Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:31:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 432985 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #30 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2011, 12:45:59 am »

Sai lầm của Trung Quốc trong tranh chấp ở Biển Đông

Những hoạt động quân sự thường xuyên của Trung Quốc đặc biệt tại các khu vực ở Biển Đông đã gây nên những lo lắng cho các quốc gia Đông Nam Á. Điều này dẫn đến việc các quốc gia có tranh chấp đối thoại trực tiếp với Trung Quốc đi đến hợp tác với nhau để đối phó với các chiến lược của Bắc Kinh.

 
Các quốc gia ASEAN vừa đón tiếp Trung Quốc vừa e dè quốc gia láng giềng này. In-đô-nê-xi-a lần đầu tiên (ngày 8/7/2010) đã gửi công hàm lên Liên Hiệp Quốc phản đối “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đưa ra dù rằng nước này không hề có liên quan đến tranh chấp các đảo ở Hoàng Sa hay Trường Sa.

Theo Reuters, năm 2011, Trung Quốc tăng ngân sách quân sự 12,7% lên 91,5 tỷ USD, gấp 7 lần so với năm 1999 và gần bằng Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP) của Việt Nam. Ngoài việc tăng chi phí quân sự, các đơn vị dân sự liên quan đến biển cũng được tăng cường và có tầm hoạt động ngày càng xa bờ. Như vậy, có thể thấy Trung Quốc đã sẵn sàng chi nhiều tỷ USD cho chiến lược biển và sẵn sàng duy trì lực lượng quân sự lớn phục vụ chiến lược này.

Trong tất cả các mục tiêu khi đề ra chiến lược tại Biển Đông, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đều nhận định khu vực này như là một Vịnh Arập thứ hai với trữ lượng dầu mỏ hàng chục tỉ tấn. Vì vậy Trung Quốc không thể đứng ngoài cuộc. Trung Quốc dựa trên khái niệm mơ hồ về "vùng nước lịch sử" mà đưa ra bản đồ đường lưỡi bò khoanh vùng biển mà Trung Quốc cho là của nước này, phớt lờ Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc.

Nhưng những tính toán mang tính chiến lược đó liệu có thực sự hiệu quả trên thực tế? Đầu tiên có thể thấy khu vực có dầu khí chủ yếu nằm ở phía nam và rìa của đường lưỡi bò. Các khu vực này rất gần đất liền của các quốc gia Đông Nam Á nên có thể thấy việc duy trì lực lượng bảo vệ ở đây với các quốc gia này là khá dễ dàng. Ví dụ điển hình khi các tàu Trung Quốc có hoạt động tại khu vực gần bờ biển Philíppin thì ngay lập tức lực lượng không quân nước này sẵn sàng bảo vệ để tàu nghiên cứu của mình tiếp tục hoạt động.

Trong khi đó, Trung Quốc khó lòng duy trì lực lượng hải quân và không quân đông đảo thường xuyên đi quá xa căn cứ của mình đặc biệt ở khu vực xa hơn nằm ở phía Nam Biển Đông. Theo tính chất địa chất khu vực này, vùng phía Bắc của Biển Đông do sụt lún trong Kỷ Đệ Tứ quá nhanh nên không thể hình thành được dầu khí.

Khu vực phía Nam lý tưởng hơn với các nguồn dầu khí chủ yếu nằm trong các khối đá gốc granit với tầng chắn là trầm tích Oligocene và Miocene. Các dạng dầu khí này cũng thuộc dạng rất khó khai thác và nhiều công ty dầu khí đã phải rút lui, nhất là với các lô dầu khí nằm ở phía Bắc của khu vực này. Không chỉ có vậy mà theo các nghiên cứu của các quốc gia trong khu vực thì trữ lượng dầu khí tại khu vực này đang có dấu hiệu sụt giảm. Các công ty dầu khí lớn của các quốc gia này đã bắt đầu phải tìm kiếm nguồn dầu khí mới tại các quốc gia xa xôi như châu Phi hay châu Mỹ để đáp ứng nhu cầu tăng cao của nền kinh tế. Do đó, có thể nói chiến lược độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc vì dầu khí là hoàn toàn vô căn cứ và không hề có triển vọng thật sự. Không những Trung Quốc không có được nguồn lợi này mà còn càng trở nên khó khăn khi tiếp cận các nguồn tài nguyên của các quốc gia trong khu vực như trường hợp Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc bị từ chối đầu tư khai thác tại đây.

Chính sách ngoại giao Trung Quốc luôn được nhắc đến với cụm từ "phát triển hòa bình" với chia sẻ Trung Quốc từng là nạn nhân của đế quốc. Nhưng dường như các quốc gia lân cận đặc biệt như Ấn Độ, Nga, Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á đang càng ngày càng cảm thấy quan ngại trước sự đầu tư lớn của Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự. Cùng với nhiều tuyên bố và hành động, người ta đang thấy hình ảnh của một đế quốc đang hình thành bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và đang chuyển sang lĩnh vực quân sự.

Các quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của Trung Quốc như các quốc gia Đông Nam Á và châu Phi bắt đầu dè dặt hơn với các khoản đầu tư bắt nguồn từ Trung Quốc với lo ngại tham vọng chính trị của các khoản tiền này.

Các tuyên bố cứng rắn và không đếm xỉa gì đến luật pháp và không tuân theo các chuẩn mực quốc tế càng làm tăng thêm nhận định rằng Trung Quốc quyết tâm trở thành một đế quốc mới bằng mọi giá bất chấp các lời lẽ mềm dẻo từ phía giới ngoại giao trong chính quyền Bắc Kinh. Cùng với việc bắt tay chặt chẽ với Pakixtan, một lần nữa Trung Quốc lại đẩy Ấn Độ vào thế phải phòng ngừa và không loại trừ khả năng Ấn Độ sẽ đẩy mạnh việc ủng hộ các lực lượng ly khai tại Tây Tạng và nhích lại gần hơn với Mỹ.

Như vậy, với quyết định tăng cường sức mạnh quân sự và đe dọa các quốc gia lân cận, chắc chắn hình ảnh "phát triển hòa bình" của Trung Quốc sẽ được thay bằng hình ảnh một đế quốc mới muốn thể hiện sức mạnh của mình. Điều này chưa chắc đã có lợi cho sự phát triển trung và dài hạn của Trung Quốc.

Với yêu sách ngày càng lớn, Trung Quốc đang khiến các quốc gia Đông Nam Á càng ngày càng nỗ lực trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Việt Nam và Ma-lai-xi-a đã đưa ra kiến nghị chung về đường cơ sở năm 2009 và Philíppin cũng phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc lên Liên Hiệp Quốc năm 2011.

Theo xu thế này, các quốc gia Đông Nam Á với tinh thần xây dựng một cộng đồng chung sẽ có thể nhanh chóng đề xuất và đạt được thỏa thuận về vùng biển chung cho khu vực Đông Nam Á. Nếu đề xuất này thành hiện thực, Trung Quốc thực sự sẽ bị cô lập trong vấn đề Biển Đông và thường xuyên phải đối phó với lực lượng tuần tra chung của các quốc gia Đông Nam Á.

Theo kịch bản này, nếu các tàu của Trung Quốc gặp khó khăn khi hoạt động tại khu vực có giao thương bậc nhất này thì không những Trung Quốc không có được nguồn dầu khí tại đây mà ngay cả đường nhập khẩu dầu mỏ chủ yếu vốn phải đi qua khu vực này cũng có khả năng bị gián đoạn, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh năng lượng của chính quốc gia này.

Sai lầm này gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của khu vực và của chính bản thân Trung Quốc. Rất đáng tiếc là chiến lược này vẫn đang tiếp tục được thi hành với mức độ ngày càng gắt gao. Nhưng các nước trong vòng tranh chấp không dễ chấp nhận khuất phục Trung Quốc.

Như vậy, có thể nói, mong muốn lớn nhất về dầu khí của Trung Quốc chắc chắn sẽ khó đạt được. Ngoài ra khoản tiền đầu tư khổng lồ cho chiến lược biển cùng với chi phí duy trì lực lượng hải quân nhằm kiểm soát các khu vực quá xa căn cứ sẽ là gánh nặng khổng lồ cho ngân sách Trung Quốc. Không những thế, Trung Quốc tự đánh mất hình ảnh "phát triển hòa bình" đã xây dựng trong nhiều năm qua bằng những yêu sách phi lý dựa trên các chứng cứ không được công nhận và thái độ gây căng thẳng cùng với ngân sách quốc phòng tăng cao. Sự thay đổi này có thể sẽ khiến các quốc gia lân cận quan ngại, và đặc biệt các nước Đông Nam Á sẽ nhanh chóng tập hợp thành một khối nhằm đối phó với Trung Quốc.

  Theo BBC

 Hương Trà (gt)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1658-sai-lm-ca-trung-quc-trong-tranh-chp--bin-ong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #31 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2011, 01:00:47 am »

Trung Quốc đưa tàu tuần tra lớn nhất qua Biển Đông

Tàu tuần tra hiện đại nhất và lớn nhất của Trung Quốc, trước khi thăm Singapore, sẽ vào Biển Đông và đi qua các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Tàu tuần tra mang tên Haixun 31và nặng 3.000 tấn.
Haixin 31 tại Chu Hải. Ảnh: Xinhua.

Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc cho hay con tàu Haixun 31, tải trọng 3.000 tấn, xuất phát sáng hôm qua từ cảng Chu Hải, tỉnh Quảng Đông. Dự kiến hải trình của nó dài 1.400 hải lý, qua các đảo trên vùng biển này, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đài CRI nói rằng thủy thủ đoàn của tàu tuần tra này sẽ kiểm tra những tàu mang cờ nước khác trên vùng biển mà Bắc Kinh tuyên bố thuộc chủ quyền của họ.

Bắc Kinh đã tuyên bố yêu sách đường chín đoạn, hay còn gọi là đường lưỡi bò hoặc chữ U, ôm gần như trọn cả vùng Biển Đông. Yêu sách này là hoàn toàn vô lý, không có cơ sở về luật pháp cũng như lịch sử, bị các nước, trong đó có Việt Nam, phản đối.

Haixun 31 là tàu tuần tra lớn nhất và hiện đại nhất từ trước tới nay tại Trung Quốc, được trang bị bãi đáp cho trực thăng, kho chứa máy bay và một tháp điều khiển không lưu. Con tàu có khả năng di chuyển 6.000 hải lý mà không cần tiếp nhiên liệu.

Con tàu được mong đợi là sẽ tăng cường sự hợp tác giữa hai nước trong các vấn đề hàng hải cũng như về kinh tế và môi trường.


Haixun 31 là tàu tuần tra hiện đại nhất của Trung Quốc. Ảnh: Xinhua.

Đây là chuyến đi ra nước ngoài đầu tiên của Haixun 31. Nó sẽ ở Singapore trong 6 ngày. Phái đoàn Trung Quốc sẽ hội đàm với các quan chức hải quân Singapore về các vấn đề an ninh hàng hải, quản lý hải cảng và chống hải tặc.

Trung Quốc đang cho đóng một tàu tuần tra lớn hơn, mang tên Haixun 01. Tàu mới sẽ hoàn thành vào tháng 7 năm tới, với chiều dài 128 mét và tải trọng 5.400 tấn.

Song Minh (Ảnh: Xinhua)
Nguồn:http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/06/trung-quoc-dua-tau-tuan-tra-lon-nhat-qua-bien-dong/
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #32 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2011, 07:16:21 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
....
(Tiếp theo)

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Các tác phẩm chung

- APOLLIS Gilbert: Quyền lực trên biển của quốc gia ven biển. Pedone, Paris, 1981.
- BASTID Suzanne: Các vấn đề lãnh thổ trong xét xử của Tòa án quốc tế, RCADI (Tuyển tập các bài giảng của Viện Luật quốc tế), 1962, t.107, tr.360 và tiếp.
- BEDJAOUI Mohammed: (Dưới sự chỉ đạo của ông) Luật quốc tế: Tổng kết và triển vọng. Pedone, UNESCO, Paris, 1991.
- CAVARE Louis: Luật quốc tế thực định, Pedone, Paris, 1961.
- CHAUMONT Charles: Bài giảng về công pháp quốc tế. RCADI, 1970, t.129. tr.339 và tiếp.
- COMBACAU Jean và SUR Serge: Công pháp quốc tế. Montchrestien, Paris, 1993.
- DEVERIA: Lịch sử quan hệ Trung Quốc với Annam- Việt Nam. Paris, 1880, tái bản 1969.
- DEVILLERS Philippe: Paris-Sài Gòn – Hà Nội – Tài liệu lưu trữ chiến tranh 1944-1947. Gallimard-Julliard, Paris, 1988.
- DUPUY René-Jean và VIGNES Daniel: Khái luận Luật biển mới, Economica- Bruylant, Paris- Bruxelles, 1985.
- FOURNIAU Charles: Trung Kỳ - Bắc Kỳ 1885-1896. L’Harmattan, Paris, 1989.
- GREENFIELD Jeanette: Thực tiễn của Trung Quốc trong Luật biển, Clarendon Press, Oxford, 1992.
- GUYOMAR Genevière: Bình luận quy chế Tòa án pháp lý quốc tế, Pedone, Paris, 1983.
- JOYAUX Francois: Địa chính trị Viễn Đông, 2 tập. Editions Complexe, Paris, 1991-1993.
- LUCCHINI Laurent và VOELCKEL Michel: Luật biển, t.1. Biển và luật pháp của biển. Các vùng biển, Pedone, Paris, 1990.
- NGUYEN HUU TRU: Một số vấn đề về thừa kế quốc gia liên quan đến Việt Nam, Ed. Bruylant, Bruxelles,1970.
- NGUYEN KHAC VIEN: Việt Nam – Một lịch sử dài. Editions en langues étrangères, Hà Nội, 1987.
- NGUYEN QUOC DINH, DAILLIER Patrick, PELLET Alain: Công pháp quốc tế, L.G.D.J., Paris, 1994.
- PRESCOTT J.R.V.: Các biên giới chính trị biển của thế giới, Methuen-London và New York, 1985.
- ROCHE, A.G.: Vụ Minquiers và Ecréhous. Luận án 115, Genève, 1959.
- RUSCIO Alain: Việt Nam – Lịch sử - Đất nước – Con người, L’Harmattan, Paris, 1989.
- THIERRY Hubert, COMBACAU Jean, SUR Serge và VALLEE Charles: Công pháp quốc tế, Ed. Montchrestien, Paris, 1979.
- XING QU: Quan hệ Pháp – Trung từ 1949 đến 1955, Luận án, Paris, I.E.P., 1992.

2. Các bài viết về học thuyết liên quan đến các vấn đề chung:

- BARAL Jean: “Ưng thuận trong xét xử quốc tế”. Niên giám Luật quốc tế Pháp, 1985, tr. 389 và tiếp.
- BRISCOSE John: “Đảo trong hoạch định biên giới biển”. Niên giám biển, tháng 7 -1988.
- COHEN JONATHAN Gérald: “Các đảo Falkland (Malouines)”. Niên giám Luật quốc tế Pháp, 1972, tr.235 và tiếp.
- Von der HEYDTE F.A.F.: “Phát hiện, sát nhập tượng trưng và tính thật sự trong luật quốc tế”. Tạp chí Luật quốc tế của Mỹ, 1935, tr.448 và tiếp.
- FITMAURICE Sir Gerald: “Luật pháp và thủ tục của Tòa án pháp lý quốc tế”. Niên giám Luật quốc tế Anh, 1955-1956, tr.20 và tiếp.
- KHADDURRI Majid: “Yêu sách của Iran về chủ quyền Bahrayn”. Luật quốc tế của Mỹ, 1951, tr. 631 và tiếp.
- ORAISON André: “Về tranh chấp Pháp – Mangát về các đảo rải rác trong kênh Môzambique”. Tạp chí Tổng quan Luật quốc tế, 1981, tr. 465 và tiếp.
- ORENT Béatrice và REINSCH Pauline: “Chủ quyền trên các đảo Thái Bình Dương”. Tạp chí Luật quốc tế của Mỹ, 1941, tr.433 và tiếp.
- SCHWARZENBERGR George: “Quyền về lãnh thổ: đáp lại đối với một thách thức”. Tạp chí Luật quốc tế của Mỹ, 1957, tr.308 và tiếp.
- Đại sự ký các sự kiện quốc tế trong Tạp chí tổng quan về Công pháp quốc tế.

3. Các sách, bài viết về vấn đề các quần đảo biển Nam Trung Hoa

- BEAUVOIS Marcel: “Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Thông tấn xã Việt Nam, Sài Gòn, 1971, Tư liệu Pháp, Các vấn đề chính trị và xã hội, tháng 3-1973.
- BENNET Micha 1: “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật quốc tế trong tranh chấp quần đảo Trường Sa.” Tạp chí Luật quốc tế Standford, t.28. 1991-1992, tr.425 và tiếp.
- BRADFORD L. Thomas: “Quần đảo Trường Sa: một tranh chấp”. Trong Biên giới quốc tế và giải quyết xung đột biên giới, 1989.
- CHAO John K.T.: “Biển Nam Trung Hoa: Các vấn đề biên giới liên quan đến các đảo Nam Sa và Tây Sa”. Niên giám Luật quốc tế của Trung Quốc, t.9 (1989-1990), tr.67 và tiếp.
- CHI KIN LO: Lập trường của Trung Quốc trong các tranh chấp lãnh thổ. Trường hợp các đảo trong biển Nam Trung Hoa, London, Rontlegle, 1989.
- CHIU Hungdan: “Hoạch định đáy biển và các đường hàng hải tương lai”. Tạp chí hàng quí của Trung Quốc số 72, tháng 12-1997 và “Việc thăm dò và khai thác tài nguyên biển trong biển Tây Thái Bình Dương”. Tạp chí nghiên cứu quốc tế Triều Tiên 1983-1984, Séoul, t.15, số 1, tr.17-35.
- CHOON HO-PARK: Tranh chấp biển Nam Trung Hoa – Ai là chủ các đảo và tài nguyên thiên nhiên?” Phát triển đại dương và luật quốc tế, t.5, số 1, 1978, tr.28 và tiếp.
- COUTEAU-BEGARIE Hervé: Địa chiến lược Thái Bình Dương. Paris, Economica, 1987.
- FERRIER Jean-Pierre: “Tranh chấp các đảo Hoàng Sa và vấn đề chủ quyền trên các đảo không người ở”. Niên giám của Pháp về luật quốc tế, 1975, tr.173 và tiếp.
- FOCSSANEANU Lazar: “Các hòa ước của Nhật Bản.” Niên giám của Pháp luật về luật quốc tế, 1960, tr.256 và tiếp.
- GARVER John W: “Sự tiến bước của Trung Quốc qua biển Nam Trung Hoa”. Ảnh hưởng tương hỗ của các lợi ích quốc gia và thủ tục hành chính. Tạp chí hàng quý của Trung Quốc, 1992, tr.999.
- GOMANE Jean-Pierre: “Các sự việc trên biển Nam Trung Hoa”. Châu Á và châu Phi hiện đại, 1974, tr.48 và tiếp.
- HEINZIG Dieter: Các đảo tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa, Wiesbaden, Otto Harrassowith và Viện các vấn đề châu Á ở Hamburg, 1976.
- HUREL Audrey: Các đảo Trường Sa: Một nguồn tranh chấp tại Đông Nam Á, Mémoire, Paris, 1994.
- KATCHEN Martin H.: “Các đảo Trường Sa và Luật biển: Mối nguy hiểm đối với hòa bình châu Á” trong Quan sát châu Á, tháng 12-1977, tr.1167 và tiếp.
- KITTICHAISAREE Kriangsak: Luật biển và hoạch định biên giới biển ở Đông Nam Á. Oxford University Press, 1987.
- KUAN-TSYH YU Steven: “Ai là người sở hữu quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một đánh giá về tình chất và cơ sở pháp lý của những yêu sách lãnh thổ xung đột”. Niên giám Trung Quốc về luật quốc tế, t.9 (1989-1990), tr.1.
- LABROUSSE Henri: “Căng thẳng tại biển Nam Trung Hoa”. Tạp chí Quốc phòng, tháng 2-1988, tr.109 và tiếp.
- “Tham vọng biển của Trung Quốc”. Tạp chí Quốc phòng, tháng 2-1994, tr.331 và tiếp.
- Và “Giải pháp nào cho Trường Sa”. Tạp chí Quốc phòng, tháng 12-1994, tr.129.
- LAFONT Pierre-Bernard (Dưới sự chỉ đạo): Các biên giới của Việt Nam. L’Harmattan, Paris, 1989.
- LAPICQUE P.A.: Về các đảo Hoàng Sa, Nhà xuất bản Viễn Đông, Sài Gòn, 1929.
- LECHERVY Christian: “Đông Dương: các biên giới mới. Chính sách đối ngoại”, 1992, số 3, tr.585 và tiếp.
- LE THANH KHE: Vụ các đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước Luật quốc tế, Viện quốc tế về nghiên cứu và sưu tầm ngoại giao, 1958.
- LEE YONG LENG: “Tranh chấp biên giới ngoài khơi Đông Nam Á”. Tạp chí Đông Nam Á, tháng 11-1978.
- LUCHAIRE Francois: “Vấn đề biên giới Trung Quốc”, Bản tin của Viện quốc tế về quản lý chính trị, tháng 12-1968.
- MADROLLE Claudius: “Vấn đề Hải Nam và Hoàng Sa”, Tạp chí chính sách đối ngoại, 1939.
- MARSTON Geoffroy: “Việc từ bỏ yêu sách lãnh thổ: Vụ Bouvet và quần đảo Trường Sa”, Niên giám luật quốc tế Anh, 1986, L VII, tr.335 và tiếp.
- MILIVOJEVIC Marks: “Xung đột các đảo Trường Sa và Hoàng Sa”, Tạp chí Survival, 1989, tr.70 và tiếp.
- NIQUET Valérie: “Việt Nam đối mặt với thế giới Trung Hoa”. Tạp chí Quốc phòng, tháng 1-1994, tr.131 và tiếp.
- OCAMPO-KALFORS Sheilah: “Dễ dàng đi đến xung đột”, Tạp chí Kinh tế Viễn Đông, ngày 28-4-1983.
- O’CONNEL D.P: “Quy chế của Formose và vấn đề công nhận của Trung Quốc”, Tạp chí luật quốc tế Mỹ, 1956, tr.405 và tiếp.
- ROUSSEAU Charles: “Đại sự ký các sự kiện quốc tế”, Tạp chí Tổng quan luật quốc tế, 1972, tr.826 và tiếp.
- SAIX Olivier: “Các đảo Hoàng Sa”, Địa lý – Đất – Biển – Trời, tháng 11-12-1933. LX số 5 và 6.
- SAMUELS Marwyns: Cuộc tranh giành biển Nam Trung Hoa. Methuen, New York và London, 1982.
- SAUVAIRE JOURDAN C: “Các đảo Hoàng Sa rất nhỏ của thuộc địa chúng ta”. Tạp chí La Nature, số ngày 1-11-1933.
- SEGAL Gérald: “Đông Á: Bức tranh chiến lược mới”. Tạp chí Chính sách đối ngoại, 1992, số 3, tr.551 và tiếp.
- TAO CHENG: “Cuộc tranh chấp trên các đảo biển Nam Trung Hoa”. Tạp chí Luật quốc tế Texas, t.10, số 1-1975.
- TEH JUANG CHANG: Yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Viễn cảnh lịch sử và pháp lý. Vụ việc trong tạp chí nghiên cứu Luật quốc tế phương Tây. Tập 23, 1991, tr.399 và tiếp.
- TRAN DINH GIAN: “Khía cạnh địa lý và chính trị của Đông Á. Những vấn đề và tương lai”. Báo cáo trong Tạp chí Đông Nam Á, ngày 30-8-1990.
- TU DANG MINH THU: Tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa. Các vấn đề pháp lý, Mémoire Paris, 1976.
- VALENCIA Mark J.: Vùng biển Đông Nam Á: Dầu dưới vùng nước đang tranh chấp”, Nhà xuất bản Oxford University Press, Oxford, New York, 1985.
- Van DYKE Jon M. và BENNETT Dale L.: Các đảo và việc hoạch định không gian biển trong Biển Nam Trung Hoa. Bản Ronéo.
- VO LONG TE: Các đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam, Sài Gòn, 1974.
- YAMANE Hiroko: “Nhật và bán đảo Đông Dương”, Tạp chí Quốc phòng, tháng 1-1988.
- ZHOU Jian: Các biên giới biển Trung Quốc, Luận án Trường Đại học Paris X, 1991, 2 tập.

Ngoài các bài báo, đoạn trích sách về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa trên, còn phải bổ sung rất nhiều bài báo trong các tạp chí pháp lý hoặc báo chí, nhất là:
- Châu Á Pháp (L’ Asie francaise)
- Đông Thanh
- Le Courrier du Vietnam
- Thức tỉnh Đông Dương (L’éveil de l’Indochine)
- Tạp chí kinh tế Viễn Đông (Far Eastern Economic Review)
- Báo Figaro
- Tạp chí Thuộc địa – quân đội thuộc địa (Le Journal des Coloniaux L’armée colonial)
- Giải phóng (Libération)
- Biển và thuộc địa (Mer et Colonies)
- Le Monde
- Le Monde thuộc địa có tranh
- Le Monde về ngoại giao
- Tuần tin tức
- Thông tin Bắc Kinh
- Tạp chí Tổng quan Công pháp quốc tế (đại sự ký các sự kiện quốc tế)
- Thời đại mới
_______________________________________________________________________________________
...
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #33 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2011, 11:12:39 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
....
(Tiếp theo)

4. Các bản án của Tòa án và Trọng tài quốc tế:

- Phán quyết Vụ đảo Aves (Hà Lan và Venezuela) ngày 30-6-1865.
- Phán quyết Vụ đảo Bulama (Anh – Bồ Đào Nha) ngày 21-4-1870.
- Phán quyết Vụ biên giới giữa Guyana thuộc Anh và Brasil (Anh – Brasil) ngày 6-6-1904.
- Phán quyết Vụ đảo Palmas (Mỹ - Hà Lan) ngày 4- 4-1928.
- Phán quyết Vụ đảo Clipperton (Mehico-Pháp) ngày 28-1-1931.
- Phán quyết Vụ Minquiers và Écréhous (Pháp – Anh), ngày 17-11-1953.
- Phán quyết Vụ Đông Groenland (Đan Mạch – Nauy). Tóa án pháp lý quốc tế thường trực ngày 5-4-1933.
- Phán quyết Vụ Tây Sahara- Ý, ý kiến của Tòa án pháp lý quốc tế ngày 16-10-1975.
- Phán quyết Vụ hoạch định biên giới biển giữa Guinée và Guinée Bissau ngày 14-2-1985.

5. Các tài liệu khác:

Các tài liệu ad hoc do Chính phủ Việt Nam đưa ra giải thích lập trường của họ:
- Giác thư của Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các vụ khiêu khích và lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam do nhà cầm quyền Trung Quốc tiến hành tại khu vực biên giới.
- Bản tin Việt Nam, Paris, 15-31.3.1979
- Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Vụ thông tin và báo chí. Bộ Ngoại giao. Hà Nội, 1979.
- Hoàng Sa và Trường Sa. Lãnh thổ Việt Nam. Bộ Ngoại giao. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1981.
- Hoàng Sa và Trường Sa. Tạp chí Courrier du Vietnam, Hà Nội, 1984.
- Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luật quốc tế.

6. Các tài liệu thể hiện lập trường Trung Quốc:

- Tờ Nghiên cứu Trung Quốc học mới, 1988, số 5, 6,7, 8, 9, 10.
- Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Trường Sa và Nansha. Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ngày 30-1-1980.
- Các tài liệu liên quan đến dự thảo Hòa ước với Nhật và Hội nghị San Francisco (1951)
- Công hàm chính phủ Trung Quốc gửi Chính phủ Xô Viết, ngày 22-5-1951.
- Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Chu Ân Lai, về dự thảo Hòa ước ký với Nhật và Hội nghị San Francisco (Bắc Kinh, ngày 15-8-1951).
- Thảo luận của Nghị viện Liên hiệp Pháp ngày 25-3- 1952.
- Tài liệu Liên hợp quốc: A/43/346 ngày 2-5-1988. A/43/363 ngày 16-5-1988.

7.Tài liệu lưu trữ:

Những tài liệu chính liên quan tới vụ này đã được lấy từ:

7.1 Lưu trữ Bộ ngoại giao Pháp

- Tập về châu Á 1918 1929
- AS – 18-40 Trung Quốc 797 40-55 Trung Quốc
- N.S. Trung Quốc 96-126-559 đến 568-608 đến 612-597 đến 601.
- N.S. Đông Dương 4-5-6-7-11-17-18-19 đến 25-31-33-34 tập 312. Á- Úc série E, tập 117.

7.2 Lưu trữ hải ngoại (Aix-en-Provence)

- Tập Đông Dương 32-34-35-36
- NF.225 – 268 – 271 – 610 – 684 – 662 – 1010 – 1018 – 1024 – 1025 – 1026 – 1859
- IC. Tập 306 – 308 – 227 – 261 – 309

8. Các bản đồ

- Hồ sơ về bản đồ của Thư viện quốc gia Pháp đã được xem xét, bao gồm các bản đồ sau:
- Ge D 9210 Guillaume le Testu, 1554
- Ge D 8693 Hà Lan – Các sở hữu – Thế kỷ 17
- Ge B 220 Bản đồ biển Hà Lan thế kỷ 18
- Ge FF 13341 (89) Đông Dương thế kỷ 17
- Ge FF 7909 Bản đồ Đức, 1867
- Ge D 7552 Bắc Kỳ và Nam Kỳ, Paris 1873
- Ge D 29450 Đông Dương, Bản đồ của hải quân 1880
- Ge C 21797 Bản đồ của hải quân 1881
- Ge D 817 De Lanessan 1888
- Ge C 3067 Đông Dương 1893
- Ge B 372 Phái đoàn Paire 1893
- Ge AA 25 Vidal Labloche 1897
- Ge C 15245 Girard và Barrere
- Ge D 20526 Viện Địa dư quốc gia: sách giáo khoa cho quân đội, 1947
- Ge CC 3506 Đông Dương 0 hành chính 1939
- Ge D 21832 Đông Dương các sân bay 1951
- Ge C 5904 Đông Dương hàng không 1936
- Ge D 21831 Đông Dương, máy bay, radio – 1951
- Ge DD 2987 Biển Trung Hoa 1745
- Ge D 3610 Biển Trung Hoa 1792
- Ge CC 2301 (23) Biển Trung Hoa 1821
- Ge C 10431 Đông Dương, bờ biển 1712
- Ge C 17228 Đông Dương bản đồ độ sau và nghề cá
- Ge C 18375 Đông Dương chínht rị 1951
- Ge C 16640 Đông Dương các tỉnh 1940
- Ge C 4272 Đông Dương – bão
- Ge DD 2987 (7212) Biển Trung Hoa 1643
- Res. Ge AA 1318 Biển Trung Hoa Pieter Goes 1680
- Res. Ge B 219 Bản đồ hàng hải
- Biển Trung Hoa cuối thế kỷ 17
- Res. Ge B 219 Bản đồ hàng hải
- Biển Trung Hoa cuối thế kỷ 17
- Res Ge B 214 Bản đồ hàng hải Hà Lan cuối thế kỷ 17
- Res B 1509 (6836) Bản đồ thủy văn thế kỷ 18
- Ge DD 2987 B Biển Trung Hoa 1740 - (7160.61)
- Ge 2301-17 Hoàng Sa (nhóm phía Tây) do D. Rops
- Trung úy của Hải quân Bom Bay 1808
- Ge C 2280 Viện Địa dư quốc gia Pháp 1945
- Ge C 15165 Hạ tầng cơ sở hàng không Đông Dương 1939
- Ge C 4269 Sở Địa dư Dông Dương 1911
- Ge CC 556 4-1903
Cũng đã tham khảo ở Thư viện quốc gia (bộ phận bản đồ) Các tập 180, 181, 182.
_______________________________________________________________________________
Phần tiếp theo: các Phụ lục
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #34 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2011, 03:25:18 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________
....
(Tiếp theo)

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

1. Bản đồ biển Nam Trung Hoa
2. Bản đồ Trung Quốc thể hiện các yêu sách biển của Trung Quốc
2bis. Minh họa các yêu sách
3. Bản đồ quần đảo Hoàng Sa
4. Danh sách các đảo và đảo nhỏ
5. Văn thư của Toàn quyền Đông Dương gửi ông Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, ngày 20-3-1930
6. Bản đồ tình trạng chiếm đóng quần đảo Trường Sa
7. Thư của thuyển trưởng Kergariou – Locmaria, ngày 26-8-1788
8. Thư của khâm sứ Trung Kỳ giử toàn quyền Đông Dương, ngày 22-1-1929
9. Bản đồ năm thứ 14 triều vua Minh Mạng
10. Công hàm của Công sứ quán Cộng hòa Trung Hoa, ngày 29-9-1932
11. Ghi chú của cố vấn pháp lý Bộ Ngoại gia gửi Vụ Châu Á, ngày 25-5-1950
12. Ghi chú của Phủ Toàn quyền Đông Dương. Vụ các vấn đề chính trị và bản xứ, ngày 6-5-1921
13. Ghi chú của ông Beauvais, lãnh sự quán Pháp ở Quảng Châu, 4-5-1909
14. Ghi chú của Tùy viên Hải quân cạnh Công sứ quán Pháp ở Trung Quốc, ngày 5-5-1921
15. Thư của người phụ trách lãnh sự quán Pháp ở Quảng Châu gửi ông Thủ tường Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 6-10-1921
16. Ghi chú của Vụ châu Á – Úc, ngày 14-1-1921
17. Thư của ông Beauvais, Lãnh sự Pháp ở Quảng Châu gửi ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 4-5-1909
18. Thư của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 18-4-1921
19. Thư của người phụ trách lãnh sự quán Pháp ở Hoihow tửi Đại sứ Pháp ở Trugn Quốc, ngày 15-4-1922
20. Thư của quyền Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, ngày 26-12-1927
21. Ghi chú của ông Bourguin, ngày 8-3-1928
22. Ghi chú cho Phòng Á –Úc, ngày 26-11-1928
23. Thư của quyền Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, ngày 17-12-1928
24. Thư của Bộ trưởng Bộ ngoại giao gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, ngfy 26-2-1928
25. Thư của Bộ trưởng Hải quân, quyền Bộ trưởng Bộ Thuộc địa gửi Bộ trưởng Bộ ngoại giao ngày 18-2-1929
26. Công điện ngày 3-4-1929
27. Điện ngày 14-3-1930
28. Thư của Công sứ Toàn quyền Pháp ở Trung Quốc gửi Bộ trưởng Bộ ngoại giao, ngày 28-7-1930
29. Thư của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, ngày 18-10-1930
30. Điện ngày 4-7-1931
31. Điện ngày 19-7-1931
32. Nghị định của Toàn quyền Đông Dương, ngày 5- 5-1939
33. Điện ngày 8-3-1929
34. Thư của Lãnh sự Pháp ở Maille gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 22-3-1929
35. Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ ngày 21-12- 1933
36. Thư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 30-3-1932
37. Ghi chú của Vụ Châu Á, Bộ Ngoại giao, ngày 10-8- 1940
38. Thư của Tướng Juin, Tổng Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng gửi Chủ tịch Ủy ban Đông Dương ngày 7-10-1946
39. Báo cáo của phái đoàn Hải quân Pháp ở đảo Pattel (Hoàng Sa)
40. Điện ngày 8-3-1947
41. Điện của AFP ngày 31-5-1947 và điện ngày 3-6-1947
42. Điện ngày 25-1-1951
43. Ghi chú của Sở Pháp lý, ngày 6-9-1946
44. Thư của Quốc vụ khanh, phụ trách quan hệ với các quốc gia liên kết gửi Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại, ngày 7-5-1951
45. Thư của Tướng Jacquot gửi Quốc vụ khanh phụ trách quan hệ với các quốc gia liên kết, ngày 16-6-1955
46. Thư của Bộ Ngoại giao Trung Quốc gửi Lãnh sự quán Pháp ở Quảng Châu ngày 29-4-1949
47. Ghi chú của Vụ Á – Úc ngày 15-5-1950
48. Thư của Tổng lãnh sự Pháp ở Thượng Hải gửi ông Cao ủy Pháp ở Đông Dương ngày 27-5-1950
49. Điện ngày 23-4-1949
.....
(còn tiếp)

Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
f22raptor
Thành viên
*
Bài viết: 90


« Trả lời #35 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2011, 07:07:21 pm »

Việt Nam nên thành lập Cơ quan đảm bảo an ninh hàng hải quốc gia vì hai lý do sau
- Nếu được thành lập, đây là cơ quan dân sự, sẽ tăng cường các hoạt động tuần tra bảo vệ các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Là đơn vị dân sự hoạt động trong vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, nên các nước khác khó lòng mà phản đối được chúng ta. Lực lượng này có thể bảo vệ cho tàu bè của ngư dân cũng như ngăn cản các hành vi phá hoại của lực lượng hải giám Trung Quốc. Nếu sử dụng tàu hải quân hay tàu cảnh sát biển để bảo vệ cho các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản sẽ bị quy chụp cho cái tội uy hiếp sử dụng vũ lực.
- Việc đóng mới các tàu tương tự như tàu hải giám của Trung Quốc hoàn toàn nằm trong khả năng của chúng ta. Thành lập lực lượng này sẽ tạo thêm công ăn việc làm  cho các nhà máy đóng tàu. Dựa vào việc thành lập Cơ quan đảm bảo an ninh hàng hải quốc gia, chúng ta có thể khéo léo nhờ Mỹ giúp đỡ ta trong công nghệ đóng tàu tuần tra phi quân sự hiện đại. Tiếp thu các công nghệ hiện đại từ phía Mỹ cho công nghiệp đóng tàu Việt Nam. Vì đây là đơn vị dân sự, nên Mỹ có thể đường đường chính chính giúp ta mà không lo Trung Quốc phật ý.
- Quan hệ Việt-Mỹ đang diễn ra tốt đẹp, phía Mỹ rất muốn mỡ rộng quan hệ với ta, đây cũng là một hướng đi hợp lý để mở rộng quan hệ với Mỹ trong các lĩnh vực kỹ thuật.
Trung Quốc đã quyết định tăng gấp đôi lực lượng hải giám về trang bị và nhân sự, như vậy cho thấy Trung Quốc sẽ sử dụng lực lượng này để thực hiện yêu sách đường lưỡi bò phi lý. Những trường hợp phá hoại như vừa rồi sẽ không dừng lại mà còn tăng lên khi nào họ đạt được mục đích.
Đây là một chiêu bài rất thâm hiểm, nếu ta đưa tàu hải quân hoặc tàu cảnh sát biển ra can thiệp sẽ bi quy chụp vào cái cớ cản trở tự do hàng hải. Họ dùng chiêu dân sự trá hình để phá hoại ta, ta cũng cần phải sử dụng lại chiêu đó để đối phó với họ.
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #36 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2011, 11:43:54 pm »

Đối tượng tranh chấp trên Biển Đông: Đảo hay đá?

Mạng bình luận trường RSIS Singapore đăng bài phân tích “Islands or Rocks? Evolving Dispute in South China Sea” của Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế, giáo sư tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Singapore. Tác giả cho rằng cuộc tranh cãi về quyền khai thác tài nguyên quanh quần đảo Trường Sa đã biến thành một cuộc tranh cãi về mặt quy chế pháp lý của các đảo, đá.
 
Chủ quyền, toàn bộ hoặc một phần, đối với quần đảo Trường Sa trên biển Đông là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Ma-lai-xia, Philíppin, Việt Nam, Brunây và Đài Loan. Công hàm ngoại giao tháng 4/2011 do Philíppin và Trung Quốc nộp lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã đặt nền móng cho một vụ tranh chấp giữa một số nước thuộc ASEAN (Malaixia, Philíppin và Việt Nam) và Trung Quốc, liên quan đến chủ quyền pháp lý đối với các bãi đá tạo thành quần đảo Trường Sa.

Vấn đề quan trọng nhất được đưa ra là: Nước nào có quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong và dưới các vùng biển xung quanh quần đảo này? Mặc dù đối tượng tranh chấp cuối cùng là tài nguyên thiên nhiên, nhưng cuộc tranh chấp này được dựng lên như một cuộc tranh cãi pháp lý về nhận thức đối với Điều 121 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS).

Các định nghĩa pháp lý

Điều 121 quy định rằng một hòn đảo – được định nghĩa là "một khu vực đất tự nhiên nhô lên trên mặt nước khi thủy triều lên" - về nguyên tắc có thể tạo ra các vùng lãnh hải giống như đất liền. Chúng bao gồm vùng lãnh hải trong bán kính 12 hải lý, vùng EEZ trong bán kính 200 hải lý và một thềm lục địa. Một số cấu thành của quần đảo Trường Sa do các nước đang chiếm đóng không đáp ứng được định nghĩa của một hòn đảo. Chúng hoặc bị ngập dưới nước khi thủy triều lên, hoặc nhô trên mặt nước khi thủy triều lên là nhờ được cải tạo hoặc do các cấu trúc nhân tạo. Các bãi đá này thậm chí không được hưởng vùng lãnh hải 12 hải lý.

Đoạn 3 của Điều 121 trong UNCLOS đã tạo ra một ngoại lệ cho một số loại đảo bằng cách nói rằng "các bãi đá mà không thể tự nó duy trì sự sinh sống hoặc đời sống kinh tế của con người" sẽ không có vùng EEZ hay thềm lục địa. Nhiều bãi đá trong quần đảo Trường Sa có thể nằm trong nhóm này và do đó chỉ được vùng lãnh hải 12 hải lý.

Lý lẽ của Ma-lai-xia, Việt Nam và Trung Quốc

Công hàm của Philíppin gửi lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc hôm 5/4/2011 và của Trung Quốc hôm 14/4/2011 là những văn bản mới nhất trong một loạt công hàm liên quan đến Thỏa thuận chung giữa Malaixia và Việt Nam được hai nước trình lên Ủy ban ranh giới Thềm lục địa của Liên hợp quốc vào ngày 6/5/2009. Trong thỏa thuận chung này, Malaixia và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với một thềm lục địa vượt ra ngoài giới hạn 200 hải lý của vùng EEZ mà họ tuyên bố trên biển Đông.

Ngày 7/5/2009, Trung Quốc phản ứng bằng cách gửi công hàm nói rằng nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa và các vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển “liên quan” trên Biển Đông, kèm theo là bản đồ đường “lưỡi bò” 9 đoạn do nước này đưa ra.

Phản ứng của Philíppin và sự đáp trả của Trung Quốc

Philíppin phản ứng bằng cách gửi công hàm ngoại giao vào ngày 4/4/2011, trong đó nói rằng UNCLOS không cung cấp cơ sở pháp lý cho bất cứ sự đòi hỏi nào về chủ quyền và quyền tài phán trên vùng biển "liên quan" (và các đáy biển và lòng đất) nằm trong đường “9 đoạn” phía ngoài các vùng biển được coi là "liền kề" với các hòn đảo theo định nghĩa tại Điều 121 của UNCLOS. Mặc dù ngôn ngữ thể hiện trong công hàm không rõ ràng, nhưng dường như nó hàm ý Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với bất kỳ nguồn tài nguyên nào nằm trong vùng “lưỡi bò” và nằm ngoài vùng biển liền kề với các đảo của nước này.

Ngày 14/4/2011, phản ứng với công hàm của Philíppin, Trung Quốc nhắc lại quan điểm lâu nay là nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng nước liên quan, cũng như đáy biển và lòng đất phía dưới. Tuy nhiên, nước này không đề cập đến bản đồ “9 đoạn”, và tuyên bố (lần đầu tiên) rằng quần đảo này được hưởng quyền lãnh hải, vùng EEZ và thềm lục địa. Đây có thể là một động thái quan trọng bởi Trung Quốc dường như đã nêu rõ đòi hỏi của mình và dùng UNCLOS để bảo vệ lý lẽ.

Hòn đảo hay bãi đá?

Trong cuộc tranh chấp về các quần đảo và bãi đá, các nước ASEAN sẽ tiếp tục giữ quan điểm rằng họ có chủ quyền và quyền tài phán đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong và dưới các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Đòi hỏi của họ dựa trên quyền đối với 200 hải lý vùng EEZ tính từ các đường cơ sở thuộc lãnh thổ đất liền hoặc quần đảo của họ. Họ sẽ không đòi hỏi vùng EEZ từ bất kỳ cấu thành nào của quần đảo Trường Sa, và sẽ nhất quán rằng không một cấu thành nào thuộc diện tranh chấp được coi là “hòn đảo”, và những “hòn đảo” đó trên thực tế chỉ là bãi đá.

Chiến lược này sẽ mang lại cho các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN chủ quyền không thể tranh cãi để thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở trong và phía dưới của hầu hết các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Họ sẽ chỉ không có chủ quyền và quyền tài phán để khai thác tài nguyên thuộc bán kính 12 hải lý liền kề các đảo, chừng nào cuộc tranh chấp vẫn chưa được phán quyết.

Để bảo vệ lợi ích của mình, Trung Quốc sẽ phải duy trì quan điểm là ít nhất một số bãi đá thuộc Trường Sa được tính là “đảo" để được hưởng vùng EEZ và thềm lục địa. Quan điểm này sẽ tạo ra một vùng chồng lấn đáng kể giữa vùng EEZ của quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đòi chủ quyền với vùng EEZ và/hoặc thềm lục địa mở rộng mà các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN có quyền tính từ đường cơ sở của lãnh thổ hay quần đảo của họ.

Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một thách thức là trước đây nước này đã có quan điểm về thế nào là đảo và thế nào là bãi đá. Trong các cuộc tranh luận tại Liên hợp quốc liên quan đến cuộc tranh chấp giữa nước này với Nhật Bản về chủ quyền đảo Okinotorishima, Trung Quốc lập luận rằng các đảo nhỏ, ở xa, không có người ở không được trao vùng EEZ hay thềm lục địa. Các quốc gia ASEAN có thể sẽ nói rằng lập luận này của Trung Quốc cũng nên áp dụng đối với các đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa.

Theo Rsis

Mỹ Anh (gt)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/1594-1594
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #37 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2011, 12:31:58 am »

Trường Sa – điểm tựa của ngư dân giữa biển khơi

(TT&VH) - Trường Sa không chỉ là phên dậu, mà còn là một đại gia đình của những người lính đảo, của những ngư dân can trường ngày đêm bám biển.


Biển cả bao la và khó lường, những cơn bão biển, những trận cuồng phong, và cả những bóng tàu lạ, tàu ma luôn rình rập. Những người lính đảo, những ngư dân bám biển vẫn vươn khơi đạp bằng mọi sóng dữ, bởi bên cạnh đất liền, họ còn có điểm tựa giữa trùng khơi, ấy là quần đảo thiêng của Tổ quốc. Dải đất ấy tiếp thêm cho họ sức mạnh.

Tháng 5, điểm nối giữa mùa biển lặng nhất trong năm với một mùa mưa bão mới. Nhưng Trường Sa vẫn luôn luôn sẵn sàng. Phóng viên Quang Đức, có mặt ở đây để ghi lại những hình ảnh về Trường Sa tháng 5.



Hướng dẫn tàu thuyền ngư dân cập âu tàu an toàn


... và luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu


Bến cảng ở đảo Trường Sa Lớn, nơi cập bến đầu tiên của những chuyến tàu ra đảo


Đảo Song Tử Tây có 1 âu tàu, đây là nơi cứu hộ ngư dân gặp nạn khi đánh bắt xa bờ. Với chiều dài 280m, rộng 120m, sâu 4m, âu tàu cùng lúc có thể đón từ 60 đến 100 thuyền lớn, nhỏ


Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ, hỗ trợ ngư dân, những người lính đảo không
một phút giây lơ là nhiệm vụ chính: tuần tra bảo vệ biển đảo biên cương


Khi có tín hiệu báo tàu thuyền của ngư dân bị nạn, lập tức những người lính đảo
hạ ca nô, cứu nạn, lai dắt tàu thuyền ngư dân về đảo an toàn


Hình ảnh quan sát tàu gặp nạn qua hệ thống ống nhòm
quan sát đặc dụng của Hải quân Nhân dân Việt Nam


Trên đảo, ngư dân được tiếp tế xăng dầu theo đúng giá thị trường, được cung cấp nước ngọt miễn phí, được khám chữa bệnh như ở đất liền. Trong năm qua và những tháng đầu năm 2011, riêng xã đảo Song Tử Tây đã khám và cấp thuốc cho hơn 1.500 lượt quân dân, trong đó hơn 150 ca phẫu thuật cấp cứu cho ngư dân các tỉnh như Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa...

Phóng sự ảnh của Quang Đức

Nguồn:http://thethaovanhoa.vn/321N20110528102808866T0/truong-sa-diem-tua-cua-ngu-dan-giua-bien-khoi.htm
Logged
babyphu
Thành viên
*
Bài viết: 50


« Trả lời #38 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2011, 09:33:38 am »


<a href="http://www.youtube.com/watch?v=A1uCTcWH01I" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=A1uCTcWH01I</a>
Logged

"Biển trời Việt Nam đẹp quá. Ta nguyện sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ để bảo vệ từng tấc đất, ngọn cỏ, từng con sóng. Nếu như có phải hy sinh vì mảnh đất mang tên Trường Sa thì cũng đáng tự hào".
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #39 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2011, 03:05:02 pm »

Quan điểm của một số nước về biển Đông thế nào?

VIT - Việc giải quyết tranh chấp trên biển Đông là vấn đề hết sức phức tạp vì lập trường quan điểm của các bên liên quan có nhiều bất đồng sâu sắc. Thêm nữa, với tư cách là một siêu cường nhưng Trung Quốc đang cố tình thực hiện chính sách ngược hẳn với lời nói, làm cho biển Đông gần đây càng nổi sóng dữ dội.

1. Việt nam:

Nhà nước Việt Nam luôn luôn khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó.


Bia chủ quyền của Việt Nam trên một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa trên Biển Đông. Ảnh: An Thảo My.

Việt Nam kiên quyết phản đối mọi hoạt động vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Các hoạt động tiến hành trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không có sự đồng ý của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị pháp lý.

Phía Việt Nam phản đối yêu sách “Đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc. Ngày 7-5-2009, Trung Quốc đã chính thức công khai bản đồ “đường lưỡi bò”. Ngay sau đó, ngày 8-5-2009, Việt Nam và Malaysia cùng gửi công hàm phản đối. Ngày 26/1/2011, Việt Nam đã ra tuyên bố phản đối việc Cục Đo đạc Bản đồ quốc gia Trung Quốc từ ngày 18/1/2011 cung cấp dịch vụ bản đồ trực tuyến "Map World", trong đó vẫn tiếp tục thể hiện đường yêu sách 9 đoạn trên Biển Đông.


Một trong nhiều đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ảnh: C.T.V.

Về việc giải quyết tranh chấp biển Đông, Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, dựa vào nỗ lực và nội lực của chính mình để giải quyết các tranh chấp với các nước liên quan bằng các biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.

2. Trung Quốc:

Lập trường về biển Đông của Trung Quốc thể hiện qua yêu sách “Đường lưỡi bò” bao gồm tới 80% diện tích biển Đông, theo đó Bắc Kinh khẳng định có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Đông (Bắc Kinh luôn khẳng định 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là thuộc chủ quyền Trung Quốc) và các vùng nước kế cận, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất đáy biển ở đó.



Yêu sách “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc

Trung Quốc tuyên bố có “lợi ích cốt lõi” trên biển Đông, ngụ ý so sánh vấn đề biển Đông với Đài Loan, Tây Tạng về mặt ưu tiên chiến lược cơ bản.

Trung Quốc cho rằng hiện nay, tình hình ở Biển Đông vẫn ổn định. Đối với tranh chấp, các bên gác lại để cùng hợp tác khai thác trong khi chưa có biện pháp giải quyết chung thỏa đáng. Trung Quốc chủ trương đàm phán song phương với từng nước, phản đối đa phương và phản đối can thiệp của nước ngoài vào khu vực.

3. Philippines:

Lập trường của Philippines trong vấn đề biển Đông khẳng định Bãi Cỏ Rong (Reed Bank) ở phía Tây đảo Palawan là lãnh thổ của nước này, không nằm trong khu vực có tranh chấp. Đối với yêu sách “Đường lưỡi bò”, trong một văn kiện đề ngày 05/04/2011 gởi đến Liên Hiệp Quốc, Manila đã bác bỏ giá trị tấm bản đồ 9 đoạn mà Bắc Kinh đã công bố.


Philippines: Bãi Cỏ Rong không thuộc quần đảo Trường sa

Đối với việc giải quyết tranh chấp, Philippines xác định luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) là cơ sở cho Malina xác định và bảo vệ lãnh thổ và các quyền liên quan đến biển ở Biển Đông; đồng thời, cũng lấy đó làm kim chỉ nam trong quan hệ với các bên liên quan.

Theo Philippines, các qui định về kiềm chế hành vi không làm phức tạp thêm tình hình biển Đông theo tinh thần DOC đang bị vi phạm một cách trắng trợn.

Nhằm góp phần biến Biển Đông từ một khu vực tranh chấp thành một Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị, và Hợp tác, Malina đề xuất một cơ chế theo đó tách những điểm đảo có tranh chấp ra khỏi những vùng nước không có tranh chấp ở Biển Đông theo quy định của UNCLOS, nhằm đảm bảo rằng "những gì của chúng ta là của chúng ta, và với những gì đang bị tranh chấp, chúng ta có thể cố gắng để tiến tới khai thác chung."

Philíppin tán thành quốc tế hóa vấn đề biển Đông khi hy vọng Mỹ và Nhật Bản đứng về phía mình trong vấn đề Biển Đông, giúp nước này chống lại “mối đe dọa từ Trung Quốc” và bảo vệ an ninh, chủ quyền.

4. Mỹ:

Ngày 14/6/2011, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã công bố bài xã luận, phản ánh quan điểm chính thức của Hoa Kỳ tại châu Á. Theo đó, sự giao tiếp của Hoa Kỳ tại châu Á được dẫn đường bởi một số nguyên tắc:

- Nguyên tắc thứ nhất là thương mại tự do và thông thoáng.

- Nguyên tắc thứ hai là một trật tự quốc tế công bằng, nhấn mạnh đến chuyện các quốc gia phải có những quyền và những trách nhiệm, cùng lúc với việc tuân thủ luật pháp.

-  Nguyên tắc thứ ba là tất cả mọi người phải được tiếp cận thông thoáng vùng trời, vùng biển, vùng không gian, và bây giờ là vùng mạng.

- Cuối cùng, nguyên tắc thứ tư là giải quyết tranh chấp không dùng đến vũ lực.

Những nguyên tắc đó chi phối lập trường, quan điểm và chính sách của Mỹ trong vấn đề biển Đông.


Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates phát biểu tại hội nghị Shangri-La, Singapore, 4/6/2011

Lập trường của Mỹ là tự do hàng hải ở biển Đông là một lợi ích quốc gia của Mỹ. Điều này được thể hiện trong tuyên bố của Ngoại trưởng Clinton trên Diễn đàn An ninh khu vực tại Hà Nội ngày 23/7/2010 : “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, quyền đi lại chung tại Châu Á và tôn trọng luật pháp tại Biển Đông.”

Các phát biểu của quan chức gần đây đều thể hiện mục tiêu ổn định, tự do lưu thông, phát triển kinh tế tự do và không bị cản trở, cũng như cam kết duy trì sự ổn định tại Biển Đông cũng như trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Trong vấn đề giải quyết tranh chấp biển Đông, Mỹ chủ trương chống sử dụng vũ lực và ủng hộ giải quyết tranh chấp bằng đàm phán đa phương. Washington cũng không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp ấy, không can dự vào những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải. Tuy nhiên Mỹ có mối quan tâm về việc công bố chủ quyền những vùng lãnh hải không dựa vào đường bờ biển, không phù hợp với luật lệ quốc tế.

Mỹ chủ trương thực hiện chính sách duy trì sự hiện diện về ngoại giao, thương mại và quân sự để bảo vệ hoà bình và quyền lợi của Mỹ ở nơi này. Chính sách này cũng nhằm bảo vệ sự tôn trọng luật biển quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển.

5. Nga:

Lập trường của Nga thể hiện qua việc Nga khẳng định có những lợi ích sống còn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, về quyền của Nga với tư cách là một quốc gia có lãnh hải lớn nhất thế giới và về việc sẵn sàng thực hiện những lợi ích mà không làm tổn hại đến ai.


Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov

Là đối tác chiến lược của Việt Nam và Trung Quốc cũng như với tất cả các quốc gia thành viên ASEAN và APEC, đồng thời có những lợi ích kinh tế quan trọng của những công ty dầu khí của Nga đã nhiều năm hợp tác thành công với Việt Nam, Nga quan tâm trong việc nhằm ổn định cũng như việc đảm bảo tự do hàng hải và giao thương trên biển ở khu vực này.

Trong giải quyết tranh chấp biển Đông, Nga ủng hộ cấu trúc an ninh bình đẳng và hợp tác, thông quan đối thoại, thảo luận, hội đàm để giải quyết những vấn đề phức tạp. Nga ủng hộ ngoại giao đa phương, xây dựng lòng tin và tính đến những lợi ích của nhau. Quan điểm của Nga trên đây đã được Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov tuyên bố vào tháng 7/2009, trong bài phát biểu trước sinh viên tại trường Đại học tổng hợp Bangkok sau khi kết thúc phiên họp của diễn đàn ARF tại Phuket.

NVC
Nguồn:http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/Quanhequocte/LA89904/default.html
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM