5/2009, thì lợi ích hợp pháp của cả năm nước ASEAN đều bị Trung Quốc đe dọa. Đó chính là một trong những đầu mối quan trọng để liên kết các nước ASEAN trong công cuộc đoàn kết chống lại ý đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Ngoài ASEAN, một số nước khác như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc... cũng có quyền lợi trực tiếp thông qua tự do hàng hải ở Biển Đông, nên việc xiển dương và chia sẻ những lợi ích về tự do hàng hải này cũng sẽ là một động lực để họ đứng về ASEAN trước tham vọng của Trung Quốc. Việc xiển dương những lợi ích chung này, không nên chỉ nằm trong chương trình hoạt động của chính phủ, mà cần thiết phải được triển khai rộng mở đến các tầng lớp nhân dân, thông qua các chương trình ngoại giao nhân dân, ngoại giao văn hóa, trao đổi khoa học, giáo dục, thể thao... Vì suy cho cùng, chính sách và hoạt động của các chính phủ, đều do lòng dân qui định, và chịu điều chỉnh liên tục khi nhận thức của nhân dân thay đổi. Việt Nam, với tư cách là một trong những nước chịu tác động nhiều nhất của tranh chấp Biển Đông cũng như việc khai thác dòng sông Mekong, cần phải là người chủ động hơn nữa trong việc đoàn kết các nước ASEAN, trước hết vì lợi ích trực tiếp của chính mình, sau nữa vì hòa bình và ổn định chung cho toàn khu vực. Ngoài ra Việt Nam cần chính xác và minh bạch các thông tin công bố, chẳng hạn trong sự kiện 26/5/2011: Ban đầu thông tin nói rằng đây không phải là lần đầu Trung Quốc quấy nhiễu các tàu thăm dò dầu khí. Nhưng sau đó, lại có thông tin rằng đây là lần đầu. Điều đó khiến cho giới quan sát bị lẫn lộn, và một số người đã suy diễn rằng tại sao lần này Việt Nam lại quyết định đưa chuyện này ra công khai, còn những lần trước thì không. Vì vậy, một chính sách thông tin minh bạch và nhất quán là điều tối cần thiết đối trong việc bảo vệ chủ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam. Không có sự thông cảm và hiểu biết chung nào tự nhiên đến. Cũng không có thành quả nào tự trên trời rơi xuống. Tất cả đều là kết quả của một quá trình nỗ lực bền bỉ lâu dài. Nên việc Việt Nam cần chủ động có một chiến lược ngoại giao nhân dân, song song cùng việc tăng cường ngoại giao chính phủ, trước một thực tế ASEAN đang bị chia rẽ, là điều vô cùng cần thiết. Nói cách khác, chính phủ và mỗi người dân Việt Nam cần phải là người chủ động trong việc đoàn kết ASEAN để bảo vệ lợi ích của chính mình cũng như hòa bình và an ninh chung trong khu vực. Nguồn:http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-10-bien-dong-khong-the-trong-cho-long-tot-cua-ke-khac
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
barcarra
Thành viên

Bài viết: 171
Họa sỹ của quansuvn.net
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2011, 12:15:36 am » |
|
Nhà dàn nào đây các bác? 
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2011, 07:32:58 am » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU) ____________________________________________________________________________________
.... (Tiếp theo) 1.2 Trường hợp quần đảo Trường SaTình hình của quần đảo này tương đối khác so với tình hình quần đảo Hoàng Sa. Khó mà đưa ra bằng chứng không thể bác bỏ của một sự đồng nhất hoá hai quần đảo trong sự quản lý của các vua An Nam, cho dù trong hồ sơ đã có các dấu vết một sự phân nhiệm các đội thuỷ quân theo phạm vi địa lý khác nhau. Dù tình hình trước thời kỳ thuộc địa như thế nào, thái độ của Pháp đối với hai quần đảo không phải là như nhau. Trong thời kỳ thuộc địa, được rảnh tay do không có yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo xa hơn này, Pháp biểu lộ thái độ mạnh dạn hơn so với sự ngập ngừng ở quần đảo Hoàng Sa. Pháp khẳng định quyền của mình với danh nghĩa người chiếm đóng đầu tiên chứ không phải người thừa kế của nước An Nam. Nhưng ở đấy Pháp đã không gặp sự phản kháng của ai (kể cả Anh vì Anh đã từ bỏ mọi yêu sách) do đó các quyền của Pháp được xác lập rất chắc chắn. Yêu sách của Philippin không thể hiện trước những năm 1970. Yêu sách của Đài Loan phụ thuộc rất nhiều vào thời cơ, gắn với việc thay thế quân đội Nhật sau khi chiến tranh kết thúc (và lúc đó thật ra Đài Loan không có quyền làm việc này). Còn yêu sách của Malaysia rất mới. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có một phát biểu về yêu sách đối với các đảo Trường Sa từ năm 1951. Nhưng đó là một yêu sách trừu tượng, không có một dấu vết nào của sự chiếm đóng thực sự các đảo nhỏ ở cách xa lãnh thổ Trung Quốc này. Việc bắt đầu chiếm đóng một bộ phận của quần đảo này chỉ xảy ra rất gần đây (1988) và là kết quả của một hành động quân sự. Như vậy, về thái độ của Trung Quốc giữa những năm 1951 và 1988 ta có thể nói rằng “chỉ riêng việc phản đối về chủ quyền lãnh thổ không tạo ra một danh nghĩa cho quốc gia nào ẩn mình trong thái độ đó” (2). Còn việc chiếm đóng bằng vũ lực, chỉ có thể nhắc lại là luật quốc tế hiện đại ngăn cấm rất nghiêm ngặt việc chiếm đóng các lãnh thổ bằng vũ lực. Nhưng vấn đề còn được đặt ra đối với trường hợp quần đảo Trường Sa là về diện tích bao la của quần đảo này (160.000 km2), tính thống nhất tương đối của nó và tính thật sự mở rộng chiếm đóng của các quốc gia có yêu sách về danh nghĩa. Hai giả thuyết có thể đưa ra đối với yêu sách hiện nay của Việt Nam. Nếu các bằng chứng về quản lý các đảo này của các hoàng đế An Nam là đủ thì Việt Nam được hưởng một danh nghĩa đối với các đảo Trường Sa, danh nghĩa này có cùng giá trị với danh nghĩa của họ trên quần đảo Hoàng Sa. Bởi vì trong trường hợp này, chính là do không biết lịch sử của Việt Nam mà nước Pháp đã chủ trương chiếm đóng quần đảo này như quần đảo vô chủ (terra nullius). Và như vậy, khôi phục lại việc thừa kế các quyền là thích hợp. Ngược lại, nếu người ta còn tranh cãi các quyền xưa cũ của Việt Nam trên các đảo Trường Sa thì, luận thuyết của Pháp, theo đó Pháp có lẽ đã “phát hiện” ra quần đảo, sẽ dẫn đến một khả năng pháp lý khác. Dù nguồn gốc của nó thế nào đi nữa, danh nghĩa của Pháp có kèm theo một sự chiếm đóng cụ thể, sự chiếm đóng đó chỉ chấm dứt để Việt Nam thay thế chiếm đóng vào năm 1956. Đúng là khi đó Đài Loan và Philipin cũng đã đặt chân lên quần đảo. Lập trường của Pháp chưa bao giờ được làm sáng tỏ hoàn toàn. Lôgic của Pháp là lôgic về chủ quyền của người chiếm đóng đầu tiên, một chủ quyền chỉ có thể chấm dứt bằng một sự từ bỏ rõ ràng. Liệu ta có thể coi các cuộc tranh luận, nhất là tại Đại hội đồng Liên hiệp Pháp năm 1952, mặc dù sự lẫn lộn của nó, đã nói lên một ý chí từ bỏ không? Và ý chí này có được xác nhận bằng sự im lặng ngoại giao của Pháp về vấn đề này không ? Hoặc, ngược lại, có nên chấp nhận rằng việc giải quyết hồ sơ vụ Trường Sa sẽ không thể theo kiểu dứt khoát được trừ phi một lần nữa quốc gia này tỏ thái độ ? Giả sử rằng nước Pháp dứt khoát tách ra khỏi vụ việc này, đồng thời căn cứ trên sự chiếm đóng của Việt Nam ngay từ khi Nam Việt Nam được độc lập và trên sự kiện Pháp đã sát nhập về mặt hành chính các đảo nhỏ này vào Nam Kỳ, phải chăng có lý do để coi Việt Nam là người kế thừa các quyền do Pháp tạo lập nên (3), và kể từ đó các đảo nhỏ này chỉ có thể theo số phận của lãnh thổ sát nhập? Tuy nhiên, với lập luận này hoặc lập luận khác, nếu danh nghĩa Pháp – Việt là lâu đời nhất và vững chắc nhất, thì liệu danh nghĩa ấy có giá trị đối với toàn bộ các vùng đất nổi không? Danh nghĩa ấy có để lại chỗ cho các việc chiếm đóng khác, những việc chiếm đóng bộ phận và vào thời điểm muộn hơn, nhưng cũng có thể tạo ra các quyền không? Nhất là ở ngoài rìa của quần đảo rộng lớn như thế, nơi những mảnh vụn đất này nằm giáp với bờ biển của các quốc gia khác như Philippin hay Malaysia không? Thật khó đưa ra được một câu trả lời thuần túy pháp lý cho câu hỏi này. Ngược lại, thật đơn giản nhận thấy yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo Trường Sa không có cơ sở pháp lý và chỉ là một yếu tố của một chính sách bành trướng trên biển. Về điểm này, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã đi đến bỏ qua cả sự đối địch cơ bản của họ với Đài Loan và đã lấy cả các yêu sách của Chính phủ Trung Quốc thù địch này làm của mình (4). __________________________________________________________________________________________________ 2. Suzanne Bastid: Các vấn đề về lãnh thổ trong xét xử của Tòa án quốc tế, tr. 451. 3. Nghị định ngày 21-12-1933 sát nhập các đảo nhỏ vào một trong các tỉnh của Nam Kỳ: Bà Rịa. 4. Xem Michael Bennett: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật quốc tế trong tranh chấp các đảo Trường Sa, Standford Journal of International Law (Tạp chí về luật quốc tế), 1991-1992, tr. 448. ..... Phần tiếp theo: 2. CÁC TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾT
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2011, 04:32:37 pm » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU) ____________________________________________________________________________________
.... (Tiếp theo) 2. CÁC TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾTLuật quốc tế buộc các nước phải thương lượng. Đó là ý nghĩa điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc mà các nước thành viên trong cuộc tranh chấp này đã ký: “Các bên trong mọi tranh chấp mà việc kéo dài có thể đe dọa việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế phải tìm giải pháp, trước hết, qua con đường đàm phán, điều tra, trung gian dàn xếp, hòa giải, trọng tài, giải pháp pháp lý, dựa vào các tổ chức hay các thỏa thuận khu vực, hoặc các biện pháp hòa bình khác do các bên lựa chọn. Hội đồng Bảo an, nếu xét thấy cần thiết, sẽ yêu cầu các bên giải quyết tranh chấp của họ bằng những biện pháp như vậy”. Thế nhưng người ta không thể bỏ qua các sự kiện là Hội đồng Bảo an rất thiếu tính khách quan cần thiết cho một cơ quan quyết định và điều này là do vị trí đặc biệt dành cho các quốc gia thành viên thường trực được vũ trang bằng quyền phủ quyết (veto). Đúng là Hiến chương đã trù định, tại điều 27, khoản 3, sự không tham dự bỏ phiếu của các thành viên có liên quan tới một cuộc tranh chấp, nhưng sức nặng chính trị đáng kể của các đại cường quốc thì vẫn rất lớn. Như vậy, Trung Quốc, nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an đã ngăn cản mọi sáng kiến của Hội đồng Bảo an trong lĩnh vực này, như ta đã thấy rõ nhất là vào năm 1988 khi Việt Nam toan tính đưa vụ việc này ra trước Hội đồng Bảo an. Do đó, các cuộc thương lượng không phụ thuộc vào sự môi giới của bên thứ ba và chỉ có thể tiến hành trong một khuôn khổ song phương đối với quần đảo Hoàng Sa, đa phương giữa các nước có liên quan đối với quần đảo Trường Sa, nghĩa là tùy theo ý muốn đàm phán thật sự của các bên. Sự phát triển và củng cố các tổ chức khu vực và nhất là sự gia nhập mới đây của Việt Nam vào ASEAN (1995) có thể làm thuận lợi các cuộc đàm phán. Trong trạng thái hiện tại của các sự vật, các triển vọng giải quyết tranh chấp qua các cuộc đàm phán hầu như bằng không. Về quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc khăng khăng rằng không có gì phải đàm phán. Nước này nắm giữ quần đảo bằng quân sự, giữ rất chắc và kèm theo sự việc này là một yêu sách mạnh về chủ quyền. Còn về quần đảo Trường Sa, các cuộc gặp gỡ ngoại giao song phương hoặc đa phương xảy ra từ năm 1988 đã dẫn Trung Quốc tới việc phát triển ý tưởng gác tranh chấp chủ quyền và đàm phán một công thức khai thác chung các tài nguyên của khu vực này giữa các quốc gia hữu quan. Các quốc gia khác không đồng ý do đó đi đến bế tắc. Trong số các bên hữu quan, Việt Nam là nước dường như có cố gắng nhất để có một giải pháp pháp lý cho vụ việc này. Nhưng đúng là việc đi tới các pháp đình quốc tế lại cần phải được tiến hành trên một cơ sở tự nguyện giữa các nước đã ký trước vào điều khoản bắt buộc chấp nhận thẩm quyền của Tòa án quốc tế, đó là một phương cách chung để công nhận thẩm quyền của cơ quan pháp lý của Liên hợp quốc. Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam và Malaysia đã không ký vào điều khoản đó. Năm 1972, Philippin đã thừa nhận thẩm quyền xét xử của Tòa án nhưng với các bảo lưu loại trừ cuộc tranh chấp này (5). Như vậy, không có khả năng cho một trong số các quốc gia hữu quan kiện lên Tòa án quốc tế bằng một yêu cầu đơn phương và hưởng thụ thẩm quyền của tòa án này trên cơ sở của cơ chế đó. Chỉ còn lại khả năng thứ hai đưa kiện lên tòa (hoặc bất kỳ tòa án quốc tế nào khác mà các quốc gia muốn yêu cầu), đó là một bản thỏa hiệp về tài phán. Trong trường hợp này, hai hoặc nhiều quốc gia quyết định, bằng một thỏa thuận giữa họ, đưa tranh chấp (mà họ sẽ thỏa thuận nội dung) ra trước cơ quan tài phán đó. Tình hình hiện tại không thuận lợi cho một giải pháp như vậy. Người ta chỉ có thể lấy làm tiếc mà thôi. Chủ quyền của các quốc gia đã tạo trở ngại trên điểm này đối với mọi bước tiến có ý nghĩa của luật quốc tế và vai trò của nó trong củng cố hòa bình giữa các dân tộc, bởi vì không thể có được luật thực sự nếu các cuộc xung đột không được xét xử. Việc để cho các quốc gia, với cớ tôn trọng nghiêm ngặt chủ quyền của họ, có thể từ chối đưa các tranh chấp của họ với các quốc gia khác ra trước một cơ quan tài phán đã đem lại cho luật quốc tế một tính cách nguyên thủy và chưa hoàn toàn. Tuy vậy, có một quyền tài phán như vậy, đó là Tòa án pháp lý quốc tế, cơ quan pháp lý của Liên hợp quốc, Trung Quốc có một quan tòa tại đó. Có nghĩa là nước này không phủ nhận nguyên tắc tồn tại một quyền tài phán như vậy. Nước này trong nhiều tài liệu khẳng định cao giọng và mạnh mẽ rằng họ có những bằng chứng không thể bác bỏ về các quyền lịch sử lâu đời của họ với các quần đảo. Vậy thì họ còn sợ gì mà không trình bày các luận cứ của họ trước một cơ quan tài phán rộng rãi như Tòa án La Haye? Đúng là tôi đã chỉ ra trong suốt công trình này là các quyền của Việt Nam, nhất là trên quần đảo Hoàng Sa, được đảm bảo tốt hơn bởi vì chúng được xác lập một cách rõ ràng hơn qua các tài liệu có được. Nếu Trung Quốc có những tài liệu khác còn chưa công bố, họ còn nghi ngại gì mà không đưa ra trước quan tòa ? Nếu không có gì trong lịch sử của họ đưa lại cho họ các danh nghĩa vững chắc hơn danh nghĩa mà các hoàng đề An Nam đã xây dựng nên, việc “disputalio” (tranh cãi) pháp lý sẽ cho phép các quan tòa xác định, qua các sự kiện diễn ra từ thời thuộc địa Pháp, danh nghĩa này được duy trì như thế nào ? Nắm giữ quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực mà không làm sáng tỏ các câu hỏi này chỉ nuôi dưỡng cho tương lai một ổ bất đồng, gần giống tình trạng quần đảo Malvinat. Tất nhiên mỗi vụ có tính đặc thù riêng của chúng. _____________________________________________________________________________________________ 5. Xem Tuyên bố của Philippin trong Biên niên Tòa án pháp lý quốc tế, 1993-1994, tr. 117-118. .... (còn tiếp)
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2011, 08:49:56 pm » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU) ____________________________________________________________________________________
.... (Tiếp theo và hết chương IV) Đối với quần đảo Trường Sa, sự phát triển luận cứ dưới ánh sáng một thủ tục pháp lý sẽ là một nhân tố hòa bình, trong khi tình hình hiện tại rất không ổn định và đang bị đe dọa rất nặng nề. Không nghi ngờ gì đối với quần đảo này, một thỏa hiệp về tài phán giữa hai quốc gia, bất kể họ là ai trong số năm quốc gia tranh chấp (hoặc sáu với sự tham dự của Brunei), sẽ là một nhân tố mạnh khởi động một quá trình tố tụng chung để giải quyết. Bởi vì trong giả thuyết này, ta sẽ thấy các quốc gia khác, tác giả của các yêu sách trên cùng một quần đảo, bị đặt vào một tình thế khá lung túng: chịu rủi ro là số phận của quần đảo sẽ được giải quyết hoặc là bằng Tòa án nhưng không có mặt họ và có thể chống lại họ, hoặc là bằng một yêu cầu can thiệp, cũng bước vào quá trình tố tụng nhằm trình bày các quyền của họ và tìm cách bảo vệ các quyền đó. Nếu điều đó diễn ra, vấn đề quần đảo Trường Sa sẽ được đặt toàn bộ trước tòa. Nhiệm vụ của tòa án không đơn giản, bởi vì chỉ có Việt Nam và Pháp thụ đắc các danh nghĩa lịch sử thực sự trên quần đảo này cho dù các danh nghĩa này không rõ ràng trong nội dung và phạm vi của chúng. Các giải pháp đòi hỏi một cố gắng thực sự của sức tưởng tượng và hợp tác từ phía các bên và từ các quan tòa có thể có của họ. Việc thành lập một chế độ cộng quản (condominium) là một trong các giải pháp này. Đó là một chế độ pháp lý ấn định bởi một hiệp ước, căn cứ vào đó nhiều quốc gia cùng thực hiện trên một lãnh thổ các thẩm quyền nhà nước mà thông thường chỉ do một quốc gia thi hành. Như vậy, ở đó thiết lập chế độ chung của các thẩm quyền có thể được thực hiện theo nhiều phương cách phân chia khác nhau. Đó là một giải pháp thỏa hiệp thể hiện một sự hợp tác quốc tế giới hạn vào việc quản lý một không gian. Làm giảm bớt các căng thẳng chính trị, chế độ cộng quản này là một đảm bảo chống lại mọi nguy cơ bá quyền khu vực của một cường quốc. Tại biển Nam Trung Hoa, các nguy cơ này là lớn do Hải quân Trung Quốc ngày càng mạnh. Chế độ cộng quản trên quần đảo Trường Sa có thể mang dáng dấp một thỏa ước liên quốc gia giữa các quốc gia hữu quan để lập ra một cơ quan quốc tế về quản lý, nhằm hai mục tiêu: bảo đảm an toàn hàng hải trong khu vực bằng cách duy trì các phao tiêu, các hải đăng và quản lý các tài nguyên, mà với việc áp dụng Công ước luật biển thì các tài nguyên này phải thuộc về nước có danh nghĩa chủ quyền trên các vùng đất nổi, dù đó là các tài nguyên trong lòng biển hay dưới đáy biển. Chủ quyền ở đây sẽ được quản lý chung bởi nhóm các quốc gia đã ký kết lập chế độ cộng quản. Điều này đưa tới việc phân bổ các đặc nhượng khai thác và các giấy phép đánh cá. Cơ quan này sống bằng các khoản đóng góp của các nước thành viên của chế độ cộng quản để cho phép nó hoạt động. Cơ quan này sẽ phân bổ lại lợi nhuận cho các nước đó. Điểm quyết định sẽ là điểm ấn định các phần tương ứng của các quốc gia trong định chế đó, các phần này ấn định các tỷ lệ đóng góp ngân sách cũng như các tỷ lệ lợi nhuận. Phần của các bên này hay các bên kia không phải dễ dàng ấn định bởi vì ở đây có cả các đảo thật sự và các thành phần nổi li ti rải rác trên một không gian biển rộng lớn, và còn có cả những điểm còn chìm rất nguy hiểm cho hàng hải và các vận động địa chất có thể làm chúng có thể nổi lên trong tương lai (6). Để vòng qua khó khăn thực tế này, một số người đã nghĩ đến giải pháp rẻ quạt (7), các quốc gia sẽ phân chia các quyền thăm dò trên các vùng được phân định từ các đảo chính mà họ kiểm soát. Các giải pháp khác nhau đó và ngay cả việc giao việc soạn thảo cho quan tòa quốc tế có thể coi là ảo tưởng vào lúc này, nhưng trong các cơn chấn động mà thế giới biết đến và sự nhanh chóng của các biến chuyển của chúng, điều này có lẽ sẽ nhanh chóng trở thành một sự cần thiết tối thượng để đưa các nước ra khỏi tình trạng bế tắc mà các sự thù địch của họ đã kéo họ đến như hiện nay. Và tương lai thuộc về các giải pháp có tính đến sự phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng con đường dẫn tới đó chính là con đường đàm phán thật lòng (bonne foi) chứ không phải là con đường tương quan lực lượng. Chính vì thế lập trường chính trị của Trung Quốc hiện tại nhằm đề nghị gác lại vấn đề chủ quyền, khai thác chung các tài nguyên của quần đảo này không thể được các bên hữu quan chấp nhận bởi vì Trung Quốc vẫn nói rõ ràng yêu sách bá quyền của nước mạnh nhất. Các dân tộc của khu vực này đang lao vào sự tăng trưởng kinh tế đã từng nóng lòng và bồn chồn chờ đợi, rất cần tới tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó các nguồn tài nguyên biển có vai trò quyết định. Sự khai thác hòa bình các tài nguyên đó đòi hỏi các vùng biển phải được phân định. Nhưng sự phân định này không thể xảy ra chừng nào vấn đề chủ quyền, là một vấn đề tiên quyết vẫn còn để ngỏ. Điều đó nói lên tầm quan trọng của vấn đề mà cuốn sách này cố gắng mang đến một sự đóng góp, đó là vấn đề chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. ________________________________________________________________________________ 6. Về yêu sách của Trung Quốc trên điểm này, xem Chu Kiện: Các biên giới biển của Trung Quốc, tr. 544. 7. Xem J. Valencia: Các biển Nam Trung Hoa: Dầu lửa dưới các vùng nước sôi động, Oxford University Press, Oxford, New York, 1983, tr. 124. .... Phần tiếp theo: Thư mục tham khảo và các Phụ lục kèm theo.
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2011, 12:39:09 am » |
|
Thái độ của Trung Quốc quyết định tình hình biển Đông Căng thẳng trên biển Đông sẽ diễn biến như thế nào, điều đó phụ thuộc rất lớn vào thái độ và cách giải quyết vấn đề này của Trung Quốc.
Đó là nhận định của ông Minxin Pei, người Mỹ gốc Hoa, sinh ra tại Thượng Hải, Trung Quốc. Ông Minxin Pei là giáo sư làm việc ở Trường Cao đẳng Claremont McKenna, cố vấn cấp cao của Carnegie Endowment for International Peace, một tổ chức phi lợi nhuận tư nhân của Mỹ, chuyên thực hiện việc thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia và thúc đẩy các hoạt động quốc tế của Mỹ. Dưới đây là bài phân tích của ông Minxin Pei về tình hình biển Đông, đăng trên trang Diplomat: Trước khi có bài phát biểu nêu rõ “lợi ích quốc gia” của Mỹ tại biển Đông của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, Trung Quốc được xem như là đang nắm thế thượng phong trên biển Đông sau nhiều năm chịu khó đeo đuổi chính sách “ngoại giao quyến rũ” trong khu vực. Tuy nhiên, việc nghĩ mình đã nắm thế thượng phong đã khiến Bắc Kinh phạm phải những sai lầm ngoại giao “ngớ ngẩn”. Sự kiện đụng chạm với tàu Hải quân Mỹ, phản đối và “thách thức” sự hiện diện của Mỹ tại châu Á, các hoạt động phá rối đối với các dự án khai thác dầu mỏ trên biển Đông, khiến Washington phải xem xét lại chiến lược của mình tại châu Á nói chung và ASEAN nói riêng. Các nước có tranh chấp trực tiếp với Bắc Kinh về chủ quyền biển đảo cũng buộc phải xem xét lại các chính sách của mình đối với sự “leo thang” các hành động của Bắc Kinh. Bài phát biểu của bà Hillary Clinton tại diễn đàn ARF tại Hà Nội vào tháng 7/2010 được xem là một cú “sốc” đối với Bắc Kinh. Điều đó đã góp phần làm thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực. Phát biểu của Washington đã khiến các quốc gia ASEAN tự tin hơn với những tuyên bố của mình. Còn Bắc Kinh đã tự đặt mình vào thế bị cô lập trong các tranh chấp trên biển Đông. Tự tin với sự trỗi dậy của tiềm lực quân sự, Trung Quốc đã quên chính sách "dấu mình chờ thời" mà cố lãnh đạo Đặng Tiểu Bình của nước này căn dặn? Ngoài ra, cần phải kể đến phản ứng “vụng về” trong việc che đậy những mối đe dọa về sự phát triển của quân đội đối với các nước trong khu vực khiến các họ không thể không lo lắng. Năm 2010, được xem là đỉnh điểm của những sai lầm ngoại giao của Bắc Kinh, một năm tồi tệ đối với chính sách đối ngoại của Bắc Kinh từ năm 1989 đến nay. Để sửa chữa những sai lầm này, năm 2011, Bắc Kinh đã thúc đẩy một loạt các hoạt động ngoại giao. Thay đổi cách nhìn nhận về sự hiển diện của Mỹ tại châu Á, cải thiện quan hệ với Nhật Bản. Thế nhưng, sự căng thẳng trên biển Đông diễn ra gần đây được xem là một “nút thắt” đối với hình ảnh của Bắc Kinh trên trường quốc tế. Trong các tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, tranh chấp Việt-Trung diễn ra căng thẳng nhất. Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang ở thế yếu đối với luật pháp quốc tế. Căn cứ theo công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, Bắc Kinh sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc chứng minh các đảo và bãi đá ngầm tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có liên quan đến thềm lục địa Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh vẫn khăng khăng tuyên bố chủ quyền của mình tại đây, Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974, và lấy đó làm cơ sở để đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Sự đòi hỏi này chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982. Từ đó, gây ra những sự quấy rối và phá hoại các hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam cũng như các đối tác nước ngoài hợp tác với Việt Nam, cũng như các quốc gia khác trong ASEAN. Rõ ràng, thái độ của Bắc Kinh có ý nghĩa quyết định tình hình tại đây, Bắc Kinh cần thể hiện bản lĩnh của một nước lớn, sự tôn trọng luật pháp quốc tế. Cộng đồng quốc tế đang thể hiện xu hướng ủng hộ các bên yếu hơn trong các tranh chấp biển đảo. Trước mắt, Bắc Kinh nên tạm dừng các hoạt động tuần tra của mình trên vùng biển tranh chấp để tránh các xung đột có thể phát sinh. Cung cấp các đề xuất cụ thể với các nước trong khu vực để tránh các xung đột tương lai. Những biện pháp nói trên cần phải được thực hiện một cách đa phương hóa để tiếp thu những sáng kiến ngoại giao từ cộng đồng quốc tế. Đó cũng là cách để khẳng định những đòi hỏi của Bắc Kinh là có cơ sở pháp lý. Một số ý kiến tại Trung Quốc cho rằng, việc ký kết các quy tắc ứng xử là không cần thiết, đó không phải là một sự lựa chọn mang tính ràng buộc đối với Bắc Kinh. Tuy nhiên, với một quốc gia đã có ý định phát triển quân đội một cách mạnh mẽ, đã gây ra những lo lắng cho cộng đồng quốc tế, những hành động cụ thể hóa cho tuyên bố “trỗi dậy hòa bình” là điều không thể không làm để chứng minh tuyên bố của Bắc Kinh là có cơ sở và đáng tin cậy. (Theo Báo Đất Việt) Tin đăng lại Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/Quanhequocte/LA89864/default.html
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|