Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:06:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 432769 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #70 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2011, 12:36:58 am »

Điều trần ở Thượng viện Mỹ: Các vấn đề Biển đảo và tranh chấp chủ quyền ở Đông Á (tiếp theo)

Điều trần của Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher đặc trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương

Thưa Chủ tọa, xin cảm ơn vì đã mời tôi đến Tiểu ban để điều trần về các tranh chấp lãnh hải và chủ quyền. Đây là những vấn đề trọng tâm trong cán cân an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương và cũng là những vấn đề mà chúng tôi ở Bộ Quốc phòng đang theo dõi chặt chẽ. Tôi đánh giá cao sự quan tâm liên tục của Tiểu ban đối với chủ đề quan trọng này và mong rằng chúng ta sẽ còn tiếp tục thảo luận về những diễn biến xung quanh chủ đề này.

Trong bài phát biểu ngày 30/5/2009 tại Hội nghị Quốc phòng thường niên tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Sing-ga-po, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gate đã khái quát những thay đổi đáng chú ý trong môi trường an ninh châu Á kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Cụ thể hơn, trong khi ca ngợi người dân châu Á giờ đây đã có mức sống cao hơn và giàu có hơn, Bộ trưởng Gates nhấn mạnh tương quan giữa sự ổn định và thịnh vượng về kinh tế - một trong những đặc điểm chủ chốt của môi trường an ninh châu Á trong giai đoạn này. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong hai thập kỷ qua nhìn chung là hoà bình và ổn định. Sự ổn định này góp phần mang lợi ích cho tất cả các bên.

Dù có sự ổn định, song một trong những nhân tố mà chúng ta thấy có khả năng thách thức môi trường an ninh khu vực, đồng thời là chủ đề của buổi điều trần ngày hôm nay, là một loạt tranh chấp lãnh thổ dai dẳng, đặc biệt là tranh chấp biển đảo ở Đông Nam Á và Biển Hoa Nam giữa một số quốc gia trong khu vực. Trong những năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến căng thẳng và mâu thuẫn gia tăng về những tranh chấp này. Điều đó đi ngược lại tinh thần chủ đạo là hòa bình và hợp tác nhằm tìm kiếm các giải pháp ngoại giao cho vấn đề này như được nêu trong Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa năm 2002.

Tranh chấp gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân: nhu cầu về dầu khí gia tăng khiến các bên tranh chấp quan tâm hơn nữa về đảm bảo quyền đối với các nguồn lợi; các quốc gia trong khu vực quan tâm hơn tới các đòi hỏi chủ quyền khi việc nộp đơn xin mở rộng thềm lục địa theo Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc chuẩn bị hết hạn vào tháng 5/2009; chủ nghĩa dân tộc gia tăng khiến chính phủ và nhân dân các nước càng nhạy cảm trước sự coi nhẹ và xâm phạm về lãnh thổ và chủ quyền. Bên cạnh đó, khả năng quân sự đang gia tăng của Trung Quốc đã trở thành yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần và nội dung cuộc đối thoại về các tranh chấp biển đảo trong khu vực.

Khi phân tích các hoạt động của Trung Quốc trên biển, tôi nghĩ cần có sự tách biệt giữa việc các tàu hải quân Mỹ bị cản trở ở gần Trung Quốc và cách tiếp cận của Trung Quốc đối với những đòi hỏi chủ quyền ở Biển Hoa Nam nói chung. Mặc dù phải có sự phân biệt rõ như vậy, song cơ sở để Mỹ đưa ra phản ứng đều giống nhau.

Việc các tàu cá của Trung Quốc quấy rối các tàu hải quân Mỹ khi đang tiến hành các hoạt động quân sự thường lệ và hợp pháp ở Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc xảy ra năm nay là một điểm tối trong quan hệ Trung - Mỹ. Tuy nhiên, tôi cũng xin nhấn mạnh là kể từ tháng Năm đến nay chưa có thêm vụ tàu cá mang cờ Trung Quốc nào quấy rối các tàu hải quân Mỹ.

Mặc dù bất cứ vụ va chạm trên biển nào cũng đều đáng lo ngại, song số vụ va chạm giảm dần sau một sự kiện cụ thể cho thấy cam kết của lãnh đạo hai nước là giải quyết những vấn đề này một cách hoà bình và thông qua con đường ngoại giao.

Bộ Quốc phòng coi hành vi của Trung Quốc trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của nước này và rộng hơn trong khu vực Biển Hoa Nam - mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với phần lớn khu vực này - là dựa trên hai cơ sở.

Thứ nhất, Trung Quốc có ý đồ chiến lược trong việc khẳng định chủ quyền đối với phần lớn vùng Biển Hoa Nam. Điều này chủ yếu thể hiện trên lĩnh vực chính trị và kinh tế, như đồng nghiệp của tôi ở Bộ Ngoại giao vừa trình bày chi tiết, nhưng đủ để nói rằng Trung Quốc chủ động phản đối bất cứ hoạt động nào của các bên khác nhằm khẳng định những đòi hỏi về chủ quyền của họ. Việt Nam, Đài Loan, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây đều đòi hỏi chủ quyền đối với các phần khác nhau ở Biển Hoa Nam; những đòi hỏi này xung đột với nhau, đặc biệt những khu vực xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ hai, để củng cố ảnh hưởng chính trị và chiến lược đang gia tăng ở khu vực này, Trung Quốc đã và sẽ tiếp tục tăng cường vị thế quân sự ở Biển Hoa Nam. Ví dụ, khi Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc nâng cấp các công trình ở đảo Hải Nam, chúng ta thấy có sự liên hệ trực tiếp với tư thế chủ động của Trung Quốc khi phản ứng trước các hoạt động của Mỹ trên biển và trên không phận.

Hiểu được ý đồ chiến lược của Trung Quốc không có nghĩa là Bộ Quốc phòng chấp nhận cách Trung Quốc khẳng định vị thế trong khu vực. Chúng ta phản đối mạnh mẽ hành vi khiến sự an toàn của các tàu của chúng ta bị đặt vào tình thế rủi ro và hành vi đó là sự vi phạm rõ ràng các chuẩn mực quốc tế về hành vi ứng xử ở vùng biển quốc tế bên ngoài vùng lãnh hải. Bộ Quốc phòng sẽ tiếp tục sử dụng tất cả các kênh để truyền đạt quan điểm này tới những người đồng nhiệm của chúng ta ở Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Cụ thể, tại cơ chế Tham vấn Quốc phòng gần đây tổ chức ngày 23-24/6 tại Bắc Kinh, chủ đề này đã được đưa vào chương trình nghị sự. Hai bên nhất trí tổ chức một hội nghị đặc biệt theo các điều khoản của Thoả thuận Tham khảo Quân sự trên biển Mỹ-Trung (MMCA, 1998) trong những tuần tới để xem xét cách thức thúc đẩy tiến trình này, tăng cường thông tin liên lạc, giảm khả năng xảy ra va chạm hoặc tai nạn giữa lực lượng hai nước khi hoạt đồng gần nhau.

Hơn thế nữa, chúng ta phản đối bất kỳ nỗ lực của quốc gia nào nhằm hạn chế các quyền tự do trên biển khơi trong phạm vi các khu vực đặc quyền kinh tế. Luật tập quán Quốc tế, như ghi nhận tại điều 58, 87 trong Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp Quốc, đảm bảo tất cả các quốc gia đều có quyền hoạt động trong khu vực đặc quyền kinh tế; tự do hàng hải và tự do hàng không trên các vùng biển khơi và các hình thức sử dụng đại dương truyền thống liên quan tới các quyền tự do này. Kể từ khi Công ước Luật biển 1982 ra đời, quan điểm của Mỹ là các quyền hàng hải và các quyền tự do hàng hải áp dụng trong vùng đặc quyền kinh tế, về định tính và định lượng, đều giống với các quyền tự do áp dụng ở vùng biển khơi. Chúng ta ghi nhận rằng gần 40% vùng biển thế giới thuộc phạm vi vùng đặc quyền kinh tế kéo dài 200 hải lý, do vậy, vì nền kinh tế toàn cầu và vì hoà bình và an ninh quốc tế, chúng ta cần phải khẳng định và duy trì mạnh mẽ các quyền tự do và quyền hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế.

Như đã đề cập ở trên, hoạt động quân sự của chúng ta trong khu vực là hoạt động thường xuyên và phù hợp với luật tập quán quốc tế như ghi nhận trong Công ước Luật biển 1982. Chúng ta đã kiên trì khẳng định chính sách cơ bản đối với các đòi hỏi mâu thuẫn nhau ở Biển Hoa Nam - mà mới đây nhất là ở Đối thoại Shang-ri La tháng 5/2009 khi Bộ trưởng Gates khẳng định rằng Mỹ không đứng về bên nào trong các tranh chấp chủ quyền và ủng hộ một giải pháp hoà bình bảo vệ quyền tự do hàng hải. Trong bài phát biểu tại cơ chế đối thoại này, Bộ trưởng Gates khẳng định “dù là trên biển, trên không trung, trên vũ trụ hay không gian mạng, những không gian chung của thế giới là những vùng mà ở đó chúng ta phải hợp tác, ở đó chúng ta phải tuân thủ pháp quyền và các cơ chế khác giúp duy trì hoà bình khu vực.”

Bộ trưởng Gates nói: “chúng tôi ủng hộ sự cởi mở, phản đối sự độc quyền, và ủng hộ việc cùng sử dụng các không gian chung một cách có trách nhiệm nhằm duy trì và thúc đẩy sự thịnh vượng chung.” Mỹ có lợi ích trong việc duy trì các tuyến hàng hải mở, tránh bị kéo vào các xung đột khu vực; ủng hộ tìm kiếm một giải pháp cho tranh chấp lãnh thổ thông qua cơ chế đa phương, tránh thói quen tạo tiền lệ; và bảo vệ uy tín của Mỹ ở Đông Nam Á.

Để hỗ trợ các mục tiêu chiến lược của chúng ta, Bộ Quốc phòng đã khởi động một chiến lược theo nhiều hướng: 1) thể hiện rõ bằng lời nói và hành động cho thấy các lực lượng Mỹ tiếp tục hiện diện và là lực lượng quân sự có ưu thế vượt trội trong khu vực; 2) cân nhắc và xác định các đòi hỏi về quyền tự do hàng hải của các tàu hải quân Mỹ; 3) xây dựng quan hệ an ninh chặt chẽ hơn với các đối tác trong khu vực, cả ở cấp độ chính sách và thông qua các cơ chế đối thoại chiến lược, lẫn cấp độ triển khai thông qua xây dựng năng lực cho đối tác, đặc biệt về lĩnh vực an ninh biển, và 4) củng cố các cơ chế quan hệ quân sự-ngoại giao đã có với Trung Quốc nhằm cải thiện thông tin liên lạc và giảm bớt rủi ro về tính toán sai.

Hiện diện về quân sự có lẽ là bộ phận quan trọng nhất trong thành tố đầu tiên của chính sách đề cập ở trên. Ở khía cạnh này, thì căn cứ quân sự ở Guam được coi là cái neo vĩnh viễn cho sự hiện diện của Mỹ trong khu vực và củng cố vị thế “cường quốc khu vực” của chúng ta. Chúng tôi tin rằng điều này sẽ có tác dụng ổn định các chính sách và chiến lược của các bên đòi hỏi chủ quyền ở Biển Hoa Nam. Nếu chúng ta thực hiện một chính sách khác tức là Mỹ rút khỏi khu vực và tạo khoảng trống quyền lực, điều đó sẽ khiến những quốc gia yếu kém nhất trong số các bên sẽ không còn chút không gian chiến lược nào để hoạt động.

Về thành tố thứ hai trong chiến lược của chúng ta, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ sẽ tiếp tục khẳng định các quyền tự do hàng hải trong khu vực. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động ở Biển Hoa Nam; tuân thủ nghiêm ngặt luật tập quán quốc tế ghi nhận trong Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc. Hoạt động của Mỹ sẽ được điều chỉnh bởi lợi ích của chúng ta trong khu vực và mong muốn duy trì an ninh và ổn định trên toàn bộ Tây Thái Bình Dương.

Thành tố thứ ba trong chiến lược của chúng ta tập trung vào việc mở rộng và củng cố các chương trình ngoại giao quốc phòng và xây dựng năng lực trong khu vực như những nỗ lực hỗ trợ quan trọng nhằm ngăn chặn không cho căng thẳng ở Biển Hoa Nam phát triển thành mối đe doạ đối với các lợi ích của Mỹ. Để đạt mục tiêu đó, gần đây chúng ta đã thiết lập cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng cấp cao với Việt Nam và Ma-lai-xi-a, bổ sung cho các cơ chế tham vấn vốn đã rất mạnh của chúng ta với Phi-líp-pin, Thái Lan, và In-đô-nê-xi-a. Thông qua hàng loạt hoạt động hợp tác an ninh từ hội thảo đến tập trận đa phương chúng ta đang giúp các quốc gia trong khu vực vượt qua các trở ngại lâu đời về lịch sử và văn hoá vốn cản trở nỗ lực hợp tác an ninh đa phương.

Cuối cùng, chúng ta cần củng cố các cơ chế đã có nhằm lôi kéo Trung Quốc thảo luận về vấn đề này và các vấn đề an ninh khác, trong đó có Cơ chế Tham vấn Quốc phòng Mỹ-Trung, Cơ chế Phối hợp Chính sách Quốc phòng Mỹ-Trung, Thỏa thuận Tham khảo các vấn đề quân sự trên biển Mỹ-Trung. Các cơ chế này là kênh thông tin liên lạc mở và liên tục để xây dựng lòng tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau hơn nữa, để thảo luận thẳng thắn về những bất đồng, tăng cường hiểu biết và áp dụng các tiêu chuẩn về an toàn và các nguyên tắc hoạt động cơ bản nhằm tăng cường an toàn cho các thuỷ thủ và phi công của tất cả các quốc gia trong khu vực.

Tất cả những nỗ lực này đều nhằm giảm thiểu biến động. Chúng tôi tin rằng các bên tranh chấp ở Biển Đông sẽ đánh giá Mỹ là nhân tố giúp ổn định trong khu vực. Mặc dù chúng ta không đề xuất làm trung gian hay hoà giải xung đột, nhưng sự hiện diện của chúng ta mang lại cảm giác ổn định và mở ra không gian cho các bên tranh chấp nhằm tìm kiếm các biện pháp chính trị giải quyết những vấn đề này.

Tôi rất sẵn lòng trả lời các câu hỏi của quý vị.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/chuyen-de/ieu-tran-thng-vien-my/647-iu-trn-ca-pho-tr-ly-b-trng-quc-phong-robert-scher-c-trach-khu-vc-ong-a-va-thai-binh-dng
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #71 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2011, 07:51:44 am »

Tokyo 'bắt tay' ASEAN 'chọi' Trung Quốc?

Căng thẳng biển Đông những ngày qua vẫn chưa có dấu hiệu “nguội dịu”, báo chí Nhật Bản lại "đổ dầu vào lửa" khi lên tiếng kêu gọi các nước ASEAN “bắt tay” Tokyo để “đối chọi’ với Trung Quốc.


Tờ Yomiuri Shimbun ngày 20/6 đăng bài xã luận có nhan đề “Nhật Bản cần xây dựng liên minh quốc tế để ứng phó với Trung Quốc”.

Bài báo nhận định, những tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN vẫn diễn biến phức tạp. Trung Quốc liên tục thể hiện thái độ cứng rắn, khiến nhiều nước quan ngại về hòa bình, ổn định tại biển Đông.

Trong bối cảnh này, lãnh đạo cấp cao Nhật Bản và Indonesia khẩn cấp nhóm họp tại Tokyo ngày 17/6 vừa qua và thống nhất sẽ tăng cường hợp tác trong giải quyết các vấn đề bảo đảm an ninh tại biển Đông và chống hải tặc tại eo biển Malacca.

Bài báo cũng khẳng định, nếu Tokyo và Jakarta thông qua đối thoại tăng cường hợp tác nhằm duy trì ổn định toàn khu vực thì ý đồ bành trướng và âm mưu “siêu cường biển” của Trung Quốc sẽ bị “dập tắt”.

Tờ Nihon Keizai Shimbun ngày 20/6 cũng có bài viết về nội dung hợp tác này. Trong đó, tác giả nhấn mạnh, quan hệ chiến lược giữa Nhật Bản và Indonesia đóng vai trò quan trọng trong dàn xếp căng thẳng. Với vai trò chủ tịch luân phiên ASEAN, Jakarta sẽ không dễ dàng trong điều chỉnh quan hệ với Bắc Kinh.

Hiện Trung Quốc “lên gân” với các nước trong khu vực về vấn đề biển Đông. Và động thái này không những cản trở hoạt động thăm dò khai thác của Việt Nam và Philippines mà còn khiến cho tình hình thêm phần căng thẳng.

Mặt khác, Bắc Kinh cũng không ngừng sử dụng thực lực kinh tế và quân sự của mình để tận thu những lợi ích căn bản tại vùng biển này. Vì vậy, Nihon Keizai Shimbun nhận định, Nhật Bản cần khẩn trương tăng cường hợp tác với các nước ASEAN.

Mai Anh (theo Huanqiu)

Link: http://www.baodatviet.vn/Home/thegioi/Tokyo-bat-tay-ASEAN-choi-Trung-Quoc/20116/151343.datviet
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #72 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2011, 12:04:54 pm »

Trung Quốc 'giương lưỡi lê' trên mặt báo

Trong vài ngày gần đây, trên các tờ báo uy tín, được coi là “báo Đảng” của Trung Quốc liên tiếp có những bài viết cứng rắn, bày tỏ thái độ của quốc gia này về những căng thẳng trên biển Đông, bất chấp phản ứng kịch liệt từ dư luận quốc tế.



Bà Lý Hồng Mai: "Việt Nam nên kiềm chế những tham vọng xa vời trên biển Hoa Nam".

Mới đây nhất, ngày 21/6, Thời báo Hoàn Cầu đã có một bài xã luận có tên “Trung Quốc phải phản ứng lại những hành động khiêu khích của Việt Nam”.

Thời báo Hoàn Cầu là  phụ bản chính thống của Nhân dân nhật báo (People’s Daily) – tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Bài xã luận đã đưa ra những tuyên bố cứng rắn nhất từ trước đến giờ, bao hàm cả những lời lẽ mang tính đe dọa quân sự.

“Trung Quốc sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích của mình trên biển Hoa Nam (cách Trung Quốc gọi biển Đông)”, sẵn sàng “sử dụng lực lượng hải giám để đối phó, và nếu cần, sẽ dùng lực lượng hải quân tấn công lại”.

Thậm chí, bài xã luận này còn không ngần ngại tuyên bố “Trung Quốc tự tin để tiêu diệt các tàu xâm lược Việt Nam”.

Đây không phải là tờ báo duy nhất đưa ra lý lẽ kiểu này, cùng ngày China Daily cũng đổ lỗi “nguồn gốc của tranh chấp trên biển Hoa Nam hiện nay là do những hành động đơn phương của Việt Nam và Philipppines”.

Tác giả bài viết này còn đề nghị Trung Quốc trước hết phải nói rõ cho quốc tế biết lập trường của mình về vấn đề biển Đông, thứ hai là phải bám lấy nguyên tắc “cùng phát triển những vùng đang tranh chấp”, và thứ ba là chính phủ phải lập ra một cơ quan cao cấp về các vấn đề biển để phối hợp hành động, đồng thời khẳng định đường ranh giới hình chữ U (đường 9 đoạn bất hợp pháp trên Biển Đông).

Trước đó, ngày 20/6, trên tờ Nhân dân nhật báo cũng có một bình luận của nữ ký giả Lý Hồng Mai tiêu đề “Việt Nam nên tỉnh giấc mộng dữ”.



Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân: "Tốt hơn hết Mỹ nên ngừng can thiệp vào tranh chấp ở Nam Hải".

Trong bài viết này, tác giả cho rằng Việt Nam nên “kiềm chế những tham vọng xa vời trên biển Hoa Nam, đừng hy vọng gắn bó với Mỹ. Lý do đơn giản là một khi Mỹ cảm thấy lợi ích riêng bị đe dọa sẽ sẵn sàng hy sinh lợi ích của các nước xung quanh vùng biển này”.

Trung Quốc cũng đã ám chỉ khả năng dùng đến quân sự để giải quyết căng thẳng vài ngày trước đó.

Hôm 18/6,Văn Hối – tờ báo uy tín của Bắc Kinh  - đã đăng bài xã luận có đoạn “Cho dù chủ trương giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng phương thức hòa bình, nhưng Trung Quốc cũng đã làm tốt các công tác chuẩn bị cần thiết về mặt quân sự, có đủ quyết tâm và thực lực để bảo đảm lợi ích cốt lõi của đất nước không bị xâm phạm".

Trong bài viết có cụm từ “quyết không ngồi đó để nhìn” mà nhất định sẽ có đòn “phản kích mạnh mẽ", cho thấy thái độ kiên quyết, cứng rắn, không ngại sử dụng vũ lực của Bắc Kinh.

Không chỉ thông qua những bài báo, ngày 22/6, Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân một lần nữa yêu cầu Mỹ không can dự vào tranh chấp khu vực.

“Tốt hơn hết Mỹ nên ngừng can thiệp vào tranh chấp ở Nam Hải (biển Đông), Washington nên để cho các nước liên quan tự giải quyết. Bất kỳ sự tham gia nào của Washington cũng khiến tình hình thêm phức tạp”.

Ngoài ra, vị thứ trưởng này tuyên bố Trung Quốc không hề gây hấn trên Biển Đông, họ rất quan tâm đến cái gọi là “hành động khiêu khích” của các bên ở vùng biển tranh chấp. Ông này cho rằng tốt hơn hết Mỹ nên đứng ngoài cuộc đối với những căng thẳng trên Biển Đông trong thời gian gần đây.

Cùng với tiết lộ thử nghiệm tàu sân bay vào 1/7 tới (>> chi tiết), những tuyên bố ngày càng gay gắt từ phía Trung Quốc được cho là  sự đáp trả lại việc các học giả quốc tế “chỉnh huấn” quốc gia này tại Hội nghị an ninh hàng hải quốc tế.

Những gì Trung Quốc nói, những việc Trung Quốc làm đã trưng cho thế giới thấy bản chất cái mà nước này gọi là “kiềm chế”, “phấn đấu vì hòa bình”. Một loạt động thái mới của Trung Quốc chắc chắn sẽ khiến sự căng thẳng trong khu vực ngày càng trầm trọng.

link: http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Trung-Quoc-giuong-luoi-le-tren-mat-bao/20116/151448.datviet
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #73 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2011, 01:22:42 am »

Trung Quốc quyết tâm áp dụng Học thuyết Monroe ở Đông Nam Á

Tác giả: MICHAEL RICHARDSON

Khi sức mạnh của Trung Quốc trở nên ngày một rõ rệt hơn, đặc biệt đối với các nước láng giềng châu Á, giới lãnh đạo ở Bắc Kinh đang ngày càng khó cân bằng giữa những ngôn từ hòa dịu với những hành động quyết đoán. Việc Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt mới đây muốn trấn an các nước Đông Nam Á và các nước khác coi biển Đông là một tuyến đường huyết mạch về kinh tế và an ninh, cho thấy độ đáng tin cậy của Trung Quốc đã trở nên mập mờ như thế nào.

Tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, Tướng Lương Quang Liệt nhắc lại "câu thần chú" của các quan chức Trung Quốc từ cấp cao nhất là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trở xuống: rằng chính sách an ninh của Trung Quốc "thuần túy mang tính phòng thủ"; rằng Trung Quốc sẽ "không bao giờ tìm cách bá chủ hay bành trướng quân sự"; và "cam kết duy trì hòa bình và ổn định tại biển Đông".

Trong bài phát biểu trước các chuyên gia quốc phòng quốc tế, Tướng Lương không nhắc tới tuyên bố đòi chủ quyền từ lâu của Trung Quốc đối với tất cả các nhóm đảo chính ở biển Đông và đòi quyền tài phán đối với các vùng nước lân cận, vùng đánh cá và nguồn tài nguyên dưới lòng biển, trong đó có dầu mỏ và khí tự nhiên. Đòi hỏi của Trung Quốc chồng lấn với đòi hỏi của Đài Loan (Trung Quốc), Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei, bao trùm khoảng 80% biển Đông, rộng 3,35 triệu km vuông, kéo dài từ Singapore tới Đài Loan.

Tuy nhiên, theo một tuyên bố chính thức của Trung Quốc, không có sự tương phản giữa các cam kết và chính sách của họ. Họ cho rằng vì biển Đông là phần "không thể tranh cãi" của lãnh thổ toàn vẹn và thống nhất quốc gia Trung Quốc, nên việc bảo vệ vùng biển này bằng mọi cách, kể cả sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, chỉ là để "phòng thủ".

Sau tuyên bố của Tướng Lương, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam và Philippines đã đặt lại vấn đề các cam kết của Trung Quốc hướng tới một giải pháp hòa bình về việc ai sẽ kiểm soát "trái tim biển" của Đông Nam Á. Tướng Phùng Quang Thanh cảnh báo không nên tái diễn sự việc ngày 26/5, khi một tàu Trung Quốc cắt cáp thăm dò của một tàu thăm dò dầu khí trong vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam 220km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 630km. Nhưng tuần trước, Việt Nam cho biết một tàu thăm dò dầu khí khác của mình đã bị một tàu cá Trung Quốc cố ý chặn lại ngay trong vùng EEZ của Việt Nam, cách đảo Hải Nam hơn 1.000km.
Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc  Lương Quang Liệt. Ảnh: AP
Tại Manila, Đại sứ Trung Quốc Lưu Kiến Siêu cảnh báo các nước khác cũng đòi chủ quyền trên biển Đông nên ngừng hoạt động thăm dò dầu khí tại các vùng biển mà Trung Quốc đòi chủ quyền khi chưa được Trung Quốc cho phép.

Nếu những gì Philippines lo ngại là đúng, liên quan đến việc các tàu của Trung Quốc thả vật liệu xây dựng và phao cứu sinh trên bãi đá không có người sinh sống Amy Douglas thuộc quần đảo Trường Sa trong các ngày 21-24/3, tức là vào đúng thời điểm Tướng Lương đang ở Manila thảo luận về cách thức hóa giải căng thẳng, thì đây sẽ là một sự vi phạm nghiêm trọng Tuyên bố về Ứng xử của các bên trên biển Đông, mà ASEAN và Trung Quốc đã ký năm 2002.

Trung Quốc từ chối pháp điển hóa tuyên bố trên. Nhưng Việt Nam cũng như Philippines, Malaysia và Brunei, đều tỏ ra quyết tâm và không khoan nhượng trong việc bảo vệ các lợi ích của mình.

Ngày 9/6 vừa qua, khi các tin tặc từ Việt Nam và Trung Quốc phát động chiến dịch chống lại nhau, tấn công hàng trăm trang web trong đó có cả các trang web của chính phủ, trong bối cảnh sự giận dữ đang tăng cao liên quan đến tranh chấp lãnh thổ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lần đầu tiên "đăng đàn" công khai.

Ông nói chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng và quần đảo Trường Sa là không thể tranh cãi, và Việt Nam sẽ kiên quyết bảo vệ chủ quyền của mình. Trung Quốc, Đài Loan, Philippines và Malaysia cũng đang đòi chủ quyền đối với một số đảo trong quần đảo này.

Việt Nam và Philippines đang xúc tiến khai thác dầu mỏ tại các vùng biển đang tranh chấp với Trung Quốc. Trung Quốc thì tìm mọi cách ngăn chặn các hoạt động này. Giới chức Trung Quốc cho biết giữa năm 2010, 180 mỏ dầu và khí đốt và hơn 200 giếng dầu có triển vọng đã được phát hiện dưới lòng biển Đông. Họ cho biết thiệt hại đối với Trung Quốc tương đương 20 triệu tấn dầu mỗi năm, khoảng 40% tổng sản lượng dầu ở ngoài khơi của nước này.

Nhưng cuộc tranh giành quyền kiểm soát biển Đông không chỉ liên quan đến chủ quyền quốc gia và các nguồn tài nguyên có thể đang nằm trong lòng đất dưới đáy biển. Cuộc chiến này còn mang một chiều kích chiến lược. Trong một bài viết trên tờ China Daily gần đây, giáo sư chính trị Gong Jianhua, thuộc Đại học Đại dương Quảng Đông, đã giải thích tại sao.

Ông viết: "Chỉ cần một số lượng nhỏ các đảo đang tranh chấp nằm ngoài quyền kiểm soát của mình, Trung Quốc sẽ mất đi những cầu nối vùng biển quốc gia với Thái Bình Dương. Để trở thành một cường quốc có ảnh hưởng, Trung Quốc phải biến đổi từ một 'cường quốc đại lục' thành một 'cường quốc biển'. Và tranh chấp trên biển Đông là một phép thử thực sự để họ đạt mục đích này".

Chính sách của Trung Quốc, được hỗ trợ bởi sự hiện đại hóa quân sự nhanh chóng và sự mở rộng các hạm đội hải quân và tàu tuần tra, đang có vẻ ngày càng giống với một Học thuyết Monroe áp dụng cho vùng biển ở châu Á. Học thuyết này là một tuyên bố chính sách năm 1823 của Mỹ nhằm cấm các vương quốc Âu châu đòi quyền kiểm soát bán cầu Tây. Cùng với thời gian, Mỹ đã xây dựng một lực lượng hải quân đủ mạnh để áp dụng học thuyết này. Trung Quốc có thể cũng đang cố làm điều tương tự ở biển Đông./.

Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-20-trung-quoc-quyet-tam-ap-dung-hoc-thuyet-monroe-o-dong-nam-a
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #74 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2011, 02:34:06 am »

Biển Đông: Động thái nhỏ có thành chuyện lớn?

Tác giả: Hoàng Phương

Hai ngày thảo luận về an ninh hàng hải ở Biển Đông, các học giả quốc tế đặt nhiều câu hỏi về khả năng của những xung đột nóng, và cuộc chạy đua vũ trang trên Biển Đông, khi các bên có xu hướng cứng rắn hơn.


Ai đang làm nổi sóng Biển Đông?

Các học giả Trung Quốc cho rằng chính Mỹ, và Việt Nam, Philippines gây căng thẳng ở Biển Đông. GS Tô Hạo nói rằng, phải có lí do gì mới xảy ra nhiều sự cố như vậy trên Biển Đông trong thời gian ngắn. Trung Quốc - Việt Nam từng hợp tác tốt trong quá khứ. Hẳn Việt Nam phải có hành động nào đó, và Trung Quốc đáp trả. (Việc đổ lỗi này không có gì mới, nếu nhìn vào những phát biểu chính thức của Trung Quốc sau các sự cố vừa qua - NV).

Một vị học giả khác cũng đến từ Trung Quốc thì cho rằng, chính Mỹ hậu thuẫn cho ASEAN nói riêng và Việt Nam nói chung trong việc nói cứng với nước này về Biển Đông.  Có viên chức của Đại sứ quán Trung Quốc còn đặt thẳng câu hỏi cho học giả Việt Nam: "Nếu Mỹ không đứng đằng sau lưng, thì các anh có phản ứng mạnh như thế không?" (Trong khi đó, TS Trần Trường Thủy nói rõ: việc Việt Nam công khai những hành động của Trung Quốc là muốn Trung Quốc nghĩ lại, thay đổi cách hành xử).

Góc nhìn này không nhận được sự chia sẻ của các học giả quốc tế. Câu hỏi "có ai ở đây ủng hộ quan điểm của Trung Quốc" được đáp lại bằng tràng cười học giả, không hơn. Các học giả thống nhất ở một điểm: Trung Quốc phải chịu trách nhiệm cho căng thẳng gia tăng.

Về việc các nước ASEAN kêu gọi Mỹ can dự ở biển Đông, TS Stein Tonnesson cho rằng "chuyện này hoàn toàn do lỗi của Trung Quốc, đặc biệt là do những hành vi của lực lượng hải giám nước này trong hai năm vừa rồi".

TNS John McCain đã "nói thẳng" sự thật "không mấy vui vẻ": Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.

Còn GS Carl Thayer thì cho rằng Trung Quốc đang "trả đũa" Việt Nam vì vai trò của nước này trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông năm 2010 trên tư cách chủ tịch ASEAN. Hành động của Trung Quốc ở Bãi Cỏ Rong nhằm mục đích thăm dò xem liệu Hiệp định an ninh chung Mỹ - Philippines có giá trị hay không đối với cụm đảo Kalayaan.

Về việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm cuối tháng 5 và đầu tháng 6 ngay trước và sau thềm hội nghị an ninh lớn ở Shangri-La, các học giả cho rằng chủ đích của Trung Quốc là để đo phản ứng của các nước, đặc biệt là Mỹ, đối với các động thái gây hấn của mình. Trên góc độ nào đó, Trung Quốc đã cảm thấy mình có khả năng thách thức trật tự mà Mỹ đang kiểm soát.

Đâu mới là bộ mặt thật của Trung Quốc?

Hiện nay, một mặt, giới lãnh đạo Bắc Kinh khi tiếp xúc với Mỹ (Tổng thống Obama vào tháng 1/2011 và Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates tại Shangri La) thể hiện quyết tâm kiềm chế, vì quan hệ chiến lược Mỹ - Trung. Mặt khác, Trung Quốc lại leo thang liên tục bằng các áp lực quân sự và phi quân sự lên Việt Nam và Philippines ở Biển Đông.

"Chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc. Ngay sau những tuyên bố hòa bình của bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc ở Shangri-La chỉ vài ngày, tàu Trung Quốc lại tiếp tục cắt cáp tàu Viking 2", ông Quý chỉ rõ.

Giới học giả tại hội thảo đặt câu hỏi: Đâu mới là bộ mặt thật của Trung Quốc (real China)?

Liệu Bắc Kinh có thực sự chân thành, hay chỉ sử dụng những lời ngọt ngào ở cấp lãnh đạo chính trị để lừa phỉnh Mỹ và ASEAN tin rằng sự leo thang dọa dẫm sẽ chấm dứt?  Hay lãnh đạo nước này dùng quân sự để bắt các nước ASEAN yếu hơn nhượng bộ, và có lẽ, sau đó, sẽ là sự nhượng bộ từ Mỹ?

Vẫn không có câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi này, trong khi mối lo về các sự cố vẫn hiện hữu, khi tần suất các sự cố thời gian qua tăng đáng ngại.

Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục những hành động lấn át, thì tình hình Ðông Nam Á sẽ rất bất ổn, vì "bất cứ một động thái nhỏ nào cũng có thể biến thành chuyện lớn", TS Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam nói.

Cần tạo áp lực ngoại giao tổng hợp, tránh đối đầu

Theo GS Carl Thayer, cả Philippines và Việt Nam nên có các bước đi để tăng cường khả năng thực thi chủ quyền quốc gia ở vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước. Sự yếu kém của họ chỉ càng mời mọc Trung Quốc hành xử quyết đoán hơn.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đối đầu bằng vũ lực với Trung Quốc. Bởi như lo ngại của không ít học giả, chủ nghĩa dân tộc lên cao ở Bắc Kinh và Hà Nội sẽ khiến leo thang mức độ tranh chấp, theo tính toán hoặc có thể, không chủ ý.

Hiện nay, Trung Quốc hăm dọa láng giềng, láng giềng hăm dọa lại. Thế nhưng, nếu Việt Nam cứng tới mức xảy ra xung đột nóng, Trung Quốc càng hưởng lợi nhiều, vị giáo sư người Úc này nói.

Theo ông, ASEAN và cộng đồng quốc tế phải đấu tranh về mặt ngoại giao với những hành xử quyết đoán mang tính hiếu chiến của Trung Quốc.

Cần tạo "áp lực ngoại giao tổng hợp" lên Trung Quốc trong hai hội nghị tới đây, ARF và Thượng đỉnh Đông Á để nước này tôn trọng cam kết của mình trong DOC.

Trong khi bác bỏ khả năng chiến tranh, trao đổi tại hội thảo, GS Tô Hạo nhiều lần nhấn mạnh Việt Nam và Trung Quốc là anh em. Theo ông này, anh em thì cũng có khác biệt. Người anh lớn hơn, mạnh hơn, luôn muốn người em nghe lời mình còn người em lúc nào cũng bị áp lực ở dưới tầm che chở của anh, nên có tâm lí sợ anh là lẽ thường.

GS Carl Thayer lưu ý, Việt Nam cần hết sức cẩn trọng tính toán việc cứng rắn với Trung Quốc. Việt Nam phải học từ lịch sử của chính mình. Hơn ai hết, Việt Nam biết "quan hệ anh em" của hai nước vẫn xảy ra chiến tranh.

TS Trần Trường Thủy khẳng định, Việt Nam không muốn đứng ở phía đối đầu với Trung Quốc. Các học giả Việt Nam và ASEAN đều nhắc lại chủ trương theo đuổi giải pháp hòa bình trên Biển Đông, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực.

Luật sư Nguyễn Duy Chiến của Học viện Ngoại giao Việt Nam lại lưu ý: "Để giải quyết mâu thuẫn cần phải dựa trên những mâu thuẫn thật chứ không thể tạo ra mâu thuẫn giả để gây căng thẳng. Một số nước cố tình ngụy tạo mâu thuẫn giả ở vùng biển của nước khác".

Về phía Trung Quốc, TS Stein Tonneson cũng nhắn Giáo sư Tô Hạo: "Trong vòng 2 năm qua, Trung Quốc đã có thái độ hiếu chiến hơn với các nước láng giềng. Tôi buộc lòng phải quy trách nhiệm cho Bắc Kinh, và hy vọng là khi về nước, ông sẽ khuyên chính quyền ông nên xét kỹ lại chính sách sai lầm của mình, và cải thiện".

ASEAN đoàn kết đưa ra COC

Ông Dino Patti Djalal, Đại sứ Indonesia - nước chủ tịch ASEAN đương nhiệm, cho rằng: "Bất cứ điều gì xảy ra đều ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực, đến toàn bộ các nước khác trong ASEAN". Cách giải quyết tốt nhất, theo ông, ASEAN phải tiếp tục xây dựng niềm tin.

Đó cũng là một trong ba nhân tố cấu thành của Tuyên bố chung của các bên về ứng xử trên biển Đông (DOC) và tiến đến xây dựng Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên biển Đông (COC).

Hiện nay, một DOC không có tính ràng buộc pháp lý đã không ngăn được căng thẳng gia tăng trên Biển Đông.

Tiến sĩ Peter Dutton cho rằng không bao giờ thiếu những ý tưởng để giải quyết vấn đề, mà chỉ thiếu ý chí chính trị. Ông nói: "Các bên đều phải có nhượng bộ về chính trị, nếu không sẽ dẫn đến việc nước mạnh hơn sẽ làm những gì có thể làm và nước nhỏ làm điều phải làm".

Theo ông Dino, COC hiện chỉ còn vướng một, hai điều và Indonesia sẽ cố thúc đẩy việc tiến tới ký kết COC. Việc ký COC sẽ giúp tình hình biển Đông diễn biến theo chiều hướng dễ nắm bắt và có thể kiểm soát được.

Một số người lạc quan, COC có thể ra đời vào dịp kỉ niệm 10 năm DOC. Thế nhưng, Gs Carl Thayer cho rằng, điều đó khó xảy ra trừ khi ASEAN duy trì được sự thống nhất, cố kết và cùng ở một điểm. Nhưng rõ ràng, có những thành viên ASEAN khá nhát, rụt rè.

"Chính các thành viên ASEAN cần xây dựng Hiệp định về các quy tắc ứng xử trên Biển Đông, và sau khi thông qua, có thể để mở cho các quốc gia không thành viên", GS Carl Thayer gợi ý.

Theo ông, các nước khác cần ủng hộ ASEAN trong nỗ lực đạt thỏa thuận về COC.

Đồng thời, theo TS Đặng Đình Quý, các bên cần thúc đẩy hợp tác về biển và quân sự dưới hình thức tuần tra chung, diễn tập chung với sự tham gia của Trung Quốc, ASEAN và các nước có liên quan; đồng thời các bên cần công khai, minh bạch, giảm mua sắm vũ khí và thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin.

Cơ chế "gác tranh chấp, cùng khai thác" không hiệu quả

Hầu hết các học giả đều nhận định rằng cơ chế “khai thác chung” đã không phát huy tác dụng, bởi các bên không thống nhất với nhau trong việc xác định đâu là khu vực tranh chấp, đâu là khu vực không có tranh chấp. Chuyên gia của VN và Philippines có cách tiếp cận khá giống nhau về việc nên xác định đâu là vùng biển, đảo tranh chấp và đâu là những vùng không có tranh chấp để có thể tiến hành khai thác chung. Theo ông Đặng Đình Quý, cách phân loại này sẽ “tạo môi trường an toàn cho các công ty dầu mỏ” cũng như là “hợp tác về hàng hải và quân sự để xây dựng niềm tin”.

Ông Henry S.Bensurto, tổng thư ký Ủy ban các vấn đề biển và đại dương thuộc Bộ Ngoại giao Philippines, cho biết nước này đang hoàn tất đề xuất về việc chia lô các khu biển để hình thành vùng biển hòa bình, hữu nghị. Theo phương án này, các vùng biển sẽ được chia ra làm các khu vực đang tranh chấp, khu vực chồng lấn có thể áp dụng “lưỡng chế độ” để cùng khai thác cũng như các khu vực không còn tranh chấp.

Mỹ ở đâu khi Trung Quốc tạo sự cố trên Biển Đông

Về phía Mỹ, bà Bonner Glaser, Giám đốc Ban Trung Quốc của CSIS cho hay, kế hoạch của Mỹ trong năm 2011 là thể hiện bức tranh hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc. Cả hai nước đều là thành viên của khu vực, có thể hợp tác với nhau. Đáng tiếc thay, các sự cố xảy ra liên tục. Có lẽ, Mỹ cần phải xem lại kế hoạch của mình.

Theo bà Bonner, hiện nay, nhiều nước muốn Mỹ phải đứng lên, một lần nữa cảnh báo Trung Quốc về những hành động hiếu chiến của mình, dù cũng có người nhấn mạnh, Mỹ - Trung cần hợp tác nhiều hơn.

GS Tô Hạo của Trung Quốc thì cho rằng, việc Mỹ tham gia một cách tích cực để giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông cũng được Trung Quốc chào đón. Tuy nhiên "những can thiệp của Mỹ có nhiều khi không tích cực ở ĐNA và đó là lý do vì sao Trung Quốc không chào đón những can thiệp này".
Để  Biển  Đông không nổi sóng đòi hỏi các nước phải hành xử thiện chí và tôn trọng lẫn nhau.

Thế nhưng, TS Marvin Ott từ ĐH John Hopkins lại lo: "Khi một Trung Quốc hung hãn đang phải đối diện với một quốc gia duy nhất có thể lên tiếng mạnh nhất để chống lại tham vọng của họ, mà Mỹ không khuyên được Trung Quốc, thì tôi nghĩ chúng ta có một vấn đề lớn, và tương lai thật u ám".

Theo ông, Trung Quốc "từng xem như Biển Ðông là ao nhà của mình từ năm 1949," và giờ đây trách nhiệm lớn nhất của Mỹ là tìm cách để tránh chiến tranh, duy trì ổn định thế giới.

TS Trần Trường Thủy, Học viện Ngoại giao Việt Nam chỉ ra một thực tế, năm 2002, không phải ngẫu nhiên Trung Quốc tham gia Tuyên bố của các bên về các nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông, giúp khu vực có được gần thập kỉ tương đối ổn định. Thời điểm đó, Mỹ tuyên bố Đông Nam Á là mặt trận thứ 2 trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ, khiến Trung Quốc xích lại gần, thân thiện hơn với Đông Nam Á.

Mới đây, tại ARF tháng 7/2010, sau khi 13 nước nêu vấn đề Biển Đông tại Hội nghị, và ủng hộ việc thực hiện DOC, sớm ra đời COC, và Mỹ tuyên bố lợi ích quốc gia ở Biển Đông, Trung Quốc áp dụng chính sách mềm hơn sau đó. Việc bắt ngư dân đòi tiền chuộc ít hơn, và Trung Quốc cũng ít dọa các tàu và công ty nước ngoài hợp tác với láng giềng. Trung Quốc cũng quay lại bàn đàm phán cùng ASEAN để bàn về DOC và hướng tới COC, dù những hành động có vẻ thiện chí này không diễn ra được bao lâu.

"Dù Mỹ không nói sẽ không tuyên bố ủng hộ cụ thể chủ quyền của ai, Mỹ cần lên tiếng rõ quan điểm của mình về việc Trung Quốc dựa vào đáy biển để đòi chủ quyền. Không nên để sự lập lờ, thiếu rõ ràng như hiện tại", ông Henry S. Bensurto, Tổng thư ký Ủy ban các vấn đề biển và đại dương thuộc Bộ Ngoại giao Philippines nói.

"Chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính nước Mỹ", TNS John McCain nói.

Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-23-bien-dong-dong-thai-nho-co-thanh-chuyen-lon-
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #75 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2011, 11:55:28 am »

Sách giáo khoa thời vua Tự Đức dạy về Hoàng Sa

Giảng viên Trần Văn Quyến, Khoa Xã hội, ĐH Phú Xuân Huế, vừa công bố phát hiện bản đồ trong Khải đồng thuyết ước, sách giáo khoa dạy trẻ học vỡ lòng bằng chữ Hán thời vua Tự Đức, có vẽ về Hoàng Sa.

Phát hiện đặc biệt này được tác giả công bố trong bài viết: “Hoạt động của đội Hoàng Sa trong lịch sử” trong khuôn khổ đề tài “Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa - thành phố Đà Nẵng” do Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội thành phố Đà Nẵng thực hiện và sắp được nghiệm thu.

Giảng viên Quyến cho biết, sách được khắc in lần đầu vào năm Quý Sửu Tự Đức thứ 6 (1853) và được sử dụng trong tất cả trường học ngay từ đầu đời Tự Đức cũng giống như sách giáo khoa ngày nay.

Sách dạy nhiều môn, dựa trên quan điểm tam tài (thiên, địa, nhân) với nhiều ưu điểm như dạy sử Việt Nam, những ghi chép về sản vật, kiến thức về xã hội (nhân sự, niên hiệu nước Việt Nam qua các đời); thiên nhiên (thiên văn, địa lý); cách tu dưỡng bản thân. Sách có hình vẽ bản đồ Việt Nam, mặt trời, mặt trăng, thân thể con người… Vì là sách giáo khoa nên đã được khắc nhiều lần trải qua các triều vua.



Tấm bản đồ trong sách Khải đồng thuyết ước có vẽ Hoàng Sa Chử (phần đảo Hoàng Sa được khoanh ô vuông đỏ).

Bản đồ Hoàng Sa trong Khải đồng thuyết ước có tên là "Bản quốc địa đồ" thuộc các trang 15-16 của sách. Trên bản đồ ghi vị trí các tỉnh, ngọn núi lớn từ cửa Nam Quan đến Biên Hòa, Vĩnh Long. Sau đó là những ghi chú số phủ, huyện, tổng, xã, phường, ấp, giáp, thuộc từng tỉnh.

"Phần ngoài biển đối diện với địa phận của Thừa Thiên và Quảng Nam trong bản đồ ghi chú về quần đảo Hoàng Sa với ba chữ Hoàng Sa Chử, có nghĩa là bãi (hay quần đảo) Hoàng Sa”, giảng viên Quyến nói.

Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng cho biết, đây là một tư liệu quý về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Khải đồng thuyết ước là sách giáo khoa in dưới triều Tự Đức, dùng để dạy cho trẻ em, trong đó có in hình bản đồ Đại Nam và trên đó ghi rõ địa danh Hoàng Sa chử (bãi Hoàng Sa). Điều này chứng tỏ triều Nguyễn đã ý thức rất rõ về chủ quyền biển đảo của tổ quốc và đưa vấn đề này vào sách giáo khoa để giáo dục trẻ em.

"Với việc phát hiện sách Khải đồng thuyết ước, lần đầu tiên chúng ta biết được có một cuốn sách giáo khoa của chế độ phong kiến đã đề cập đến chủ quyền của nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa. Vì thế, tôi cho rằng phát hiện này rất có ích, nhất là đối với việc tuyên truyền giáo dục ý thức về chủ quyền biển đảo Việt Nam cho thế hệ trẻ”, TS. Trần Đức Anh Sơn khẳng định.

Ngày 15/6 vừa qua, giảng viên Trần Văn Quyến đã có bài tham luận về hoạt động của đội Hoàng Sa trong lịch sử tại hội thảo khoa học toàn quốc “Văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa”. Trong đó, việc công bố bản đồ Việt Nam trong sách Khải đồng thuyết ước có vẽ về Hoàng Sa được đánh giá cao.

(Theo VNE)
Link: http://vitinfo.vn/MMuctin/Xahoi/CTXH/LA90103/default.html
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
danviet
Thành viên
*
Bài viết: 234


« Trả lời #76 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2011, 12:00:50 pm »

Trích dẫn
US Navy says no S.China Sea link to Vietnam visit

(AFP)

HANOI — Vietnam and the United States are to hold joint naval activities next month but they were long-planned and are unconnected to regional tensions in the South China Sea, the US Navy said Thursday.

Chuyến thăm của Hải quân Mỹ không liên quan tới tranh cãi biển Đông.

Hải quân Mỹ thông cáo vào ngày thứ Năm rằng Việt Nam và Mỹ sẽ tổ chức các hoạt động phối hợp hải quân vào tháng sau, nhưng đó là những hoạt động đã được lên kế hoạch từ lâu và không liên quan tới những căng thẳng khu vực trên biển Đông.

Sự kiện sẽ diễn ra ở Đà Nẵng vào tháng tới này sẽ kéo dài trong khoảng một tuần và không phải một cuộc tập trận bởi vì không có hoạt động huấn luyện chiến đấu, người phát ngôn Hải quân Mỹ cho hay.

Có vẻ sẽ có ít nhất một tàu khu trục, 1 tàu cứu hộ và một tàu thả người nhái (?) sẽ tới Đà nẵng tham dự các hoạt động "trao đổi hải quân".

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga nói với các phóng viên rằng hoạt động thường niên này sẽ "củng cố mối quan hệ giữa hải quân 2 nước, tiến hành các hoạt động nhân đạo và trao đổi những vấn đề chuyên môn liên quan, cũng như các hoạt động tìm kiếm cứu hộ."
Logged
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #77 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2011, 05:25:33 pm »

Bình yên trên vịnh Bắc Bộ

Chuyến tuần tra liên hợp giữa Hải quân nhân dân Việt Nam và Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trên vùng biển vịnh Bắc Bộ đã thành công tốt đẹp. Ấn tượng về chuyến tuần tra liên hợp lần thứ 11 vào hai ngày 19 và 20-6 sẽ không phai trong ký ức của cán bộ, chiến sĩ, thủy thủ hai nước. Sau chuyến tuần tra liên hợp trên biển, hai bên hẹn gặp lại nhau vào dịp cuối năm 2011.

Bắt đầu từ tháng 4-2006, hải quân hai nước Việt Nam và Trung Quốc triển khai hoạt động tuần tra chung trên vùng biển vịnh Bắc Bộ theo Thỏa thuận tuần tra liên hợp ký kết giữa hai nước vào tháng 10-2005, mỗi năm hai lần. Chuyến tuần tra liên hợp tổ chức tháng 6 năm nay là chuyến lần thứ 11. Nó được lên kế hoạch, thống nhất từ đầu năm 2011. Với nỗ lực duy trì sự ổn định, bình yên trên vùng biển, chuyến tuần tra liên hợp và sau đó biên đội tàu của Hải quân nhân dân Việt Nam tiếp tục hành trình cập cảng thành phố Trạm Giang (tỉnh Quảng Đông) thực hiện chuyến thăm Trung Quốc đúng kế hoạch.


Tàu HQ376 của Hải quân nhân dân Việt Nam

Tham gia chuyến tuần tra liên hợp năm nay, Hải quân nhân dân Việt Nam cử biên đội tàu gồm hai tàu tên lửa hiện đại mang số hiệu HQ375 và HQ376. Hai tàu này cùng chủng loại, có lượng giãn nước 510 tấn, dài 56,9m, rộng 13m, mớn nước 2,6m; mang một khẩu pháo 176mm, 2 pháo AK-630, 4 hệ thống phóng tên lửa đối hải Kh-35, có khả năng phóng cùng lúc 16 quả. Những lần tuần tra trước, chúng ta chỉ đưa biên đội tàu quét mìn hoặc tàu hộ vệ tên lửa tham gia tuần tra liên hợp cùng với bạn. Hải quân Trung Quốc trong chuyến tuần tra liên hợp lần này cử biên đội tàu gồm hai tàu tên lửa tấn công nhanh lớp Hậu Tân mang số hiệu 753 và 755. Tàu có lượng giãn nước 478 tấn, dài 62,8m, rộng 7,2 mét, mớn nước 2,4m; trang bị hai hệ thống phóng tên lửa, mỗi hệ thống 4 quả tên lửa đối hải YJ-1 (C-801) tầm bắn 40km, hai bệ với 4 khẩu pháo phòng không 37mm và hai bệ với 4 súng phòng không 14,5mm tầm bắn 7km. Các tàu tên lửa tấn công nhanh lớp Hậu Tân của hải quân Trung Quốc đã nhiều lần tham gia tuần tra liên hợp với hải quân nước ta. Tàu 755 và tàu cùng loại mang số hiệu 756 đã sang thăm Việt Nam vào tháng 12-2009 sau khi kết thúc chuyến tuần tra liên hợp lần thứ 8.


Cán bộ, thủy thủ tàu HQ375 điều khiển tàu hành trình trên tuyến tuần tra liên hợp.

Biên đội tàu tên lửa của Hải quân nhân dân Việt Nam rời cảng Đà Nẵng hành quân đến vị trí tập kết xuất phát tuần tra liên hợp vào chiều 18-6. Biên đội trưởng, Thượng tá Nguyễn Đình Hùng chỉ huy hai con tàu hành trình với tốc độ trung bình 12 hải lý/giờ đến vị trí tập kết đúng kế hoạch. Anh Hùng là một trong những cán bộ có nhiều năm nhất tham gia các chuyến tuần tra liên hợp với hải quân Trung Quốc, nên có nhiều kinh nghiệm. Anh cho biết: “Những năm trước, sau mỗi chuyến tuần tra liên hợp hai bên đều tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả tuần tra, trên cơ sở đó thống nhất các hoạt động năm sau, bảo đảm luôn đổi mới nội dung hoạt động. Ngoài nhiệm vụ tuần tra hai bên còn trao đổi, huấn luyện, nâng cao trình độ tác nghiệp trên biển. Riêng năm 2010, kết thúc mỗi chuyến tuần tra, hai bên tổ chức diễn tập tìm kiếm cứu nạn trên biển và đạt kết quả tốt đẹp. Năm nay, dự kiến sau tuần tra, hai bên sẽ tổ chức diễn tập chống cướp biển, với những nội dung như ngăn chặn, truy bắt bọn cướp biển, cứu tàu thuyền, người và tài sản của ngư dân... Để tham gia phối hợp diễn tập với hải quân bạn đạt kết quả tốt, Đoàn M62 (Vùng D hải quân) đã tổ chức cho biên đội huấn luyện thường xuyên, huấn luyện bổ sung đầy đủ, chu đáo, thực hành thuần thục”.

Đại tá Tống Xuân Quân, Chính ủy Đoàn M62 khẳng định, lực lượng tham gia chuyến tuần tra liên hợp có chất lượng chính trị cao, 100% cán bộ, chiến sĩ, thủy thủ đã được quán triệt đầy đủ và xác định tốt nhiệm vụ được giao. Nhiều đồng chí có hoàn cảnh đặc biệt, đã gác chuyện riêng tư để lên đường, tham gia chuyến tuần tra. Như Thiếu úy Lê Văn Dũng, trắc thủ pháo tàu, sắp chuẩn bị tổ chức lễ cưới, đã in thiếp mời bạn bè, nhưng vẫn yên tâm ra khơi làm nhiệm vụ. Thượng úy Nguyễn Văn Hiền, Chính trị viên tàu HQ-375, vợ đi làm cách xa nhà 40km, sau nhiều năm hai vợ chồng cố gắng mới có thai đứa con đầu lòng. Anh đã thuê nhà cho vợ ở thành phố Nha Trang để đến cơ quan làm việc gần hơn, anh yên tâm tham gia cùng tàu làm nhiệm vụ tuần tra liên hợp với bạn.


 

Biên đội hai tàu tuần tra của Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc

Việc tuần tra liên hợp trên các điểm và tuyến trên biển đã được hải quân hai nước xác định. Hai biên đội tàu hiệp đồng chặt chẽ, chuẩn xác. Khi đi vào vùng biển có nhiều mục tiêu, bạn chủ động thông báo cho ta nắm được và ta cũng vậy, thông báo cho bạn tình hình trên biển. Các hoạt động chỉ huy, thông báo đều bằng điện đài vô tuyến điện, song hai biên đội đều hiệp đồng tốt, đúng kế hoạch. Trên đường tuần tra, hai biên đội thực hành trao đổi thông tin liên lạc thông qua tín hiệu ánh đèn. Do thời tiết xấu, phía bạn đề nghị và hai bên nhất trí hủy bỏ nội dung diễn tập chống cướp biển.

Chuyến tuần tra liên hợp lần thứ 11 được Thiếu tướng Yêu Chí Lâu, Phó tư lệnh Hạm đội Nam Hải (Trung Quốc) đánh giá là đạt hiệu quả, khẳng định sự hợp tác tích cực giữa hải quân hai nước và mong muốn mở rộng hơn các tuyến tuần tra chung. Đại tá Nguyễn Văn Kiệm, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân cũng đánh giá cao kết quả chuyến tuần tra liên hợp lần này, nhất là kết quả phối hợp về thông tin liên lạc. Bên cạnh việc củng cố, tăng cường tình hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa hải quân hai nước, Phó tham mưu trưởng Nguyễn Văn Kiệm còn cho rằng, hoạt động tốt trên biển, hải quân hai nước cần phối hợp chặt chẽ, tôn trọng lẫn nhau để không chỉ vịnh Bắc Bộ, mà còn để cho biển Đông luôn bình yên!

Nguồn http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/10/50/50/152120/Default.aspx
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #78 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2011, 12:33:38 am »

Biển Đông đang đe dọa ASEAN

Báo The Nation Thailand ngày 22/6 có đăng bài " ASEAN is living dangerously in South China Sea ". Trong những tháng gần đây, căng thẳng ở Biển Đông ngày càng gia tăng. Nếu căng thẳng tiếp tục gia tăng, sẽ đẩy tình hình đến đỉnh điểm, có thể xảy ra xung đột vũ trang. Các bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông đang hành xử theo cách nước tuyên bố còn lại không thể chấp nhận.

Gần đây, Hà Nội phản ứng lại Bắc Kinh theo cách gây bất ngờ các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế. Trong một thập kỷ qua, Việt Nam, một trong những nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông luôn đi theo nguyên tắc của ASEAN là giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua song phương giữa Trung Quốc với các bên tuyên bố chủ quyền. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã xuất hiện như một đòn bẩy của khu vực công khai hoá vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Năm 2010, Biển Đông được xem là một điểm nóng của khu vực. Các nước lớn, đặc biệt là Mỹ, đã vào cuộc với tuyên bố phải đảm bảo tự do hàng hải. Trước đó, Philippines cũng phản ứng lại Trung Quốc sau hàng loạt sự kiện va chạm giữa Trung Quốc và Philippines.

Sự phản ứng mạnh mẽ của các bên tuyên bố chủ quyền Biển Đông là thành viên của ASEAN sẽ tác động mạnh đến quan hệ Trung Quốc - ASEAN. Nếu các thành viên ASEAN không đứng về một bên, nó sẽ đe doạ đến sự thống nhất của ASEAN. Sự phân chia nhóm các tuyên bố chủ quyền và không tuyên bố chủ quyền Biển Đông trong ASEAN sẽ làm suy yếu ASEAN. Các nước tuyên bố chủ quyền muốn các thành viên ASEAN còn lại đưa ra quan điểm chống lại Trung Quốc.

Với bản chất nước lớn ngạo mạn của Trung Quốc, khó có thể đạt được kết quả nào trong các cuộc thảo luận sắp tới về triển khai tuyên bố hành xử ở Biển Đông. Hiện nay, cả Trung Quốc và ASEAN phải tìm được một kênh chung để có thể thúc đẩy hợp tác chung ở Biển Đông. Điều này chỉ có thể xẩy ra nếu Trung Quốc chấp nhận xem xét lại chính sách của mình đối với ASEAN sau các vụ va chạm trên Biển Đông thời gian vừa qua.

Tiến Thịnh (giới thiệu)
Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1703-bin-ong-ang-e-do-asean
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #79 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2011, 02:07:13 pm »

Đằng sau chính sách hai không của Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc luôn khăng khăng rằng tranh chấp Biển Đông phải được giải quyết thông qua đàm phán song phương, và đã phát triển chính sách "hai không" liên quan đến giải quyết tranh chấp ở Biển Đông: Không đàm phán đa phương, và không "quốc tế hóa".

Các bên yêu sách Biển Đông ở ĐNA, và cả Mỹ, đang đề cập ngày càng nhiều hơn đến các giải pháp đa phương. Đáp lại, Trung Quốc duy trì quan điểm tranh chấp phải được giải quyết bằng con đường đàm phán song phương, chống lại việc nước này xem là "quốc tế hóa" vấn đề, và lên án Mỹ.

Tranh chấp đảo: Đàm phán song phương hay đa phương?

Các nước Brunei, Malaysia, Philippines, Việt Nam và Trung Quốc (quan điểm của nước này trùng với Đài Loan) đều tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ hoặc một phần của Quần đảo Trường Sa, cho nên tranh chấp thực chất đã là đa phương. Vì vậy, tranh chấp quần đảo Trường Sa đòi hỏi một giải pháp đa phương có sự tham gia của tất cả các bên yêu sách chủ quyền.

Đàm phán song phương không phải là cơ chế phù hợp để giải quyết tranh chấp đa phương: giả sử như Philippines và Việt Nam đàm phán và giải quyết vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng con đường song phương, liệu Trung Quốc có chấp nhận một giải pháp như vậy?

Do đó, tại sao Trung Quốc lại khăng khăng đòi đàm phán song phương là cơ chế duy nhất giải quyết tranh chấp ở Trường Sa, bất chấp thực tế rằng cơ chế này không có hy vọng sẽ mang lại giải pháp? Đằng sau sự khăng khăng này là chiến lược hai hướng.

Một là, nếu mỗi nước nhỏ giải quyết riêng rẽ với Trung Quốc, kiểu một chọi một, họ sẽ không thể kháng cự sức mạnh vượt trội của Trung Quốc, khác hẳn việc các nước nhỏ có chiến lược chung, một quan điểm thống nhất và sự ủng hộ lẫn nhau.

Hai là, việc khăng khăng đòi cách tiếp cận không phù hợp là cách để Trung Quốc làm cho không thể giải quyết được tranh chấp. Trong hoàn cảnh không giải quyết được tranh chấp, Trung Quốc, vốn là nước mạnh nhất, sẽ  hưởng lợi nhiều nhất, vì họ có nhiều cơ hội nhất để củng cố vị thế của mình và làm suy yếu vị thế của các nước khác.

Tranh chấp biển: Quốc tế hóa hay phi quốc tế hóa?

Trong khi vấn đề chủ quyền với các quần đảo là trung tâm pháp lý của tranh chấp Biển Đông, trên thực tế, tranh chấp biển là nguồn quan trọng hơn tạo ra những xung đột. Sự kiện tàu hải quân Trung Quốc đe dọa tàu thăm dò của Philippines ở Reed Bank, lệnh cấm đánh cá đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông là những ví dụ.

Tranh chấp biển cần được giải quyết theo luật quốc tế, bao gồm cả Công ước Luật biển Quốc tế của Liên Hợp Quốc UNCLOS.

Theo UNCLOS, một quốc gia ven biển có chủ quyền chỉ với vùng lãnh hải không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở.

Đối với vùng biển nằm ngoài ranh giới 12 hải lý, quốc gia ven biển không có chủ quyền, nhưng có các quyền cụ thể theo quy chế vùng đặc quyền kinh tế EEZ và thềm lục địa. Thêm vào đó, theo luật quốc tế, các đảo nhỏ như những đảo ở Biển Đông có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa không đáng kể so với các vùng lãnh thổ lân cận có bờ biển dài hơn.

Nếu một quốc gia yêu sách vùng biển quá lớn hoặc đòi hỏi quá nhiều quyền, hoặc cả hai, đối với vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa, điều đó sẽ ảnh hưởng đến quyền của các quốc gia khác trên thế giới.

Yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông liên quan đến đường chữ U bí ẩn vượt xa ra ngoài 12 hải lý của các đảo tranh chấp và bao lấy hầu hết Biển Đông. Yêu sách này ảnh hưởng xấu đến quyền của các quốc gia khác.

Đường chữ U: một yêu sách quá mức

Trước hết, hãy xem xét liệu đường chữ U có thể phù hợp với quy định về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Đường chữ U nằm ra ngoài đường trung tuyến giữa các đảo bị tranh chấp và các vùng lãnh thổ bao quanh Biển Đông. Theo luật quốc tế, các đảo nhỏ như vậy thường chỉ được hưởng vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa không xa hơn mức 12 hải lý từ các đảo này một cách đáng kể, tức là còn xa mới vươn ra đến đường trung tuyến.

Dựa trên các quy tắc này, đường chữ U yêu sách quá đáng và độc đoán về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hệ quả là, vùng biển bao quanh Reed Bank theo đúng luật thuộc về Philippines, khu vực bao quanh James Shoal thuộc về Malaysia, khu vực Natuna thuộc về Indonesia, vùng biển quanh Nam Côn Sơn và Vanguard Bank thuộc về Việt Nam. Sự phân định này là không thể tranh cãi ngay cả khi quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và Scarborough Shoals đang bị tranh chấp.

Hơn nữa, đường chữ U phủ lên khu vực ở giữa Biển Đông, nơi cộng đồng quốc tế có quyền khai thác kinh tế như đánh bắt cá.

Như vậy, đường này bao quanh một khu vực quá lớn, ảnh hưởng xấu đến quyền của các quốc gia khác trong việc được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở Biển Đông, cũng như ảnh hưởng đến cộng đồng quốc tế.

Để biện minh cho yêu sách quá mức của mình, Bắc Kinh phải viện dẫn chủ quyền lịch sử và những quyền khác đối với biển.

Tuy nhiên, UNCLOS chỉ thừa nhận chủ quyền lịch sử và quyền đối với biển trong vùng 12 hải lý tính từ đường cơ sở, không phải với toàn bộ khu vực đường chữ U. Là một bên ký kết UNCLOS, Trung Quốc phải tôn trọng quy tắc này và không thể viện dẫn chủ quyền lịch sử và quyền đối với biển để biện minh cho đường chữ U. Thêm vào đó, hoàn toàn không tồn tại bằng chứng rằng Trung Quốc có chủ quyền lịch sử đối với không gian biển được mô tả trong đường này.

Đường chữ U: một yêu sách mù mờ một cách cố ý

Hãy xem xét đường chữ U ở khía cạnh các quyền mà Trung Quốc định yêu sách cho đường này.

Trung Quốc không rõ ràng về yêu sách này. Trung Quốc chưa bao giờ tuyên bố chính xác nước này yêu sách các quyền gì trong đường chữ U, ngay cả khi nước này đính kèm bản đồ thể hiện đường chữ U trong công hàm gửi lên LHQ năm 2009 để phản đối đăng báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam và Malaysia và báo cáo của Việt Nam.

Dù Trung Quốc yêu sách vùng biển bên trong đường chữ U là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, hay là xem nó giống như "vùng nước lịch sử" thì yêu sách đó cũng là mối đe dọa với Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam. Hơn nữa, nó tác động đáng kể đến quyền của cộng đồng quốc tế, bởi vì UNCLOS đảm bảo quyền của tất cả các quốc gia trên thế giới ở vùng biển này.

Đường chữ U: một vấn đề quốc tế

Đường chữ U giống như con dao găm chĩa vào trái tim của Biển Đông mà người cầm con dao ấy không đưa ra một lời giải thích hoặc nói gì về ý định sử dụng nó. Được hỗ trợ bởi lực lượng hải quân ngày càng lớn mạnh, đường này trở thành mối đe dọa đối với tất cả các quốc gia trên thế giới.

Trong khi cộng đồng quốc tế giữ vị trí trung lập trong cuộc tranh chấp chủ quyền các đảo, cộng đồng quốc tế không nên đứng trung lập đối với đường chữ U.

Lịch sử biển và UNCLOS chỉ ra rằng Biển Đông là một biển quốc tế, giống như Địa Trung Hải. Cộng đồng quốc tế có lợi ích và có quyền để lên tiếng đối với các yêu sách biển ở đây. Việc Trung Quốc phản đối "quốc tế hóa" vấn đề Biển Đông thật ra là một nỗ lực phi quốc tế hóa một vùng biển vốn là quốc tế. Một khi Biển Đông đã bị phi quốc tế hóa, Bắc Kinh sẽ có thể dùng sức mạnh đe dọa các quốc gia Đông Nam Á và áp đặt luật riêng của họ ở vùng biển này.

Bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng tải trên Manila Times.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-23-da-ng-sau-chi-nh-sa-ch-hai-khong-cu-a-trung-quo-c-o-bie-n-dong
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM