Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:27:09 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 433131 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #120 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2011, 01:36:51 am »

Việt Nam trong cuộc chơi "nóng lạnh" của Trung Quốc ở Biển Đông

Khó ai không nghĩ rằng viên gạch tạo nền móng cho tranh chấp hôm nay để giành quyền kiểm soát Biển Đông, đã được Trung Quốc đặt từ hơn 20 năm trước. Liệu Trung Quốc sẽ nghĩ gì và làm gì cho 40 năm sau, hay gần hơn là cho 20 hay 10 năm tới?


Hai lá bài nóng lạnh ngẫu nhiên của Trung Quốc

Không có gì lạ là ngay sau khi đe dọa dùng vũ lực chống Việt Nam vào ngày 21/06/2011 trên báo Hoàn cầu, thì Trung Quốc - Việt Nam đã họp mặt cấp cao ngày 25/06/2011, tái tuyên bố tôn trọng 16 chữ vàng về quan hệ láng giềng tốt. Chú ý là 2 sự kiện chỉ cách nhau có 4 ngày với những tín hiệu hoàn toàn đối nghịch nhau từ phía các cơ quan Trung ương của Trung quốc.

Như đã nói, sự kiện sau là dấu hiệu tích cực, cho thấy sự giảm nhiệt trong khu vực. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, tình hình hoàn toàn không đơn giản: Trung Quốc đang chơi hai lá bài nóng lạnh theo kiểu bất định (randomizing strategies), làm Việt Nam mất phương hướng (indifference).

Hãy điểm lại các sự kiện gần đây nhất: Hôm 26/05/2011, tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp, chỉ vài ngày trước thềm hội nghị thượng đỉnh về an ninh khu vực, Shangri-La. Ngay sau cuộc gặp bên lề Hội nghị, mà phía Trung Quốc nhấn mạnh cam kết xử lý tranh chấp hòa bình và gìn giữ tình hữu nghị Trung - Việt, vào sáng ngày 09/06/2011, Trung Quốc lại chủ đích cho 3 tầu bán vũ trang, tấn công, cắt cáp tầu Viking 02 của Việt Nam.


Ngày 20 - 21/06/2011, khi hội thảo quốc tế về an ninh Biển Đông đang diễn ra tại Washington, thì 21/06 Trung Quốc chính thức đe dọa dùng vũ lực chống Việt nam trên tờ Hoàn cầu.

Tiếp theo, ngày 25 - 26/06, trong cuộc gặp mặt cao cấp Trung - Việt, Trung Quốc tái khẳng định gìn giữ quan hệ láng giềng tốt; cùng định hướng dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại niềm tin của nhân dân hai nước. Nhưng ngay vào lúc nói các lời lẽ đó, một Tướng của Trung Quốc, Bành Quang Khiêm, Phó Tổng thư ký Ủy ban chính sách an ning quốc gia, lại tuyên bố có thể sẽ dạy cho Việt Nam một bài học lớn hơn (cuộc chiến tranh biên giới Trung - Việt) trên kênh truyền hình Trung ương Trung quốc vào 25/06.

Và chỉ vài ngày sau, chính quyền tỉnh Hải Nam lại ban bố lệnh cấm đánh bắt cá trên cả vùng biển của Việt Nam, tiếp tục xâm phạm trực tiếp chủ quyền của Việt Nam, ngay sau tuyên bố chung tại cuộc họp ngoại giao cấp cao giữa hai nước.

Việt Nam trong cuộc chơi

Trong nghiên cứu chiến lược, khi Trung Quốc chơi ngẫu hứng hai lá bài nóng lạnh như vậy, Việt Nam dễ bị mất phương hướng. Theo nghĩa, Việt Nam cũng bị ngẫu nhiên lái theo Trung Quốc. Cụ thể là với xác suất dương, hay với rủi ro có thật, Việt Nam bị rơi vào "vòng tay" của Trung Quốc, mà không thể phối hợp với Mỹ một cách thường xuyên, hay sự phối hợp chỉ có tính nhất thời. Tức là, Việt Nam bị "nhẩy" một cách ngẫu nhiên giữa 2 chiến lược: tự vệ đơn phương và phòng thủ cùng với Mỹ, một khi có chiến sự nổ ra bất ngờ với Trung Quốc (Xem sơ đồ 2).

Như vậy, có một sự rất khác với Philippines, mà sự phối hợp nhất quán với Mỹ cho phép tạo sức mạnh răn đe. Ngược lại, Việt Nam phải đối mặt với khả năng (dù không phải chắc chắn sẽ xảy ra) là Trung Quốc sẽ bất ngờ tấn công Việt Nam ở một khâu then chốt, mà nó cho phép: (i) Tăng quyền kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc đối với con đường hàng hải quốc tế qua Biển Đông. (ii) Tăng khả năng tạo tranh chấp, lan dần vào các vùng không có tranh chấp, thông qua sự chèn ép về quyền khai thác các tài nguyên mang tính loại trừ, cụ thể là dầu khí. (iii) Điểm tấn công phải cho phép phát huy tối đa chiến lược chơi ngẫu hứng hai lá bài nóng lạnh, sao cho: Việt Nam bị ép vào thế buộc phải tự vệ đơn phương khi nổ ra xung đột. Mỹ không kịp trở tay hoặc không thể điều động chiến hạm, tàu sân bay tới, chỉ vì một xung đột có quy mô xem ra là nhỏ.

Sự lựa chọn điểm và thời điểm tấn công, thỏa mãn cả 3 điều kiện nói trên sẽ làm tăng cao nhất cả lợi ích ngắn hạn và dài hạn cho Trung Quốc. Cụ thể là, tự vệ đơn phương sẽ làm sự thôn tính xảy ra nhanh. Sau khi thôn tính, xung đột song phương sẽ lan rộng hơn, phức tạp hơn, mà Trung Quốc có thể sử dụng tốt nhất lợi thế vượt trội để chèn ép, đem lại lợi ích dài hạn cho Trung Quốc. Nói rõ hơn, Trung Quốc đang lái xung đột về trạng thái song phương, ngay trong bối cảnh có nỗ lực đa phương để kiềm chế xung đột.

Mặc dù mọi so sánh đều là khập khiễng. Nhưng về lịch sử, vụ Trung Quốc bất ngờ tấn công bãi Gạc Ma vào tháng 03/1988, khi Liên Xô cũ còn đóng quân tại Cam Ranh như một lá chắn hữu hiệu để bảo vệ Trường Sa, là một ví dụ đáng ghi nhớ. Đó là thời điểm mà chiến tranh biên giới Việt - Trung đã giảm nhiệt. Ước mong của nhân dân Việt Nam là có quan hệ tốt với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc. Ước mong đó đã được hiện thực hóa từng bước qua những trao đổi ngoại giao cấp chính phủ. Giao dịch thương mại đã nhen nhóm trở lại, khi đốm lửa chiến tranh xem ra đang nguội dần. Trong bối cảnh đó, ít ai ngờ rằng, Trung Quốc sẽ bất ngờ cho quân tấn công Bãi Gạc Ma.

Hãy nhìn từ ngày ấy, để hiểu rõ mất mát của dân tộc, khi các chiến sĩ hải quân Việt Nam hy sinh kề bên vòng tròn bất tử - biểu tượng chủ quyền của Việt Nam trên đảo - để bảo vệ lá cờ tổ quốc.

Hãy nghĩ theo chiều dài lịch sử cho đến ngày hôm nay, khi tranh chấp biển đảo, khai thác dầu, diễn ra căng thẳng nhất là quanh vùng biển gần Trường Sa, Hoàng Sa, và đang lan dần vào thềm lục địa, sát bờ biển Việt Nam, qua vụ Bình Minh 02 và Viking 02.

Khó ai không nghĩ rằng viên gạch tạo nền móng cho tranh chấp hôm nay để giành quyền kiểm soát Biển Đông, đã được Trung Quốc đặt từ hơn 20 năm trước. Và nếu tính cả Hoàng Sa, thì sự chuẩn bị đã có gần 40 năm. Liệu Trung Quốc sẽ nghĩ gì và làm gì cho 40 năm sau, hay gần hơn là cho 20 hay 10 năm tới?

Việt Nam hiện nay, cũng giống như 20 năm về trước, khó có thể làm gì nhiều để ứng phó với cách mà Trung Quốc ứng xử lá mặt lá trái, lúc nóng lúc lạnh, khiến chính mình bị dao động giữa một bên là chiến lược phòng thủ chung với Mỹ và ASEAN; và bên kia là buộc phải ở vào thế tự vệ đơn phương, khi bất ngờ bị Trung Quốc tấn công. Nhưng Việt Nam cũng có thể chơi ngẫu hứng để đáp trả ngẫu hứng. Việt Nam có thể tăng cường hơn nữa các đàm phán song phương với Trung Quốc. Đồng thời, cần hành động thực tế hơn, nhưng ngẫu nhiên và khó xác định hơn, trong việc củng cố hợp tác phòng thủ với Mỹ, Nhật, Nga, Ấn Độ và các nước ASEAN. Điều đó là lẽ phải, nhằm bảo đảm sự ổn định khu vực và tự do, an toàn hàng hải. Các phương án có thể trải rộng từ việc tăng khả năng cảnh báo sớm, tăng sức mạnh phòng thủ ở các điểm chiến lược; cho đến phối hợp tập trận, bảo vệ an toàn hàng hải; hợp tác tuần tra trên không và trên biển thuộc chủ quyền quốc gia, đi kèm với hoạt động nhân đạo, cứu hộ, hay khảo sát khí tượng, nghiên cứu môi trường tự nhiên và thềm lục địa.

Cách chơi ngẫu hứng như vậy sẽ làm thay đổi kỳ vọng của các bên, kể cả Trung Quốc về được và mất khi nổ ra xung đột; do đó ảnh hưởng tới xác suất gây ra xung đột. Chính Việt Nam cũng có thể lái Trung Quốc trở lại thế đa phương để giải quyết xung đột song phương; cụ thể là khi khả năng có sự đáp trả mang tính phối hợp quốc tế là đủ cao, thì tự nó đã tạo ra sự răn đe hữu hiệu với các hành động gây chiến hung hăng nhất.

Theo cách tiếp cận như vậy, chúng ta phải mở rộng khái niệm về chủ quyền trong một Thế giới mới, mà sự liên kết kinh tế - địa - chính trị làm nền tảng vững chắc cho cơ chế phối hợp an ninh đa phương. (Economies of scale and scope in coordination mechanism). Nói rõ hơn, dù rằng chúng ta tôn trọng và gìn giữ tình hữu nghị với Trung Quốc. Nhưng việc ngồi im không làm gì, khi Trung Quốc xâm phạm chủ quyền khai thác tài nguyên mang tính loại trừ, như đánh bắt cá hay khai hác dầu thô tại thềm lục địa của Việt Nam, thì điều đó không chỉ làm tổn thất niềm tự hào dân tộc, mà còn làm suy yếu tình hữu nghị của nhân dân Việt Nam với Trung Quốc.

Nói rõ hơn, chúng ta nên có những giải pháp cụ thể để bảo vệ chủ quyền thông qua hợp tác kinh tế - địa - chính trị với tất cả các nước liên đới, không chỉ riêng với Trung Quốc.

Cụ thể là chúng ta có thể cho thuê (lease) dài hạn, ví dụ là 100 năm, các vùng biển đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam cho các quốc gia như Nga, Mỹ, Nhật, nhằm khai thác dầu thô hoặc đánh bắt cá. Các khoản thuế (tax) hoặc lợi tức (rent) từ việc cho thuê quyền khai thác tài nguyên mang tính loại trừ này chính là biểu hiện cụ thể về kinh tế của chủ quyền không thể bị xâm phạm của Việt Nam. Khi mà các dạng thuế, lợi tức được ghi nhận và quyền sở hữu của các quốc gia hay công ty nước ngoài được đảm bảo theo công ước quốc tế, thì tất yếu sẽ làm giảm các tranh chấp song phương, vì khả năng bảo vệ chủ quyền được tăng lên.

Một khía cạnh nữa là việc phối hợp khai thác và bảo vệ tài nguyên không loại trừ: đường hàng hải chiến lược qua Biển Đông, với hơn 1/3 giá trị thương mại toàn cầu đi qua đó. Tiềm năng phát triển kinh tế và vị thế địa lý chiến lược của Việt Nam có thể tạo ra sự bổ trợ lẫn nhau, cho phép Việt Nam tham dự ngày càng nhiều hơn vào việc khai thác nguồn tài nguyên khổng lồ và ngày một tăng này. Việt Nam có thể cho thuê không cảng và hải cảng chiến lược, mà nó cho phép tăng tính an toàn và hiệu quả, hay giảm chi phí và rủi ro trong vận chuyển trên không và trên biển. Điều đó làm tăng sự đóng góp của Việt Nam vào giá trị thương mại của nguồn tài nguyên không loại trừ - đường vận chuyển quốc tế dọc theo Biển Đông.

Ở đây có sự ghép nối giữa lợi ích thương mại và bảo đảm an ninh đa phương, mà các bên liên quan đều hưởng lợi. Vì vậy, giá trị của sự phối hợp là rất lớn. Từ các điểm nút chiến lược ven biển, sự bùng nổ về giao dịch, vận chuyển quốc tế sẽ cho phép các dòng vốn, công nghệ, và các phương thức tổ chức hiệu quả lan truyền vào Việt Nam. Các nguồn lực này sẽ tạo nên sự tăng trưởng dựa trên hiệu quả hay vốn tri thức, kéo theo sự hoà nhập mạnh của Việt Nam vào chuỗi thương mại toàn cầu. Nói rõ hơn, việc khai thác lợi thế về thông thương và tăng cường giao dịch quốc tế chính là làm tăng giá trị kinh tế của chủ quyền và sức mạnh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam.

Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-05-vn-trong-cuo-c-choi-no-ng-la-nh-cu-a-tq-o-bie-n-dong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #121 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2011, 01:46:35 am »

Lợi ích biển của Trung Quốc: Sự tác động với Đông Nam Á

Trung Quốc lần đầu tiên đã đưa một chương về phát triển hàng hải vào Kế hoạch phát triển 5 năm. Sự nhấn mạnh về kinh tế hàng hải kiểu này bộc lộ cả những thách thức và cơ hội.

Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của Trung Quốc, đưa ra tháng 3/2011, lần đầu tiên đã gồm những đường lối phát triển hàng hải trong riêng một chương. Kế hoạch này nhấn mạnh một cấu trúc công nghiệp hàng hải tối ưu bao gồm khai thác và sử dụng tài nguyên hàng hải hợp lý và khoa học; tăng cường phát triển hàng hải cũng như cải thiện các khả năng kiểm soát và quản lý.

Nhu cầu phát triển kinh tế biển khá phù hợp với các lợi ích hàng hải đang gia tăng của Trung Quốc. Trong giai đoạn Kế hoạch Năm năm lần thứ 11, kinh tế biển của nước này đã tăng 13,5%. Tuy nhiên, sự gia tăng này cũng không quá 10% GDP của cả nước. Trong những năm tới, chính phủ Trung Quốc sẽ chuyển dịch kinh tế đất nước theo mô hình "hướng biển" nhiều hơn.

Những tỉnh duyên hải đã tăng cường đầu tư vào các chương trình và ngành công nghiệp hàng hải để thúc đẩy kinh tế biển. Những tỉnh và thành phố tự trị ven biển của Trung Quốc - Liêu Ninh, Hà Bắc, Thiên Tân, Sơn Đông, Giang Tô, Thượng Hải, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam - tất cả đều có những kế hoạch phát triển xa bờ của riêng mình.

Tuy nhiên, có nhiều thách thức nằm trong quá trình phát triển ấy. Nó bao gồm nhu cầu ngày càng gia tăng về tài nguyên và yêu cầu mở rộng vai trò cũng như kích cỡ của các cơ quan thực thi luật pháp hàng hải, kéo theo rủi ro đụng độ với các tàu nước ngoài.

Tăng cường tìm kiếm năng lượng

Trung Quốc phụ thuộc lớn vào năng lượng và các tài nguyên khác để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của họ. Nhằm đảm bảo sự ổn định về tài nguyên năng lượng, nước này đang tăng cường tìm kiếm những nguồn xa bờ nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu nước ngoài. Các tập đoàn năng lượng quốc gia đã thúc đẩy nỗ lực thăm dò, khai thác dầu khí ở những vùng nước xa hơn và sâu hơn. Điển hình nhất, Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC), nhà sản xuất dầu khí ngoài khơi lớn nhất nước này, đã khánh thành một giàn khoan dầu khí hiện đại nhất có tên CNOOC981 vào tháng 6/2011, có thể đảm bảo khoan dầu khí ở vùng nước sâu hơn 3.000 mét.

Cuộc tìm kiếm năng lượng và mua sắm những thiết bị công nghệ cao sẽ cho phép Trung Quốc khai thác dầu tại những khu vực có điều kiện địa chất khó khăn hơn và sâu hơn ở Biển Đông. Trong quá khứ, các hoạt động thăm dò năng lượng của Trung Quốc ở Biển Đông bị hạn chế ở những vùng nước nông hơn ngoài khơi đảo Hải Nam. Oriental Outlook, một tạp chí do Tân Hoa xã xuất bản, nhấn mạnh, rằng, mỗi năm khoảng 20 triệu tấn dầu và khí tự nhiên đã được Việt Nam, Philippines và Malaysia khai thác từ Biển Đông. Tạp chí cho rằng, điều này được coi là sự thất thoát dầu khí ra nước ngoài.

Kết hợp với áp lực do nhu cầu năng lượng nội địa ngày một lớn, người Trung Quốc cảm thấy gia tăng bất an về "sự phân chia" tài nguyên không đồng đều. Việc tăng cường tìm kiếm năng lượng giữa các bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, cùng với những tranh chấp biên giới hàng hải sẽ làm khu vực bất ổn nếu tất cả các bên liên quan đi theo cách riêng của họ.

Mở rộng các cơ quan hành pháp

Khi nền kinh tế Trung Quốc hướng biển nhiều hơn thì vai trò của các cơ quan thực thi luật pháp hàng hải sẽ trở nên quan trọng hơn. Với ba triệu km vuông vùng biển xa bờ và 32.000 km bờ biển, các cơ quan hành pháp của Trung Quốc được yêu cầu mở rộng những nỗ lực của họ trong việc tuần tra các vùng biển và điều chỉnh những hoạt động hàng hải để duy trì trật tự hàng hải và bảo vệ phát triển kinh tế biển.

Kể từ Kế hoạch 5 năm lần thứ 11, Trung Quốc đã bắt đầu mở rộng những cơ quan thực thi pháp luật hàng hải. Lực lượng hải giám (CMS) thuộc Cục Quản lý Đại dương nhà nước, đã đưa ra một chương trình xây dựng gồm 36 tàu kiểm tra và 54 tàu tốc độ cao. Dự kiến tới năm 2015 khi Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 hoàn tất, CMS sẽ có 16 máy bay và 350 tàu tuần tra. Vào năm 2020, số thành viên của lực lượng này sẽ tăng từ 9.000 - 15.000 người.

Ngoài CMS, các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải Trung Quốc còn có: Tuần duyên, một lực lượng quân sự tuần tra bờ biển; Ủy ban An toàn hàng hải phụ trách công tác tìm kiếm và cứu hộ ven biển; Cảnh sát ngư chính giám sát hoạt động đánh bắt cá; Cảnh sát hải quan ngăn chặn buôn lậu. Mỗi cơ quan trực thuộc ban ngành khác nhau và đều dự kiến mở rộng để hoàn thành vai trò của họ một cách tốt hơn.

Xung đột nhiều hơn?

Những va chạm gần đây giữa Trung Quốc và các bên tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông chủ yếu liên quan tới đụng độ giữa các tàu tuần tra Trung Quốc và tàu thăm dò dầu khí của các nước láng giềng. Sử dụng các tàu tuần tra thuộc những cơ quan thực thi pháp luật dân sự có thể là một thông điệp rằng, Trung Quốc không sẵn sàng phản ứng với những tranh chấp biên giới hàng hải bằng việc sử dụng lực lượng quân sự.

Khi môi trường an ninh trong những vùng biển phụ cận, đặc biệt ở Biển Đông và Hoa Đông, ngày một phức tạp hơn, rõ ràng là Trung Quốc ngày càng đối mặt với nhiều thách thức hơn trong thực thi pháp luật hàng hải. Các cuộc đụng độ giữa tàu tuần tra Trung Quốc với tàu của các bên tuyên bố chủ quyền khác gồm cả tàu thăm dò và tàu cá sẽ gia tăng.

Trung Quốc đang đối mặt với một số thách thức trên biển khi nhu cầu năng lượng gia tăng và sự thực thi luật pháp hàng hải lớn hơn trở nên vướng mắc cùng những tranh chấp chủ quyền lâu dài với các nước láng giềng. Tầng lớp quân sự ở Trung Quốc đang thúc giục một chiến lược hàng hải quốc gia rộng lớn hơn. Làm thế nào để những yếu tố này được tích hợp vào một chiến lược hàng hải lớn và những lợi ích biển có thể đạt được mà không đối đầu với các quốc gia trong khu vực là những câu hỏi khó mà các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh đang suy nghĩ.

Sự phối hợp lớn hơn giữa các cơ quan thực thi luật pháp hàng hải Trung Quốc và giữa Trung Quốc với các nước láng giềng ở Biển Đông có thể mở ra một con đường. Các quốc gia nên xem xét hợp tác chung được hỗ trợ bởi ý chí chính trị mạnh mẽ hơn để đảm bảo ổn định và an ninh cho tất cả. Các nước cũng nên cân nhắc thiết lập những đường dây nóng hàng hải để xây dựng lòng tin và chia sẻ thông tin tốt hơn.

Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-07-loi-ich-bien-cua-tq-su-tac-dong-voi-dong-nam-a
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #122 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2011, 12:34:48 am »

Báo Trung Quốc: Làm thế nào để giải quyết vấn đề Biển Đông

Nhật Báo Trung Quốc đăng bài xã luận của tác giả Kim Vĩnh Minh, học giả luật thuộc Viện Khoa học Xã hội Thượng Hải và Viện Hải dương Trung Quốc phân tích những khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc với các quốc gia liên quan, và sự bất đồng giữa Trung Quốc và Mỹ về tự do hàng hải trong vùng EEZ. Từ đó đưa ra một số kiến nghị cho Trung Quốc.

Trung Quốc đang tiếp tục những nỗ lực nhằm giảm căng thẳng về vấn đề Biển Đông mặc dù một số nước vẫn đang tiến hành các hành động đơn phương nhằm đạt được lợi ích của họ.

Vấn đề Biển Đông đang ngày càng phức tạp với những tranh chấp pháp lý cần được giải quyết trong khuôn khổ luật quốc tế, gồm cả Hiến chương LHQ, Công ước Luật biển quốc tế 1982 (UNCLOS) và Tuyên bố ứng xử của các bên tại Biển Đông năm 2002.

Tranh chấp pháp lý có thể chia làm hai phần: (1) những tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với một số nước ASEAN và (2) sự bất đồng của Trung Quốc với Mỹ về các hành động quân sự tại khu vực. Mỹ đã tuyên bố bảo vệ tự do hàng hải tại Biển Đông nhưng thực chất là bảo vệ lợi ích quân sự của Mỹ tại khu vực này.

Tranh chấp giữa các nước có thể được giải quyết hòa bình thông qua chính trị, ngoại giao hoặc quy trình pháp lý.

Về chính trị, chìa khóa để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ về các đảo, bãi đá và bãi ngầm tại Biển Đông bằng con đường chính trị lại phụ thuộc vào sự sẵn sàng của các nước liên quan (chẳng hạn như Việt Nam và Philippines) để “tạm gác tranh chấp” và bằng lòng với việc “khai thác chung”. Nhưng do một số nước đang thực sự khai thác nhiều hòn đảo nên rất khó phân định khu vực biển cần khai thác chung và khó có thể giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp chính trị.

Về luật quốc tế, rất khó để giải quyết các tranh chấp này bằng cách sử dụng luật quốc tế bởi cả Việt Nam và Trung Quốc đều không chấp nhận quyền xét xử của Tòa án Quốc tế LHQ (ICJ) mà không có sự bảo lưu. PLP đã chấp nhận quyền tài phán của ICJ vì có được sự bảo lưu đối với quyền tài phán trong các tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải. Do đó, khả năng giải quyết vấn đề này qua ICJ có thể cũng bị loại bỏ. Ngoài ra, theo Điều 298 của UNCLOS, ngày 25/8/2006, TQ đã trình tuyên bố theo luật tới Tổng Thư ký LHQ rằng TQ không chấp nhận bất cứ tòa án quốc tế hay tài phán nào đối với những tranh chấp trong phân định biển hoặc tranh chấp lãnh thổ và hoạt động quân sự. Do đó, tòa án quốc tế hoặc trọng tài quốc tế về Luật Biển cũng không thể can thiệp vào tranh chấp tại Biển Đông giữa TQ và một số nước ASEAN. Hơn nữa, nếu không có sự nhất trí giữa các nước có liên quan thì không một tổ chức trọng tài có thể giải quyết tranh chấp này. Do đó, tranh chấp không thể giải quyết về chính trị trong thời gian sớm được.

Tuy nhiên cũng có một số ví dụ tốt về sự thành công. Ngày 30/6/2004, Hiệp định VN - TQ về Phân định Vinh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá tại Vịnh Bắc Bộ đã có hiệu lực. Ngày 14/3/2005, TQ, VN và PLP đã ký Hiệp định ba bên về thực hiện thăm dò địa chất biển chung trong Hiệp định khu vực Biển Đông. Gần đây, TQ và VN đã tăng cường đàm phán về các hiệp định mới nhằm giải quyết tranh chấp khác giữa hai nước.

Xét tới những khó khăn một quốc gia đang đối mặt với việc nhượng bộ trong tuyên bố chủ quyền, đàm phán chính trị sẽ là tiến trình lâu dài. Trước khi đạt tới giải pháp, lựa chọn khôn ngoan cho cả TQ và các nước khác là tạm chốt các tranh chấp trong thảo luận và ký một số hiệp định hợp tác về các vấn đề ở cấp thấp như bảo vệ môi trường, giao thông hàng hải, các hoạt động chống cướp biển và chống buôn lậu nhằm ngăn các tranh chấp ngày càng xấu hơn. Những hợp tác như vậy không chỉ phù hợp với Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông mà còn phù hợp với Điều 123 của UNCLOS về hợp tác giữa các quốc gia có biên giới gần nhau hoặc xung quanh trên biển.

Tranh cãi Mỹ - Trung ngày càng phức tạp và chỉ có thể giải quyết bằng con đường chính trị. Cả hai nước đều có cách hiểu UNCLOS rất khác nhau gồm cả vấn đề về nghiên cứu khoa học và sử dụng hòa bình các vùng đặc quyền kinh tế. Mỹ - Trung có cách hiểu khác nhau về điểm 3 trong Điều 58 UNCLOS, trong đó nói rằng “Để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo Công ước này tại vùng đặc quyền kinh tế, các quốc gia phải tuân thủ các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia biển và tuân thủ các điều trong Công ước này và các quy định luật quốc tế khác cho đến khi những quy định này không còn phù hợp với Phần này”.

Tuy nhiên cả Mỹ và TQ đều không chấp nhận quyền tài phán của ICJ. Vì vậy, Mỹ và TQ không thể sử dụng những giải thích hoặc quyết định của ICJ. Do Mỹ không tham gia công ước nên TQ đã bác bỏ khả năng tài phán quốc tế về vấn đề này và giải pháp lý đối với vấn đề này là không thể có.

Mỹ và TQ cũng có một số cơ chế đối thoại về an ninh Biển và các vấn đề châu Á - TBD. Qua các cơ chế này, hai nước có thể giải quyết tranh chấp bằng giải pháp chính trị nhưng cả Mỹ và TQ cần làm sâu sắc hơn sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau đặc biệt qua việc hiểu và thông dịch UNCLOS để duy trì hòa bình và ổn định tại khu vực.

Tuy nhiên, do không một cơ chế khu vực hoặc quốc tế về biển nào có thể bị thay đổi trong tương lai gần nên điều thiết yếu hiện nay với TQ là định hình lần cuối các quy định và nội luật của TQ về vấn đề này. Theo đó, TQ cần:

(1) Làm rõ quy chế pháp lý của đường 9 đoạn hình chữ U tại Biển Đông;

(2) Công khai đường cơ sở lãnh thổ trên biển của TQ tại Biển Đông đặc biệt gần các đảo Trường Sa, ngoài việc thành lập Ủy ban đặc biệt về các vấn đề biển và hoạch định luật, quy định mang tính phối hợp hơn.

(3) Tăng cường hợp tác với Đài Loan. Xét những tiến triển trong quan hệ hai bờ hiện nay, TQ và ĐL cần bắt đầu hợp tác từ những vấn đề dễ hơn như bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, hợp tác đánh bắt hải sản và ngăn ngừa thảm họa thiên tai nhằm thiết lập khuôn khổ hợp tác về các vấn đề Biển giữa hai bờ bởi cả TQ và ĐL đều có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích quốc gia.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1784-lam-the-nao-de-giai-quyet-van-de-bien-dong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #123 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2011, 02:11:26 am »

Tuyên bố và sáng kiến của Việt Nam tại Hội nghị ARF và AMM sắp tới

(GDVN) - Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều ngày 7/7, phóng viên truyền hình NHK (Nhật Bản) có đặt câu hỏi cho bà  Nguyễn Phương Nga về việc: "Liệu Việt Nam có đưa ra tuyên bố hay sáng kiến gì trong Hội nghị ARF và AMM sắp tới tại Indonesia hay không?"

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam - bà Nguyễn Phương Nga cho biết: "Các hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 44 (AMM 44) giữa Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và các đối tác ASEAN+1, ASEAN+3 và ARF (Diễn đàn ASEAN khu vực) lần thứ 18 sẽ diễn ra từ ngày 19 tới 23 tháng 7 năm 2011 tại Bali, Indonesia.
 
Các hội nghị sẽ bàn phương hướng, biện pháp thúc đẩy hợp tác khu vực ASEAN cũng như ASEAN và các đối tác và trao đổi về các vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm.

Như các bạn biết, hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông cũng là mối quan tâm chung và cũng là lợi ích chung của tất cả các nước. Vì vậy, vấn đề này đã, đang và sẽ được thảo luận tại các diễn đàn. Một khi mà các nước có quan tâm thì vẫn đề này sẽ được thảo luận.

Về phía mình, Việt Nam ủng hộ các nỗ lực tăng cường lòng tin và hợp tác vì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải tại Biển Đông, phát huy hơn nữa các công cụ và cơ chế khu vực hiện có như: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (CAC), Tuyên bố về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC), Diễn đàn khu vực ARF, thực hiện các kế hoạch hành động ASEAN - Trung Quốc thông qua tại ASEAN - Trung Quốc tháng 10 năm 2010 về tôn trọng, thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC và sớm họp lại hội nghị quan chức cao cấp ASEAN - Trung Quốc về thực hiện DOC.

Chắc các bạn còn nhớ, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 18 vừa qua đã khẳng định tầm quan trọng của DOC đối với hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải tại Biển Đông và đã quyết định ASEAN sẽ tích cực phấn đấu nhằm sớm hoàn tất quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC và xúc tiến tham vấn về việc xây dựng bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông COC.

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/quoc-te/43/6804.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #124 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2011, 02:26:45 am »

Về việc Philippines nhờ cậy sự giúp đỡ của Hoa Kỳ tại khu vực

(GDVN) - Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Việt Nam chiều 7/7, trả lời câu hỏi của phóng viên nước ngoài có nội dung: "Xin cho biết quan điểm của Việt Nam về việc Philippines đang nhờ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ tại khu vực Biển Đông?"


Một chiến hạm Mỹ vừa tham gia tập trận chung với Hải quân Philippines

Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga nói:

"Tôi nghĩ rằng đây là quyết định của phía Philippines.

Còn về phía Việt Nam, chúng tôi cũng đã nói rõ quan điểm của mình: Hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông là quan tâm chung và lợi ích chung của tất cả các nước.

Cho nên, mọi nỗ lực, tích cực xây dựng của các bên liên quan nhằm duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông đều được hoan nghênh".

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/quoc-te/43/6797.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #125 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2011, 12:08:12 am »

Chỉ lệnh của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông

Tình hình tranh chấp Biển Đông đã đặt các quyết sách cấp cao của Trung Quốc trước cuộc khảo nghiệm mới kể từ khi bước sang thế kỷ 21. Trung tuần tháng 4 vừa qua, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành một số chỉ lệnh liên quan tới “Báo cáo về sự phát triển của sự kiện tranh chấp các đảo ở Biển Đông” do Bộ Tổng Tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) đệ trình.

1. Tăng cường công tác trên các phương diện liên quan tới sách lược ngoại giao và chủ trương “chủ quyền thuộc về ta, gác tranh chấp, cùng khai thác” theo nguyên tắc hòa bình hữu hảo, xem xét tới toàn cục của Trung Quốc.

2. Tăng cường, nâng cao công tác tham vấn và hiệp thương nội bộ với các nước liên quan tới tranh chấp, phản đối mưu đồ quốc tế hóa tranh chấp.

3. Tăng cường công tác giáo dục nội bộ về tình hình quốc tế, tranh chấp Biển Đông và lịch sử trong toàn quân, nâng cao ý chí bảo vệ lãnh thổ tổ quốc, các đảo và tài nguyên đất nước.

4. Tăng cường, nâng cao công tác trực ban tại các đảo thuộc chủ quyền cũng như tại vùng biển gần các đảo này, bảo vệ các lợi ích chính đáng của Trung Quốc.

Cũng liên quan tới vấn đề tranh chấp Biển Đông, tạp chí "Tranh Minh" cho biết vào ngày 10/6 vừa qua, Bộ Chính trị Trung ương Trung Quốc còn thông qua quyết nghị thành lập tổ lãnh đạo xử lý sự kiện khủng hoảng Biển Đông, do Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Tập Cận Bình làm tổ trưởng; Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Từ Tài Hậu, Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn làm tổ phó. Các thành viên tổ lãnh đạo xử lý sự kiện khủng hoảng Biển Đông còn lại gồm có: Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt, Ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc, Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) - Tướng Trần Bính Đức, Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần PLA Liêu Tích Long, Phó Tổng Tham mưu trưởng PLA Trương Bí Sinh, Phó Tổng Thư ký Quốc vụ viện Vưu Quyền… Ông Tào Cương Xuyên - nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng - và ông Trì Hạo Điền, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng, được mời làm cố vấn đặc biệt. Tổ lãnh đạo xử lý sự kiện khủng hoảng Biển Đông nằm dưới quyền phụ trách trực tiếp của Thường vụ Bộ Chính trị, với các chức trách và nhiệm vụ như sau:

1. Nắm chắc diễn biến của tình hình Biển Đông và dự báo trước sự thay đổi cũng như các tình huống bất ngờ.

2. Đưa ra phán đoán về sự phát triển và thay đổi của tình hình Biển Đông, đệ trình phương châm và quyết sách chiến lược.

3. Xử lý quyết sách ngay phút đầu xảy ra sự kiện bất ngờ và thay đổi tình hình quân sự ở khu vực tiền duyên Biển Đông.

4. Xử lý các báo cáo về vấn đề tranh chấp kinh tế, quân sự tại khu vực tiền duyên Biển Đông.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1791-1791
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #126 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2011, 12:09:01 am »

Vai trò của Indonexia trong tranh chấp Biển Đông

Trong bài viết đăng trên báo "Bưu điện Giacácta" mới đây “Indonesia and the South China Sea dispute”. Nhà nghiên cứu Ristian Atriandi Supriyanto, Trung tâm Nghiên cứu Hợp tác Đông Á (CEACoS) - Đại học In-đô-nê-xi-a đánh giá In-đô-nê-xi-a có một vai trò quan trọng không chỉ giúp làm dịu căng thẳng mà còn đại diện cho quan điểm tập thể của ASEAN về tranh chấp ở Biển Đông

Trong một bài phân tích mới đây, nhà nghiên cứu cấp cao Robert D. Kaplan của Trung tâm vì An ninh nước Mỹ mới ở Oasinhtơn nhận định những rắc rối và căng thẳng gần đây ở Biển Đông cho thấy quyết tâm hướng ra biển của Trung Quốc. Trung Quốc hiện có hơn 70 tàu ngầm. Cuối năm 2010, Trung Quốc đã đưa vào hoạt động một loại tàu ngầm tấn công điêzen-điện (SSK) mới được trang bị hệ thống đẩy tiên tiến cho phép lặn lâu hơn dưới nước, đó là chưa kể đến chương trình tàu sân bay được phát triển trên nền tảng tàu sân bay Varyag của Ucraina đã gần hoàn thành. Một số nhà quan sát cho rằng mặc dù tàu sân bay này hữu dụng cho huấn luyện hơn là tác chiến, song nó chứng tỏ Trung Quốc đã có một kế hoạch phát triển dài hạn đầy tham vọng cho hải quân của mình.

Động thái trên đã làm dấy lên sự lo ngại của nhiều nước trong khu vực. In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Xinh-ga-po đã bổ sung tàu ngầm vào hạm đội của mình. Việt Nam, Thái Lan và Philíppin đã tuyên bố ý định trang bị tàu ngầm cho hải quân. Thái Lan, mặc dù không có yêu sách ở Biển Đông, cũng đã tuyên bố công khai kế hoạch mua tàu ngầm Type-206 của Đức để thích ứng với hoạt động hiện đại hóa hải quân của các nước láng giềng. Ngay cả Philíppin cũng đã công bố "Kế hoạch 2020 Sail", trong đó bao gồm cả việc mua tàu ngầm.

Ông Kaplan cho rằng trong khi tranh chấp chưa được giải quyết, sự phát triển như trên có thể tạo ra những tính toán và nhận thức sai lầm nếu không có một cơ chế điều tiết có hiệu quả. Nguy hiểm hơn là nó có thể tạo ra một chuỗi phản ứng thúc đẩy cho một cuộc chạy đua vũ khí hải quân trong khu vực.

Theo ông Supriyanto, với tư cách là Chủ tịch ASEAN năm 2011, In-đô-nê-xi-a có thể đóng vai trò tích cực trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. In-đô-nê-xi-a cũng từng có kinh nghiệm riêng của mình trong các vấn đề liên quan đến Trung Quốc. Đáp lại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với một phần của đặc khu kinh tế của mình, Inđônêxia đã tổ chức cuộc tập trận chung lớn nhất của quân đội năm 1996. Trung Quốc hiện đang "đi trên dây". Bất kỳ sai lầm nào cũng sẽ làm cho tình hình trở nên bấp bênh hơn. Nếu Trung Quốc tiếp tục đe dọa tấn công hay trừng phạt, các nước láng giềng không những sẽ tăng cường sức mạnh quốc phòng của họ mà còn chào đón các nước bên ngoài, như Mỹ, tham gia.

Do vậy, In-đô-nê-xi-a - với nhiều biện pháp khác nhau - có thể hỗ trợ cho những nỗ lực xem xét lại Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Tài liệu này không hiệu quả do thiếu sự rõ ràng và các thỏa thuận ràng buộc. Nếu không có sự bắt buộc đi đến một nghị quyết cuối cùng cho tranh chấp thì cũng cần những biện pháp có thể được thực hiện để cấm sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quá trình của nó.

Biện pháp đầu tiên là nâng DOC thành một cơ sở pháp lý có trọng lượng hơn, liên kết tất cả các bên. Các bên có thể tham khảo thỏa thuận về "sự cố trên biển" giữa Mỹ và Liên Xô trước đây hồi năm 1972.

Biện pháp thứ hai là tạo ra một cách tiếp cận phối hợp để tiến hành các "hoạt động hợp tác" như Điều 6 của DOC quy định. Điều này có nghĩa là khi bất kỳ bên nào muốn tiến hành nghiên cứu khoa học biển đều phải mời các bên khác quan sát, hoặc ít nhất là thường xuyên có những thông báo. Chính sách như vậy cũng có thể là một phần của các biện pháp xây dựng lòng tin cần thiết để tạo dựng sự tin tưởng giữa các bên tranh chấp.

Biện pháp thứ ba là tăng cường các cuộc thảo luận trong khu vực liên quan đến các vấn đề hàng hải. Ví dụ, vấn đề Biển Đông cần là một nội dung thảo luận thường xuyên tại Diễn đàn Hàng hải ASEAN.

Biện pháp thứ tư là cải thiện các cơ chế hiện tại để các nước tiến hành tập trận quân sự. Cách tiếp cận hiệu quả nhất có thể là tiến hành tập trận chung giữa các bên tranh chấp.

Như vậy, In-đô-nê-xi-a phải có khả năng thuyết phục đối với tất cả các bên, phải chỉ rõ cho họ thấy họ đang ở trên cùng một con thuyền, một giải pháp hòa bình cho tranh chấp sẽ đòi hỏi nhiều nỗ lực và thời gian, do vậy đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ chỉ làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1797-vai-tro-ca-inonexia-trong-tranh-chp--bin-ong
Logged
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #127 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2011, 11:29:06 am »

Trung Quốc lập tổ lãnh đạo xử lý vấn đề biển Đông

Mới đây, lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc đề ra chiến lược mới cũng như ban hành một số chỉ lệnh liên quan tới diễn biến của sự kiện tranh chấp các đảo ở Biển Đông.


Ông Tập Cận Bình.

Lập tổ lãnh đạo, thực hiện 5 tăng cường
Theo đó, Trung Quốc sẽ tiến hành những bước đi đầy toan tính như:

- Tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin truyền thông về sách lược ngoại giao và tuyên bố chủ quyền Trung Quốc.
- Tăng cường, nâng cao công tác tham vấn và hiệp thương nội bộ với các nước liên quan tới tranh chấp, phản đối "mưu đồ" quốc tế hóa tranh chấp.
- Tăng cường công tác giáo dục nội bộ về tình hình quốc tế, tranh chấp Biển Đông và lịch sử trong quân đội Trung Quốc.
- Tăng cường "ý chí bảo vệ lãnh thổ tổ quốc", các đảo và tài nguyên mà Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền Trung Quốc.
- Tăng cường "cảnh giác bảo vệ chủ quyền" cũng như tại vùng biển gần các đảo này, bảo vệ các quyền lợi mà Trung Quốc cho là "chính đáng".

Ngoài ra, Bộ Chính trị Trung ương Trung Quốc còn thông qua quyết nghị thành lập tổ lãnh đạo xử lý sự kiện khủng hoảng Biển Đông, do Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình làm tổ trưởng.

Mục đích của cơ quan này nhằm nắm chắc diễn biến của tình hình Biển Đông và dự báo các tình huống bất ngờ và xử lý các báo cáo về vấn đề tranh chấp kinh tế, quân sự tại "khu vực tiền duyên" Biển Đông.

Như vậy, có thể thấy Trung Quốc đang "đầu tư" cho công cuộc thôn tính biển Đông một cách có tính toán. Điều này đặt ra thách thức lớn với các nước trong khu vực và có quyền lợi kinh tế liên quan trong khu vực. Sự thành lập của "tổ lãnh đạo" trên cho thấy Bắc Kinh phải chịu trách nhiệm trước những gì bất ổn sẽ xảy ra trên biển Đông từ cấp cao nhất.

Việc lựa chọn ông Tập Cận Bình vào vị trí lãnh đạo của tổ xử lý vấn đề biển Đông gợi nhắc tới chiến lược đào tạo đội ngũ kế cận rất bài bản của Trung Quốc. Theo đó, các "ứng viên" sẽ được giao trọng trách ở những vấn đề nhạy cảm để thử thách và rèn luyện. Còn nhớ, trước khi trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Hồ Cẩm Đào từng giữ chức bí thư đảng ủy khu tự trị Tây Tạng đúng vào lúc khu vực này đang là "điểm nóng" trong đời sống chính trị Trung Quốc.

Kết thúc chuyến thăm Trung Quốc của Đô đốc Mỹ Mike Mullen

Tại một cuộc họp báo sau khi kết thúc hội đàm với phái đoàn quân sự Mỹ, ông Trần Bỉnh Đức còn cho rằng, phía Mỹ đã lặp đi lặp lại câu nói “ Mỹ không có ý muốn can thiệp vào các vụ việc tranh chấp trong khu vực, tuy nhiên, với quan điểm cũng như những động thái của Mỹ cho thấy điều hoàn toàn ngược lại với những gì mà Mỹ cam kết”.


Mỹ vẫn giữ nguyên lập trường sẽ duy trì sự hiện diện tại Biển Đông.

Tuy nhiên, ông Trần Bỉnh Đức cũng cho rằng, thông qua cuộc gặp lần này 2 bên đã thảo luận 4 chủ đề chính đó là: Tranh chấp trên Biển Đông; Thái độ của một số chính trị gia Mỹ đối với Trung Quốc; An ninh mạng và tiềm lực phát triển quân sự của Trung Quốc. Cả hai bên đã trao đổi quan điểm về các vấn đề một cách thẳng thắn, ông nói thêm.

Theo Đô đốc Mike Mullen, Mỹ lo ngại rằng các tranh chấp trên vùng biển giàu tài nguyên có thể dẫn đến một cuộc xung đột nghiêm trọng, chính vì thế Mỹ khẳng định duy trì sự hiện diện của Mỹ tại Biển Đông là điều cần thiết.

Ông cũng nhấn mạnh rằng sự hiện diện của Mỹ đi kèm theo đó là trách nhiệm lâu. Mỹ sẽ nỗ lực tìm kiếm sự ủng hộ mạnh mẽ cho một giải pháp hòa bình đối với những bất đồng đang diễn ra.

Các tờ báo của Trung Quốc đăng bài xã luận rằng ASEAN không nên để các lực lượng bên ngoài can thiệp vào các vấn đề tranh chấp song phương Tuy nhiên, ông Mike Mullen vẫn nhấn mạnh rằng, Mỹ mong muốn thấy được một giải pháp hòa bình về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông, và Mỹ sẽ giữ nguyên lập trường về việc duy trì sự hiện diện tại khu vực.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Trung-Quoc-lap-to-lanh-dao-xu-ly-van-de-bien-Dong/20117/155070.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #128 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2011, 02:10:28 pm »

'Chúng tôi tôn trọng tuyên bố chủ quyền tại Trường Sa của VN'

“Chúng tôi tôn trọng tuyên bố chủ quyền tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam và hy vọng mọi vấn đề liên quan đến những tranh chấp trong khu vực biển này sẽ được giải quyết theo luật pháp quốc tế”.
Đây là tuyên bố của thị trưởng Manila, ông Alfredo Siojo Lim, khi tiếp đoàn lãnh đạo TP HCM sáng 12/7.

Ông Lim cho rằng, trong bối cảnh mới về tình hình khu vực Biển Đông và động thái của Trung Quốc trong khu vực, các nước ASEAN, nhất là Việt Nam và Philippines cần hợp tác chặt chẽ hơn để áp dụng các công ước cũng như điều luật quốc tế về biển để giải quyết mọi bất đồng. Thị trưởng Alfredo Siojo Lim bày tỏ: “Hy vọng mọi vấn đề liên quan đến Biển Đông sẽ được giải quyết theo luật pháp quốc tế. Hy vọng toà án quốc tế sẽ có thể đưa ra những giải pháp đáp ứng đầy đủ lợi ích cho các bên có liên quan”.

Đoàn lãnh đạo TP HCM do ông Hứa Ngọc Thuận, phó chủ tịch UBND thành phố dẫn đầu đang thực hiện chuyến viếng thăm thủ đô Manila và tham dự lễ kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Philippines, do đại sứ quán Việt Nam tại Philippines tổ chức.

Trong dịp này, lãnh đạo hai thành phố Manila và TP HCM cũng đồng ý xúc tiến các hoạt động tăng cường các quan hệ hợp tác song phương như thương mại, giáo dục, y tế, văn hoá, chính trị nhằm phát huy các tiềm năng của cả hai thành phố.

Sáng 13/7, doanh nghiệp hai nước sẽ tham dự hội thảo “Hợp tác kinh tế – doanh nghiệp Philippines – Việt Nam”. Kim ngạch thương mại giữa hai nước từ 400.000 USD năm 2001 đã tăng lên 2,4 tỉ USD vào năm 2010. Các doanh nghiệp Manila đã đầu tư trên 40 triệu USD vào các dự án trên địa bàn TP HCM. Hãng hàng không Philippines Airlines đã có đường bay từ Manila tới TP.HCM.

Theo Sài Gòn tiếp thị
Logged
Su30MK2V
Thành viên
*
Bài viết: 158

Tôn trọng và khiêm tốn


« Trả lời #129 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2011, 02:56:54 pm »

Mỹ đối xử với Đông Nam Á như Gruzia?

"Khi xe tăng Nga tiến vào nhanh chóng chia cắt và chiếm giữ phần lớn Gruzia cũng như hủy diệt quân đội quốc gia này thì phản ứng của Mỹ chỉ dừng lại ở những phát biểu phản đối".

Vào ngày 22/6, trong chuyến thăm Honolulu, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Thôi Thiên Khải cảnh báo quan chức Mỹ rằng “các quốc gia đó (các nước Đông nam Á) đang đùa với lửa” và ông hy vọng ngọn lửa đó sẽ “không lan tới Mỹ”.

Đó là một thông điệp ẩn dụ rõ ràng của Trung Quốc: Mỹ đừng có tham dự vào cuộc tranh chấp về quần đảo Trường Sa, nơi mà 5 quốc gia đang đấu tranh với Trung Quốc để đòi chủ quyền.

Trong bối cảnh căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc đang gia tăng bất chấp mối quan hệ tương đối thân thiện mà hai quốc gia theo đuổi từ năm 1990, nhiều quan chức Mỹ đã bày tỏ sự “quan ngại sâu sắc” và tiến hành tăng cường mối quan hệ với đồng minh lâu năm trong khu vực là Philippines.

Trong cuộc gặp với đô đốc Michael Mullen vào ngày 11/7, tướng Trần Bỉnh Đức, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc cho rằng cuộc diễn tập giữa Mỹ cùng Philippines và hoạt động chung với Việt Nam là hành động “vô cùng bất hợp lý”.

Với 3 cuộc chiến đang diễn ra từng ngày trên sa mạc nóng bỏng của vùng Trung Đông, quan chức Mỹ sẽ phải cân nhắc rất nhiều giữa việc sử dụng “sức mạnh mềm” hay là quân đội để tìm lối ra cho các cuộc tranh chấp mới trong khu vực Đông Nam Á.

Chấm dứt thời kỳ “tấn công ru ngủ”?

Theo học giả Joshua Kurlantzick, Trung Quốc đã tiến vào Đông Nam Á trong suốt một thập kỷ vừa qua bằng chiến lược “Tấn công ru ngủ” với trung tâm là các hiệp định thương mại tự do với những thành viên ASEAN .

Trong vòng gần một thập kỷ trở lại đây, khu vực biển Đông đã trải qua những ngày tháng tương đối yên bình sau khi tuyên bố ứng xử trên biển Đông (DOC) được ký kết giữa các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc, giúp giải tỏa những căng thẳng trong các cuộc đụng độ hải quân vào năm 1988 và căng thẳng năm 1990.

Nhưng khi tàu ngầm nguyên tử của Trung Quốc tiến vào căn cứ ở đảo Hải Nam thì những quan ngại lại tiếp tục dấy lên trong toàn khu vực.

Căng thẳng bùng phát vào đầu năm 2009, khi một đội tàu Trung Quốc truy đuổi tàu do thám của Mỹ khi tàu này hoạt động trong vùng biển quốc tế gần đảo Hải Nam. Trên thực tế, những chiến dịch do thám đó vẫn được Mỹ tiến hành liên tục kể từ thời chiến tranh lạnh trên toàn bộ vùng biển bao quanh Trung Quốc.

Trước đó, vụ việc gây sự chú ý của dư luận là vụ va chạm giữa máy bay và tàu hải quân của hai bên. Một người thiệt mạng khi máy bay do thám gặp nạn gần đảo Hải Nam của Trung Quốc vào tháng 4/2001.

Năm 2010, căng thẳng đạt tới đỉnh điểm khi Bắc Kinh mập mờ tuyên bố biển Đông là một trong “lợi ích cốt lõi” Trung Quốc. Điều này chính thức đánh dấu một bước ngoặt cho chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

Thái độ và sự can dự Mỹ

Diễn đàn khu vực ASEAN diễn ra vào tháng 7/2010 là chất xúc tác cho căng thẳng bùng nổ. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố sự tự do đi lại trong khu vực biển Đông là lợi ích quốc gia của Mỹ và cảnh báo bất cứ bên nào có liên quan không được sử dụng hoặc đe dọa quân sự. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì bị bất ngờ và phản ứng một cách giận dữ với tuyên bố của bà Hillary.

Tháng 8/2010, Tàu sân bay USS George Washington đón các vị khách là quan chức quân sự Việt Nam, với ý nghĩa "Mỹ muốn tăng cường quan hệ với quân đội Việt Nam". Đáp trả, Trung Quốc tiến hành tập trận lớn trên biển.

Đầu năm 2011, căng thẳng tiếp tục leo thang khi Philippines tố cáo Trung Quốc xâm lấn vùng biển của họ và Việt Nam công bố vụ việc Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh. Theo các chuyên gia, đây là hành động thể hiện Trung Quốc “không hài lòng” khi Việt Nam tiếp tục tiến hành thăm dò trên biển. 

Mỹ đáp trả tức thời trong Cuộc họp an ninh châu Á ở học viện nghiên cứu chiến lược quốc tế vào tháng 6: Bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ - ông Robert Gates nhắc tới việc triển khai tàu chiến tại Singapore và tăng cường hợp tác hải quân trong khu vực.

Mỹ luôn tập trung vào vấn đề “Tự do hàng hải” – chính sách cốt lõi của Mỹ trong khi ứng xử với các quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trong khi đó, Trung Quốc là quốc gia vận tải đường biển lớn nhất thế giới cũng dựa rất nhiều vào khả năng di chuyển tự do trong khu vực.

Mỹ sẽ can thiệp quân sự vào khu vực?

Nhắc lại cuộc chiến tại Gruzia vào năm 2008, khi căng thẳng leo thang giữa Nga và Gruzia, Mỹ đã cho đồng minh mới của mình nhiều ưu ái đặc biệt và thậm chí cử nhiều cố vấn quân sự tới đây. Nhưng khi xe tăng của Nga tiến vào quốc gia láng giềng nhỏ bé, nhanh chóng chia cắt và chiếm giữ phần lớn Gruzia cũng như hủy diệt quân đội Gruzia thì phản ứng của Mỹ chỉ dừng lại ở những phát biểu phản đối.

Cuối cùng, Mỹ cũng đứng ngoài vận mệnh của một quốc gia nhỏ bé không có tầm quan trọng đối với nền an ninh của Mỹ để tránh một cuộc xung đột lớn hơn với Nga. Đây là một bài học rõ ràng cho các quốc gia Đông Nam Á.

Sự thật là Đông Nam Á không có nhiều ảnh hưởng đến cán cân quyền lực của thế giới. Một loạt các nước nhỏ và nghèo trong khu vực không đủ sức tạo ra ảnh hưởng tới cục diện của toàn cầu. Những quốc gia trung bình như Việt Nam, Indonesia và Australia theo lẽ tự nhiên sẽ tự đứng dậy chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc. Nếu cuộc chiến xảy ra vì những cụm đảo nhỏ tại biển Đông, nền an ninh quốc gia của Mỹ không bị ảnh hưởng nhiều.

Vùng biển Đông cũng rất quan trọng đối với các quốc gia như Nhật Bản và Hàn Quốc, tuy nhiên họ sở hữu các hạm đội tàu chiến lớn và hiện đại và sẽ là một bước thử khó khăn hơn đối với tham vọng của Trung Quốc.

Như vậy, nhiều khả năng Mỹ sẽ phải cân nhắc rất kĩ trước khi đưa ra bất cứ hành động “quá tay” nào và có lẽ nguyên tắc ứng xử cơ bản của Mỹ tại biển Đông chính là không can dự quân sự.

Mỹ sẽ vẫn áp dụng chính sách “giơ cao đánh khẽ” khi giải quyết các vấn đề liên quan tới biển Đông và tìm lối thoát cho bế tắc bằng chính sách ngoại giao linh hoạt, thực tế và mềm mỏng.

Hướng đi đúng đắn nhất trong tương lai đối với tất cả các bên chính là đàm phán và đối thoại đa phương. Đây cũng chính là kênh giải quyết hợp lý nhất ngay đối với cả Trung Quốc, vì kể từ năm 1979, quốc gia này đã không dùng các chiến dịch tấn công quân sự lớn để giải quyết tranh chấp biên giới trên đất liền.

http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/My-doi-xu-voi-Dong-Nam-A-nhu-Gruzia/20117/155162.datviet
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM