Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:55:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 432654 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #180 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2011, 10:46:08 am »

Biển Đông là nơi nguy hiểm với tàu sân bay TQ

Trang tin Asia Times Online của Hong Kong ngày 17/8 trích đăng bài viết của nhà chiến lược hải quân Australia Phil Radford. Ông cho rằng, việc sở hữu tàu sân bay không giúp Trung Quốc duy trì lợi thế trong các vấn đề tranh chấp trên biển Đông.

Dưới đây là nội dung những phân tích của ông Phil Radford:

Tàu sân bay này không phải là công cụ để giải quyết các tranh chấp hiện nay, vấn đề biển Đông đang là vấn đề đau đầu nhất đối với Trung Quốc. Tàu sân bay có ý nghĩa ngoại giao nhiều hơn là một cỗ máy quân sự.

Trung Quốc đã tiến hành công tác thử nghiệm đầu tiên đối với tàu sân bay Thi Lang sau thời gian dài cải tạo. Một khi tàu sân bày này được hoàn thiện, nó sẽ có khả năng mang theo 40 máy bay tiêm kích trên hạm J-15, khoảng 20 chiếc trực thăng bao gồm các trực thăng chống ngầm Ka-28 của Nga hoặc một loại trực thăng nội địa do Trung Quốc sản xuất.

Việc sở hữu tàu sân bay và hình thành nhóm tác chiến tàu sân bay có thể làm thay đổi mạnh mẽ cán cân quyền lực trên biển Đông. Tàu sân bay Thi Lang sẽ giải quyết được các vấn đề chiến lược nhất định, cho phép Trung Quốc vươn xa hơn trong chiến lược hướng ra biển lớn, bảo vệ "lợi ích cốt lõi" tại biển Đông. Tuy nhiên, lợi thế  này không thấm vào đâu so với các khó khăn mà tàu sân bay này phải đối mặt.
 


Sự xuất hiện của tàu sân bay Thi Lang kéo theo sự xuất hiện của hàng loạt tên lửa chống hạm tối tân tại ĐNA, trong ảnh hệ thống tên lửa chống hạm siêu âm K-300P Bastion.

Theo ông Phil Radford, việc Trung Quốc sở hữu tàu sân bay đã vô tình tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang ngầm tại khu vực ASEAN. Ngay từ khi Trung Quốc tiến hành cải tạo tàu sân bay Varyag các nước trong khu vực đã rục rịch chuẩn bị các biện pháp đối phó.

Ngoài hạm đội 6 tàu ngầm của Việt Nam, tàu sân bay Thi Lang sẽ phải đối đầu với các hạm đội tàu ngầm khác không kém phần tối tân. Tàu sân bay Thi Lang sẽ phải đối đầu với các tàu ngầm lớp Scorpene của Hải quân Hoàng gia Malaysia, tàu ngầm lớp Archer của Hải quân Singapone, có thể là cả tàu ngầm lớp Kilo trong biên chế của Hải quân Indonesia.

Song nguy hiểm hơn cả đối với tàu sân bay Thi Lang đến từ các hệ thống tên lửa chống hạm tối tân đang và sẽ xuất hiện tại Đông Nam Á trong thời gian tới. Việt Nam cùng với Indonesia là hai quốc gia đầu tiên ngoài Nga sở hữu hệ thống tên lửa chống hạm siêu âm P-800 Yakhont.
 


Tên lửa chống hạm siêu thanh BrahMos là mối đe dọa quá lớn đối với tàu sân bay Thi Lang.

Trang tin De Volkskrant của Hà Lan cho biết, Việt Nam đang tiến rất gần tới việc sở hữu hệ thống tên lửa chống hạm siêu thanh BrahMos. Việc mua tên lửa chống hạm này cần phải có được sự đồng ý của cả Nga và Ấn Độ.

Tuy nhiên đây không phải là vấn đề quá lớn, hiện tại quan hệ giữa Việt Nam với Ấn Độ và Nga đều ở tầm đối tác chiến lược. Ấn Độ đang thể hiện nỗ lực hướng Đông nhằm giải tỏa áp lực của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương.

Việc bán hệ thống tên lửa chống hạm tối tân này cho Việt Nam là điều hoàn toàn có khả năng xảy ra. Ấn Độ cũng đã cam kết giúp Việt Nam hiện đại hóa hải quân, chia sẽ kinh nghiệm xây dựng và vận hành hạm đội tàu ngầm.

BrahMos là loại tên lửa chống hạm nhanh nhất thế giới hiện nay, với tốc độ Mach-3 và tầm bắn 300km, BrahMos thực sự là một mối đe dọa chết người đối với bất kỳ tàu chiến nào.

Biển Đông là "cửa tử"

Ông Phil Radford nhận định ngay cả khi hình thành đầy đủ nhóm tác chiến tàu sân bay, lực lượng này vẫn quá mỏng manh để tạo ra một lợi thế lớn nếu có một cuộc xung đột xảy ra.

Tàu sân bay Thi Lang không có khả năng triển khai hoạt động máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm trên không. Điều này có nghĩa là tàu sân bay cùng nhóm tác chiến gặp nhiều hạn chế trong việc phát hiện các mối đe dọa từ đường chân trời.

Sẽ là thách thức lớn với hệ thống radar do Trung Quốc sản xuất để dẫn đường cho tên lửa hạm đối không HHQ-9  đánh chặn các tên lửa chống hạm siêu âm. Đây là bài toán khó đối với cả hệ thống đánh chặn siêu hạng Aegis của Mỹ.

Hệ thống bảo vệ dưới nước cho tàu sân bay cũng không thực sự an toàn, năng lực tác chiến chống ngầm của Trung Quốc rất hạn chế. Hệ thống thông tin liên lạc phối hợp tác chiến giữa tàu ngầm và tàu chiến mặt nước không thực sự tốt.

Ngay cả khi năng lực này được cải thiện, vẫn không thể đảm bảo được sự an toàn cho tàu sân bay Thi Lang khi hoạt động trên biển Đông. Một cuộc đột kích bằng tên lửa từ trên không sẽ là thảm họa đối với tàu sân bay Thi Lang.

Trung Quốc khó lòng mà sử dụng tàu sân bay Thi Lang trên biển Đông như là một công cụ để gây áp lực lên các vấn đề tranh chấp trên biển Đông. Kết thúc bài viết ông Phil Radford kết luận “Biển Đông sẽ là nơi nguy hiểm nhất đối với tàu sân bay Thi Lang”.

Quốc Việt/Theo Asia Times, De Volkskrant - Đất Việt

Link: http://vntime.vn/QuocTe-QuanSu/KhiTai-QuanSu/2011/8/19/Bien-Dong-la-noi-nguy-hiem-voi-tau-san-bay-TQ-0eb5f6da.html
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #181 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2011, 12:42:36 am »

Học giả Hồng Kông chỉ trích đường chữ U và lập trường Biển Đông của Trung Quốc


Tạp chí "Khai Phóng" số tháng 7/2011 của Hồng Kông đăng bài của nhà bình luận chính trị Trần Phá Không cho rằng gần đây vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông thể hiện rõ xu hướng xấu đi. Theo tác giả, trên thực tế, trong vấn đề Biển Đông, bản thân Trung Quốc không có lập trường rõ ràng, tiền hậu bất nhất, gây tổn hại nghiêm trọng tới uy tín quốc tế của Trung Quốc.


Thời Đặng Tiểu Bình, lập trường của Trung Quốc về Biển Đông là “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Khi làm Thủ tướng, tới thăm Đông Nam Á, Chu Dung Cơ cũng đưa ra lập trường tương tự. Năm 2002, Trung Quốc và các nước ASEAN ký “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), cam kết “giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua đàm phán hữu nghị bằng phương thức hòa bình”.

Tuy nhiên, lập trường của Trung Quốc không ngừng thay đổi. Mấy năm gần đây, Trung Quốc bắt đầu từ chối đàm phán đa phương, chuyển sang theo đuổi đàm phán song phương. Các nước bỗng chốc trở nên cảnh giác với Trung Quốc. Tháng 3/2010, Trung Quốc đột nhiên cao giọng tuyên bố chủ quyền Biển Đông lên quan tới “lợi ích cốt lõi” của mình. Dư luận các nước bùng lên. Sở dĩ Trung Quốc lớn tiếng là vì nước này tự kiêu với việc quốc lực được tăng cường, quân lực được mở rộng, muốn cho thế giới thấy “cơ bắp” của mình.

Ngay sau đó, trong Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tổ chức vào tháng 7/2010, các nước ASEAN đã rầm rầm chất vấn, phê bình và chỉ trích chính sách Biển Đông của Trung Quốc. Các nước dự hội nghị như Ấn Độ, Liên minh châu Âu (EU) và Ấn Độ đều ủng hộ lập trường của ASEAN, Trung Quốc rơi vào tình trạng bị cô lập chưa từng có, tự ví là “đã bị vây đánh”. Xem ra nỗ lực 10 năm ngoại giao châu Á của Trung Quốc đã bị hủy trong một ngày. Trung Quốc lập tức thay đổi giọng điệu, vứt bỏ cách nói “lợi ích cốt lõi” (liên quan tới chủ quyền Biển Đông), trở lại với cách biểu đạt lập trường mơ hồ.

Tạm thời chưa nói tới sự đúng sai của các bên trong tranh chấp Biển Đông, câu hỏi đặt ra là liệu việc Trung Quốc vẽ đường phạm vi chủ quyền Biển Đông (đường chữ U) tới “cửa nhà” của các nước như Việt Nam, Philíppin, Malaixia và Brunây có hợp tới tình hình khách quan hay không? Đối chiếu với các quy định bằng văn bản rõ ràng liên quan tới việc “các nước có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý” trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển mà Trung Quốc ký từ năm 1982, Trung Quốc càng khó có thể bào chữa cho kiểu hoạch định này của mình. Trên thực tế, từ việc tự vạch (đường chữ U) cho tới cách nói về “lợi ích cốt lõi” đều là chuyện “mua dây buộc mình” của Trung Quốc.

Chẳng trách tại hội thảo Vấn đề An ninh ở Biển Đông tổ chức ở Oasinhtơn gần đây, trong khi học giả Việt Nam giành được sự đồng tình của những người dự hội nghị vì đã làm sáng tỏ lập trường chủ quyền của Việt Nam một cách lôgíc và hùng biện trên cơ sở lập luận chứng cứ đầy đủ, học giả Trung Quốc khiến những người dự hội nghị cảm thấy “quá khiên cưỡng”, gây ấn tượng “không trung thực” bởi phát biểu vá víu, mơ hồ. Đuối lý, học giả Trung Quốc sau đó chỉ còn cách đánh bài đổ thừa cho là “chuẩn bị chưa đầy đủ”.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1842-1842-
Logged
tvhnet
Thành viên

Bài viết: 1


« Trả lời #182 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2011, 02:18:58 pm »

Hiểu Trung Quốc để có đối sách hợp lý
http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/549290/Hieu-Trung-Quoc-de-co-doi-sach-hop-ly-tpp.html

Thiếu tướng Lê Văn Cương cho biết, từ lâu, chúng ta đã có nhiều trung tâm nghiên cứu về biển Đông như các trung tâm nghiên cứu của Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, riêng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam có tới 3 viện nghiên cứu về biển Đông là Viện nghiên cứu Trung Quốc, Viện nghiên cứu Mỹ, Viện nghiên cứu ASEAN, rồi các trường Đại học Quốc gia tại Hà Nội, Huế, Đà Nẵng TPHCM cũng có trung tâm nghiên cứu biển Đông… Như vậy có thể nói, các cơ quan nghiên cứu về biển Đông nhiều nhưng ở một trạng thái cực kỳ phân tán, thiếu cơ chế hợp tác với nhau. Ngay cả trao đổi thông tin đã khó. Các cơ quan không có trung tâm điều phối, trao đổi thông tin.
Đó là cái yếu nhất của VN hiện nay, không chỉ trong nghiên cứu biển Đông mà cả nghiên cứu về Lào, Campuchia, Trung Quốc, Mỹ … cũng phân tán như vậy. Đó là những đối tượng nghiên cứu cơ bản của VN. Đất nước hưng vong hay thịnh suy, điều quan trọng là ta phải hiểu họ và có chính sách đúng đắn.

Phải chăng việc thành lập Trung tâm nghiên cứu về biển Đông (Học viện Ngoại giao) là với mong muốn liên kết các trung tâm với nhau?
Đây là cơ quan nghiên cứu cập nhật tất cả thông tin liên quan tới biển Đông. Tuy nhiên, nó chỉ giải quyết bài toán cập nhật thông tin, diễn biến, phản ứng các bên. Còn từ một khối lượng thông tin cũ và mới hiện nay để xử lý thành mảng thì trung tâm này chưa với tới.
"Tất cả các hành động từ phía TQ đều không nằm ngoài sự kiểm soát của cấp trung ương. Người ta bày y như bàn cờ. Còn trạng thái của ta y như chữa cháy, cháy đâu thì mang xe cứu hỏa đến cứu” - Thiếu tướng Lê Văn Cương nói về vấn đề biển Đông.
 
Theo tôi, đó cũng chỉ là giải pháp tình huống mang tính chắp vá, để kịp thời nắm thông tin và phản ánh lại với cơ quan thực hiện chính sách, không có tính cơ bản, chưa có một chiến lược gì về biển đúng với ý nghĩa của nó. Trong khi đó, Trung Quốc thì khác. Mọi việc làm của Trung Quốc đều nằm trong một tổng thể rất bài bản. Việc nào trước, việc nào sau. Việc này dùng ngư chính, việc này dùng hải giám. Việc này dùng hải quân, việc này dùng cơ quan môi trường… Tất cả các hành động từ phía TQ đều không nằm ngoài sự kiểm soát của cấp trung ương. Người ta bày y như bàn cờ. Còn trạng thái của ta y như chữa cháy, cháy đâu thì mang xe cứu hỏa đến cứu. Nói tóm lại, trước những động thái của Trung Quốc, chúng ta thiếu hẳn một chiến lược. Không nên dùng từ đối phó, mà là chiến lược hợp tác với Trung Quốc, tất nhiên có cạnh tranh. Rải rác có đến 12 nơi nghiên cứu về Trung Quốc, nhưng rời rạc, thậm chí thông tin cũng khác nhau.

Những điểm chính các học giả Việt Nam chưa thống nhất là gì, thưa ông?
Kể cả các học giả Việt Nam đến giờ phút này khi ngồi với nhau còn chưa thống nhất, chưa thông suốt. Ví dụ ý đồ của Trung Quốc ở biển Đông là gì? Ngay cả học giả Mỹ và châu Âu cũng có sự nhầm lẫn lớn về TQ. Có tới 80-90 % công trình nghiên cứu về biển Đông đều nói rằng TQ muốn chiếm biển Đông là vì dầu khí. Đó là hoàn toàn sai lầm về tầm mức chiến lược. Quan điểm của tôi, xuất phát từ vị trí địa chính trị, địa chiến lược của biển Đông, TQ vạch chiến lược để khống chế biển Đông, chứ không phải vì dầu khí. Nên nhớ dầu khí ở biển Đông trữ lượng không phải lớn, làm sao mà so được với vịnh Péc- xích và Trung Đông. Hơn nữa, khai thác cực kỳ khó khăn, lôi lên 1 thùng dầu đắt gấp 2 ở Trung Đông, Bắc Phi. Trong khi đó, bồn dầu ở sông Châu Giang, bán đảo Lôi Châu, biển Hoa Bắc, Hoa Đông, Hoàng Hải đều nhiều dầu, TQ vẫn còn để dự trữ, chứ chưa khai thác. Đúng là TQ cần dầu, nhưng mục tiêu khống chế biển Đông mới là cao nhất. Khống chế được biển Đông là khống chế được Nhật Bản, Hàn Quốc và tác động trực tiếp tới quan hệ chiến lược giữa Mỹ- Nhật Bản- Hàn Quốc, gọng kìm đè nặng trên đầu TQ. Khống chế biển Đông để giữ chốt về mặt địa chính trị chiến lược. Phía Bắc thì tác động trực tiếp tới bộ ba Nhật- Hàn-Mỹ. Phía Nam là ngăn chặn lối ra, là khống chế cả ASEAN.

Sau khi cắt cáp các tàu Bình Minh 2 và tàu Viking 2 của Việt Nam, báo chí TQ lại tập trung nói rằng, Việt Nam đang xâm phạm lãnh thổ của TQ và khai thác dầu từ vùng này.
TQ là bậc thầy trên hành tinh về đánh lạc hướng dư luận. Họ suốt ngày tung vào dư luận 1,3 tỉ dân TQ rằng, tài sản của TQ ở biển Đông bị VN cướp, nên TQ phải giành lại. 80-90% nghiên cứu của TQ về biển Đông đề cập tới nguồn lợi lớn từ dầu khí. Thông tin của hơn 7.000 tờ báo TQ không bao giờ nói về địa chiến lược chính trị. Nếu không có biển Đông, lối ra trở thành siêu cường chỉ là ảo tưởng. Vì thế, TQ giành biển Đông để giành lại thế chủ động và vươn ra Thái Bình Dương.Vấn đề này, các học giả VN cũng chưa bàn kỹ xem ý đồ của TQ như thế nào.

Việt Nam cũng đã tổ chức một số hội thảo quốc tế về biển Đông, vấn đề như ông nói có được bàn bạc hoặc đưa ra tại hội thảo?
Nói thật ra, hội thảo lớn thì chỉ một số ít người nói mạch lạc rõ ràng, còn phần lớn học giả VN một số hiểu nhưng không dám nói, một số hiểu nhạt nhòa. Trong bối cảnh như vậy, người chủ tọa không dám quyết định gì cả, coi như bỏ lửng. Câu hỏi mục đích thật sự của TQ với biển Đông vẫn bị bỏ lửng, đến giờ phút này ở VN chưa có câu trả lời, kể cả giới học giả và hoạch định. Đấy là điều buồn nhất của VN. Tôi cũng đã trao đổi nhiều về vấn đề này tại các hội thảo. Nhưng nói thật, nhiều ý kiến của mình trái chiều, không được chấp nhận. Hơn nữa, học giả VN cũng nhiều loại, nhất là một số người đang làm việc, người ta cũng lo giữ an toàn, cũng có lúc người ta biết một phần, nhưng không dám nói. Đó là điều đáng buồn. Trung Quốc thì khác, họ mở hết cửa.

Ông có thể cho biết, Trung Quốc cởi mở cho các vấn đề nghiên cứu biển Đông như thế nào?
Trung Quốc tập hợp một đội ngũ học giả khá dày dặn kinh nghiệm, thậm chí trong đó có một số người phản biện. Họ chấp nhận. Đặng Tiểu Bình đã nói, mỗi phát triển của lý luận, của nhận thức phải thông qua cọ xát, vì thế mới có giao phong…

Ông có thể nói rõ hơn về chiến lược của TQ?
Tôi nghĩ, bây giờ phải hiểu TQ muốn gì với thế giới, nghĩ gì về VN. Có lẽ, TQ đang vạch ra một chiến lược lâu dài đến khoảng năm 2030-2040 gồm ba giai đoạn. Giai đoạn 1 là đuổi kịp Nhật Bản đến thời điểm 2008-2009 đã xong. Sau khi đuổi kịp Nhật Bản, 20 năm sau thì đuổi kịp Mỹ. Như vậy, khoảng 2035, TQ sẽ đuổi kịp Mỹ về GDP, trong đó phần đóng góp cho hiện đại hóa khoa học và quân sự vượt hẳn lên. Nếu 20-30 năm nữa, GDP bằng Mỹ thì đầu tư cho quốc phòng không thua kém Mỹ. Khi ấy họ sẽ ngồi vào bàn phân chia lại với nhau. TQ phấn đấu ngồi với Mỹ phân chia thế giới. Trong thâm tâm TQ muốn đẩy Mỹ ra khỏi khu vực. Mối quan hệ TQ với Nhật Bản, Triều Tiên cũng quan trọng. Tranh chấp biển Đông của ta không bao giờ đơn độc vì nó gắn liền với bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan. Giai đoạn 15-20 năm nữa, TQ và Mỹ sẽ hợp tác và mặc cả với nhau về vấn đề biển Đông, ASEAN và eo biển Đài Loan, bán đảo Triều Tiên…

Đối với chiến lược dài hơi của TQ, chúng ta phải hiểu TQ để có chính sách hợp tác để giữ hòa khí. Đây là quan hệ trường tồn, vật đổi sao dời, không bao giờ thay đổi. Nhìn lại quá khứ mới thấy cha ông ta sao mà giỏi thế. Khoảng thời gian 362 năm nhà Lê (1428- 1789), ta không mất 1 m2 đất trong khi đó phương Bắc cực thịnh, thời ba ông vua nổi tiếng thời Đại Thanh (Càn Long- Khang Hy- Ung Chính).
Mặc dù hằng năm ta vẫn sang cống nạp cho Bắc Kinh, nhưng không mất một tấc đất. Đó là nhờ chiến lược Thần phục hình thức,độc lập thực sự.

TQ sẽ tiếp tục gây ra các vụ việc trên biển Đông, tuy trong 5-10 năm tới sẽ không có gì quá đà vì họ đang tuyên cáo phát triển hòa bình. Tôi nghĩ TQ sẽ kết thúc giai đoạn này bằng việc đặt dàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của VN, có thể là ngoài khơi biển miền Trung.

Theo ông, Việt Nam cần phải có đối sách gì?
VN phải mạnh lên về kinh tế, phải mở rộng cửa hợp tác với Nhật Bản, Mỹ, EU và các đối tác khác. Con đường đúng đắn là xây dựng hữu hảo với TQ. Mọi người phải có trách nhiệm xây dựng quan hệ tốt đẹp với TQ. Điều này cũng không ngăn cản chính phủ VN nói với dân biết những diễn biến trên biển Đông và các vấn đề khác liên quan tới an ninh quốc gia. Điều này phải làm rõ ràng. Thậm chí, phải đưa Hoàng Sa- Trường Sa vào giáo trình địa lý, lịch sử của cấp 1, 2,3. Song song với mạch đó, phải đẩy mạnh tổ chức nghiên cứu về biển Đông. TQ mỗi năm cho bảo vệ 20 luận án tiến sỹ về biển Đông. VN thì không có luận án nào, trong khi tư liệu để khẳng định chủ quyền VN tại biển Đông còn nằm ở Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Honduras, Mỹ… Tại sao không chi tiền cho anh em làm cái này?

Ngoài ra, VN phải tăng cường đối thoại song phương với TQ, tăng cường đối thoại đa phương cùng Philippines, tranh thủ với ASEAN và mời các học giả quốc tế tới VN. Khoa học là trần trụi, không có gì là che giấu. Nếu làm được điều đó, các nhà khoa học VN mới phát triển được và đẩy mạnh lòng tự tôn dân tộc.

Xin cảm ơn ông.
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #183 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2011, 12:15:25 am »

Nga không chịu mất phần trong tranh chấp Biển Đông?

Thứ trưởng Ngoại giao Nga Andrei Denisov mới đây tuyên bố xuất phát từ tính toán lợi ích kinh tế, Nga sẽ tiếp tục giúp đỡ Việt Nam thăm dò dầu khí ở Biển Đông. Bình luận về tuyên bố này, tờ “Đại Công báo” (Hồng Kông) ngày 20/7 cho rằng giữa lúc căng thẳng ở Biển Đông tiếp tục leo thang, có thể quyết định này của Nga là nhằm chứng tỏ Nga quyết không chịu mất phần trong tranh chấp Biển Đông.

 Theo báo trên, ngoại giao của mỗi quốc gia đều là vì lợi ích của nước mình. Lý do người Nga đưa ra quyết định trên là để giành lợi ích kinh tế trong hợp tác dầu khí với Việt Nam, chứ không có bất kỳ ý đồ chính trị nào, cũng không gây ảnh hưởng đến mối quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc. Tuy nhiên, lợi ích có to có nhỏ, hợp tác cũng cần tính toán đến thời điểm và thời cơ. Giữa lúc tình hình Biển Đông căng thẳng gia tăng như hiện nay, Nga tuyên bố hợp tác với Việt Nam trong việc thăm dò khai thác dầu khí tại vùng biển này là hành động liều lĩnh và Nga hiển nhiên hiểu rõ thiệt hơn trong quyết định này.

Trên thực tế, Nga từng là bá chủ của khu vực Đông Nam Á. Thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô (trước đây) đã đồn trú tại quân cảng Cam Ranh của Việt Nam để tranh giành khu vực này với các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu. Thời kỳ đó, hai siêu cường tuy chưa trực tiếp xuất quân đánh chiếm Trường Sa, song đều bị cuốn vào cuộc tranh chấp quần đảo này ở các mức độ khác nhau, đồng thời đã tạo ra những ảnh hưởng quan trọng đối với cuộc tranh chấp Trường Sa sau này. Sau Chiến tranh Lạnh, Nga rút khỏi Cam Ranh, chính sách Biển Đông của Mỹ xuất hiện khuynh hướng mới là kiềm chế Trung Quốc. Cùng với sức mạnh ngày càng tăng, Nga ngày càng cao giọng giành lại vị trí nước lớn mà nước này từng có. Theo đó, việc mở rộng hợp tác với các nước Đông Nam Á đã trở thành hướng quan trọng trong ngoại giao châu Á của Nga.

Do có mối quan hệ truyền thống và hữu nghị giữa hai nước, hợp tác Nga-Việt đã tiến triển nhanh chóng. Công ty công nghiệp khí đốt tự nhiên của Nga đã nhanh chân đến Việt Nam, tung ra khoản tiền lớn giúp Việt Nam tiến hành thăm dò và khai thác dầu lửa và khí đốt ở Biển Đông. Để tăng tốc độ khai thác nguồn tài nguyên ở Biển Đông, Việt Nam đã từng bước mở rộng phạm vi khai thác dầu khí từ thềm lục địa vươn tới khu vực nước sâu gần quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, kỹ thuật khai thác dầu khí nước sâu của Việt Nam chưa có, do sợ Trung Quốc nên các công ty dầu khí lớn của phương Tây từng hợp tác với Việt Nam cũng rút lui, điều này đã mở ra cơ hội tốt cho Nga tiến vào Biển Đông. Hiện nay, kỹ thuật khai thác dầu khí vùng biển sâu của Việt Nam chủ yếu dựa vào Nga.

Ngoài năng lượng, hợp tác quân sự Nga-Việt cũng đang phát triển nhanh chóng. Công nghiệp quân sự là thế mạnh xuất khẩu của Nga. Do sự phong tỏa của Mỹ, thị trường xuất khẩu vũ khí truyền thống của Nga ở Đông Âu bị thu hẹp nghiêm trọng, Nga buộc phải mở rộng thị trường sang các khu vực của châu Á. Mấy năm gần đây, Việt Nam trở thành một trong những thị trường xuất khẩu vũ khí quan trọng của Nga. Cùng với việc Mỹ đẩy nhanh chiến lược “trở lại châu Á”, đặc biệt là từ khi có thông tin Mỹ có ý định thuê quân cảng Cam Ranh của Việt Nam, Nga ngày càng cảm thấy bất an đối với vai trò và vị trí của mình trong tương lai tại khu vực này. Để giành thế chủ động, Nga một mặt đẩy mạnh xuất khẩu vũ khí cho Việt Nam, mặt khác ra sức đánh tiếng rằng Nga chuẩn bị thuê lại Cam Ranh.

Đề cập đến các nhân tố bên ngoài đối với cuộc tranh chấp Biển Đông, thế giới thường nghĩ ngay đến các nước như Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ mà không mấy ai nhắc đến Nga. Nga ít bị chú ý trong tranh chấp Biển Đông chủ yếu là do nước này mới chỉ can thiệp có giới hạn vào khu vực này. Hơn nữa, trong hầu hết các tình huống, Nga không mấy khi tuyền truyền rầm rộ. Theo “Đại Công báo”, hiện nay, tình hình đang có những thay đổi, rất nhiều dấu hiệu cho thấy Nga đang lợi dụng vấn đề tranh chấp Biển Đông để tích cực trở lại Đông Nam Á. Có thể trong một tương lai không xa, Nga sẽ trở thành một yếu tố quan trọng khác không thể không xét đến trong giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1844-nga-khong-chu-mt-phn-trong-tranh-chp-bin-ong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #184 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2011, 12:17:40 am »

Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc cản trở giải quyết vấn đề Biển Đông


Ngoài việc Biển Đông  được Trung Quốc coi là có vai trò quan trọng trong chính sách mở rộng ảnh hưởng của nước này, chuyên gia Valérie Niquet, phụ trách khu vực châu Á thuộc Quỹ Nghiên cứu Chiến lược, nhận xét còn một yếu tố nữa mà Trung Quốc coi là còn "quan trọng hơn nhiều", đó là chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc. Lược dịch nội dung chính đăng trên mạng Le Monde (Pháp).

Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên tạp chí "Affaires Stratégiques" ngày 18/8, bà Valérie Niquet cho rằng, điều mà ai cũng thấy từ nhiều tháng nay là lập luận kiểu dân tộc chủ nghĩa của Bắc Kinh gia tăng mạnh mẽ đối với cả các nước láng giềng lẫn Mỹ. Bà khẳng định rằng chính chủ nghĩa dân tộc thái quá đó đang ngăn cản và hủy hoại việc giải quyết các bất đồng hiện nay.

Chuyên gia Valérie Niquet tuy không chắc có bất đồng thực sự về mục tiêu giữa phái quân sự và chính quyền dân sự ở Trung Quốc hay không, song cho rằng cả hai phe đều quyết tâm khẳng định sức mạnh của Trung Quốc, kể cả bằng biện pháp quân sự. Đơn giản, theo chuyên gia này, là các nhà lãnh đạo Trung Quốc hoàn toàn ý thức được hạn chế hiện nay về sức mạnh của Trung Quốc, đặc biệt là ở châu Á. Trên thực tế, năng lực quân sự của Trung Quốc vẫn còn thấp mặc dù ngày 10/8/2011 nước này đã cho hạ thủy chiếc tàu sân bay đầu tiên. Bà Niquet nhận xét Bắc Kinh đang chơi hai trò cùng một lúc. Một mặt, Bắc Kinh vận dụng chiến lược gây căng thẳng nhằm làm các nước láng giềng sợ và gây lo ngại trong số những người ở Mỹ muốn áp dụng chính sách hòa dịu. Mặt khác, Bắc Kinh tìm cách duy trì cơ hội, đặc biệt về thương mại, với ASEAN. Đặc biệt Bắc Kinh muốn tránh lặp lại kịch bản năm 2010 khi các nước khác trong khu vực tận dụng sự có mặt của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton ở Hà Nội để cùng lên tiếng ủng hộ quyết tâm của Mỹ duy trì đường giao thương trên Biển Đông.

Tuy nhiên, bà Valérie Niquet cho rằng chính quyền Trung Quốc cố gắng không đi quá xa cho dù người ta nhận thấy Bắc Kinh vẫn muốn thường xuyên gây căng thẳng. Bà lưu ý Đại hội lần thứ 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ đổi mới thành phần ban lãnh đạo nước này. Tất cả các phe nhóm đều muốn tạo chỗ đứng cho mình trước khi diễn ra sự kiện đó và rất có thể các luận thuyết dân tộc chủ nghĩa lại thắng thế.

Về tình hình trong khu vực sẽ diễn biến như thế nào, bà Niquet cho rằng trong những năm tới, mọi thứ sẽ phụ thuộc vào tình hình nội bộ ở Trung Quốc và việc Bắc Kinh sẽ tiến hành cải cách hay không cải cách. Có thể một nước Trung Quốc dân chủ hơn sẽ ít có thiên hướng hơn dựa vào lập luận kiểu "dân tộc chủ nghĩa thái quá" so với chế độ hiện nay.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1979-ch-ngha-dan-tc-trung-quc-cn-tr-gii-quyt-vn-bin-ong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #185 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2011, 12:21:48 am »

Nhật phải hỗ trợ ASEAN về quy chế ứng xử với Trung Quốc


Nhật Bản là quốc gia khu vực rất quan tâm đến tranh chấp Biển Đông. Bài học tranh chấp đảo Senkaku/Điếu Ngư với Trung Quốc hồi năm ngoái là động lực cho nước này tích cực thúc đẩy và ủng hộ ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Một số nội dung thể hiện quan điểm trong bài viết “Japan must support ASEAN on rules to deal with China” trên Daily Yomiuri như sau.

Để tháo ngòi căng thẳng giữa TQ và các nước láng giềng về chủ quyền ở Biển Đông, thiết yếu là phải thực thi các qui định quốc tế và yêu cầu TQ kiềm chế.

Tại một loạt cuộc gặp bộ trưởng NG của ASEAN và các nước liên quan trên đảo Bali, Indonesia tuần trước, việc hải quân TQ tăng cường hoạt động trở thành một trọng tâm lớn.

Nhật và Mỹ đã kêu gọi giải quyết tranh chấp dựa trên quy định quốc tế, nói rằng tôn trọng luật quốc tế và đảm bảo minh bạch là quan trọng. Tuy nhiên, NG TQ lại nói rằng an toàn và  tự do hàng hải ở Biển Đông không bị đe dọa. TQ lý luận đối đầu trên Biển Đông cần được giải quyết bởi các nước trực tiếp liên đới và không cần sự tham gia rộng rãi hơn của cộng đồng quốc tế. Không cần nói, thảo luận đã không đi đến thỏa thuận gì.

Hành động ích kỷ của TQ

Đặc biệt trong năm nay, hành động của TQ ở Biển Đông đang tỏ ra hiếu chiến. Thí dụ tàu TQ can thiệp vào hoạt động thăm dò dầu khí của tàu Việt Nam. Tuy nhiên, TQ nói hành động của họ là chính đáng. Những hành động ích kỷ đó không thể bỏ qua.

Nhật và Mỹ cần hợp tác chặt chẽ với ASEAN kiên trì yêu cầu TQ đồng ý với các nỗ lực xây dựng các qui định hiệu quả hơn.

TQ và ASEAN năm 2002 đã thông báo Tuyên bố DOC ở Biển Đông. DOC qui định các bên sẽ “giải quyết tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán bằng biện pháp hòa bình”. Tuy nhiên Tuyên bố không ràng buộc về pháp lý. Để hỗ trợ thực hiện Tuyên bố, lần này TQ và ASEAN đồng ý về “hướng dẫn” về ứng xử nhằm thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông, gồm cả phát triển nguồn tài nguyên. Tình hình đã tiến thêm một mức độ nhất định, song thỏa thuận đó vẫn chưa đủ.

ASEAN đầu tiên đã đòi đưa đưa vào “giải quyết tranh chấp bằng các nước đa phương” để bù lại chênh lệch sức mạnh giữa TQ và mỗi nước ASEAN riêng biệt, nhưng không thực hiện được.

Có nghi ngờ rằng TQ đã ngầm phá quan điểm thống nhất của ASEAN bằng cách, thí dụ, mời chào các nước thân TQ chương trình hỗ trợ kinh tế đổi lấy việc ủng hộ TQ.

Lợi ích của Nhật liên đới

ASEAN dự định bắt đầu thương lượng với TQ nâng cấp DOC 2002 lên COC có tính ràng buộc pháp lý. Chúng tôi nghĩ Nhật cần tích cực ủng hộ ASEAN trong việc này.

Nhật không thể bỏ qua tranh chấp ở Biển Đông coi như là việc của ai khác. Nhật có các tuyến vận tải biển quan trọng ở Biển Đông. Bản thân Nhật có xung đột với TQ, trong đó có căng thẳng đối với các đảo Senkaku ở Okinawa.

Vào tháng 11, Thượng đỉnh EAS sẽ diễn ra có 18 nước tham gia gồm cả Nhật, TQ, HQ, Mỹ và Nga và các nước ASEAN. TTg Mỹ và TTg Nga sẽ tham dự lần đầu tiên với tư cách thành viên chính thức.

Hòa bình và ổn định ở Biển Đông là lợi ích chung cho các nước EAS. Nhằm đạt được đồng thuận tiến tới xây dựng những qui tắc thực sự áp dụng được là việc rất quan trọng.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1873-nhat-phai-ho-tro-asean-ve-quy-che-ung-xu-voi-trung-quoc
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #186 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2011, 12:36:13 am »

Đằng sau sự mềm mỏng hơn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông

Theo tạp chí “Asia focus” gần đây, bước tiến nhỏ mới đạt được giữa ASEAN và Trung Quốc tại Bali cuối tháng 7 vừa qua chưa làm thay đổi cục diện tình hình. Mặc dù Trung Quốc đưa ra một số tuyên bố mang tính hòa giải nhưng trên thực tế nước này vẫn tìm cách né tránh mọi cam kết thực sự với các nước tranh chấp khác và chưa từ bỏ yêu sách chủ quyền trên hầu hết Biển Đông

 
Với việc Trung Quốc và ASEAN nhất trí các nguyên tắc thực thi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) tại Bali, Inđônêxia vừa qua, dường như Trung Quốc biểu lộ sự điều chỉnh mềm mỏng hơn trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, hai bên giờ đây có thể bắt tay thúc đẩy các biện pháp xây dựng lòng tin và hợp tác trong các dự án chung tại Biển Đông.

1/ Trung Quốc mềm mỏng hơn?

Bước tiến trên đạt được sau khi Trung Quốc từ bỏ lập trường vốn cản trở mọi cuộc đàm phán về Biển Đông. Trước đây, một số nước có tranh chấp như Việt Nam muốn ASEAN tham gia giải quyết tranh chấp và thảo luận tập thể mọi vấn đề trước khi đàm phán với Trung Quốc. Công thức này bị Trung Quốc kiên quyết bác bỏ và coi giải quyết tranh chấp là công việc giữa Trung Quốc với từng quốc gia hữu quan. Tại cuộc gặp ASEAN - Trung Quốc trước thềm Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) vừa qua, Trung Quốc đã từ bỏ lập trường này, nhờ đó khai thông bế tắc thực thi DOC sau gần một thập kỷ qua kể từ khi văn kiện này được thông qua năm 2002. Trung Quốc biểu lộ sự điều chỉnh mềm mỏng này xuất phát từ các lý do sau:

- Thứ nhất, bối cảnh chính trị ở khu vực hiện đã thay đổi đáng kể từ năm 2009 khi Mỹ khởi đầu tái can dự với khu vực bằng cách tham gia Hiệp ước hợp tác và thân thiện Đông Nam Á (TAC). Các nước khác như Nga và Ấn Độ cũng thúc đẩy ảnh hưởng tại khu vực. Trung Quốc giờ đây đã mất đi vị thế độc tôn điều phối quan hệ với ASEAN. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á tháng 11 tới, chắc chắn các nước lớn sẽ biểu lộ lợi ích chiến lược của họ trong các vấn đề mà họ sẽ nêu ra, chẳng hạn như trong vấn đề an toàn hàng hải các nước sẽ nêu ra các thách thức tương lai đối với việc duy trì khu vực tranh chấp tự do đi lại và an toàn. Nước chủ nhà Inđônêxia cũng sẽ giải quyết các vấn đề cốt yếu liên quan đến nhu cầu hàng hải nội khối ASEAN, trong đó có Biển Đông. Vì thế sớm muộn Trung Quốc không thể tiếp tục phủ nhận ASEAN với tư cách là một bên tham gia giải quyết tranh chấp.

- Thứ hai, việc Trung Quốc nhất trí với vai trò của ASEAN trong xây dựng các nguyên tắc thực thi Tuyên bố ứng xử ngay trước thềm hội nghị ARF là một chiến thuật ngoại giao, nhằm tránh ASEAN đẩy tranh chấp Biển Đông vào chương trình nghị sự của ARF, một diễn đàn quốc tế rộng rãi hơn, trong đó có sự tham gia của Mỹ. Với động thái này, Trung Quốc đã khiến ARF không thể làm gì khác ngoài việc ra tuyên bố ủng hộ kết quả đạt được giữa Trung Quốc và ASEAN, dù kết quả đó không mang lại một giải pháp lâu dài cho vấn đề an ninh Biển Đông.

- Thứ ba, các nhà lãnh đạo Trung Quốc và ASEAN từ lâu đã cam kết là đối tác đối thoại của nhau, hợp tác để kiến tạo hòa bình và thịnh vượng chung của khu vực. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của ASEAN và tháng 4 vừa qua ASEAN đã vượt Nhật Bản để trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc. Tổng kim ngạch thương mại song phương năm 2010 đạt 293 tỷ USD, tăng gấp đôi so với 141 tỷ USD năm 2009 và trong 6 tháng đầu năm nay, thương mại song phương tiếp tục tăng 26% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên trong 9 năm qua, hai bên không có những tiến triển trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông mà còn khiến vấn đề này xấu đi, đặc biệt là các va chạm gần đây giữa Trung Quốc với Philíppin và Việt Nam. Trung Quốc hiểu rằng các nước có tranh chấp như Việt Nam và Philíppin sẽ tiếp tục đòi giải quyết tranh chấp và ASEAN tất yếu sẽ bị kéo vào các cuộc tranh cãi với Trung Quốc. Vì thế để tránh gây tổn hại cho mối quan hệ có nhiều lợi ích với ASEAN, Trung Quốc không còn cách nào khác là tỏ tín hiệu hữu hảo bằng thái độ sẵn sàng giải quyết mọi bất đồng với ASEAN, trong đó có vấn đề Biển Đông, vào thời điểm hai bên kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ.

- Thứ tư, Trung Quốc hiểu rằng Biển Đông sẽ trở thành cuộc chơi chính trị kể từ khi Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN năm ngoái nhưng các cuộc vận động hành lang của Trung Quốc tại các nước ASEAN trong một năm qua không gây được ảnh hưởng đáng kể. Trước đó, khi Thái Lan là chủ tịch ASEAN năm 2009, Trung Quốc đã tránh được áp lực tranh cãi về vấn đề Biển Đông khi Thái Lan tìm cách né tránh vấn đề này với lập luận rằng đây là vấn đề song phương giữa các nước hữu quan với Trung Quốc. Dấu ấn này khiến Trung Quốc có niềm tin rằng việc nhất trí với ASEAN các nguyên tắc thực thi DOC giúp Trung Quốc tránh được áp lực quốc tế không chỉ trước mắt mà còn trong vài năm nữa khi các chủ tịch ASEAN tương lai đều không muốn căng thẳng với nước này. Với quan hệ song phương Trung Quốc - Campuchia phát triển mạnh từ năm 2000 đến nay, Campuchia khi làm chủ tịch ASEAN năm 2012 sẽ thận trọng tránh để Trung Quốc coi là kẻ tiếp tay cho việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Trong năm 2013, Brunây làm Chủ tịch ASEAN, dù là một bên tranh chấp nhưng Brunây sẽ chủ trương “ngư ông đắc lợi” thay vì có các động thái gây trở ngại cho quan hệ với Trung Quốc. Nếu năm 2014 Mianma làm Chủ tịch ASEAN thì môi trường khu vực càng thuận lợi cho Trung Quốc. Trong những năm này, Trung Quốc có thể tái định hình quan hệ mới với ASEAN.

- Thứ năm, căng thẳng dịu đi trong quan hệ với Mỹ cũng là một nhân tố khiến Trung Quốc bày tỏ thái độ hợp tác với ASEAN. Năm ngoái Việt Nam và Philíppin nhờ thái độ cứng rắn của Mỹ đã hướng trọng tâm các hội nghị ASEAN vào giải quyết tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, bước sang năm nay cả Trung Quốc lẫn Mỹ đều thấy cần phải tránh đối đầu để hợp tác giải quyết các vấn đề chiến lược quan trọng hơn đối với lợi ích của hai nước, như thương mại và tài chính. Những khó khăn kinh tế hiện nay đang làm suy yếu vị thế của Mỹ tại khu vực và đây là lý do Mỹ mềm mỏng hơn so với năm 2010 về vấn đề Biển Đông. Để đáp lại theo cách có lợi nhất, Trung Quốc bày tỏ thái độ tích cực với ASEAN bằng việc xây dựng các quy tắc thực thi DOC. Với động thái này, Trung Quốc đã khéo léo cổ vũ Mỹ tiếp tục xu hướng hợp tác với Trung Quốc. Nhân tố khiến Trung Quốc lo ngại nhất là Mỹ dính líu vào giải quyết tranh chấp. Biển Đông không chỉ tiềm tàng nhiều trữ lượng nhiên liệu hóa thạch mà còn là tuyến vận tải huyết mạch nuôi sống nền kinh tế Trung Quốc. Nếu căng thẳng với Mỹ, Mỹ có thể điều tàu chiến phong tỏa tuyến vận tải qua eo biển Malắcca và khiến Trung Quốc điêu đứng chứ chưa cần phải có mặt ở Biển Đông. Đây cũng là lý do Trung Quốc sẽ luôn tìm cách cam kết với Mỹ về tự do và an toàn hàng hải nhằm loại bỏ lý do mà Mỹ đã tuyên bố là có lợi ích trong việc duy trì tự do an toàn hàng hải trong khu vực này.

2/ Thái độ của Trung Quốc có đưa tới chuyển biến tích cực?

Với việc Trung Quốc cùng ASEAN ra tuyên bố chung tại cuộc họp vừa qua ở Bali, Inđônêxia, chủ trương đa phương hóa mà Việt Nam và Philíppin muốn thúc đẩy đã có thêm một bước tiến. Nỗ lực vận động các nước ASEAN của Trung Quốc đã không đạt được mục tiêu cao nhất là cản phá sự can dự tập thể của ASEAN và sự dính líu sâu hơn của Mỹ vào giải quyết tranh chấp. Các nước ASEAN dù có tính toán lợi ích khác nhau trong quan hệ với Trung Quốc nhưng đã bị ràng buộc nhiều hơn vào tiếng nói tập thể trong vấn đề Biển Đông. Phần lớn các nước ASEAN và các đối tác từ chỗ né tránh đã tiến tới bày tỏ ở các mức độ khác nhau thái độ phản đối đòi hỏi chủ quyền vô lý trên toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc. Mỹ tiếp tục thể hiện lập trường bênh vực ASEAN và chủ trương can dự sâu hơn vào tranh chấp Biển Đông. Nhật Bản cũng tỏ rõ quan điểm đứng về phía Việt Nam và Philíppin với mục tiêu thiết lập một mặt trận rộng rãi chống Trung Quốc. Các đối tác lớn khác của ASEAN như Nga, Ấn Độ, EU, Canađa, Niu Dilân và Ôxtrâylia ngày càng can dự thực chất hơn với ASEAN và xu hướng này cộng với việc Nga và Mỹ sắp trở thành thành viên của Hội nghị cấp cao Đông Á giúp ASEAN có tiếng nói trọng lượng hơn, giảm bớt ảnh hưởng độc tôn của Trung Quốc trong khu vực và điều này đưa tới kết quả một số nước ASEAN giảm bớt xu hướng dựa vào Trung Quốc và dễ đồng thuận hơn trong các vấn đề liên quan tới Trung Quốc. Bên cạnh đó, hầu hết các thành viên ASEAN và các nước đối tác đều thống nhất tầm quan trọng bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông và thống nhất được các cơ sở và nguyên tắc cơ bản để giải quyết tranh chấp là giải quyết giữa các bên liên quan bằng biện pháp hòa bình; tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), thúc đẩy thực hiện DOC bằng việc xây dựng các quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC để xây dựng lòng tin và hướng tới Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Chuyển từ xây dựng lòng tin sang ngoại giao phòng ngừa vì hòa bình, ổn định và hợp tác. Các nhận thức chung này là nền tảng rất quan trọng cho việc đưa ra các sáng kiến kiềm chế xung đột quân sự.

Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận là Trung Quốc ít nhiều đã tạo được tác động nhất định, buộc ASEAN phải nhất trí một nội dung tuyên bố chung lỏng lẻo về Biển Đông trước thềm hội nghị ARF. Mỹ vốn được coi là nhân tố hậu thuẫn quan trọng cho các nước ASEAN có tranh chấp với Trung Quốc, đã tỏ ra mềm mỏng hơn so với năm 2010 vì cần hợp tác hơn với Trung Quốc. Hầu hết các đối tác lớn khác của ASEAN, trừ Mỹ và Nhật Bản, cũng tránh đưa ra một lập trường mạnh mẽ hơn bênh vực ASEAN. Bản thân nội bộ ASEAN vẫn tồn tại nhiều khác biệt quan điểm về mức độ can dự của ASEAN vào giải quyết tranh chấp cũng như đường hướng giải quyết tranh chấp. Các nước như Philíppin, Việt Nam và Inđônêxia kiên định ủng hộ vai trò lớn hơn của ASEAN vào giải quyết tranh chấp nhưng Mianma và Campuchia có xu hướng ủng hộ Trung Quốc, trong khi đó Malaixia, Xinhgapo, Thái Lan và Brunây đều không muốn bị tổn hại lợi ích song phương với Trung Quốc. Về đường hướng giải quyết, Inđônêxia và một số nước cho rằng nên đẩy mạnh các hình thức hợp tác đa phương thăm dò tài nguyên, bảo vệ môi trường, chống tội phạm xuyên quốc gia để giảm thiểu nguy cơ xung đột. Philíppin đòi quốc tế phân xử chủ quyền, sau đó mới tính đến hợp tác khai thác chung tại các khu vực khó phân định và lập trường này được Mỹ ủng hộ. Việt Nam chưa bày tỏ quan điểm về vai trò trọng tài quốc tế nhưng cũng không đặt nhiều hy vọng vào đàm phán song phương với Trung Quốc.

Một thực tế khác là thành quả cụ thể mới đạt được giữa Trung Quốc và ASEAN chỉ là một bản tuyên bố chung về xây dựng các quy tắc hướng dẫn thực thi DOC. Tuyên bố này chung chung, chưa đề cập đến các vấn đề quan trọng như khung thời gian hoàn tất soạn thảo các quy tắc, bổn phận thực thi của các nước sau khi có các quy tắc và không đề cập tới các vấn đề nóng bỏng hiện nay trên Biển Đông là hoạt động thăm dò, khai thác của các bên, sự ứng xử và cơ chế hợp tác của hải quân các nước nhằm giảm thiểu va chạm. Kết quả này cho thấy điểm yếu trong chính sách đồng thuận của ASEAN đối với các vấn đề an ninh khu vực, ít có tác dụng kiểm soát khủng hoảng trong thời gian trước mắt và cho thấy chưa thể sớm xây dựng các quy tắc hướng dẫn thực thi DOC để tiến tới xây dựng COC trong tương lai gần.

Như vậy, bước tiến nhỏ mới đạt được giữa ASEAN và Trung Quốc chưa làm thay đổi cục diện tình hình và chưa tạo được áp lực khiến Trung Quốc nhượng bộ hơn nữa trong các đòi hỏi chủ quyền. Mặc dù Trung Quốc đưa ra một số tuyên bố mang tính hòa giải nhưng trên thực tế nước này vẫn tìm cách né tránh mọi cam kết thực sự với các nước tranh chấp khác và chưa từ bỏ yêu sách chủ quyền trên hầu hết Biển Đông. Trong thời gian tới, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục thể hiện mềm mỏng, nhưng mặt khác sẽ đẩy mạnh các hoạt động thăm dò tài nguyên và ngăn cản các nước khác tiến hành thăm dò. Động thái này dễ dẫn tới tranh cãi ngoại giao và các va chạm mới trên biển vì ngoài Việt Nam, Philíppin cũng đang đẩy mạnh các kế hoạch thăm dò khai thác tài nguyên. Trong một bối cảnh mà Trung Quốc vẫn ở thế lấn lướt, giải pháp đảm bảo hòa bình hợp lý nhất đối với các nước ASEAN có tranh chấp với Trung Quốc trong thời gian trước mắt là gác lại các đòi hỏi chủ quyền, tận dụng triệt để những gì Trung Quốc đã nhất trí từ trước đến nay để sớm biến các cam kết đó thành công cụ áp dụng vào ngăn ngừa xung đột trước khi có thể đạt tới một Bộ quy tắc ứng xử mang tính pháp lý (COC). Nếu không có những bước đi thích hợp, sóng ngầm tại Biển Đông có thể bất ngờ nổi lên tại bất cứ thời điểm nào./.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1988-1988
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #187 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2011, 12:18:20 am »

Tiếp cận song phương sẽ không giải quyết vấn đề biển Đông

SGTT.VN - Trong buổi gặp gỡ báo giới chiều 24.8 tại Hà Nội nhân chuyến thăm Việt Nam 3 ngày, thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb, chủ tịch Tiểu ban Đông Á - Thái Bình Dương, ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ khẳng định, cách tiếp cận song phương với các vấn đề chủ quyền, về cơ bản không bao giờ giải quyết được.


Tiếp cận đa phương giúp các nước thảo luận tranh chấp

Ông Webb nói, nếu nhìn vào các hoạt động gia tăng của Trung Quốc trong hơn một năm qua, đầu tiên là ở đảo Senkaku (tranh chấp với Nhật Bản), sau đó là các hành động tranh chấp với Philippines và Việt Nam (ở vùng đặc quyền kinh tế), Trung Quốc luôn muốn giải quyết song phương. Nhưng các nước có tranh chấp, cụ thể là các thành viên ASEAN, không có được vị trí ngang bằng, nếu nhìn vào mối quan hệ sức mạnh trong khu vực.

"Do đó, giá trị của Mỹ ở đây, tôi tin là để thúc đẩy sự ổn định, nhờ đó mà các bên có thể có vị trí để đàm phán. Những vấn đề này rất phức tạp, khó giải quyết với từng nước. Và các nước không có tranh chấp như Indonesia và Singapore cũng đều kêu gọi giải pháp đa phương cho vấn đề biển Đông. Thách thức để tìm ra được diễn đàn đúng, cách thức đúng để giải quyết chính là cần có sự thảo luận và đồng tình của Trung Quốc”, ông Webb nói.

Theo ông Webb, ASEAN rất có giá trị trong việc thúc đẩy thảo luận, không chắc là ASEAN tự mình có thể tạo nên diễn đàn đúng, nhưng tiếng nói của hiệp hội này rất quan trọng. Cách tiếp cận đa phương không giúp tìm ra giải pháp nhưng giúp các nước tìm cách để thảo luận.

Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb nhậ định rằng chỉ có cách tiếp cận đa phương mới giúp các nước tìm cách để thảo luận vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Đông (ảnh minh hoạ). Ảnh: T.N.S

Bày tỏ sự quan ngại của mình, thượng nghị sĩ Mỹ nói, từ 15 – 20 năm trước, Trung Quốc đã đưa ra chiến lược kỹ lưỡng về chủ quyền ở biển Đông. Tham vọng của Trung Quốc có giảm xuống nếu có sự vụ, nhưng sau đó lại nổi lên. Sau khi ký thỏa thuận các nguyên tắc thực hiện DOC với ASEAN như vừa qua tại Bali, tham vọng của Trung Quốc lại chìm xuống. Nhưng về cơ bản diễn tiến sẽ theo kiểu lên – xuống cho tới khi chúng ta đạt được một cách thức giải quyết (đa phương).

Chính vì thế, việc Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết phản đối các hành động của Trung Quốc ở biển Đông thời gian qua là một tuyên bố rõ ràng của Mỹ, là Mỹ cần Trung Quốc thể hiện sự tích cực trong việc tìm kiếm giải pháp cho các tranh chấp.

Trả lời câu hỏi của Sài Gòn Tiếp Thị, ông Webb nói, với tư cách là người theo dõi vấn đề châu Á 15 năm nay, đây là lần đầu tiên Thượng viện Mỹ lên án các hành động quân sự của Trung Quốc ở khu vực. “Tôi nghĩ đây là dấu hiệu quan trọng từ Mỹ, rằng chúng tôi muốn thấy giải pháp hòa bình”, ông nói.

Quan hệ quốc phòng Việt – Mỹ là cẩn trọng và tích cực

Thượng nghị sỹ Mỹ Jim Webb cho hay, quan hệ giữa hai bộ Quốc phòng Việt Nam và Mỹ là “cẩn trọng và tích cực”.

Đề cập tới vấn đề nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ lên tầm đối tác chiến lược, ông Webb cho biết, phía Mỹ đã thảo luận ban đầu với đại sứ Việt Nam tại Washington về việc này.

Quan hệ Việt – Mỹ đang tốt đẹp như những gì ông chứng kiến, điều đó mang lợi ích cho cả hai nước, cũng như cho cả khu vực. “Chúng ta có thể hợp tác với nhau chặt chẽ trong tương lai”, ông Jim Webb nói.

Đáng chú ý, thượng nghị sĩ Mỹ cho hay, quan hệ giữa hai bộ Quốc phòng Việt Nam và Mỹ là “cẩn trọng và tích cực”. Do đó, hai bên đã bàn đến khả năng chuyển giao công nghệ quân sự, quốc phòng của Mỹ cho Việt Nam. Cụ thể là các quan chức chuyên trách trong tiểu ban đã bàn với bộ Quốc phòng trong chuyến thăm này.

Nguồn: http://sgtt.vn/Thoi-su/151920/Tiep-can-song-phuong-se-khong-giai-quyet-van-de-bien-Dong.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #188 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2011, 12:31:09 am »

Chuyện lạ có thật?


"Sói biển " Mai Phụng Lưu nhặt trứng Hải âu trên cù lao Ông Già trong chuyến trở lại ngư trường Hoàng Sa. Ảnh do nhân vật cung cấp

Không biết bác Lưu lên được cù lao Ông Già như thế nào mà không bị tàu Trung Quốc bắt giữ?

Nguồn: http://nld.com.vn/2011082310574296p0c1002/soi-bien-mai-phung-luu-chuyen-ra-khoi-luon-bi-ruot-duoi.htm
Logged
loicuagio
Thành viên
*
Bài viết: 51



« Trả lời #189 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2011, 02:41:31 pm »

Theo diễn biến tình hình Biển Đông hiện nay, một khi VN và TQ xảy ra một trận hải chiến thì toàn bộ vũ khí sắc bén mà quân đội VN sử dụng để giết hại quân giải phóng TQ là của Nga chứ không phải của Mỹ.
Nguồn :http://biendong.vntime.vn/News.aspx?Section=TinBienDong&obj=21d982bd-d2a9-435c-8019-e347ce821806
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Tám, 2011, 02:46:37 pm gửi bởi loicuagio » Logged

Đừng ba hoa ! Kẻ địch đang nghe lén chúng ta
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM