Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:50:11 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 432577 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
T-34
Thành viên
*
Bài viết: 19



« Trả lời #100 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2011, 08:03:22 pm »

Off topic, mời các bác nghe nhạc Smiley

<a href="http://www.youtube.com/watch?v=FcHrOPE2jVY" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=FcHrOPE2jVY</a>
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #101 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2011, 12:33:15 am »

"Ém" tin về Biển Đông, trách nhiệm thuộc về ai?

VIT - Ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Thông tin đối ngoại cho rằng "Trong mọi trường hợp, chúng ta cần chủ động thông tin. Vì nếu chúng ta không thông tin, hoặc thông tin không kịp thời, không đầy đủ thì coi như nhường trận địa thông tin cho đối phương." -- Vậy trong việc "đảo ngũ" nhiều năm, khiến cho sự kiện Biển Đông ngày càng trầm trọng có thể dẫn đến chiến tranh này, trách nhiệm thuộc về ai?

Trả lời phóng vấn báo điện tử VnExpress xung quanh quan điểm thông tin về sự kiện biển Đông, ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Thông tin đối ngoại cho rằng: "Thông tin đối ngoại của chúng ta còn hạn chế về ngôn ngữ. Rất cần những thông tin, bài báo Việt Nam chuyển ngữ sang tiếng Trung và các thứ tiếng khác. Những việc này tuy không quá tốn kém nhưng lâu nay chưa được coi trọng lắm".

Trong vấn đề Biển Đông, lập trường của Việt Nam thường xuyên được khẳng định lại, đó là Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

"Qua các thông tin rộng rãi trên báo chí Việt Nam và các nước, các học giả, dư luận quốc tế đã lên tiếng đồng thuận, ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam".

Mặc dù vậy, trên thực tế thực hiện, chúng ta chưa tổ chức tốt việc đưa ra các bằng chứng và lập luận một cách đầy đủ, có hệ thống và liên tục để người dân trong nước cũng như người Việt Nam ở nước ngoài biết. Chúng ta cũng chưa giới thiệu nhiều bằng các thứ tiếng nước ngoài để cộng đồng quốc tế được biết. Đó là hạn chế trong công tác thông tin đối ngoại của chúng ta.

Tuy nhiên, sau các sự kiện vừa qua ở Biển Đông, khi báo chí của chúng ta lên tiếng mạnh mẽ, thì báo chí nước ngoài cũng nói rất nhiều. Các cơ quan báo chí, thông tấn lớn trên thế giới như BBC, Reuters, AFP... đưa tin nhiều về vấn đề này khiến dư luận quốc tế hiểu hơn về vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Điều đáng mừng là qua các thông tin rộng rãi trên báo chí Việt Nam và các nước, các học giả, dư luận quốc tế đã lên tiếng đồng thuận, ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam.

Nhiệm vụ của thông tin đối ngoại Việt Nam bây giờ là nói rõ cho dư luận trong và ngoài nước hiểu về chủ quyền của Việt Nam, về lập trường chính nghĩa của Việt Nam. Chúng ta có chính nghĩa, có cơ sở pháp lý, có bằng chứng lịch sử rõ ràng về việc quản lý Hoàng Sa và Trường Sa từ cách đây nhiều thế kỷ. Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 cũng đã nói rõ về chủ quyền của các nước ven biển. Còn yêu sách của Trung Quốc thể hiện tập trung ở bản đồ đường lưỡi bỏ là hoàn toàn phi lý, không có căn cứ pháp lý và không có căn cứ lịch sử.

Đối với người dân Trung Quốc thì thông tin của chúng ta đến được với họ và làm cho họ hiểu là tương đối khó khăn do nhiều năm nay họ gần như chỉ nghe một chiều khiến người dân họ hiểu nhầm. Phải làm thế nào để họ nhận thức lại là nhiệm vụ rất khó khăn. Cái khó nhất của chúng ta là chuyển thông tin trực tiếp đến người Trung Quốc.

Thông tin đối ngoại của chúng ta còn hạn chế về ngôn ngữ. Rất cần những thông tin, bài báo Việt Nam chuyển ngữ sang tiếng Trung và các thứ tiếng khác. Những việc này tuy không quá tốn kém nhưng lâu nay chưa được coi trọng lắm.

Theo ông Nghiêm, Việt Nam cũng có thể có nhiều cách như qua các phương tiện truyền thông đại chúng của nước ngoài, của chính Trung Quốc. Vừa rồi đài truyền hình Phượng Hoàng có phỏng vấn nhà nghiên cứu Việt Nam, Tiến sĩ Vũ Cao Phan. Học giả này đã trình bày vấn đề tranh chấp Biển Đông rất thuyết phục, mềm mỏng, chuẩn xác, đúng nguyên tắc, coi trọng tình hữu nghị với Trung Quốc. Đồng thời ông đã nói ra được những cái dở, cái sai trong thông tin tuyên truyền Trung Quốc.

Đây là một bài học cho thông tin đối ngoại của Việt Nam. Trong mọi trường hợp, chúng ta cần chủ động thông tin. Vì nếu chúng ta không thông tin, hoặc thông tin không kịp thời, không đầy đủ thì coi như nhường trận địa thông tin cho đối phương.

Trong thời gian qua, chủ trương của Việt Nam luôn là thông qua đàm phán, giải quyết một cách hoà bình mọi tranh chấp trên cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Đối với Trung Quốc, Việt Nam tăng cường nhịp độ đàm phán, phối hợp giải quyết thoả đáng các vấn đề nảy sinh trên tinh thần láng giềng hữu nghị, đồng chí anh em, không làm phức tạp thêm tình hình.

So với báo chí của Trung Quốc, báo chí Việt Nam kiềm chế hơn, không có lời lẽ khiêu khích, xúc phạm nước bạn. Kể cả khi họ nói sai và vu cáo chúng ta thì chúng ta cũng trao đổi lại ôn hòa, có lý có tình, có sức thuyết phục.

Trên thực thế, những chủ trương chính sách của Việt Nam đang được sự đồng thuận của dư luận quốc tế và phần nào làm giảm bớt căng thẳng ở biển Đông.

Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Xahoi/LA90361/default.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #102 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2011, 12:42:43 am »

Tọa đàm chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông ở Pháp

Buổi tọa đàm "Thách thức địa chiến lược ở Đông Nam Á và những tranh chấp ở Biển Đông" vừa diễn ra ngày 28/6 tại Paris, với sự tham dự của đông đảo bạn bè Pháp, cộng đồng người Việt tại Paris và vùng phụ cận.

Tọa đàm do Hội hữu nghị Pháp-Việt (AAFV), Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF) và một số hội đoàn phối hợp tổ chức.

Trước những diễn biến căng thẳng gần đây ở khu vực Biển Đông, nhiều bạn bè Pháp yêu chuộng hòa bình, trong đó có phó giáo sư, tiến sỹ Luật quốc tế Joële Nguyễn Duy Tân, mong muốn góp thêm tiếng nói, nêu ra những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý rõ ràng, vững chắc, nhằm khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mở đầu buổi tọa đàm, các đại biểu tham dự được xem bộ phim tài liệu do ông André Menras, mang quốc tịch Việt Nam dưới tên gọi Hồ Cương Quyết, thực hiện, phản ánh cuộc sống của ngư dân vùng biển huyện Bình Sơn, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).

Nội dung bộ phim cho thấy dù còn đối mặt với nhiều khó khăn thách thức ngoài biển khơi, song người ngư dân miền Trung vẫn quyết tâm bám biển sản xuất, quyết giữ chủ quyền biển đảo.

Hình ảnh chân thực, sống động về những người vợ mất chồng, người con mất cha trong những lần đi biển vì cuộc mưu sinh và cũng vì vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cùng những tâm sự của họ đã khiến nhiều người xem phải xúc động.

Ông André Menras cho biết những gì ông đã và đang làm là vì tình yêu tha thiết đối với Việt Nam, thể hiện tinh thần đoàn kết với nhân dân Việt Nam trong bất cứ tình huống nào.

Trong phần trình bày về những thách thức ở Biển Đông, bà Joële Nguyễn Duy Tân nhấn mạnh tới các thách thức về kinh tế, chính trị dẫn tới các tranh chấp biên giới trên biển. Bà Joële cho rằng Biển Đông là khu vực có ý nghĩa sống còn về địa chiến lược, kinh tế, giao thông và an ninh hàng hải đối với các nước Đông Nam Á, đặc biệt với Việt Nam.

Với lối trình bày cô đọng, hệ thống, bà Joële đã giúp người nghe hiểu rõ hơn về tiến trình ra đời của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, làm rõ các khái niệm pháp lý về các vùng nước thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển như lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa.

Bà viện dẫn các quy định của pháp luật quốc tế, cơ sở pháp lý và lịch sử để chứng minh tính đúng đắn trong đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam.

Phần trình bày của bà Joële Nguyễn Duy Tân đã nhận được sự chia sẻ, tán đồng của người tham gia tọa đàm. Nhiều ý kiến phát biểu, với một số câu hỏi liên quan đã được bà Joële và những đại diện có hiểu biết về tình hình Biển Đông giải đáp cụ thể.

Trong khuôn khổ cuộc tọa đàm, AAFV đã ra tuyên bố, bày tỏ sự quan ngại về những diễn biến căng thẳng gần đây ở khu vực Biển Đông và kêu gọi các bên liên quan không sử dụng vũ lực, thông qua con đường thương lượng trên cơ sở luật pháp quốc tế nhằm giảm căng thẳng, duy trì sự ổn định trong khu vực.

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/quoc-te/43/6018.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #103 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2011, 12:53:07 am »

Điểm mặt, số lượng các tàu Hải tuần của Trung Quốc

(GDVN) -  Theo số liệu của Cơ quan quản lý an toàn hàng hải Trung Quốc, hiện nay chỉ riêng cơ quan này đã có hàng chục tàu tuần tra biển các cỡ, loại phương tiện và trang bị mà nước này đặt tên là Hải tuần để tiến hành các hoạt động bảo vệ chủ quyền theo tuyên bố của Trung Quốc.

Dưới đây và tên hiệu và một số thông số cơ bản về các tàu tuần tra của Trung Quốc:

1.Tàu Hải tuần 31 (M/V Haixun 31): Chiều dài 112,65 mét; tốc độ 12 knot (37,04 km/h); được trang bị máy bay trực thăng chuyên dụng; máy chính : 5800KW×2. Tàu hải tuần 31 chịu trách nhiệm tuần tra, ứng phó các tình huống khẩn cấp tại các vùng biển cách bờ 50 dặm (khoảng 128 km).

Tàu Hải tuần 31


Tàu hải tuần 31 có khả năng tuần tra trên quy mô toàn cầu ngoại trừ các khu vực biển đóng băng vùng cực. Hải tuần 13 có khả năng chịu đựng được cấp gió giật ở mức 13, có trang bị hệ thống cung cấp dầu máy, lượng giãn nước 3000 tấn.

2. Tàu Hải tuần 21 (M/V Haixun 21): Chiều dài 93,23 mét; Tốc độ: 22 knot (40,7 km/h); Máy chính 3700KW×2.

Tàu Hải tuần 21

3.Tàu hải tuần dài hơn 60 mét có 2 chiếc:  Dài 61,2 mét; tốc độ 25,2 knot; Máy chính 2240KW×3. Tàu hải tuần 113 có nhiệm vụ tuần tra, ứng phó khẩn cấp trong các tình huống xảy ra cách bờ biển Trung Quốc 50 dặm (80 km).

Tàu Hải tuần mang số hiệu 113

Trong ảnh là tàu Hải tuần mang số hiệu 113, một trong 2 chiếc dài hơn 60 mét.

4. Tàu hải tuần dài hơn 40 mét có 8 chiếc: Có nhiệm vụ tuần tra, ứng phó khẩn cấp trong các tình huống xảy ra dọc bờ biển Trung Quốc, các tuyến kênh và cảng biển quan trọng.

Hải tuần số hiệu 151

Trong ảnh là tàu Hải tuần số hiệu 151, một trong 8 chiếc có độ dài hơn 40 mét.

5.Tàu tuần tra dài hơn 30 mét có tổng cộng 59 chiếc, các tàu này cũng nhiệm vụ tuần tra, ứng phó khẩn cấp trong các tình huống xảy ra dọc bờ biển Trung Quốc, các tuyến kênh và cảng biển quan trọng.

Hải tuần mang số hiệu 1005

Trong ảnh là tàu Hải tuần mang số hiệu 1005, một trong số 59 chiếc tàu tuần tra có kích cỡ dài hơn 30 mét.

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/quoc-te/43-tu-lieu/4860-im-mt-s-lng-cac-tau-hi-tun-ca-trung-quc.html
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Bảy, 2011, 01:38:57 am gửi bởi Mig21Bis_1 » Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #104 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2011, 01:01:39 am »

Mỹ, Philippines muốn đưa tranh chấp Biển Đông ra diễn đàn an ninh

Mỹ và Philippines vừa kêu gọi đưa vấn đề tranh chấp trên Biển Đông ra Diễn đàn an ninh khu vực Đông Nam Á, ARF, sẽ diễn ra vào tháng tới trong bối cảnh căng thẳng vẫn nóng trên vùng biển này.

ARF là một diễn đàn an ninh quan trọng ở châu Á Thái Bình dương, quy tụ các quan chức và giới quân sự cũng như chuyên gia của các quốc gia thuộc Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN) và các nước đối thoại. Trong số này có những cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, Nga và EU.

"Chủ đề tranh chấp" ở Biển Đông "có thể là một chủ đề quan trọng ở ARF", Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario phát biểu hôm nay, truyền hình nước này đưa tin.

Đại sứ Mỹ tại Manila, ông Harry Thomas, cũng bày tỏ quan điểm tương tự, rằng ARF là "một cơ hội tuyệt vời để giải quyết tranh chấp chủ quyền" ở Biển Đông.

Del Rosario cho rằng tại ARF, vấn đề Biển Đông có thể được tiếp cận từ góc độ an toàn hàng hải, trong khi Thomas nói các bên nên dùng phương pháp ngoại giao và hòa bình, chứ "không nên nhìn Trung Quốc như một lực lượng xấu xa".

ARF diễn ra từ 16 đến 31/7 tại Bali, Indonesia.

Biển Đông trong thời gian gần đây nóng lên bởi những hành động của các tàu Trung Quốc xâm phạm và quấy rối trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Philippines và Trung Quốc cũng có những đụng độ và tố cáo nhau trên vùng biển mà Manila tuyên bố có chủ quyền.

Trước thái độ ngày càng cứng rắn của Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông, Manila đã viện tới sự giúp đỡ của Mỹ và nhận được những lời hậu thuẫn rõ ràng. Trong chuyến công du tới Washington mới đây, ông del Rosario đề cập việc Mỹ nên hỗ trợ khí tài quân sự cho Philippines. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cam kết ủng hộ đồng minh trong việc bảo vệ chủ quyền trong tranh chấp, còn Lầu Năm góc hứa giúp Manila tăng năng lực tình báo và giám sát trên biển.

Bà Clinton cũng nhắc lại quan điểm đưa ra tại ARF năm ngoái ở Hà Nội, rằng Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc bảo đảm an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông.

Philippines và Mỹ đang có cuộc tập trận hải quân chung thường niên ở biển Sulu, phía tây Biển Đông. Hai bên khẳng định cuộc diễn tập đã có kế hoạch từ trước chứ không phải phát sinh do các diễn biến mới đây ở Biển Đông.

Trong bối cảnh căng thẳng hiện nay, một số tướng lĩnh Philippines đề cập khả năng thuê tàu chiến của Mỹ. Nếu điều này thành sự thực, Manila có thể tiếp cận các chiến hạm hiện đại một cách nhanh chóng hơn. Soái hạm của Philippines - con tàu được điều ra Biển Đông tuần trước sau khi Trung Quốc đưa tàu hải tuần lớn nhất của mình xuống vùng biển này - từng phục vụ từ Thế chiến II.

Tuy nhiên các nhà ngoại giao và lập pháp Philippines đang cân nhắc những cản ngại, bởi việc thuê tàu kéo theo thuê các chuyên gia, thủy thủ Mỹ và điều này thì đi ngược hiến pháp Philippines về việc không sử dụng quân nhân nước ngoài.

Theo VnExpress

Nguồn: http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Gio-Thu-25/My-Philippines-Muon-Dua-Tranh-Chap-Bien-Dong-Ra-Dien-Dan-An-Ninh.html
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Bảy, 2011, 01:43:26 am gửi bởi Mig21Bis_1 » Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #105 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2011, 01:42:35 am »

Thêm một thông tin về quan điểm của Đài Loan trong tranh chấp chủ quyền trên biển:

" Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật thông báo lúc 6 giờ 43 sáng 29-6 đã phát hiện một tàu Đài Loan gần quần đảo tranh chấp Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) trên biển Hoa Đông. Tàu đã rời vùng biển Nhật vào cuối buổi sáng cùng ngày. Chánh văn phòng nội các Nhật Yikio Edano thông báo tại buổi họp báo ở Tokyo rằng chính phủ Nhật đã yêu cầu Đài Loan không được xâm phạm vùng biển Nhật. Người phát ngôn văn phòng ngoại giao Đài Loan phản ứng rằng việc bảo vệ chủ quyền các đảo giàu tài nguyên này là nhiệm vụ chung của Bắc Kinh và Đài Bắc.  "

http://phapluattp.vn/20110630112742810p0c1017/trung-quoc-che-giau-thong-tin-tau-san-bay.htm
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #106 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 12:52:41 am »

Một kiểu bịt đường ngư dân Việt ra khơi

TP - Họ vừa cập âu thuyền Thọ Quang (Đà Nẵng) sau chuyến đi dài ngày ở Hoàng Sa, ba thuyền trưởng Nguyễn Văn Tư (tàu ĐNA 90049), Lê Xuân Dũng (tàu ĐNA 90305) và Nguyễn Văn Dũng (tàu ĐNA 90406) gặp PV Tiền Phong, tường thuật chi tiết.


Cảnh sát Biển vùng 2 sẵn sàng bảo vệ ngư dân.

Những hải trình nhọc nhằn

Anh Nguyễn Văn Tư, kể: “Chuyến biển của tui kéo dài 11 ngày, xuất phát đúng ngày 29-5, ra tới tọa độ 17o30/ Bắc – 109o20/ Đông thì gặp sự cố lần đầu tiên tui mới thấy. Nhiều tàu cá Trung Quốc đứng dàn hàng ngang, có cả một tàu ngư chính hậu thuẫn. Tui giật mình, sao có hiện tượng lạ kỳ thế này. Sau đó, qua ICOM, mấy thuyền trưởng khác cho biết, họ án ngữ đó lâu rồi.

Lúc đó là ban ngày, thấy tàu tui, họ truy đuổi, không cho đi qua vùng biển đó. Ngặt nỗi, đó là con đường duy nhất để đến được luồng cá ở Hoàng Sa, thuộc vùng biển của ta mà ngư dân hay đánh bắt. Mấy lần trước, họ chỉ đứng xa xa một tàu. Nhưng giờ đây, họ trực suốt, hễ thấy tàu cá Việt Nam là họ đẩy trở lui”.

Theo anh Tư, hiện tượng cắt đường ra biển của tàu Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam xuất hiện khoảng 1 tháng trở lại đây, tại 2 tọa độ chính là 17o00/ Bắc – 110o20/ Đông và 17o30/ Bắc – 109o20/ Đông. “Trước đây chúng tôi vẫn gặp tàu ngư chính, lúc thì họ xua đuổi, tịch thu, có lúc thì họ cho đi. Nhưng giờ đây, bất kể giờ nào, tàu mình cũng không thể vượt qua tọa độ đó nữa” – Anh Tư nói.

Thuyền trưởng Lê Xuân Dũng kể: Lúc đó khoảng 14h chiều 5-6, mới chạy đến vùng biển cách tọa độ trên khoảng 20 hải lý thì đụng tàu ngư chính Trung Quốc. Tọa độ trên thuộc vùng biển Việt Nam, thế mà họ truy đuổi quyết liệt.

Tàu ngư chính là tàu sắt, màu trắng xanh, công suất lớn, có vũ khí. Lúc đó họ chỉ đẩy đuổi, không cho tàu mình vượt qua. Tàu ĐNA 90406 của thuyền trưởng Nguyễn Văn Dũng cũng chung số phận như hai tàu trên, mới ra khơi đã gặp ngay bình phong án ngữ trước thềm biển chung.

Những thuyền trưởng vừa trở về từ Hoàng Sa .

Không rời Hoàng Sa

Theo thuyền trưởng Lê Nam và thuyền trưởng Lê Văn Chiến, dù khó khăn nhường nào, khi đã quyết, ngư dân vẫn luôn bám biển Hoàng Sa, nơi có những mẻ cá lớn, nơi nhiệm vụ giữ vững chủ quyền luôn được các anh ghi sâu. Thuyền trưởng Lê Nam cho hay, chuyến biển trở về trong những ngày vừa rồi, tàu nào cũng dính vào chuyện bị tàu Trung Quốc án ngữ dọa nạt, đẩy đuổi trở lui.

“Họ tính toán rất kỹ, theo tôi, khi họ ngại mang tiếng cướp bóc, dùng bạo lực với ngư dân thì chuyển sang cắt đường biển. Cốt yếu là làm cho bà con mình nản lòng, rồi bán tàu chuyển nghề. Lúc đó, biển Đông coi như thuộc về họ” - Thuyền trưởng Lê Xuân Dũng nói. Thuyền trưởng Nguyễn Văn Dũng khảng khái: “Không cách này thì cách khác, chúng tôi không chấp nhận thua cuộc. Thực ra, ngư dân chúng tôi muốn được ra khơi đánh bắt an toàn trên vùng biển của mình”.

Từ ngày 1-6, Vùng Cảnh sát Biển 2 đã điều 2 tàu túc trực 24/24 giờ hằng ngày để cơ động trong mọi tình huống, giúp ngư dân yên tâm đánh bắt hải sản.
 
Cả ba thuyền trưởng mới trở về từ Hoàng Sa cho hay, họ vẫn sẽ tiếp tục ra ngư trường quen thuộc và sẽ tiếp tục thông báo cho lực lượng Biên phòng nếu phát hiện tàu lạ.

Thuyền trưởng Lê Văn Chiến (ĐNA 90531) tâm sự: Chúng tôi quyết bám ngư trường, vùng biển Hoàng Sa chẳng phải vì một áp lực nào, mà đó là mệnh lệnh từ trong tim. Giữ ngư trường cho ai? Trước hết là cho ngư dân, sau nữa bởi đó là vùng biển của ông bà, tổ tiên ta”.

Giọng nói đanh thép, ánh mắt của thuyền trưởng Chiến nhìn ra biển đầy quyết tâm. Tôi hiểu vì sao Bộ Tư lệnh BĐBP và BP Đà Nẵng tặng huy hiệu anh hùng cho anh. Còn Đồn BP 248 coi anh như một cầu nối tin cậy.

Thiếu tá Trần Hữu Thanh - Đồn trưởng đồn BP 248 (BP Đà Nẵng) cho hay, với những biểu hiện mới, ngư dân cần bình tĩnh, tự tin ra khơi đánh bắt. Anh em biên phòng luôn sát cánh bên ngư dân. Những khó khăn nhất thời hiện nay thường xảy ra ở vùng biển chung, rất nhạy cảm nên cần kiểm tra kỹ lưỡng.

Trao đổi với PV Tiền Phong, Đại tá Nguyễn Quang Trung - Chỉ huy trưởng Cảnh sát biển vùng 2, bày tỏ, ngư dân nên cùng nhau ra khơi thành từng tốp,

để giúp đỡ, phối hợp với nhau. Nếu đi đơn lẻ sẽ dễ dàng bị bắt nạt hơn. Cũng theo Đại tá Trung, trước tình hình phức tạp ở biển Đông, các lực lượng Hải quân, Cảnh sát Biển đã tăng cường hoạt động tuần tra trên biển và tổ chức các điểm trực ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý... nhằm hỗ trợ, giúp ngư dân yên tâm đánh bắt.

Nguồn: http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/543707/Mot-kieu-bit-duong-ngu-dan-Viet-ra-khoi.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #107 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:02:41 am »

Tại sao đến giờ Mỹ mới gọi đích danh "đường lưỡi bò" của Trung Quốc

(GDVN) - Cuộc phỏng vấn Giáo sư Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam được phóng viên báo điện tử Giáo dục Việt Nam thực hiện nóng lúc 23h ngày 26/6/2011 tại sân bay Nội Bài, ngay sau khi ông trở về từ hội nghị an ninh biển Đông tổ chức tại Washinhton, Mỹ, đã nhận được sự quan tâm sâu sắc của nhiều độc giả. Chúng tôi xin được tiếp tục cung cấp những chi tiết rất lý thú trong cuộc phỏng vấn này.

PV: Như ông đã cho biết, chính học giả Trung Quốc cũng đã nhận ra, nếu Trung Quốc nhất nhất đòi phải giải quyết tranh chấp bằng đàm phán song phương, là điều vô lý vì nhiều quốc gia khác cũng cùng có lợi ích trên vùng biển này. Vậy có thể nói, trong chính giới học thuật Trung Quốc cũng có nhiều người đồng tình với cách giải quyết vừa song phương và đa phương?

GS Đặng Đình Quý: Dĩ nhiên còn có ý kiến này ý kiến khác nhưng đó là thực tế.

Việc học giả Trung Quốc có các tuyên bố như vậy có 2 tác dụng, tác động tới chính giới trong nước và tác động qua phương tiện thông tin đại chúng để những ai quan tâm tới vấn đề biển đông thêm hiểu được vấn đề.

Ngoài ra, cũng đặt ra vấn đề để phía Trung Quốc tính toán, giữa một bên là lợi ích trước mắt, trong tranh chấp tại biển Đông với lợi ích lâu dài, trên toàn thế giới. Nếu như trên mọi diễn đàn khu vực và thế giới, người ta đều nói rằng: “tôi sợ quá, tôi lo về anh quá” và người ta không chấp nhận trước những hành vi của Trung Quốc thì Trung Quốc phải hiểu là đó là điều không tốt.

PV: Đó phần nào trái với điều lãnh đạo Trung Quốc nói về sự “trỗi dậy hòa bình” của đất nước này?

GS Đặng Định Quý: Đúng là chỗ đó, nếu đi đâu người ta cũng sợ, e ngại trước sự trỗi dậy của ông thì không ổn. Thời gian gần đây, đã có 14 hội thảo về biển Đông do rất nhiều nước trên thế giới tổ chức, trong đó có Trung Quốc. Ngoài một hội thảo chính thức được tổ chức tại đảo Hải Nam, Trung Quốc còn tổ chức những cuộc tư vấn nhỏ, nhiều chuyên gia luật pháp được mời đến Bắc Kinh.

Điều này phần nào cho thấy, phía Trung Quốc bắt đầu có sự thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề. Dĩ nhiên, sự thay đổi này không đồng nghĩa với việc họ thay đổi mục tiêu trong vấn đề biển Đông, nhưng ít nhất, cũng làm cho cuộc đấu tranh giữa các bên liên quan trong vấn để phức tạp này dựa trên cùng một cơ sở, đó là luật pháp quốc tế.

Biển Đông làm cho chính giới Mỹ lo ngại ở tầm cao

PV: Được biết hội thảo còn có sự tham dự của nhiều chính trị gia cấp cao của Hoa Kỳ. Họ nhìn nhận ra sao về vấn đề biển Đông hiện nay, thưa ông?

GS Đặng Đình Quý: Một số học giả Mỹ nhấn mạnh vấn đề an ninh biển còn là phép thử xem cơ sở pháp luật hiện hành có còn tiếp tục duy trì được sức mạnh nữa hay không.

Quan điểm thứ 2, thể hiện phần nào quan điểm của chính giới Mỹ qua bài phát biểu của Thượng nghị sỹ Mỹ John McCain. Cần nhắc lại rằng, từ xưa đến nay các quan chức Mỹ không ai nói trực tiếp đến “đường lưỡi bò” mà chỉ nói chung chung là vấn đề an ninh.

Năm 2010 phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và các đối tác, Diễn đàn An ninh khu vực (ARF), bà Hilarry Clinton nhắc đến “Đường lưỡi bò” một cách gián tiếp là “những đòi hỏi không xuất phát từ đặc điểm đất, đảo, đá (land features) trên biển Đông là không có giá trị”. Đó là một cách gián tiếp phủ định yêu sách này của phía Trung Quốc. John McCain là chính khách Mỹ đầu tiên khẳng định trực tiếp: “Đường lưỡi bò” không có cơ sở pháp lý.

Trong bài phát biểu của mình, vị Thượng nghị sỹ Mỹ còn tạo ra liên kết chặt chẽ giữa những đòi hỏi vô lý đó với những đe dọa trật tự hiện hành an ninh trên biển và lợi ích của Mỹ trong vận tải hàng hải. Ông cũng là chính khách Mỹ đầu tiên có kiến nghị rất mạnh là Mỹ phải phê chuẩn Luật biển 1982 để có được chính danh và giúp củng cố ASEAN, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự.

Dĩ nhiên đây là ý kiến của riêng ông ta và tại nước Mỹ cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, trước những diễn biến gần đây tại biển Đông làm cho chính giới Mỹ lo ngại ở tầm cao.
 
Thượng nghị sỹ John McCain đề cập đến trách nhiệm của tất cả các bên. Trong kiến nghị tới các bên có liên quan, điểm mới mấu chốt là có 2 ý kiến, ý kiến thứ nhất là phải hoàn tất ngay Bộ Quy tắc Ứng xử biển Đông (COC) để tránh xung đột. Quyền lợi hợp pháp của các nước trên biển Đông cần phải được giải quyết thông qua đối thoại và đàm phán.

Hơn nữa, không loại trừ COC đó phải có sự tham gia của tất cả các nước liên quan đến Biển Đông bao gồm cả những nước vận tải hàng hải như Ấn, Úc, Nhật, Hàn Quốc…

PV: Trong cuộc hội thảo, có sáng kiến mới nào trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông được  đưa ra không, thưa ông?

GS Đặng Đình Quý: Một đại biểu Philipines nêu vấn đề khoanh vùng khu vực tranh chấp tại Trường Sa và tất cả cùng hợp tác, phát triển khu vực đó.

PV: Đề nghị có khác biệt với đề nghị phía Trung Quốc từng đưa ra trước đây như là tạm gác tranh chấp, cùng khai thác biển Đông?

GS Đặng Đình Quý: Khác biệt ở chỗ, đề nghị của Trung Quốc mang tính chung chung, xuất phát từ câu nói của ông Đặng Tiểu Bình: “chủ quyền tại ngã, gác tranh chấp, các nước khác cùng khai thác”…

Để làm được đó thì hai vấn đề phải làm trước, một là phải khoanh vùng khu vực nào đang tranh chấp và nếu xác định được các chỗ tranh chấp thật thì mới nói đến chuyện nguyên tắc cùng khai thác như thế nào. Câu chuyện đó có thể nhận thấy đã tắc ngay từ về thứ nhất rồi.

Chiểu theo đề xuất đó, việc cần làm là khoanh vùng các đảo ngoài cùng thành vùng lõm, tạo thành khu vực 5 nước 6 bên. Trong khu vực đó phải xác định xem, khu vực nào tranh chấp, khu vực nào không tranh chấp, quy chế các đảo đá như thế nào… Còn nếu theo cách phân định “chủ quyền tại ngã” của Trung Quốc thì chả còn khu vực nào là tranh chấp và gần như tất cả Biển Đông là của họ.

Nếu nói rằng, khoanh vùng khu vực đó lại và ban hành quy chế như các nước Đông Nam Á hiểu thì có thể hiểu là vành đai an toàn 500m với những bãi nửa nổi nửa chìm và 12 hải lý với những đảo. Chỉ có như thế thôi và không có vùng đặc quyền kinh tế.

Việc này sẽ tạo ra giữa những vòng tròn 12 hải lý những vùng lõm, đó là khu vực cùng khai thác, phát triển, bảo vệ môi trường biển. Đó là sáng kiến lần đầu tiên được đưa ra tại một diễn đàn lớn về an ninh hàng hải tại biển Đông. Trên thực tế, giữa chúng ta và Philipines đã có những dự án khoa học chung tại những khu vực còn tranh cãi.

PV: Ông đánh giá đề xuất của phía Philipines liệu có khả năng hiện thực hóa được hay không?

GS Đặng Đình Quý: Có nhiều cái khó vì để thực hiện. Trước tiên là tất cả các nước ASEAN phải đồng lòng nhưng hiện nay các nước ASEAN còn chưa hoàn toàn nhất trí được với nhau.

Còn nếu có quốc gia nào đó cứ khăng khăng là tính từ đảo họ đang chiếm giữ ra 200 hải lý là vùng đặc quyền kinh tế của họ thì đề xuất trên không còn giá trị. Nếu các nước cùng nhìn nhận, việc cùng hợp tác lớn hơn chuyện tranh chấp thì tất cả các bên đều tính đến chuyện điều chỉnh chính sách.

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/5800-tai-sao-den-gio-my-moi-goi-dich-danh-duong-luoi-bo-cua-tq.html
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #108 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 09:04:11 pm »

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thời Pháp thuộc

Từ khi triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Giáp Thân (1884) với Chính phủ Pháp nước ta bước vào thời kỳ mà các sử gia gọi là Thời kỳ Pháp thuộc. Trong thời kỳ này, chính quyền thuộc địa Pháp thay mặt Nam Triều trong những quan hệ ngoại giao, đồng thời đảm bảo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong khuôn khổ của những cam kết chung, Pháp tiếp tục thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế, chính quyền thuộc địa Pháp đã có nhiều hành động cụ thể liên tục củng cố, khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này.



Hải đăng Việt Nam trên đảo Hoàng Sa thời Pháp thuộc

Theo báo La Nature số 2916 ngày 1-11-1933, năm 1899 Tòan quyền Đông Dương Paul Doumer đã ra lệnh xây dựng một hải đăng trên đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, dự án này đã không thực hiện được vì thiếu kinh phí. Về sự kiện này, tờ La Nature nhận xét: "Chính phủ Pháp đã thiết lập sự đô hộ của họ đối với An Nam mà những hòn đảo này (quần đảo Hoàng Sa) thuộc lãnh thổ của An Nam, nên Pháp có quyền sở hữu và trách nhiệm coi sóc đối với lãnh thổ mới này. Phải nhận thấy rằng họ đã hoàn toàn phớt lờ trách nhiệm cho đến hôm nay. Lý do vì lợi tức ít ỏi hoàn toàn không biện bạch được cho sự thờ ơ này”. Tuy vậy, hải quân Pháp vẫn thường xuyên tuần tiễu vùng biển này để giữ an ninh và cứu giúp các tàu thuyền bị đắm.

Các động thái ít ỏi của chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương trong giai đoạn đầu cho thấy sự quan tâm chưa đầy đủ của người Pháp tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính thái độ này của Pháp đã tạo điều kiện cho một vài nước gia tăng các hoạt động của họ trên vùng Biển Đông dẫn tới nguy cơ đe dọa chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà nước Pháp đã cam kết bảo hộ. Từ năm 1909, Trung Quốc bắt đầu đòi hỏi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa ở một mức độ nhất định. Một lần trong năm 1909, chính quyền tỉnh Quảng Đông cho tàu chiến ra thám sát trái phép quần đảo Hoàng Sa. Ngày 20-3-1921, Tỉnh trưởng Quảng Đông ký một sắc lệnh kỳ lạ sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào Hải Nam. Tuy hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc chỉ diễn ra trên giấy tờ, nhưng Pháp cho rằng đây là hành vi nghiêm trọng. Khâm sứ Trung Kỳ LeFol viết trong thư ngày 22-1-1926 gửi Toàn quyền Đông Dương: "Sau khi Trung Quốc có yêu sách vào năm 1909, vì nước Pháp thay mặt nước An Nam về quan hệ đối ngoại theo Hiệp ước bảo hộ, đáng lẽ phải khẳng định quyền của nước được bảo hộ đối với các đảo hữu quan, thì trái lại hình như hoàn toàn không quan tâm đến”. Cũng trong bức thư trên, ông LeFol cho biết, Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề của Nam Triều đã có văn thư ngày 3-3-1925 khẳng định: "Các đảo nhỏ đó (quần đảo Hoàng Sa) bao giờ cũng là sở hữu của nước An Nam, không có sự tranh cãi trong vấn đề này”.



Dụ số 10 của hoàng đế Bảo Đại ký ngày 29-3-1938 khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước các chỉ trích của dư luận cũng như thực tế diễn biến phức tạp trên Biển Đông, từ đầu thế kỷ XX, Pháp đã bắt đầu có những động thái tích cực hơn trong việc khẳng định chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh việc gìn giữ an ninh trên Biển Đông, các năm 1917- 1918 trong báo cáo của chính quyền Pháp tại Đông Dương có đề cập đến việc lắp đặt đài radio TSF, trạm quan sát khí tượng, hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1925, Viện Hải Dương Học và Nghề Cá Đông Dương cử tàu De Lanessan ra khảo sát quần đảo Hoàng Sa. Ngòai tiến sĩ Krempf, Giám đốc Viện Hải Dương Học, còn có nhiều nhà khoa học khác tham gia nghiên cứu về địa chất, về sinh vật... Các nhà khảo sát đã phát hiện một tầng đá vôi phosphat dày khoảng 1 mét với hàm lượng phosphoric từ 23% đến 25% trong tầng mặt và 42% ở tầng sâu. Sự khám phá này mở ra cơ hội cho công việc khai thác phân bón phosphat về sau. Năm 1927, Sở Địa chất và Sinh học Đại Dương cho người ra khảo sát ở quần đảo Trường Sa. Các cuộc khảo sát khoa học đã đưa tới kết luận Hoàng Sa và Trường Sa là sự nhô lên của một thềm lục địa liên tục nhờ các địa tầng dưới biển kéo dài dãy Trường Sơn từ đèo Hải Vân ra Biển Đông. Nếu nước biển rút xuống khoảng 600-700m, Hoàng Sa và Trường Sa sẽ gắn với bờ biển Việt Nam thành một dải đất liền thống nhất.



Trụ sở hành chính của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.

Ngày 8-3-1925, Toàn quyền Đông Dương ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Pháp. Tháng 11-1928, Thống đốc Nam Kỳ cấp giấy phép nghiên cứu mỏ ở quần đảo Trường Sa cho Công ty Phosphat Bắc Kỳ Mới. Trong thư ngày 20-3-1930, Toàn quyền Đông Dương gởi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xác nhận: "Cần thừa nhận lợi ích nước Pháp có thể có trong việc nhân danh An Nam, đòi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa”. Ngày 13-4-1930, thông báo hạm La Malicieuse ra quần đảo Trường Sa và treo quốc kỳ Pháp. Thông cáo ngày 23-9-1930 của Chính phủ Pháp cho biết về hành động chiếm đóng thực thi chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa. Ngày 4-12-1931 và ngày 24-4-1932, Pháp phản kháng Trung Quốc về việc chính quyền Quảng Đông lúc đó có ý định cho đấu thầu khai thác phosphat trên quần đảo Hoàng Sa. Ngày 15-6-1932, chính quyền thuộc địa Pháp ra Nghị định số 156-SC ấn định việc thiết lập một đơn vị hành chính gọi là quận Hoàng Sa tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 13-4-1933, một hạm đội của hải quân Pháp ở Viễn Đông dưới sự chỉ huy của trung tá hải quân De Lattre rời Sài Gòn ra quần đảo Trường Sa thực hiện đầy đủ các nghi thức truyền thống theo đúng tập quán quốc tế về việc chiếm hữu lãnh thổ tại đây. Ngày 26-7-1933, Bộ Ngoại giao Pháp ra thông báo đăng trên tờ Công báo Pháp về việc hải quân Pháp chiếm hữu một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Thông báo ghi rõ những hải đảo và tiểu đảo ghi trong văn bản này kể từ nay đã thuộc chủ quyền nước Pháp. Ngày 21-12-1933, Thống đốc Nam Kỳ Krautheimer ký Nghị định số 4762, sáp nhập các đảo thuộc quần đảo Trường Sa (Spratley) nằm trên Biển Đông vào tỉnh Bà Rịa. Trong năm 1937, chính quyền Pháp cử kỹ sư công chính Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa nghiên cứu vị trí xây dựng hải đăng, căn cứ cho thủy phi cơ; tuần dương hạm Lamotte Piquet do Phó Đô đốc Istava chỉ huy ra thăm quần đảo Hoàng Sa.



Bia chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa năm 1930

Nam Triều trong thời kỳ này tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, song vẫn chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13 (30-3-1938), Hoàng đế Bảo Đại ký Dụ số 10 có nội dung: "Chiếu theo các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã từ lâu và dưới các tiên triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Ngãi. Đền đời Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam Ngãi. Nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên đại diện Chính phủ Nam Triều cũng phải ra kinh lý các cù lao ấy cùng qua các đại diện Chính phủ bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn... Trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành Chính, các cù lao ấy thuộc dưới quyền quán hiến tỉnh ấy”. Ngày 15-6-1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévie ký Nghị định thành lập một đơn vị hành chánh tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Cũng trong năm 1938, một bia chủ quyền được chính quyền Pháp dựng lên mang dòng chữ: "Cộng hoà Pháp, Vương quốc An Nam, quần đảo Hoàng Sa, 1816 - đảo Pattle 1938”, một hải đăng, một trạm khí tượng ở đảo Hoàng Sa (Pattle), một trạm khí tượng khác ở đảo Phú Lâm (lle Boisée), một trạm radio TSF trên đảo Hoàng Sa (Pattle); cùng một bia chủ quyền, một hải dăng, một trạm khí tượng và một trạm radio TSF tương tự trên đảo Ba Bình (ltu Aba). Tháng 6-1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam tới đồn trú ở Hoàng Sa.



Báo La Nature số 2916 ngày 1-11-1933

Ngày 31-3-1939, Nhật Bản tuyên bố kiểm soát quần đảo Trường Sa và chuyển thông báo tới Đại sứ Pháp tại Nhật. Ngày 4-4-1939, Bộ Ngoại giao Pháp gửi công hàm phản đối quyết định của Nhật và khẳng định chủ quyền của Pháp tại quần đảo Trường Sa. Pháp được Anh ủng hộ trong cuộc tranh luận ngày 5-4-1939 tại Hạ Nghị viện, đại diện Bộ Ngoại giao Anh đã khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa trọn vẹn thuộc nước Pháp. Ngày 5-5-1939, Toàn quyền Đông Dương J. Brévie ký Nghị định số 3282, sửa đổi Nghị định trước và thành lập 2 sở địa lý tại quần đảo Hoàng Sa. Do nhu cầu lập đầu cầu xâm chiếm Đông Nam Á, Nhật đã nhanh chóng chiếm đảo Phú Lâm (1838) và đảo Ba Bình (1939) thuộc quần đảo Trường Sa. Mãi đến ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Nhật mới bắt lính Pháp đồn trú ở quần đảo Hoàng Sa làm tù binh. Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, Nhật rút khỏi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và một phân đội lính Pháp đã đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza lên thay thế quân Nhật từ tháng 5-1945, nhưng đơn vị này chỉ ở đây vài tháng. Trong thời gian từ 20 đến 27-5-1945, Đô đốc D'Argenlieu, Cao ủy Đông Dương cũng đã phái tốc hạm L'Escamouche ra nắm tình hình đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Suốt thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp chưa bao giờ tuyên bố phủ nhận chủ quyền của Vương quốc An Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nước Pháp có trách nhiệm bảo hộ. Mặc dù trong giai đoạn này bắt đầu có một số nước lên tiếng đòi hỏi chủ quyền vô lý ở một số đảo, nhưng tất cả đều bị chính quyền Pháp kiên quyết phản đối. Những tư liệu lịch sử nói trên cho thấy, người Pháp cũng như người Việt trong thời điểm này chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cho đến khi thua trận rút khỏi Đông Dương, Chính phủ Pháp cũng đã bàn giao quyền quản lý vùng biển này lại cho một chính phủ tuy do Pháp dựng lên nhưng cũng là của người Việt Nam.

Nhóm PV Biển Đông

Theo daidoanket.vn

Link: http://biengioilanhtho.gov.vn/vie/chuquyenhoangsavatruong-nd-30b585b7.aspx
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #109 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2011, 03:58:21 pm »

Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của VN trong sử sách TQ

(ĐVO) Trước năm 1909, rất nhiều tài liệu của Trung Quốc đã gián tiếp và trực tiếp xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo đó, người Việt Nam đã phát hiện, sử dụng và xác định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa trong nhiều thế kỷ một cách hoà bình, liên tục, mà không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào, kể cả của Trung Quốc.

1. Chư Phiên Chí của sử gia Triệu Nhữ Quát đời nhà Tống

Cuốn Chư Phiên Chí chép: Sau khi thôn tính Nam Việt, Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Cho đến đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ VII) mới đặt lại quyền cai trị.

Tài liệu cổ này cũng cho biết, vùng Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa bây giờ) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa không nên đến gần vì chỉ đi sai một tí là có thể chìm đắm; đồng thời mô tả rõ Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, tức không thuộc về Trung Hoa, mà thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên biển Đông của Trung Hoa vào đời nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.

2. Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696

Trong quyển 3 của Hải ngoại Ký sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa và khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo này.

Hải ngoại Ký sự mô tả: "Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam; động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành; bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là Vạn Lý Trường Sa, mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió, trái nước tấp vào, dầu không tan nát, cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi... Quảng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm. Thời Quốc vương trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền lui tấp vào. Mùa thu nước dâng cạn, chảy rút về hướng Đông, bị một ngọn sóng đưa thuyền có thể trôi xa cả trăm dặm; sức gió chẳng mạnh, sợ có hiểm hoạ Trường Sa".

Tương quan với tài liệu của Việt Nam về hoạt động của đội Hoàng Sa, có thể nói, những gì Thích Đại Sán viết là hoàn toàn phù hợp, khách quan ghi nhận chủ quyền của Đại Việt đối với quần đảo Hoàng Sa.

3. Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909

Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa.
 
Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc, gồm: Dư địa đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản trong sách Quảng dư đồ của La Hồng Tiên; Thiên hạ Thống nhất Chi đồ đời Minh trong Đại Minh Nhất thống chí, năm 1461; Hoàng Minh Đại thống nhất tổng đồ đời Minh, trong Hoàng Minh Chức phương địa đồ của Trần Tổ Thụ, năm 1635; Lộ phủ, Châu huyện đồ đời Nguyên vẽ lại trong Kim cổ dư đồ của Nguyễn Quốc Phụ đời Minh, năm 1638; Hoàng triều Nhất thống dư địa tổng đồ trong tập Hoàng triều Nhất thống dư địa tổng đồ (khuyết danh), năm 1894; Đại Thanh đế quốc trong tập Đại Thanh đế quốc toàn đồ do Thường Vụ An Thư Quán Thượng Hải, năm 1905...

Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa vào tháng 1/1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để xác minh chủ quyền Trung Quốc, trái lại, họ phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam dưới thời vua Minh Mạng.

Link: http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Chu-quyen-Hoang-Sa-Truong-Sa-cua-VN-trong-su-sach-TQ/20117/153483.datviet
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM