Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:27:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 432775 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #200 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 09:32:28 am »

Thăm các chiến sỹ, thăm đội tầu chiến, nghe những chiến công mà chưa bao giờ được nghe, hay được đọc, trên các phương tiện truyền thông, anh em chúng tôi ai nấy mặt mũi hớn hở ánh lên vẻ tự hào. Thậm chí, có nhiều bác còn hăng máu định "giải quyết dứt điểm" mấy điểm nóng luôn "cho nó vuông".

Chắc Hải quân Việt Nam làm cho bọn cướp trên Biển Đông nhiều phen sợ vỡ mật, tởn đến già.
Logged
Su30MK2V
Thành viên
*
Bài viết: 158

Tôn trọng và khiêm tốn


« Trả lời #201 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 09:38:02 am »

Nhà giàn và những giọt nước mắt giữa biển khơi

             - Chúng tôi xếp hàng thắp hương lên chiếc vòng hoa và mỗi người cầm một bông hoa để thả xuống biển. Thật kỳ lạ, chỉ ít phút trước biển dữ dội là vậy, thế mà giờ chợt lặng sóng và thật êm đềm. Chiếc vòng hoa tưởng niệm thả xuống trôi nhẹ dần vào khoảng biển tối đen phía xa tầu. Chúng tôi thả cả gạo, cả muối, rồi cả bia, nước ngọt và thuốc lá xuống biển cho các anh. Những tờ tiền, vàng mã cũng được thả xuống...

          Cách đây khoảng 20 năm, bằng con mắt chiến lược và tầm nhìn xa trông rộng, Đô đốc Giáp Văn Cương đã cho xây dựng hệ thống nhà giàn trên biển Đông. Bởi, theo ông, càng về sau vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển sẽ càng phức tạp, và, đến lúc đó, những chiếc nhà giàn này sẽ là các cột mốc chủ quyền của chúng ta. Vậy là 20 chiếc nhà giàn DK 1 - 2 mọc lên như những vọng gác của Việt Nam giữa biển khơi mênh mông. (Hiện còn 15 chiếc do 5 chiếc đã bị giông bão quật đổ).
           DK là viết tắt của chữ Dịch vụ - Khoa học kỹ thuật, được hiểu như một công trình phục vụ mục đích dân sự trên biển. DK 1 là những nhà giàn ở vòng ngoài, xa nhất, phía bên trong gần đất liền hơn là hệ thống DK 2. Đoàn chúng tôi sẽ đến thăm nhà giàn Phúc Tần thuộc hệ thống DK 1. Chiếc này năm 1993 đã đổ một lần làm hi sinh 3 chiến sĩ. Xung quanh có thể nhìn thấy 2 chiếc nữa phía xa xa. Còn một chiếc nữa thì xa quá, chúng tôi không thể nhìn thấy bằng mắt thường.
           Nhận nhiệm vụ canh gác cho 4 chiếc nhà giàn này là một chiếc tầu chiến của Hải quân Việt Nam. Khi đoàn còn cách nhà giàn một đoạn thì chiếc tầu chiến kia đã chạy ra "đón" chúng tôi trước. Nó chạy ngược chiều bên mạn trái tầu HQ936. Toàn bộ thủy thủ và chiến sĩ trên tầu, trang phục chỉnh tề, đứng nghiêm trang trên boong hướng về HQ936, chào theo nghi thức nhà binh.
           Thêm một lần nữa chúng tôi lại thấy ngưỡng mộ các chiến sĩ Hải quân Việt Nam trong việc thực hiện các nghi thức quân đội một cách hết sức nghiêm túc. Cả đoàn chúng tôi mặc áo cờ đỏ sao vàng đứng trên boong tầu vẫy chào lại các anh tíu tít.
           Tầu chúng tôi thả neo cách nhà giàn một đoạn. Tầu lớn nên không thể cập mạn sát nhà giàn, do sợ va chạm có thể làm đổ nhà giàn. Tuy nhiên, chúng tôi gặp may vì thời tiết đẹp, nên chỉ huy tầu cho phép cả đoàn có thể lên 4 chuyến xuồng để tới nhà giàn thăm các anh cán bộ chiến sĩ.
           Đây là lần đầu được rời tầu trên biển, cả đoàn răm rắp thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc an toàn, như mặc áo phao, đi dép nhựa quai hậu, và phải đứng nghe hướng dẫn của các cán bộ tầu HQ936 về cách thức lên xuống nhà giàn và tầu. Bởi chỉ một sơ xảy cũng có thể làm chúng tôi ngã xuống nước, hoặc gặp những chấn thương nặng.
           Chuyến xuồng 1 chuyển lãnh đạo đoàn, phóng viên và quà đi trước. Tôi đi vào bằng chuyến xuồng thứ 2, còn đội văn công và các anh em khác vào chuyến thứ 3 thứ 4. Sóng biển làm mạn xuồng cứ bập bềnh bập bềnh, chúng tôi đứng trên mạn tầu, lựa đúng thời điểm mạn xuồng đang bị đẩy lên thì nhanh chân bước xuống mạn xuồng, rồi nhảy xuống ngồi ngoan ngoãn trên ghế băng. Nếu bước lúc mạn xuồng đang hạ xuống thì sẽ bị hụt chân ngã, hoặc bị mạn xuồng đẩy lên trở lại kẹp vào chân. Chiếc ca nô máy có nhiệm vụ kéo xuồng lượn vòng vòng khá điêu luyện để nối các đoạn dây với xuồng rồi kéo đoàn chúng tôi vào gần nhà giàn.
Nhà giàn Phúc Tần thuộc hệ thống DK 1. Ảnh: Trần Hùng

            Sóng biển ngay sát bên chúng tôi. Nước trong và đẹp, nhưng lộn cổ xuống thì chưa biết thế nào vì dòng biển chảy khá mạnh. Từ xa nhìn lên nhà giàn, các anh chiến sĩ trên nhà giàn đã đứng đợi sẵn, miệng cười tươi rói. Đáng ra các anh đã được tiếp đoàn cán bộ của 54 dân tộc đến thăm. Nhưng không may đúng hôm đó biển động, không thể hạ xuồng xuống biển được, nên anh em đành ngậm ngùi đứng nhìn nhau.
            Chiếc nhà giàn như một chiếc tổ chim đứng trên 4 chiếc trụ sắt, phía bên trên diện tích chỉ có mấy chục mét vuông. Xuồng cập vào chân nhà giàn, sóng vỗ ì oạp. Những chiếc trụ nhà giàn bám đầy những con hà cạnh sắc lẹm cứ cọ qua cọ lại vào thành xuồng. Từ mặt biển lên nhà giàn là một chiếc cầu thang dài khoảng 4 mét, và chúng tôi lại thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc lên xuống xuồng. Chúng tôi đứng 1 chân lên thành xuồng, chọn đúng thời điểm xuồng bị sóng nâng lên thì nhanh chóng chộp vào thang, rồi bước ngay chân lên. Những nụ cười và lời chào hỏi rộn rã phía trên như thể một sự hối thúc, khiến chúng tôi leo lên cầu thang nhoay nhoáy. Chỉ muốn lên thật nhanh để bắt tay các anh.
           Các anh cũng nhận ra tôi là giáo sư Xoay nên bắt tay chặt lắm. Có anh quan tâm còn hỏi: "Giáo sư không ở nhà làm "Hỏi xoáy Đáp xoay" thì thứ Bẩy này tôi xem cái gì?" Các anh đâu có biết là trước khi đi tôi đã quay một mạch mấy số làm "lương khô". Phát vô tư, lo quái gì!
           Tôi hăm hở chạy lên những bậc thang sắt dẫn lên những khu nhà phía trên. Chắc chỉ rộng khoảng mấy chục mét vuông mà thôi. Tôi sục từ phòng này sang phòng nọ để tìm xem mấy cây guitar quà tặng đâu: tôi phải lên dây đàn lại để còn chơi phục vụ các anh mà. Chạy qua phòng của chỉ huy, thấy anh Nam già đang ngồi ngó ngó nghiêng nghiêng chồng sách và chiếc mũ hải quân. Chắc lại định chụp ảnh đây, tôi thoáng nghĩ.
          Lên dây đàn xong, tôi bước vào phòng họp. Câu chuyện giữa lãnh đạo đoàn và lãnh đạo nhà giàn cũng vừa mới bắt đầu. Sau phần chào đón đoàn của anh Trang Hải Âu - chỉ huy nhà giàn, cuộc trò chuyện giữa chúng tôi cũng có phần thân mật hơn. Chia sẻ những khó khăn, anh Âu kể anh đã có mặt trên nhà giàn này 17 năm trời. Mỗi năm chỉ có mấy tháng trời yên biển lặng, còn đâu là bão là giông. Có những trận bão mạnh, nhà giàn rung lên bần bật. Thường thì bão to quá các anh sẽ phải xuống tầu. Nhưng một chiếc tầu phải lo cho cả 4 cái nhà giàn, chẳng may lại lúc đêm hôm thì mọi việc không hề đơn giản tí nào.
          Mỗi một anh ở đây, ngoài là một cán bộ chiến sĩ nhà giàn, cũng có đầy đủ những trách nhiệm của người chồng, người cha, người con..., cũng như bao người đàn ông khác. Nhưng, với họ, thực hiện những trách nhiệm đó quả là vô cùng khó khăn. Có anh nghe tin mẹ mất mà không thể về chịu tang, mấy tháng sau mới có thể về được. Có anh thì vợ sinh con xong bị hậu sản mất, con thì nằm trong lồng kính mấy tháng trời, mà cũng không thể về được. Đêm nào cũng thắp hương cúng vong...
          Nghe những câu chuyện đó, mấy cô gái trong đoàn chúng tôi đã bật khóc lúc nào không hay. Cây đàn trên tay tôi như thể vô duyên trong cái không khí trầm lắng đó. Cả phòng cứ lặng đi.Tôi đánh liều phá vỡ bầu không khí đó: "Anh em mình hát một bài đi ạ".
          Lau vội những giọt nước mắt, chúng tôi cùng các anh vỗ tay hát vang: "Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hi sinh, anh em ơi, vì nhân dân quên mình...". Anh Trang Hải Âu kể thêm những câu chuyện về những con tầu của ngư dân gặp nạn, lương thực hết mà dầu cũng hết, dạt vào gần nhà giàn. Gặp các anh mà mừng quýnh, quỳ sụp cả xuống mà khóc cảm ơn trời.
          Các anh lại chia gạo, chia nước ngọt, chia dầu cho họ, rồi hỏi tầu còn gì ăn. Họ bảo chỉ còn cá. Thế là các anh lại chạy lên mấy cái hộp đất trồng rau vặt cho một ít đem cho. Những thứ đơn giản như gạo, nước, rau... ở đất liền thì dễ kiếm, chứ giữa biển khơi thì đó đồng nghĩa với sự sống vô giá, nên được chắn chiu và sử dụng rất tiết kiệm. Có lẽ chính vì quý như vậy nên nó mới thường xuyên được các anh đem sẻ chia với đồng bào mình trong cơn bĩ cực.
           Anh Âu tự hào nói: "Chúng tôi phải khẳng định rằng nhà giàn đã thắng lợi, vì càng ngày tôi thấy tầu cá của ngư dân mình ra đây đánh bắt càng nhiều. Chừng nào còn chúng tôi ở đây thì bà con cứ yên tâm mà ra đánh cá". Một lời hứa chắc nịch của những người chấn giữ nơi đầu sóng ngọn gió đó đã khiến chúng tôi chợt cảm thấy mình sao mà nhỏ bé với những toan tính thường nhật.
Anh Trang Hải Âu (bên phải) - chỉ huy nhà giàn. Ảnh: Trần Hùng
[/i]

           Câu chuyện đến đó thì cũng là lúc đoàn nghệ thuật Quân khu 4 lên đến nhà giàn. Trong khi chị Bích Ngọc, với những bài dân ca ngọt ngào, đang đem cả quê hương nơi đất liền đến với nhà giàn, tôi tranh thủ đi loanh quanh thăm những vườn rau và hệ thống điện mặt trời, điện gió của các anh. Từ trên cao nhìn xuống mặt biển xanh trong, và đặc biệt là rất nhiều cá. Dòng nước xoáy vào chân nhà giàn đã vô tình làm giầu ô xy cho vùng nước đó, nên cá tập trung lại bơi ngược dòng chảy. Nhìn từ trên cao chúng như một đám mạ mới cấy vậy. Mấy anh em trong đoàn tranh thủ quăng dây câu xuống giật. Mấy chiến sĩ của nhà giàn đứng nhìn, mắt nheo nheo, còn miệng cứ tủm tỉm. Cứ chắc mẩm các anh lạ mắt với màn câu cá...
           Đến khi tôi hỏi các anh không bắt cá dưới kia à, thì mới hay mấy con cá nhỏ đó thi thoảng các anh chỉ bắt lên băm nhỏ làm phân bón rau thôi. Còn khái niệm cá để ăn thì các anh phải câu toàn cá thu trên chục cân. Mới hôm qua các anh câu được một con to lắm, ăn chưa hết. Anh em trong đoàn chỉ còn biết lắc đầu lè lưỡi.
           Thông thường các đoàn đến nhà giàn chỉ được cử đại diện vào, nhưng tầu chúng tôi là tầu đầu tiên đưa được toàn bộ hơn 100 người vào nhà giàn. Cũng chính sự đông vui này mà chúng tôi cứ hết tốp nọ đến tốp kia quyến luyến mãi. Hoàng hôn ập xuống lúc nào không hay. Hoàng hôn trên biển, ngoài đẹp và lãng mạn ra, thường kèm theo sóng to gió lớn. Những chiếc xuồng dưới chân nhà giàn vùng vằng như con ngựa bất kham, khiến việc về tầu khó khăn hơn rất nhiều.
           Tôi về chuyến xuồng thứ 3, khi trời đã xâm xẩm tối. Đợi cho cả đoàn xuống hết được xuồng thì chiếc xuồng đã mấy chục lần va đập vào chân nhà giàn, có phen tưởng bị lật. Nói dại chứ lật xuồng giữa dòng chảy xiết khi nhá nhem tối này thì có giời mà vớt.
           Những cơn sóng lúc này có khi cao cả mét. Chị em ai mà thần kinh yếu thì được khuyến cáo là leo thang không được nhìn xuống kẻo khiếp quá mà rơi xuống biển. Để giải quyết vấn đề run sợ dễ gây nguy hiểm khi lên xuống không dứt khoát của chị em, mấy anh lính bèn bế xốc luôn từng người một từ trên thang xuống xuồng. Chiếc ca nô ì ạch kéo chiếc xuống lách qua những cơn sóng cao để đưa chúng tôi về tầu.
Chuyến xuồng cuối cùng thực sự nguy hiểm. Chúng tôi đứng trên tầu HQ936 cứ dõi mắt về hướng chiếc xuồng. Trời tối rất nhanh và sóng biển dữ dội hơn rất nhiều.
           Cá nhân tôi lại càng lo hơn, vì chuyến xuồng này có anh Nam già. Chả là trước khi đi, vợ anh ấy đã dặn dò tôi phải trông chừng anh ấy. Chị biết chồng chị tính nghịch ngợm và thích cảm giác mạnh.
Lễ tưởng niệm các anh chiến sĩ đã hy sinh trong quá trình công tác tại nhà giàn. Ảnh: Trần Hùng
[/i]
            Chiếc tầu quân sự trông coi nhà giàn này, dường như cũng nhận ra sự nguy hiểm của đêm đen đang đến, đã chạy lại và bật đèn pha soi cho chiếc xuồng này chạy về HQ 936.Xuồng cuối cùng cũng cập mạn tầu. Anh chị em nhao nhao cả lên. Đến lúc mọi người đã an vị trên tầu, thủy thủ đoàn mới thở phào bộc bạch: "Đây là lần đầu tiên bọn anh liều đến vậy. Chứ thông thường chuyến xuồng như vừa rồi là bị cấm không được đi, vì nó quá bất trắc." Thế mới biết đoàn chúng tôi đã may mắn thế nào.
             Lễ tưởng niệm các anh chiến sĩ đã hy sinh trong quá trình công tác tại nhà giàn diễn ra sau đó ít phút trên boong tầng 2. Khói hương nghi ngút và những lời tưởng niệm sự hy sinh của các anh được Đại tá Nguyễn Đăng Nghiêm kể lại, đôi lúc giọng anh nghẹn lại.
            Có anh khi cơn bão ập đến không xuống tầu ở lại bảo vệ nhà giàn, nhà giàn bị sóng gió quật đổ, anh chỉ kịp gửi lời vĩnh biệt qua bộ đàm về đất liền. Có anh thì nhường cho chiến sĩ trẻ áo phao và thức ăn, còn mình thì mãi hòa vào sóng nước...
            Chúng tôi đứng giữa biển trời nơi các anh ngã xuống, cảm thấy những cơn gió biển thổi nhè nhẹ như mang các anh về đâu đây. Chiếc HQ936 rúc lên 3 hồi còi vang vọng cả một vùng, thay chúng tôi gọi các anh. Chúng tôi xếp hàng thắp hương lên chiếc vòng hoa, và mỗi người cầm một bông hoa để thả xuống biển. Thật kỳ lạ, chỉ ít phút trước biển dữ dội là vậy, thế mà giờ chợt lặng sóng và thật êm đềm. Chiếc vòng hoa tưởng niệm thả xuống trôi nhẹ dần vào khoảng biển tối đen phía xa tầu. Chúng tôi thả cả gạo, cả muối, rồi cả bia, nước ngọt và thuốc lá xuống biển cho các anh. Những tờ tiền, vàng mã cũng được thả xuống...
Chúng tôi chẳng ai nói với ai. Tất cả cứ đứng bên mạn tầu nhìn về khoảng biển tối đen phía trước. Biển thật khó hiểu! Lúc thì dữ dội điên cuồng, lúc thì lại bình yên đến lạ.
Cầu cho hương hồn các anh yên nghỉ giữa biển trời đất nước, quê hương!
Đinh Tiến Dũng
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/37029/nha-gian-va-nhung-giot-nuoc-mat-giua-bien-khoi.html
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Tám, 2011, 10:08:41 am gửi bởi Su30MK2V » Logged
Su30MK2V
Thành viên
*
Bài viết: 158

Tôn trọng và khiêm tốn


« Trả lời #202 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 09:44:48 am »

Cuộc thi hoa hậu trên biển

         Mênh mông bốn bề là biển, gió, mây và những bầu trời đêm đầy sao, chỉ có 8 ngày mà chúng tôi ai cũng có lúc lòng xôn xao nhớ đất liền, nhớ gia đình. Có như vậy mới hiểu được sự thử thách lớn lao về tinh thần mà những người lính đảo đang đối mặt. Đối với họ, cuộc sống trên những hòn đảo nhỏ và nhà giàn kéo dài từ 6 - 8 tháng, có khi lâu hơn nữa mới được vào đất liền.

         Phần lớn thời gian của chuyến đi là trên tầu. Thử tượng tượng hơn 100 con người đi ra đi vào trong 15 cái phòng nhỏ và 2 tầng boong tầu lênh đênh trên sóng nước. Quả thật là chúng tôi chả khác nào các cụ già trong các Câu lạc bộ hưu trí trên đất liền. Công việc chủ yếu là đánh cờ, chơi bài, uống trà tán chuyện, nằm võng đọc sách, ca hát và cãi nhau.
         Tám ngày lênh đênh trên "khu dân cư" nho nhỏ đó, tôi và mấy anh em khác luôn tìm cách có cho mình được chén trà nóng cho đỡ "vật", mỗi khi mò ra boong hóng mát, hoặc buôn chuyện. (Chả là có mấy cân chè rất ngon ôm đi từ nhà, vừa để tặng vừa để uống).
         Đội nghiện cà phê thì còn "vật" ghê hơn nữa. Lão Sơn già cùng phòng cứ mỗi sáng lại chẹp chẹp miệng than thở bà chị Vân Hải quên mua cà phê cho đoàn. Có một nhóm mang theo cà phê thì sáng nào cũng hí hoáy ngồi pha pha, ngoáy ngoáy, thơm xực cả một góc. Do số lượng có hạn nên nhóm này uống tương đối bí mật, giấu giấu, diếm diếm như chích ma túy gần đồn công an vậy. Tuy nhiên, được vài hôm thì cả tầu biết, nên hội cà phê cũng đông hẳn lên, mỗi người xếp hàng làm một hớp, thèm quá thì móc cục đá trong cốc ra ngậm một lúc cho có vị.
         Do một số anh trẻ không quen với việc ngủ tập thể nên ban đêm chủ động ngồi "đan quạt" đến sáng nhường giường cho đồng bọn ngủ no mắt. Đến khi mọi người dậy ăn sáng thì các anh lại về ngủ đến trưa.
Do vậy, tại boong của khu dân cư này buổi sáng chủ yếu là các bác già rồi ngồi buôn chuyện trên giời dưới biển, được một lúc lại cãi nhau. Rồi mỗi ông lại bỏ sang một nhóm khác ngồi buôn tiếp, được một lúc lại quay lại buôn với nhau. Tiếng nói chuyện râm ran, nguồn thông tin thì vô cùng hỗn loạn. Đến giờ trưa thì đội ăn đêm đã dậy, và mật độ dân cư cũng như khối lượng thông tin tăng đột biến như một cái chợ con. Một số anh chị, có vẻ không thích thế sự ồn ào, đã chọn cho mình những thú chơi tao nhã riêng, nên nhìn họ có vẻ như đang hưởng thụ một chuyến du lịch hơn là một chuyến công tác thăm đảo. Cách chủ yếu là đọc sách.
Đội cổ điển thì vẫn chơi sách giấy bình thường, đội hiện đại thì khuân hẳn Kindle đi đọc. Tuy nhiên với tình trạng lắc lư thường xuyên của khu dân cư HQ936 này, việc đọc sách có vẻ hơi buồn nôn, nên đội cổ điển thì chủ yếu cắp sách đi quanh tầu như trong phim về các cô giáo Nhật, còn đội hiện đại thì cắm tai nghe vào Kindle ngồi nghe nhạc.
Cờ ngoài bài trong. Ảnh: Trần Hùng
[/i]
          Anh em nhà anh Trung Hà và Trung Thành thì chọn một thú chơi trí tuệ hơn hẳn. Đó là sodoku. Mỗi anh đã in từ nhà đi một tập sodoku khổ A4, mỗi tờ được 4 ô sodoku nên các anh cứ gấp làm 4 đút túi áo, có chút thời gian nhàn rỗi là lại rút ra lấy bút chấm chấm, gạch xóa bét nhè. Mỗi khi tìm được một số đúng thì ngồi cười khùng khục ra chiều viên mãn lắm. Tuy nhiên, cái môn này xem ra có hơi hướng "tự kỷ", ai chơi thì biết thân người đấy, nên cũng không hấp dẫn lắm giữa cái khu dân cư đông vui này.
          Cả tầu có mỗi cái bàn cờ vua. Hôm đầu mật độ quây quanh cái bàn cờ này luôn đông đặc. Hai "kỳ thủ" ngồi hai bên, mặt đỏ tía tai, chả biết là căng thẳng hay là do thiếu không khí. Xung quanh là các "quân sư" đông nghịt, có người thì ủng hộ 1 bên, có người ủng hộ cả hai bên.
          Đúng là "cờ ngoài bài trong", mấy bác "quân sư" thấy ai cũng có vẻ thông tuệ sáng suốt, mách nước này nước kia loạn xạ, có khi bất đồng lại quay sang cãi nhau, hoặc thách thức thi đấu. Một số đứng quanh thì cứ tủm tỉm cười đầy bí ẩn, chẳng biết là đang ra vẻ biết, nhưng không thèm nói, hay là không biết gì đứng hóng chuyện. Tuy nhiên môn cờ chỉ "hot" mấy hôm đầu thôi, mấy hôm sau còn mỗi anh Hoàng Minh Châu thích chơi.
           Một hoạt động sôi nổi bậc nhất của "khu dân cư" này là kể chuyện cười, thậm chí là chuyện rất bậy. Hôm nào đông khán giả thì có thể chia làm nhiều "sới". Khán giả tùy theo nhu cầu sẽ chọn "sới" phù hợp.
Ai thích nghe truyện cười mà lại "thâm nho", kể xong 5 phút sau mới cười thì có thể chọn anh Châu HM. Ai thích nghe truyện cười theo phong cách kiếm hiệp thì có thể chọn anh Hưng "đỉnh", phong cách kể chuyện này phải đi kèm luôn cả việc đập bàn đập ghế, chỉ mặt mắng mỏ, quát nạt rất to tiếng. Tuy nhiên, khán giả thì cứ ôm bụng lăn ra cười từng chặp.
          "Lão Đại uý" chủ yếu trình bày truyện cười về các tướng lĩnh tận nước Nga xa xôi - hành trang thời sinh viên của anh. Đôi khi anh lại còn hứng thú với cả chuyện của thế giới "gay", nên đội ngũ nhiếp ảnh gia và nghệ sỹ trên tầu khoái chí lắm.
          Anh Nam già thì toàn chuyện bậy. Kể trên đất liền thì có khi dân phòng bắt đi lao động công ích rồi cũng nên, nhưng trên tầu, giữa biển khơi thì có vẻ như những câu truyện này lại khá hấp dẫn. Khán giả chủ yếu của anh Nam già là chị em các lứa tuổi, nghe chuyện xong cứ cấu nhau cười rinh rích, hoặc quay sang ông nào ngồi bên cạnh mà đấm thùm thụp cho "đã" cơn cười.
           Bên cạnh hoạt động kể chuyện cười, việc đàn hát đương nhiên là cũng "hot" không kém. Do trên tầu có các thành viên của Band Dao Phay luôn cống hiến nhiệt tình với phương châm "Hát hết mình vì người hát", khán giả nhiều khi tức điên đành nhảy vào hát tranh. Thế là thành dàn đồng ca.
Nhạc cụ thì có đàn guitar, trống Djember, vài nhạc cụ nhỏ thuộc bộ gõ mang theo phục vụ bọn ngứa tay. Đặc biệt lại có thêm một vài chiếc khăn sạch để nhét vào mồm "ca sĩ" nào hát "phô" quá.

          Những đêm nhạc như vậy có khi đến gần sáng mới kết thúc. Giữa bầu trời sao lung linh, ngồi trên con tầu lắc lư lâu dần thành quen, nhiều lúc nhìn lên, chúng tôi nghĩ là trời sao đang chạy đi chạy lại, còn chúng tôi thì đang ngồi yên. Được cái nhạc công thì sẵn, nên cứ ai đánh đàn tím ngón tay thì chuyển sang vỗ trống, vỗ trống đỏ bàn tay thì lại đánh đàn... Khán giả ai hát thì hát, không thì ngồi uống rượu ngắm sao trời.

            Thức đêm cùng với đám đờn ca sáo nhị là đám chơi bài, môn chủ yếu là binh sập sám. Do nhu cầu môn này trong đoàn khá cao, nên ngay từ khi phân công nhân sự cho đoàn công tác, "Lão Đại uý" đã tự phong làm Phó đoàn. Lý do rất đơn giản là Phó đoàn thì sẽ có phòng riêng với đầy đủ tiện nghi, thuận lợi cho việc tụ tập đánh bài.

             Nhiều đêm chúng tôi thèm trà mà chả biết lấy đâu ra nước nóng, lại lúi húi gõ cửa vào phòng các anh. Cửa vừa mở là thấy khói thuốc mù mịt, các gương mặt căng thẳng đầy cơ mưu, toan tính. "Lão Đại uý", quả thật đã già, phải đeo kính trễ tận mũi ngồi đếm chi, chả thèm quan tâm chúng tôi muốn gì. Chúng tôi cứ thả sức muốn vơ gì cũng được. Có thể lấy phích nước, ấm đun, hoặc mở tủ lạnh lấy bia, hay sữa chua ra ăn thoải mái.
             Ngoài các đêm giao lưu, vào một buổi chiều gió mát, mấy anh em nảy ra ý định tổ chức cuộc thi hoa hậu dành cho gần 30 chị em trên tầu. Phần là để tôn vinh tài năng và sắc đẹp của chị em, phần là để anh em cũng có dịp thưởng lãm cho đỡ nhớ đất liền. Khoảng chiều tối mời bàn bạc xong và bắt đầu triển khai thực hiện.
Ban tổ chức giới thiệu thể lệ cuộc thi
[/i]
            Tôi được giao làm MC kiêm luôn tổ chức sản xuất, anh Thanh "khàn" (nhà quay phim và đạo diễn Phạm Việt Thanh) làm đạo diễn, còn anh Trung Hà là nhà tài trợ chính. Bên QK4 lo âm thanh, ánh sáng và loa đài, văn nghệ, còn bên tầu HQ936 lo "vương miện". Âm nhạc sẽ có phần tham gia của ban nhạc Dao Phay.
            Ngay lập tức tôi triệu tập anh em lại, đầu tiên là lên ý tưởng sân khấu. Cũng may trong đoàn có Hưng "húng lìu" và Phương "trọc" đến từ công ty chuyên tổ chức sự kiện ACSO, nên phương án đưa ra nhanh và thực hiện cũng nhanh. Các đạo cụ sẵn có như phao cứu sinh, võng dù được đem ra trang trí sân khấu và sàn catwalk. Anh Thanh "khàn" quan tâm nhất đến khâu ánh sáng, làm sao để có những thước phim hay nhất. Ban giám khảo cũng nhanh chóng được thành lập gồm có anh Thanh "khàn", NSUT Quỳnh Như trưởng đoàn nghệ thuật QK4, chị Đinh Thị Hoa (Giám đốc công ty săn người mẫu), "Lão Đại uý" thì đại diện cho bên lãnh đạo đoàn, và cuối cùng là nhà văn, nhà thơ, nhà nhiếp ảnh, nhà phê bình, nhà soạn nhạc... Đào Tiến đến từ Petrolimex. (Do anh sở hữu quá nhiều "nhà", nên chúng tôi quyết định gọi anh Tiến là Khu tập thể Đào Tiến cho tiện).
           Sau bữa cơm tối nhanh gọn, 15 cô gái đã đăng ký. Đa phần các thí sinh ngoài lóa mắt vì giải thưởng khá hấp dẫn. Hơn nữa, đây cũng là một dịp hiếm có để chị em có thể tự tin tham gia một cuộc thi sắc đẹp, vì sự cạnh tranh và lựa chọn không có nhiều. Cuộc thi đã chậm lại ít phút do chị em bận trang điểm. Điều này chỉ khiến khán giả thêm phấn khích, chứ không phàn nàn gì.
          Để cho chắc, chúng tôi quy định vị trí ngồi nghiêm chỉnh cho khán giả, đọc nội quy dành cho khán giả trước khi cuộc thi diễn ra và trong khi diễn ra cuộc thi, ban tổ chức có quyền "cưỡng chế", hoặc thậm chí "trục xuất" xuống Thuỷ Cung, đối với khán giả nào có hành động quá khích. Chính vì tính chất bạo lực của chương trình nên MC không cần MC script mà chỉ cần 1 cái dùi cui, lúc nào cũng lăm lăm trên tay để "thi hành công vụ".
Phần thi tài năng
[/i]
Cuộc thi bắt đầu!
            Các thí sinh lần lượt bước ra từ cánh cửa bên mạn phải của tầu, đi thẳng trên sàn catwalk (chính là cái hành lang trên boong tầng 1), trong sự phấn khích hò reo của khán giả. Sau đó, thí sinh quay về sân khấu để tự giới thiệu, và phát biểu cảm nghĩ.
            Thí sinh thứ 15 là một ông con trai giả gái. Cả tầu được phen kinh hoàng tí thì nôn. Thí sinh này giới thiệu tên là "Tung xà rông xem chym" khiến tôi mãi mới đọc đúng được. Sợ bị đuổi xuống nên thí sinh này xin thi tài năng luôn với màn múa cột nóng bỏng. Có khá nhiều thí sinh xinh đẹp, nên thi thoảng tôi phải xách dùi cui xuống hộ tống, thực hiện việc "cưỡng chế" đối với những khán giả quá khích để các thí sinh biểu diễn được êm xuôi. Năm thí sinh lọt vào vòng sau đã có màn thi ứng xử như cãi nhau với ban giám khảo làm tôi phải bất đắc dĩ vào thêm vai "tổ trưởng dân phố" để hoà giải. Kết quả là Thí sinh Phương Anh của QK4, sinh năm 1993, đã đoạt giải Hoa hậu tầu HQ936. Phần thưởng là một con ốc to tướng như cái chậu để Tân Hoa hậu dùng làm Vương miện.
           Dư âm của cuộc thì còn râm ran đến tận bữa ăn đêm, và cả những ngày sau đó. Anh em thủy thủ thì bảo chưa bao giờ có đoàn nào đi mà vui đến vậy. Lãnh đạo đoàn thì cứ thắc mắc mãi là sức mạnh và tài năng nào đã khiến cho Ban tổ chức chỉ trong vòng có chưa đầy 1 giờ đã có thể làm nên một đêm diễn mà có khi trong đất liền cũng không thể làm được.
Chiếc vương miện độc đáo
[/i]
            Chỉ có một trục trặc nhỏ là các hoa hậu, á hậu và ớ hậu (Second Runner-up) đến tận mấy hôm sau vẫn thập thò đòi tiền thưởng của Ban tổ chức. Họ chả thèm quan tâm đến sứ mệnh đi làm từ thiện, hay chụp ảnh nude, như trên bờ. Chúng tôi đã như những thành viên của một khu dân cư nhỏ lắc lư trong vòng 8 ngày trời trên biển. Nhiều độ tuổi, nhiều chức vụ, nhiều ngành nghề khác nhau, nhưng thật vui vì chúng tôi rất đoàn kết và có ý thức chung tay xây dựng một khu dân cư văn minh.
            Mênh mông bốn bề là biển, gió, mây và những bầu trời đêm đầy sao, chỉ có 8 ngày mà chúng tôi ai cũng có lúc lòng xôn xao nhớ đất liền, nhớ gia đình. Có như vậy mới hiểu được sự thử thách lớn lao về tinh thần mà những người lính đảo đang đối mặt. Đối với họ, cuộc sống trên những hòn đảo nhỏ và nhà giàn kéo dài từ 6 - 8 tháng, có khi lâu hơn nữa mới được vào đất liền.
Hiểu để mà khâm phục lính đảo hơn, và, quan trọng hơn, hành động thiết thực hơn cho họ!
Đinh Tiến Dũng
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/37039/cuoc-thi-hoa-hau-tren-bien.html
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Tám, 2011, 09:51:47 am gửi bởi Su30MK2V » Logged
Su30MK2V
Thành viên
*
Bài viết: 158

Tôn trọng và khiêm tốn


« Trả lời #203 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 09:52:49 am »

Ánh mắt trên đảo Cô Lin

              Tôi cố đứng quan sát thêm một lúc nữa ánh mắt của mọi người để củng cố thêm nhận định của mình. Có lẽ, đây không phải câu chuyện "lây lan", mà dường như ý chí chung của một dân tộc đang ẩn sâu trong những ánh mắt đó. Đứng ở Cô Lin nhìn sang Gạc Ma, có lẽ người Việt Nam nào cũng có ánh mắt như vậy.
Ánh mắt trên đảo Cô Lin
             Ngày 14 tháng 3 năm 1988, trong trận chiến quyết liệt để bảo vệ chủ quyền biển đảo với kẻ thù, 64 chiến sỹ của chúng ta đã hy sinh. 3 người được tìm thấy thi thể và được an táng, còn 61 người thì đã mãi mãi hòa vào sóng nước.
            Trong cuộc chiến cam go đó, thuyền trưởng tầu HQ 505 Vũ Huy Lễ đã quyết định cho tầu lao lên bãi Cô Lin để biến con tầu trở thành một cột mốc chủ quyền của Việt Nam tại đảo chìm này. Để đến hôm nay, đoàn chúng tôi mới có thể đến được nơi đây trong hành trình ra thăm Trường Sa của mình.
           Tầu HQ936 của chúng tôi neo lại cách đảo Cô Lin khoảng 3km. Tại đây, chúng tôi làm lễ tưởng niệm 64 chiến sỹ đã ngã xuống năm 1988, trước khi thả xuồng vào thăm các chiến sỹ đảo Cô Lin.
            Bầu không khí xúc động nghẹn ngào bao trùm cả đoàn, khi chúng tôi lắng nghe những dòng hồi tưởng về trận đánh ác liệt năm xưa và sự hy sinh anh dũng của các anh. Những nén nhang thơm được thắp lên trên vòng hoa thả xuống biển. Rồi những bông cúc vàng, những bao thuốc lá, bia, nước ngọt, gạo, muối... cũng được thả xuống làn nước xanh trong của biển khơi - nơi một thời đã thấm đỏ máu của các anh.
            Tầu HQ936 lại kéo ba hồi còi dài vang vọng cả mặt biển...
            Thao tác xuống xuồng lên đảo đã khá quen thuộc với chúng tôi, nên, không lâu sau, cả đoàn đã có mặt tại Đảo Cô Lin. Đón chào chúng tôi là sự hồ hởi của các anh lính đảo.Nước biển vẫn xanh trong quyến rũ vô cùng, nhưng ở Cô Lin thì quên chuyện tắm biển đi. Bởi đây chính là tiền tiêu của tiền tiêu, trực tiếp đối mặt với kẻ thù rình rập từng giờ từng phút. Quân lệnh được tuân thủ rất nghiêm ngặt.
            Anh em trong đoàn chúng tôi hỏi các anh: "Bọn nó đâu ạ?"
Theo hướng chỉ của các anh, xa khoảng hơn 3 hải lý gì đó, chúng tôi có thể quan sát được đảo Gạc Ma bằng mắt thường. Nó được xây tựa như một con tầu chiến bằng bê tông.
           Qua ống nhòm, tôi đã thấy được đám lính đang đứng lố nhố trên đảo. Hẳn chúng đang ghen tị với đảo Cô Lin lắm đây, khi mà bên này có bao nhiêu "người nhà" đến thăm, còn bên đó loanh quanh có mỗi một chiếc tầu túc trực đang bơi le ve. Tôi nhủ thầm: "Đã thế thì các ông mày sẽ vui chơi tưng bừng cho bọn mày thèm bằng chết thì thôi."
           Tôi và anh Hồng Kỳ QK4 lại mỗi anh em một cây đàn để đảm nhận phần nhạc. Phần ca hát thì cứ sau một người bên chúng tôi hát sẽ lại có một người bên lính đảo Cô Lin hát "đáp lễ". Cao hứng thì hai bên cùng song ca một bài cho vui.
           Ấn tượng nhất là Phó đảo Cô Lin. Anh luôn là người "quản ca" trong cả chương trình, và đích thân anh solo bài "Ba người lính", với những ca từ dung dị, đáng yêu vô cùng. Cả đoàn vừa bất ngờ, vừa thích thú. Đến mức anh Nghiêm, trưởng đoàn, khi tiến đến bắt tay chúc mừng, đã không ngần ngại tháo luôn chiếc thắt lưng ra đổi cho đồng chí Phó đảo.
           Do tính chất bí mật quân sự, chúng tôi không được biết trên đảo có những ai. Chỉ thấy chốc chốc lại có một loạt các anh lính khác lên giao lưu cùng chúng tôi.
           Rời khỏi cuộc vui đang rôm rả, tôi lặng lẽ đi dọc những hành lang trên đảo nhìn ra phía các công sự. Loay hoay một hồi, tôi men theo một chiếc cầu thang trèo lên tận tầng cao nhất. Ở đây, có một anh lính ôm súng đứng gác, đầu đội chiếc mũ sắt dễ chừng nặng đến cả ký lô. Thấy tôi, anh quay ra nhoẻn miệng cười: "Chào Giáo sư."
Hát cùng chiến sỹ trên đảo chìm
           Nước da nâu bóng vì nắng gió khiến nụ cười của anh thêm tươi, và nổi bật hẳn lên. Đang bận làm nhiệm vụ, anh chẳng nói gì thêm, mắt lại hướng ra phía biển khơi.
           Tôi dừng lại khá lâu để quan sát ánh mắt đó, ánh mắt mở to với một cái nhìn gần như bộc lộ đầy đủ cả một ý chí sắt đá kiên cường. Chẳng biết diễn tả thế nào cho chính xác nhất, tôi đành gọi đó là "Ánh mắt trên đảo Cô Lin".
           Tôi đứng phía sau người lính gác, nhưng chung một hướng nhìn. Chẳng biết "Ánh mắt trên đảo Cô Lin" đó có lây lan không, mà tôi dường như cảm nhận được rõ ánh mắt của mình cũng đang như vậy.
Bật cười cho phát hiện vui vui đó, tôi leo xuống mấy tầng dưới, và lại đi vòng vèo qua các hành lang. Thật lạ, ở bên phía hành lang cùng góc nhìn với tôi lúc nẫy, tôi lại thấy "Ánh mắt trên đảo Cô Lin" đó dường như xuất hiện trên mọi gương mặt, cho dù chỉ thoáng qua.
           Tôi cố đứng quan sát thêm một lúc nữa ánh mắt của mọi người để củng cố thêm nhận định của mình. Có lẽ, đây không phải câu chuyện "lây lan", mà dường như ý chí chung của một dân tộc đang ẩn sâu trong những ánh mắt đó. Đứng ở Cô Lin nhìn sang Gạc Ma, có lẽ người Việt Nam nào cũng có ánh mắt như vậy.
           Xuồng chúng tôi rời đảo. Anh lính trên vọng gác cao nhất lúc nẫy đưa tay vẫy vẫy. Vẫn nụ cười tươi rói, và nổi bật trên nước da nâu bóng vì nắng gió. Cảm ơn anh đã cho tôi một phát hiện thú vị - phát hiện về "Ánh mắt trên đảo Cô Lin".
           Bất giác, tôi lẩm nhẩm lại mấy câu trong bài hát tôi đã viết ở Trường Sa Lớn: "Đất nước đã yên bình bao năm, nhưng nơi đây, cuộc chiến vẫn chưa ngừng...". Có lẽ, vậy nên nơi đây sẽ luôn ngời sáng những "Ánh mắt trên đảo Cô Lin".
Biển ngọc
            Tôi nhớ khi xưa học cấp 1, cụm từ "rừng vàng, biển bạc" được nhắc đi nhắc lại rất nhiều trong những bài văn. Không hiểu sao, khi nhắc tới cụm từ này, tôi lại nhớ ngay ra hình ảnh những cánh rừng, những dải bờ biển lấp lánh trong nắng mà tôi đã được nhìn ngắm trong hành trình 3 ngày 3 đêm từ Bắc vào Nam trên con tầu Thống nhất, hồi tôi mới 4 tuổi. Công nhận là quá đẹp, và quá đúng là "rừng vàng, biển bạc". Suốt tuổi thơ của mình, lòng tôi cứ lâng lâng với niềm tự hào đó.
            Gần đây, nhiều người khuyên là không nên nhắc tới cụm từ "rừng vàng, biển bạc". Họ cho rằng đất nước "rừng vàng, biển bạc" quái gì mà bao năm cứ vật vã với cái nghèo, cái đói. Nói "rừng vàng, biển bạc" mà không thấy xấu hổ với những nước nghèo tài nguyên, nhưng đã thành cường quốc bao năm kia sao, họ lập luận. Ừ thì thôi, không khoe nữa vậy!
Trên đảo Coolin. Ảnh: Trần Hùng
             Tôi nhớ mãi hôm ở Cam Ranh, một bác lãnh đạo đã phát biểu: "Báo cáo các đồng chí, rừng vàng chúng ta đã chặt gần xong rồi, nên đã đến lúc cần phải quay mặt ra biển bạc." Nghĩ mà lại thương rừng nước mình. Ai bảo giầu có phong phú mà làm gì, thế nên mới nhanh bị chặt hết, nhanh bị bới lên mà tìm tài nguyên. Ngược đời nhỉ? Thương rừng thì nên thương nốt biển, cố mà giữ lấy biển, tôi nghĩ. (Còn khi giữ được rồi, làm gì tiếp thì tính sau.)
             Trong 8 ngày lênh đênh trên biển, lúc đứng trên boong, lúc ngồi trên xuồng, lúc bình minh, lúc hoàng hôn, lúc nắng chói, lúc trăng soi, tôi luôn dành cho mình một chút thời gian để ngắm biển. Ngắm thật kỹ, để nhớ thật kỹ mầu nước biển Tổ quốc mình. Với tất cả vốn từ có thể, tôi nghĩ việc gọi là biển bạc cũng không có gì là quá đáng, hay phải thấy ngượng ngùng gì cả.
Thậm chí, tôi nghĩ nên gọi biển là biển ngọc mới đúng. Bởi mầu nước và sự trong trẻo của làn nước khiến tôi yêu thích, khiến tôi ngưỡng mộ đến không thể nào diễn tả nổi. Chỉ biết nó trong sáng như ngọc vậy thôi.
Hôm đoàn vào đảo chìm Đá Lát để thăm chiến sỹ, ánh nắng buổi sớm chiếu xiên mặt biển khiến biển lấp lánh ánh ngọc. Ngồi trên xuồng, tôi cố nhoài người lấy tay vục một ít nước biển cho vào miệng uống ngon lành.
Phía dưới là từng dải san hô đủ mầu sắc và sống động như một thảo nguyên chìm trong làn nước. Tôi có thể nhìn được cả những chú cá mầu cam đang bơi cách mặt nước khoảng gần 3 mét. Thích quá, lại vục tay làm ngụm nước biển nữa. Lần này thì mới hiểu tại sao nước ngọt quan trọng cho sự sống đến vậy. Nước biển đẹp thật, nhưng mặn chát.
             Sau phần thăm hỏi chiến sỹ, tôi đứng mon men bên bờ kè bê tông của đảo nhìn xuống làn nước: Trong và đẹp quá! Dải san hô khiến mầu biển chuyển từ xanh nhạt đến xanh đậm, chỗ nào cũng trong veo.
Quy định của đoàn là cấm tắm biển. Quân lệnh như sơn, tôi biết vậy. Tôi chợt nghĩ chỉ còn cách ngã xuống biển thì mới có thể bơi được trong cái làn nước quyến rũ kia thôi. Để nguyên quần áo, tôi lọ mọ ra mép nước và... trượt chân, lăn ùm xuống biển.
             Từ bé đến giờ tôi đã tắm biển bao lần chẳng nhớ, nhưng tôi biết sẽ nhớ mãi cả đời cái lần tắm này. Bởi đây là lần đầu tiên tôi được bơi cách đất liền cả mấy trăm cây số. Vục mắt xuống làn nước và he hé mắt ra nhìn, tôi thấy đúng là biển ngọc. Tôi còn nhìn thấy rõ cả cái móng chân quên chưa cắt của mình.
Ngẩng mặt lên thì thấy anh em cũng đã thi nhau "ngã" xuống biển, và bơi bì bõm xung quanh. "Lão Đại uý" đứng trên bờ lại nheo nheo mắt: "Chúng mày định chơi trò 'thủ trưởng rút lui là cuộc vui bắt đầu' hả?"
            Cả hội thi nhau đi mò vỏ ốc. Những chiếc vỏ ốc xưa phải mua cả đống tiền để về bày tủ ly thì nay chẳng hiểu sao đầy kín quanh đảo. Toàn những chiếc vỏ to và đẹp, tiếc là một số không còn nguyên vẹn. Lạ hơn là một số còn có cả mầu sơn... Thấy nghi nghi, tôi ngóc đầu lên thắc mắc. Một chú lính trẻ, đang cởi trần đứng nhìn đám dân văn phòng chổng mông mò ốc nẫy giờ, vội giải thích: "Dạ, đây là vỏ ốc bọn em luộc ăn xong vứt ra đấy ạ." Có vậy chứ. Ngẫm thấy lính đảo khổ nhưng cũng có cái sướng. Cả con ốc to như cái mũ bảo hiểm thế này thì chắc ăn một con là no, thịt chắc ngon ngọt khỏi bàn... Chẹp chẹp chẹp...
Những chiếc áo cờ đỏ sao vàng nổi bật hẳn lên trong làn nước xanh như ngọc. Ảnh: Trần Hùng
           Lính đảo ăn ốc, chúng tôi đi mò vỏ, tôi chợt bật cười một mình. "Vỡ mộng" được làm nhà thám hiểm săn tìm những con ốc quý, tôi đành hì hụp bơi ra phía ngoài xa xa thử xem sao. Nhưng bơi được một đoạn thì chợt thấy khoảng chục con sứa đang dật dờ như những chiếc túi nilon. Quay người 180 độ, tôi bơi vội vào bờ.
           Bác Nam già, cũng vừa... ngã xuống biển và đang lóp ngóp bơi theo hướng ngược lại với tôi, lẩm bẩm: "Bỏ mẹ, lại để quên cái điện thoại trong túi rồi." Một lúc sau, thấy bác vội vàng bơi vào. Chắc là cũng nhìn thấy sứa rồi.
          "Lão Đại uý" cũng có vẻ thèm "ngã xuống biển" lắm. Nhưng chả biết là vì gương mẫu, hay vì sợ ướt "bộ củ", trên bờ cứ loe xoe chạy hết khúc này đến khúc kia, miệng thì lúc mắng mỏ, lúc cổ vũ.
           Đám bị "ngã xuống biển" lúc nẫy giờ đã tụ tập chụp ảnh, hò hét váng cả một góc đảo. Mấy ông "Dao Phay" nghĩ ngay đến việc phải chụp ảnh lại để gửi về cho một thành viên không được đi. Cho nó thèm chết thôi, chúng tôi cười khoái trá.
           Tất cả chúng tôi, chẳng ai muốn lên xuồng để về tầu HQ936 cả.
           Những chiếc áo cờ đỏ sao vàng chúng tôi đang mặc nổi bật hẳn lên trong làn nước xanh như ngọc đó. Tôi nhẹ thả mình xuống làn nước trong veo, dòng nước mát tràn vào trong miệng. Vẫn mặn chát.
Một câu hỏi vu vơ tự nhiên hiện lên trong óc tôi: "Tại sao biển mặn thế nhỉ?" Rồi tôi tự nhủ: "Biển mặn, chắc bởi tình yêu của biết bao người, như tôi, dành cho biển ngọc."

Đinh Tiến Dũng
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/37412/anh-mat-tren-dao-co-lin.html
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Tám, 2011, 10:00:38 am gửi bởi Su30MK2V » Logged
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #204 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 02:17:55 pm »

Việt - Trung nhất trí tuyệt đối không dùng vũ lực

Trong Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh cấp Thứ trưởng lần thứ hai, Việt Nam và Trung Quốc nhất trí nhiều biện pháp thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương và đạt được nhận thức chung trong nhiều vấn đề, góp phần tăng quan hệ hữu nghị hai nước.
Dưới sự đồng chủ trì của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh cấp Thứ trưởng lần thứ hai  đã diễn ra tốt đẹp hôm 29.8 tại Bắc Kinh (Trung Quốc)


. Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng
Phát biểu tại Đối thoại, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên nhất trí đánh giá dưới sự chỉ đạo của phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, quan hệ giữa hai Đảng, hai nhà nước tiếp tục phát triển phù hợp với khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Quan hệ kinh tế và thương mại phát triển nhanh. Giao lưu văn hóa, giao lưu nhân dân liên tục được mở rộng. Hàng nghìn sinh viên Việt Nam đang học tập tại Trung Quốc.

Với đà phát triển chung của quan hệ hai nước, hợp tác quốc phòng Việt - Trung cũng có những bước tiến mạnh mẽ. Hai bên thường xuyên trao đổi đoàn các cấp nhằm tạo sự tin cậy, hiểu biết nhau, xây dựng quan hệ gắn bó giữa quân đội hai nước. Trong đó nổi bật là chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam vào đầu năm 2010, chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thượng tướng Lương Quang Liệt và dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) cuối năm 2010, và chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thượng tướng Quách Bá Hùng, Phó chủ tịch quân ủy trung ương Trung Quốc vào đầu năm 2011. Quan hệ giao lưu, hợp tác, phối hợp giữa Hải quân, Biên phòng và quân khu giáp biên hai nước được đẩy mạnh. Các cuộc tuần tra liên hợp trên biển và trên bộ đạt được kết quả tốt. Việc trao đổi học viên quân sự tăng cả số lượng và chuyên ngành…

Trên nền tảng tốt đẹp đó, tại Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh Việt - Trung lần này, hai bên thống nhất tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trong nhiều lĩnh vực như tăng cường trao đổi đoàn, sớm hoàn thành đường dây nóng giữa hai Bộ Quốc phòng, mở rộng trao đổi đào tạo học viên quân sự dài hạn và ngắn hạn. Trung Quốc nhất trí chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam trong việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc... Hai bên cũng cho rằng cần đẩy mạnh thông tin tuyên truyền để chiến sĩ và nhân dân Việt - Trung hiểu rõ mối quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác thiết thực và cùng có lợi giữa quân đội và nhân dân hai nước. Tại cuộc Đối thoại, hai bên cũng dành thời gian trao đổi và tình hình Trung Đông - Bắc Phi và  đặc biệt là việc đẩy mạnh can dự của các nước lớn vào khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: “Chúng ta cần nghiên cứu kỹ hệ lụy của sự can dự này để xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định và không bị bất ngờ”, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nói, tuy nhiên, ông cho rằng: “Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự can dự này là do các nước nội bộ khu vực phát sinh vấn đề với nhau”.

Cần xử lý vấn đề biển Đông theo luật pháp quốc tế

Với tinh thần xây dựng, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên đã thẳng thắn trao đổi những vấn đề còn khác biệt trong quan hệ hai nước. Theo Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, hiện nay điểm bất đồng và nhạy cảm nhất trong quan hệ hai nước là tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, hai nước cần xử lý thỏa đáng vấn đề này vì đại cục quan hệ Việt - Trung và ổn định khu vực: “Hòa bình hai bên đều có lợi. Đối đầu hai bên đều thiệt hại”, Thượng tướng Mã Hiểu Thiên nói.

Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đại cục với Trung Quốc và mong muốn tìm được giải pháp “cùng thắng”, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã nêu rõ vấn đề Biển Đông có ba khía cạnh khác nhau nhưng liên quan mật thiết, đó là Tuyên bố chủ quyền của các nước liên quan; Xử lý mối quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc; Xử lý trên các diễn đàn đa phương. Việt Nam và Trung Quốc có nhiều tuyên bố chủ quyền vào nhiều thời điểm, nội dung và phạm vi khác nhau. Giải quyết vấn đề phải tôn trọng lịch sử nhưng dù thế nào đi chăng nữa cũng phải tuân thủ luật pháp quốc tế. Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam cho rằng, các vấn đề trên Biển Đông cần được xử lý theo luật pháp quốc tế - đó là, những vấn đề mang tính quốc tế theo Luật Biển phải giải quyết trên bình diện quốc tế, những vấn đề liên quan đến nhiều nước cần phải giải quyết giữa những nước liên quan, những vấn đề liên quan đến hai nước cần giải quyết song phương. Những tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam - Trung Quốc, rõ ràng cần giải quyết hai nước với nhau, theo luật pháp quốc tế và công khai minh bạch: “Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc vì chính lợi ích của chúng tôi”, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nói.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng chia sẻ, để bảo vệ và xây dựng đất nước chỉ có một con đường là giữ gìn độc lập tự chủ, chủ quyền lãnh thổ và quan hệ tốt với cộng đồng thế giới, không thể có những điều đó nếu dựa vào nước này để chống nước kia: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia trên thế giới. Nhưng nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc Xã hội chủ nghĩa láng giềng, với hơn 1 tỷ 350 triệu dân, đang phát triển, có vị thế và uy tín ngày càng cao trên thế giới, một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển?”.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng nêu bật việc cần phải công khai, minh bạch trên các diễn đàn để nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế hiểu rõ bản chất vấn đề Biển Đông trong mối quan hệ hữu nghị tổng thể giữa hai nước. “Có thông tin đầy đủ và chính xác là nhu cầu của hơn 80 triệu người dân Việt Nam và hơn 1 tỷ 350 triệu người dân Trung Quốc”.

"Chúng ta cần làm cho nhân dân hai nước hiểu rõ, giữa Việt Nam và Trung Quốc còn tồn tại vấn đề nhưng hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết xử lý bằng biện pháp hòa bình, theo luật pháp quốc tế, với giải pháp hai bên cùng có thể chấp nhận được” - Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh phát biểu, và nhấn mạnh thêm: “Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam, và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Và Việt Nam cũng không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc!”. Việt Nam sẵn sàng hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc ở những khu vực thực sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế quy định, và về lâu dài sẽ tìm giải pháp xử lý mà hai bên có thể chấp nhận được, nhưng “trong lúc chưa phân định được, hai bên tuyệt đối không được sử dụng vũ lực và thậm chí cũng không được nghĩ đến việc sử dụng vũ lực”, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh.

Nhân dịp này, Thượng tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc đã tiếp Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam. Cùng dự buổi tiếp có Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ. Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã chuyển lời thăm hỏi nồng nhiệt của Đại tướng Phùng Quang Thanh tới Thượng tướng Lương Quang Liệt. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc khẳng định lại mong muốn giải quyết những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, và cho rằng kết quả tốt đẹp của cuộc Đối thoại sẽ tạo động lực để tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc phòng Việt - Trung, góp phần tích cực vào việc củng cố và phát triển quan hệ đoàn kết hữu nghị giữa hai nước.

Nguồn http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Viet--Trung-nhat-tri-tuyet-doi-khong-dung-vu-luc/20118/164578.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #205 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2011, 12:09:58 am »

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông


Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông đã có những thay đổi rõ rệt. Điều này dựa trên mối liên hệ giữa chính sách Biển Đông của Trung Quốc với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Do đó chiến lược “giấu mình chờ thời” hay “ ngoại giao hài hòa”nhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và hiếu chiến hơn nhằm gây sức ép với các nước tranh chấp trong khu vực.
 

Để hiểu được động cơ đằng sau những thay đổi trong cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, cần phải đặt chính sách Biển Đông của Trung Quốc trong mối liên hệ với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Có thể nhận định, điều chỉnh chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông nằm trong thay đổi chiến lược an ninh và đối ngoại của Bắc Kinh trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều nhân tố mới.

Thay đổi cơ bản nhất trong môi trường chiến lược quốc tế là việc sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc tăng mạnh làm cho khoảng cách kinh tế, quân sự, và quốc phòng giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng thu hẹp, cho cán cân quyền lực kinh tế và quân sự chuyển dịch theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ vượt Đức và Nhật, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới trong lúc Mỹ suy yếu tương đối sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế, gặp khó khăn cả bên trong và bên ngoài. Một phần nguồn lực kinh tế được đầu tư để hiện đại hóa quốc phòng, đặc biệt là hải quân. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, nhận định rằng ý đồ chiến lược đằng sau sự phát triển các khả năng quân sự mới của Trung Quốc dường như tập trung vào lực lượng hải quân Mỹ và căn cứ quân sự của Mỹ ở khu vực này của thế giới[1].

Thực lực kinh tế hùng mạnh, đặc biệt là kho dự trữ ngoại hối to lớn và vị thế hàng đầu trong nền thương mại quốc tế cho phép Trung Quốc có khả năng tác động mạnh đến kinh tế thế giới, không những thoát khỏi thế phụ thuộc vào Mỹ để phát triển mà còn đưa siêu cường này vào một tình thế “phụ thuộc sống còn về kinh tế” [mutually economic destruction][2]. Đó là lý do tại sao, Trung Quốc ngày càng tỏ ra tự tin, ngạo mạn, không còn “giấu mình chờ thời”, mà chủ động phô diễn sức mạnh về quân sự và sẵn sàng nói không với Mỹ trên nhiều vấn đề. Trung Quốc tận dụng mọi cơ hội để thay đổi luật chơi, gạt bỏ vai trò chủ đạo của Mỹ. Hiện nay, Trung Quốc là một đầu tàu kinh tế, là một bên chủ yếu nắm giữ chìa khóa đối với nhiều vấn đề chính trị tại khu vực và đang muốn chứng tỏ vai trò là cường quốc quân sự châu Á duy nhất tại Đông Á, thách thức vai trò siêu cường của Mỹ ở khu vực.

Lợi dụng việc Mỹ sa lầy trong cuộc chiến ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc, bối rối trong cách ứng phó với CHDCND Triều Tiên và I-ran, bận rộn xử lý vấn đề I-xra-en và Pa-le-xtin, Trung Quốc tìm cách từng bước lấn lướt Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ 2002 đến 2007, Trung Quốc phát huy ảnh hưởng đối với các nước Đông Nam Á qua các cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO)… để đối trọng với hệ thống an ninh “trục và nan hoa” của Mỹ. Tháng 3/2003, Trung Quốc tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) và cùng với ASEAN thông qua Tuyên bố chung về Đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đẩy mạnh ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á thông qua các kênh song phương. Tháng 4/2005, Trung Quốc và In-đô-nê-xi-a ký tuyên bố chung về xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Tháng 4/2006, Trung Quốc và Cam-pu-chia thông qua Chương trình Đối tác Hợp tác Toàn diện. Tháng 5/2007, Trung Quốc và Thái Lan ký Chương trình Hành động cho Hợp tác Chiến lược. Ngoài ra, còn có một loạt các thỏa thuận hợp tác an ninh song phương giữa Trung Quốc với Ma-lai-xi-a, Việt Nam, Bru-nây, Xinh-ga-po, Phi-lip-pin và Lào. Từ 2002 đến 2008, Trung Quốc và 10 nước ASEAN trao đổi 124 đoàn quan chức quốc phòng cao cấp cùng với các hoạt động tham vấn thường xuyên với 10 nước này[3]. Bằng cách đó, Trung Quốc đã nâng cao vai trò và vị thế của mình ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương một cách tương đối so với vai trò và vị thế của Mỹ và Nhật Bản.

Ở trong nước, chính quyền Bắc Kinh ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện hai mục tiêu cơ bản xuyên suốt của mình là (i) duy trì ổn định chính trị và phát triển kinh tế, cơ sở cho tính chính đáng của Đảng Cộng sản, và (ii) ngăn chặn các làn sóng bạo loạn, ly khai trong các cộng đồng sắc tộc thiểu số ở các vùng biên cương. Quá trình đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị buộc các nhà lãnh đạo thực dụng của Trung Quốc phải tìm kiếm các cơ sở chính đáng mới ở chủ nghĩa dân tộc. Thứ nhất, Đảng Cộng sản Trung Quốc thể hiện họ lãnh đạo dân tộc để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, từ Tây Tạng, Tân Cương đến Đài Loan và Biển Đông. Bên cạnh đó, con bài chủ nghĩa dân tộc đã được sử dụng tương đối thành công khi Trung Quốc phải đối mặt với các thế lực thù địch từ bên ngoài, ví dụ như trong việc Bắc Kinh phản đối Mỹ và Phương Tây trong các vấn đề dân chủ, nhân quyền, can thiệp vào các vấn đề Tây Tạng, Tân Cương và Đài Loan, bảo vệ hình ảnh của Trung Quốc trong Thế vận hội Olympic 2008, và gần đây nhất là bảo vệ tàu và ngư dân Trung Quốc bị Nhật Bản bắt[4]. Đáng chú ý, một học giả Mỹ phát hiện ra một thực tế rằng các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc đưa tin nhanh và tuyên truyền rộng rãi, mạnh mẽ về vấn đề tranh chấp biển đảo, trong khi đưa tin mờ nhạt về các tranh chấp biên giới trên bộ, và nhận định đó có thể là một sách lược để nuôi dưỡng tinh thần dân tộc và lấy đó là cơ sở để duy trì tính chính đáng của chính quyền cộng sản. Thứ hai, tính chính đáng của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng dựa trên việc trợ giúp các doanh nghiệp của Trung Quốc tiếp cận các nguồn tài nguyên chiến lược. Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, để thỏa mãn một đại công xưởng tăng trưởng mạnh mẽ và không ngừng, Trung Quốc cần một lượng tài nguyên khổng lồ. Chính quyền cộng sản sử dụng triệt để các công cụ chính trị và kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp của Trung Quốc vươn ra mạnh mẽ để giành quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên chiến lược, từ Mỹ La-tinh đến châu Phi, Trung Đông và các khu vực xung quanh Trung Quốc. Chính vì thế, Trung Quốc gạt Mỹ và phương Tây ra khỏi Xu-đăng và nhiều nước châu Phi và Mỹ La-tinh khác để giành được các hợp đồng khai thác tài nguyên thô. Trong bối cảnh đó, nguồn tài nguyên ở Biển Đông, cả dầu mỏ và nguồn cá (đã được báo chí Trung Quốc thổi phồng) là một “miếng mồi” không thể bỏ qua. Thứ ba, chính sách đối ngoại của Bắc Kinh cũng chịu sự ảnh hưởng của cạnh tranh giữa các lực lượng, phe phái chính trị trong nội bộ Trung Quốc.

Chính sách đối với Biển Đông của Trung Quốc cần được xem xét trong tổng thể chiến lược an ninh và phát triển của nước này nhằm vươn lên thành một cường quốc toàn cầu. Chứng kiến sự vươn ra mạnh mẽ của Trung Quốc, một học giả nhận xét rằng “sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông chỉ là một phần của kế hoạch bành trướng tổng thể, bao gồm “bành trướng cứng” như bành trướng trên biển, trên đất liền, và bành trướng mềm như tăng cường hiện diện ở tất cả các nơi có tiềm năng lợi ích về tài nguyên, dầu mỏ, địa chính trị, v.v... cho Trung Quốc”.

Mong muốn trở thành cường quốc toàn cầu của Trung Quốc đã bộc lộ từ thời Mao Trạch Đông, khi Bắc Kinh tự coi mình là lãnh tụ của các nước thế giới thứ ba trong cuộc đấu tranh với hai siêu cường và các nước công nghiệp phát triển. Định hướng chiến lược này, tuy nâng Trung Quốc lên hàng một cường quốc trung gian giữa Mỹ và Liên Xô, nhưng lại không thể giúp Trung Quốc có được nguồn vốn và công nghệ cần thiết để phát triển kinh tế. Dưới thời Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc chuyển sang mục tiêu chiến lược “bốn hiện đại hóa”, đồng thời áp dụng phương châm “giấu mình chờ thời”. Ước vọng toàn cầu được giấu đi, kìm nén, không được cụ thể hóa, chỉ nói chung chung là phấn đấu cho một trật tự thế giới công bằng, dân chủ và “đa cực hóa”. Sau một phần tư thế kỷ “cải cách khai phóng”, Trung Quốc đã từ một nước nghèo nàn lạc hậu vươn lên thành một nước công nghiệp hóa mới, trở thành một đầu tàu tăng trưởng của thế giới, với tổng sản phẩm xã hội đứng thứ 4 thế giới (2006) và một viễn cảnh sẽ vươn lên dẫn đầu thế giới sau nửa thế kỷ tiếp theo. Những điều này một mặt khiến nhiều nước, nhất là Mỹ, lo ngại Trung Quốc là đối thủ tiềm tàng của họ, mặt khác cũng khiến bản thân Trung Quốc khó lòng kiềm chế trong việc bày tỏ tham vọng. Một biểu hiện của việc thiếu kiềm chế là Trung Quốc cố sức tự đưa người vào vũ trụ trong khi thu nhập quốc dân đầu người vẫn còn ở mức nghèo (hơn 1000 đôla), một việc làm mà nhiều nước phát triển cao có khả năng cũng không đầu tư vì nặng tính khoa trương nhiều hơn là hiệu quả kinh tế. Cũng trong giai đoạn này, Trung Quốc đưa ra thuyết “trỗi dậy hòa bình” nhằm biện minh cho sự vươn lên vị thế một cường quốc thế giới. Khái niệm này sau một thời gian thử nghiệm đã được thay thế bằng cụm từ nhẹ nhàng hơn là “phát triển hòa bình”. Dù Trung Quốc đã hết sức cẩn trọng trong ngôn từ, người ta vẫn nhận thấy, dù không dễ dàng, tham vọng toàn cầu của Trung Quốc[6].

Từ năm 2007 đến nay, chiến lược “giấu mình chờ thời” hay “ngoại giao hài hòa” nhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và quyết liệt hơn. Về an ninh, nội dung cốt lõi của chiến lược này là xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh, tăng cường quyền kiểm soát của Trung Quốc ở các vùng biển trọng yếu, đảm bảo an ninh cho các hoạt động giao thương của Trung Quốc. Có nhận định cho rằng Trung Quốc đang xây dựng vành đai an ninh “chuỗi ngọc trai” kết nối các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, Biển Đông Trung Hoa (Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải) và Biển Nhật Bản cùng với các đảo và những cơ sở cầu cảng khác của Trung Quốc trải rộng từ Hải Nam tới Trung Đông, chuỗi ngọc trai sẽ giống như như một vành đai bao quanh rất nhiều đất liền châu Á. Những khu vực này chính là lợi ích an ninh quốc gia mà Trung Quốc tin là sống còn với cả sứ mệnh bảo vệ vùng biển cũng như chi phối châu Á - Thái Bình Dương[7].

Bên cạnh đó, Trung Quốc xây dựng chiến lược “hải dương xanh” và chuyển từ “phòng ngự biển gần”, sang phát triển theo hướng “hải quân viễn dương”. Trung Quốc đang lên kế hoạch đóng tàu sân bay để tăng cường phạm vi hoạt động, phát triển các loại tên lửa tấn công loại tàu này. Cùng lúc đó, hải quân Trung Quốc vươn ra xa hơn. Tháng 12/2008, hải quân Trung Quốc điều động ba chiến hạm tới vùng biển Xô-ma-li, tham gia hoạt động hộ tống tàu thuyền qua lại vùng biển này. Tiếp đó, hai tàu thăm dò hải dương của Trung Quốc đã phá vỡ sự phong tỏa của Nhật Bản, tiến sâu vào vùng biển phụ cận đảo Điếu Ngư, thực hiện khảo sát, khiến Nhật Bản bị bất ngờ. Trung Quốc còn biểu dương sức mạnh hải quân vào tháng 4/2009.

Về kinh tế, Trung Quốc cần chạy đua để giành giật các nguồn tài nguyên chiến lược. Trung Quốc đã vươn ảnh hưởng đến châu Phi, châu Đại dương và Mỹ La-tinh để tìm các nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu nhằm duy trì nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng cần đa dạng hóa các nguồn cung dầu lửa. Có lẽ vì lý do đó mà Bắc Kinh ngày càng quyết liệt và mạnh bạo hơn trong hoạt động thăm dò dầu khí ở Biển Đông, kiểm soát và ngăn chặn hoạt động của các quốc gia khác ở vùng biển này.

Phần IV: Phản ứng của các nước và cục diện anh ninh mới ở Biển Đông

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/1461-nhng-iu-chnh-trong-chin-lc-ca-trung-quc
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Tám, 2011, 01:02:45 am gửi bởi Mig21Bis_1 » Logged
trauxanh
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #206 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2011, 11:48:22 am »

Đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt - Trung:

Việt Nam không bao giờ nhượng bộ về chủ quyền

TT - Đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt - Trung cấp thứ trưởng lần 2 đã diễn ra ngày 28-8 tại Bắc Kinh dưới sự đồng chủ trì của trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và thượng tướng Mã Hiểu Thiên, phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Ngày 29-8 tại thủ đô Bắc Kinh, Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt (phải) đã có cuộc hội đàm với Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đang ở thăm Trung Quốc - Ảnh: THX/TTXVN

Tại đối thoại, trung tướng Nguyễn Chí Vịnh và thượng tướng Mã Hiểu Thiên đã thẳng thắn trao đổi những vấn đề còn khác biệt trong quan hệ hai nước. Theo thượng tướng Mã Hiểu Thiên, hiện nay điểm bất đồng và nhạy cảm nhất trong quan hệ hai nước là tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, hai nước cần xử lý thỏa đáng vấn đề này vì đại cục quan hệ Việt - Trung và ổn định khu vực: “Hòa bình hai bên đều có lợi. Đối đầu hai bên đều thiệt hại” - thượng tướng Mã Hiểu Thiên nói.

Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đại cục với Trung Quốc và mong muốn tìm được giải pháp “cùng thắng”, trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã nêu rõ vấn đề biển Đông có ba khía cạnh khác nhau nhưng liên quan mật thiết, đó là Tuyên bố chủ quyền của các nước liên quan, Xử lý mối quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc, Xử lý trên các diễn đàn đa phương.

Tôn trọng luật pháp quốc tế

Việt Nam và Trung Quốc có nhiều tuyên bố chủ quyền vào nhiều thời điểm, nội dung và phạm vi khác nhau. Giải quyết vấn đề phải tôn trọng lịch sử nhưng dù thế nào đi chăng nữa cũng phải tuân thủ luật pháp quốc tế. Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cho rằng các vấn đề trên biển Đông cần được xử lý theo luật pháp quốc tế, đó là những vấn đề mang tính quốc tế theo Luật biển phải giải quyết trên bình diện quốc tế, những vấn đề liên quan đến nhiều nước cần phải giải quyết giữa những nước liên quan, những vấn đề liên quan đến hai nước cần giải quyết song phương.

Những tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc cần giải quyết hai nước với nhau, theo luật pháp quốc tế và công khai minh bạch: “Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc vì chính lợi ích của chúng tôi” - trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nói. Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng chia sẻ: để bảo vệ và xây dựng đất nước chỉ có một con đường là giữ gìn độc lập tự chủ, chủ quyền lãnh thổ và quan hệ tốt với cộng đồng thế giới, không thể có những điều đó nếu dựa vào nước này để chống nước kia: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia trên thế giới. Nhưng nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng, với hơn 1 tỉ 350 triệu dân, đang phát triển, có vị thế và uy tín ngày càng cao trên thế giới, một khi Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển?”.

Công khai minh bạch

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng nêu bật việc cần phải công khai, minh bạch trên các diễn đàn để nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế hiểu rõ bản chất vấn đề biển Đông trong mối quan hệ hữu nghị tổng thể giữa hai nước. “Có thông tin đầy đủ và chính xác là nhu cầu của hơn 80 triệu người dân Việt Nam và hơn 1 tỉ 350 triệu người dân Trung Quốc - Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh phát biểu và nhấn mạnh thêm - Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Và Việt Nam cũng không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc!”.

Việt Nam sẵn sàng hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc ở những khu vực thật sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế quy định, và về lâu dài sẽ tìm giải pháp xử lý mà hai bên có thể chấp nhận được, nhưng “trong lúc chưa phân định được, hai bên tuyệt đối không được sử dụng vũ lực và thậm chí cũng không được nghĩ đến việc sử dụng vũ lực” - trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh.

MỸ LOAN (Theo TTXVN)
http://tuoitre.vn/The-gioi/453733/Viet-Nam-khong-bao-gio-nhuong-bo-ve-chu-quyen.html
Logged

Máu bất khuất nhuộm tươi màu cờ đỏ
Lòng trung kiên tô sáng sắc sao vàng
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #207 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2011, 12:58:19 am »

Phản ứng của các nước và cục diện an ninh mới ở Biển Đông


Sau những chính sách và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ 2007, vấn đề Biển Đông càng được thu hút bởi dư luận thế giới đặc biệt là Mỹ. Do đó sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ.

Tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ hai ở thành phố Hồ Chí Minh (tháng 11/2010), nhiều ý kiến cho rằng chính sự hung hăng của Trung Quốc đã làm cho tranh chấp Biển Đông được quốc tế hóa và dẫn đến sự can dự của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á.1] Trong vài thập kỷ qua, những lời chỉ trích Mỹ xem nhẹ Đông Nam Á khá phổ biến. Ngoại trừ các cường quốc chủ chốt như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, Washington rất ít quan tâm đến phần còn lại của toàn vùng. Việc Trung Quốc gia tăng nhanh chóng sức mạnh chính trị và kinh tế đã thuyết phục chính quyền Obama chuyển hướng và tung thêm nguồn lực và nhân sự, dù còn hạn chế, vào phần đất này của thế giới. Nhiều học giả bày tỏ lo ngại rằng cạnh tranh chiến lược Trung-Mỹ sẽ là một nhân tố quyết định cục diện chiến lược ở khu vực trong tương lai và xu hướng phát triển của tranh chấp.2]

Thái độ mới đây của Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận các quy định và cách xử sự hiện hành trong khu vực được thể hiện vào lúc Trung Quốc đã mở rộng ảnh hưởng của họ khắp bốn phương trời. Từ lâu trước khi đạt đến tư thế hiện nay, uy tín và giá trị ngoại giao của Trung Quốc đã dựa trên đường lối chung sống hòa bình và trợ giúp Đông Nam Á. Đối với Trung Quốc, bất kỳ một tranh chấp, dù là một vụ cãi cọ nhỏ với khu vực vào khi ấy đều có thể làm hoen ố hình ảnh của Bắc Kinh trong tư cách người bạn của thế giới đang phát triển.3]Theo đuổi những gì mà Trung Quốc đã làm cũng với tâm niệm lấy ASEAN làm trọng tâm, từ khi Tổng thống Barack Obama lên cầm quyền, Mỹ đã cải thiện được chỗ đứng của mình trong khối vốn lâu nay vẫn nghi ngờ ý định của Washington. Việc Hoa Kỳ tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) 2009 và cử đại sứ đến ASEAN đã thay đổi lề lối can dự của Mỹ và mở ra cho nước này một con đường mới.

Mỹ ngày càng quan tâm đến Biển Đông và coi đây là một cơ hội để khôi phục ảnh hưởng và giành lại vai trò chủ đạo ở Đông Á. Ngày 15/7/2009, Tiểu ban về Đông Á và Quan hệ Thái Bình Dương của Ủy ban về Ngoại giao của Thượng viện Mỹ đã tổ chức cuộc điều trần về “các vấn đề lãnh hải và tranh chấp chủ quyền ở Đông Á”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tham dự Hội nghị ARF 17 tại Hà Nội tuyên bố rằng Mỹ có “lợi ích chiến lược” trong việc chứng kiến các tranh chấp lãnh thổ được giải quyết thông qua “tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên tuyên bố chủ quyền”. Trước đó, tại Đối thoại Shangri-la, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gate đã bày tỏ quan điểm ủng hộ giải quyết tranh chấp ở Biển Đông thông qua các nỗ lực đa phương, hòa bình và phù hợp với luật quốc tế.4] Sự hung hăng của Trung Quốc đã góp phần đẩy Mỹ và Đông Nam Á xích lại gần nhau hơn. Mỹ và Việt Nam đã tổ chức đối thoại về chính sách quốc phòng tại Hà Nội ngày 19/8/2010 và được đánh giá là một bước ngoặt trong các mối quan hệ giữa hai cựu thù. Giáo sư Carlyle A. Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Ô-xtrây-li-a nhận định: “Sự hiếu chiến về quân sự của Trung Quốc tại Tây Thái Bình Dương và Biển Đông tạo ra một động lực để tăng cường hợp tác quân sự Mỹ-Việt. Cả hai nước có lợi ích chung trong việc ngăn chặn Trung Quốc hay bất kỳ nước nào thống trị các tuyến đường biển thương mại cũng như thực thi tuyên bố chủ quyền bằng áp lực. Việt Nam coi sự hiện diện của Mỹ như hàng rào chống lại sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc”.5]

Nhật Bản cũng nhìn Trung Quốc bằng con mắt nghi ngại hơn nhiều. Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng Nhật Bản ngày 10/9/2010 nhắc đến những vụ trực thăng của Trung Quốc bay quá gần các chiến hạm Nhật, vụ các tàu ngầm và khu trục hạm Trung Quốc được nhìn thấy gần đảo Okinotori vào tháng 4/2010. Đó là chưa kể vụ một tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc xâm nhập hải phận Nhật Bản vào tháng 11/2004. Bản báo cáo này trách Bắc Kinh là đã không nói rõ về những dự án hiện đại hóa quân đội Trung Quốc. Vào tháng 3/2010, Trung Quốc cho biết sẽ tăng ngân sách quân sự năm 2010 thêm 7,5% lên thành 77,9 tỷ đôla, nhưng theo Bộ Quốc phòng Mỹ, tổng chi phí quân sự của Bắc Kinh đã vượt quá 150 tỷ đôla từ năm 2009, nếu tính cả các khoản chi tiêu không được ghi trong ngân sách chính thức.6]Theo Bộ Quốc phòng Nhật, sự thiếu minh bạch trong chính sách quốc phòng của Trung Quốc và những hoạt động quân sự của nước này là vấn đề đang gây quan ngại cho khu vực và cộng đồng quốc tế, kể cả Nhật Bản.[7]

Chính sách mập mờ, những hành động đơn phương và mạnh bạo của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm các nước trong khu vực thêm nghi ngờ chiến lược “phát triển hòa bình” và “ngoại giao hài hòa” của Bắc Kinh.8] Nhiều nước ASEAN nhìn nhận an ninh Đông Nam Á và an ninh quốc gia của họ bị đe dọa trước quá trình hiện đại quân sự nhanh chóng một cách thiếu minh bạch của Trung Quốc.9] Tình huống tiến thoái lưỡng nan về an ninh xảy ra ở khu vực và kết quả là chi tiêu quân sự ở Đông Nam Á tăng vọt. Theo Viện nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm: “Việc chuyên chở vũ khí đến Đông Nam Á trong giai đoạn 2005-2009 gần như tăng gấp đôi so với giai đoạn 2000-2004. Số lượng vũ khí mà Ma-lai-xi-a mua trong giai đoạn 2005-2009 tăng 722% so với giai đoạn 2000-2004, Xing-ga-po tăng 146% và In-đô-nê-xi-a 84%.10] Điều đáng nói là các nước ASEAN đều không muốn phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ, không muốn các nước bên ngoài khu vực can thiệp vào vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa họ và Trung Quốc. Cái mà họ cần là một Trung Quốc thực sự phát triển hòa bình, có thái độ hợp tác và có trách nhiệm. Trong bối cảnh đó, ASEAN đã chủ động giảm thiểu rủi ro bằng cách tìm kiếm sự bảo đảm của các cường quốc bên ngoài khu vực.

Phản ứng với thái độ và hành động của Trung Quốc cũng thể hiện trên các diễn đàn ngoại giao. Kể từ tháng 7/2010, tình hình khu vực Biển Đông chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với những đặc trưng mới của một trong những điểm nóng trong quan hệ chính trị và an ninh quốc tế. Những yếu tố tạo nên sự thay đổi đã manh nha từ năm 2009, nhưng chính Diễn đàn An ninh khu vực ARF 17 tại Hà Nội đã là điểm mốc đánh dấu bước ngoặt này với việc Mỹ khẳng định trở lại khu vực Đông Nam Á và có lợi ích quốc gia trong các vấn đề liên quan đến hàng hải và an ninh ở Đông Á. Có thể nói ARF 17 hé mở khuynh hướng khu vực hóa, quốc tế hóa hồ sơ Biển Đông, hoặc ít nhất thì tranh chấp Biển Đông cũng đã bắt đầu trở thành một trong những chủ đề thời sự nóng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Lần đầu tiên, an ninh ở khu vực Biển Đông đã được công khai tranh luận tại một diễn đàn đa phương với sự tham dự của 27 quốc gia.11]Tiếp đó, ngày 8/7/2010, Phái đoàn thường trực của In-đô-nê-xi-a tại Liên Hợp Quốc đã có công hàm phản đối công hàm ngày 7/5/2009 của Phái đoàn thường trực Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc về cái gọi là bản đồ yêu sách hình chữ U (hay đường đứt khúc 9 đoạn) trong Biển Đông “đối với chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo trong Biển Nam Trung Hoa và các vùng nước kế cận, cũng như các quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng”.[12]

Sau ARF 17, rõ ràng an ninh ở Biển Đông là một hệ thống đa tầng nấc và đa vấn đề với đa đối tượng. Ở đây, có các vấn đề tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ xảy ra giữa hai nước trong khu vực, ví dụ như tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và các vùng nước liên quan. Bên cạnh đó, cũng có các vấn đề quốc tế liên quan đến các quốc gia bên ngoài khu vực như vấn đề an toàn và an ninh hàng hải qua các vùng biển quốc tế. Cùng với các tranh chấp về chủ quyền, còn có các vấn đề phát triển nghề cá và bảo vệ tài nguyên biển, chống các nguy cơ an ninh phi truyền thống, nghiên cứu khoa học biển, cứu hộ và cứu nạn… liên quan đến các nước ven biển, Trung Quốc và các nước ASEAN. Mặc dù giữa ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về Ứng xử của các bên ở Biển Đông song tuyên bố này đã không được thực thi trong suốt thời gian qua. Hiện tại, quan chức của các nước đang bàn thảo vấn đề thực thi Tuyên bố và đàm phán khả năng ký kết một Bộ luật ứng xử (COC) ở Biển Đông có tính ràng buộc cao hơn.

Ngày càng nhiều nước trên thế giới quan tâm hợp tác và mong muốn hiện diện trong khu vực này, tạo ra các lợi ích đan xen và cạnh tranh ở Biển Đông. Đây chính là hệ quả trào lưu thế giới ngày càng trở nên phẳng và phải đối đầu với nhiều thách thức toàn cầu như khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu, cấm sử dụng và phổ biến vũ khí hạt nhân, chạy đua vũ trang, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, quyền con người và chống khủng bố, chống cướp biển. Tất cả các quốc gia càng ngày càng phụ thuộc vào nhau. Hội nhập và sự phát triển hòa bình của mỗi quốc gia phụ thuộc vào an ninh khu vực và thế giới và ngược lại, không quốc gia nào có thể tách khỏi luật chơi chung.[13]

Tóm lại, sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ. Những mối quan tâm đặc biệt hơn cả gồm: sự quan ngại về tham vọng của Trung Quốc; những nguy cơ về an ninh, tranh chấp trên biển; những bất đồng xung quanh căng thẳng giữa Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên về vụ chìm tàu Cheonan và về vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên; việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan; và các bất đồng về kinh tế - thương mại khác v.v… Ở một góc độ nào đó, Trung Quốc cũng phải cân nhắc trước khả năng bị cô lập và chịu sức ép của cộng đồng quốc tế trong vấn đề Biển Đông. Có không ít ý kiến cho rằng Trung Quốc nên tỏ ra bớt độc đoán và ngạo mạn, có thái độ hòa giải hơn. Thời báo Hoàn cầu ngày 27/7 có đoạn: “Trung Quốc phải tránh mở rộng vô tận những lợi ích sống còn của mình. Một cường quốc cũng có thể nhượng bộ về lãnh thổ, mà như vậy không có nghĩa là phải chịu hy sinh”. Thế giới đang hướng về Biển Đông để kiểm nghiệm xem, liệu Trung Quốc có thực sự “phát triển hòa bình”?./.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/1462-phan-ung-cua-cac-nuoc-va-cuc-dien-an-ninh-moi-o-bien-dong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #208 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2011, 12:40:53 am »

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông


Bài viết của tác giả Trang Ngọc Hoa, đăng trên trang trang mạng “Viện Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Trung Quốc – China Institute of International studies” đã nêu ra một số đánh giá và phân tích của phía Trung Quốc về lợi ích, vai trò và chính sách của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông.

Năm 2010, sau khi Hoa Kỳ bày tỏ sự “quan tâm” xoay quanh vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc, Nhật Bản cũng bắt đầu tích cực có hoạt động can thiệp vào, đồng thời, còn làm khó Trung Quốc trên vấn đề biển Đông hải. Hàng loạt những hành động trên tất nhiên không phải do tình cờ, điều này vốn có quan hệ mật thiết với chính sách hải dương của Nhật Bản bấy lâu nay vẫn nhắm vào Trung Quốc. Trên vấn đề Biển Đông, chính sách tổng thể của Nhật Bản có thể chia ra làm bốn thời kỳ. Thời kỳ đầu sau khi chiến tranh kết thúc, đối với chủ quyền, Nhật bản không có những phản đối khác, tới những năm của thập niên 80 thì bắt đầu đặt quan tâm, sau Chiến tranh lạnh bắt đầu lập kế hoạch để can thiệp, và hiện nay, Nhật Bản đang tích cực can thiệp vào vấn đề. Trọng tâm chiến lược hải dương của Nhật Bản trong tương lai tại Đông hải và Thái Bình Dương sẽ là tiếp tục mở rộng, nhưng cũng sẽ dựa trên nhiều yếu tố quan trọng khác như, an toàn hàng hải của bản thân Nhật bản, kiềm chế thế lực của Trung quốc, ngăn chặn Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng, đòi hỏi về hải quyền, và đàm phán với Trung Quốc về chủ quyền tại Đông Hải. Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục thực hiện liên minh với Hoa Kỳ, lôi kéo Việt Nam, và còn diễn vai trò của kẻ khoắng nước để dụng hỏa đả công.

I-Vị thế của Biển Đông thay đổi trong chiến lược đối ngoại của Nhật Bản

1-Từ thập niên 80 của thế kỷ 20, Nhật Bản bắt đầu quan tâm chú tới vấn đề Biển Đông.

Nhật Bản là quốc gia thiếu thốn tài nguyên, có tới 95% lượng năng lượng tiêu thụ phải dựa vào nhập khẩu[1], nguồn năng lượng quan trọng nhất là dầu mỏ chủ yếu đi qua tuyến đường vận chuyển trên Biển Đông để tới được Nhật Bản. Ngoài ra, có tới 99% lượng hàng hóa Nhật Bản xuất khẩu đi các nơi cũng dựa vào tuyến đường biển, những sản phẩm hàng hóa xuất khẩu được vận chuyển tới thị trường Âu châu, những hàng mậu dịch xuất nhập khẩu vào Đông Nam Á và Châu Đại Dương cũng chủ yếu dựa vào tuyến đường qua Biển Đông. Nếu để tầu thuyền chở hàng di chuyển qua Philippine theo tuyến hải trình phía đông, nó sẽ làm cho giá thành hàng hóa thành phẩm của Nhật Bản tăng lên từ 2 đến 5%. Do đó, tuyến đường hàng hải trên Biển Đông được Nhật Bản nhìn nhận đánh giá là “tuyến đường sinh tử” trên biển. Theo đà thực lực kinh tế phát triển nhanh chóng, Nhật Bản ngày càng mở rộng thái độ quan tâm đối với an ninh hàng hải trên tuyến đường Biển Đông.

Đồng thời, thực lực quân sự ngày càng được tăng cường cũng làm cho Nhật Bản chú ý xem xét hơn tới việc bảo vệ an ninh trên tuyến đường biển. Trong thời kỳ đầu lực lượng phòng vệ Nhật Bản mới được thành lập, phạm vi phòng vệ được xác định lấy lãnh thổ làm trung tâm và trải rộng ra trong vòng 200 hải lý, cho tới các vùng eo biển Tsugaru và Tsushima. Những năm của thập niên 80, Hoa kỳ dần thực hiện chiến lược rút gọn trên toàn cầu, đồng thời yêu cầu Nhật Bản đẩy mạnh mở rộng trang bị quân sự, đảm trách nhiều nhiệm vụ tác chiến hơn. Năm 1981, Thủ tướng Nhật Bản Zenko Suzuki viếng thăm Hoa Kỳ, chính thức tiếp nhận yêu cầu của phía chính phủ Mỹ, và cam kết để lực lượng phòng vệ trên biển của Nhật Bản đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ cho tuyến đường 1000 hải lý trên biển. Từ đó đến nay, Nhật Bản chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn cho “tuyến đường biển tây nam” từ vịnh Osaka tới eo biển bashi, còn tuyến đường biển từ eo biển Bashi xuống phía nam do quân đội Hoa Kỳ đảm trách[2]. Trong “ Sách trắng Quốc phòng Nhật Bản năm 1983” đã lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc: “Hàng trăm hải lý xung quanh Nhật Bản, và khoảng 1000 hải lý trên tuyến đường biển trong khu vực là thuộc phạm vi phòng thủ địa lý của Nhật Bản”.  

2-Sau Chiến tranh lạnh, Nhật Bản điều chỉnh mục tiêu chiến lược quốc gia, trên mặt chiến lược, từng bước can thiệp vào khu vực Biển Đông.

Sau chiến tranh lạnh, tình hình quốc tế phát sinh nhiều thay đổi sâu sắc. Thực lực kinh tế và quân sự Nhật Bản nhanh chóng được tăng cường, tranh chấp trở thành chính trị, cường quốc về quân sự được khẳng định là mục tiêu chiến lược quốc gia. Đồng thời, từ phía Nhật Bản nhìn lại, sự phát triển nhanh chóng của Trung quốc đã đưa tới cho Nhật Bản một tương lai chịu những áp lực và thách thức, mâu thuẫn Trung - Nhật càng gia tăng. Dưới hoàn cảnh đó, Nhật Bản đã để mắt tới những tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời xây dựng luật pháp để thò tay can thiệp vào những vấn đề an ninh liên quan, không ngừng tăng cường mở rộng sức ảnh hưởng tại khu vực này.

Sau khi bùng phát tranh chấp giữa Trung - Phi - Mỹ xung quanh dải đá ngầm Mischief Reef (dải Vành Khăn của VN) năm 1995, Nhật Bản bắt đầu có thái độ khai thác can thiệp trính trị. Trong khi hội đàm giữa những nhà lãnh đạo Nhật Bản và lãnh đạo Trung Quốc, phía Nhật Bản đã liên tiếp bày tỏ ý kiến quan tâm tới quần đảo Trường Sa. Khi tham gia hội nghị Diễn đàn Đông Nam Á lần 2, Ngoại trưởng Nhật Yohey Kono đã đưa ra ý kiến về việc có thể đem vấn đề Biển Đông ra thảo luận trong khuôn khổ của “Diễn đàn khu vực Đông Nam Á”. Nhật Bản kỳ vọng sẽ học hỏi được kinh nghiệm xử lý đối phó với Trung Quốc từ những tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời còn muốn dùng những tranh chấp này để khống chế Trung Quốc.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2009-vai-tro-ca-nht-bn-trong-vn--bin-ong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #209 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 12:34:32 am »

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay


Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Như đã thấy trong năm 2011, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đều đang khẩn trương tiến hành các cuộc thăm dò và kế hoạch khoan nhằm chiếm giữ những nguồn tài nguyên hydrocarbon dưới đáy biển Đông nơi có vô số những yêu sách quốc gia chồng lấn nhau. Kết quả là, đôi khi sự va chạm trở nên nghiêm trọng và mỗi nước đều tăng cường những lập luận hùng hồn về quyền tài phán duy nhất của mình đối với việc khoan dầu trong những khu vực xác định. Mỗi nước cũng gia tăng những hoạt động hải quân trên biển Đông theo hai cách, hoặc là đưa ra những tín hiệu về quyết tâm bảo vệ quyền lợi của mình đối với các nguồn tài nguyên hoặc chí ít thì cũng được cho là như vậy.

Một số nhà quan sát cho rằng, các quan hệ kinh tế khu vực và mong muốn chung cho một môi trường bên ngoài ổn định để thúc đẩy sự phát triển kinh tế từ bên trong sẽ làm cho các cuộc cạnh tranh năng lượng và tranh chấp chủ quyền không dẫn đến xung đột[1],. Một số ý kiến lại cho rằng căng thẳng có thể kiểm soát được vì thực tế đã cho thấy rằng cho đến nay những tuyên bố hàng hải của Trung Quốc trên biển Hoa Đông và biển Đông “thường được thực thi  bởi các tàu tuần tra không trang bị vũ trang, điều này gửi đến một thông điệp rõ ràng rằng Bắc Kinh không tìm kiếm sự leo thang dẫn đến một cuộc khủng hoảng lớn vì những vấn đề này."[2] Một số khác thì lại khẳng định rằng những quan điểm trên là hão huyền.[3] Bài viết này xem xét rằng giữa những tình huống xấu đi như thế thì liệu các khuôn khổ và cơ chế an ninh hàng hải hiện tại - đặc biệt là hai trường hợp Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc, và Tuyên bố ứng xử của các bên trên biển Đông - có đủ để duy trì hoà bình khu vực và thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực hay không. Với kết luận chúng không đủ, bài viết sẽ đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Tranh chấp chủ quyền và sự thất bại của luật quốc tế

Những tranh chấp ở biển Đông có thể được đặt trong ba phạm trù khác nhau - chủ quyền, quyền tài phán và quyền kiểm soát.[4] Phạm trù đầu tiên liên quan đến các tranh chấp của các bên về vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo, bãi đá nổi và bãi đá chìm ở biển Đông. Hiện tại không có một khuôn khổ hay cơ chế khu vực và quốc tế tích cực nào trực tiếp giải quyết vấn đề chủ quyên. Điều này một phần vì thực tế Trung Quốc khăng khăng giữ quan điểm rằng họ sẽ chỉ giải quyết mọi tranh chấp trên biển Đông bằng đám phán và chỉ trên cơ sở đàm phán song phương mà thôi. Điều này đã loại bỏ cơ hội cho các bên tận dụng các cơ chế pháp lý và trọng tài hay các khuôn khổ khu vực và quốc tế khác nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp.

Công bằng mà nói, liên quan đến vấn đề chủ quyền, dường như bất kỳ nước tranh chấp nào đều dường như không mấy quan tâm đến vấn đề đàm phán, phân xử hay giải quyết bằng tòa án. Những tuyên bố “chủ quyền không thể chối cãi” dựa trên những mối liên hệ lịch sử và kiểm soát chính quyền thường đến từ Việt Nam và Trung Quốc - mỗi nước đều khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.[5] Trong khi ít hùng hồn hơn, chính phủ Philippine đồng thời cũng khẳng định rằng nước này có “chủ quyền và quyền tài phán đối với các điểm địa lý” của quần đảo Kalayaans.[6] Những hồ sơ công khai phản ánh rằng Philippines căn cứ trên tuyên bố của họ dựa trên thuyết những vùng liền kề hoặc tiếp giáp với nhóm đảo Kalayaan với quần đảo chính của nó, mặc dù cơ sở của những tuyên bố này thì có độ chắc chắn ít hơn so với những tuyên bố của Việt Nam và Trung Quốc bởi vì Philippine cũng hoặc theo một cách khác, khẳng định trên những cở sở an ninh và kinh tế, rằng các đảo đã bị bỏ rơi bởi những nước khác sau Chiến tranh thế giới thứ 2, và sau đó Philippine đã thiết lập chủ quyền bằng cách tự khám phá hoặc ban hành sắc lệnh. Giống như Malaysia và Brunei, Philippine cũng khẳng định quyền kiểm soát trên Kalayaans như một sự mở rộng quyền lợi ở thềm lục địa của chính mình.[7] Trong khi một loạt các quan điểm như thế có thể phục vụ khéo léo cho các tranh cãi pháp lý, nó không thúc đẩy một môi trường thuận lợi cho đàm phán do các bên đối lập gặp khó khăn tìm kiếm một cơ sở chung để tiếp tục.

Chắc chắn rằng có những lựa chọn để phát triển một cơ chế hay khuôn khổ để giải quyết vấn đề chủ quyền. Nếu đàm phán đa phương không được chấp thuận và đàm phán song phương vẫn không đạt được kết quả, trong trường hợp đó, hiển nhiên các bên có thể phải đưa tình huống này ra Toà án Tư pháp quốc tế hoặc Toà án trọng tài thường trực. Tuy nhiên, vì một số lí do, điều này khó có khả năng xảy ra.

Về mặt chính trị, chính phủ các nước trong khu vực phải đấu tranh với chủ nghĩa dân tộc trong nước, điều đó hạn chế sự lựa chọn chính sách. Về mặt kinh tế, dường như có một nhận thức ngày càng tăng - đặc biệt là ở Trung Quốc và cũng ngày càng tăng ở Việt Nam - rằng mà những nguồn thực phẩm và năng lượng ở biển Đông ngày càng trở nên thiết yếu với sự thịnh vượng của quốc gia trong thế kỉ 21. Lo lắng này phủ bóng đen lên lập luận về chủ quyền đối với các đảo và các quyền pháp lý kèm theo nó. Thái độ thực dụng về những nguồn năng lượng trên biển Đông đặc biệt đang trở thành quy tắc tiêu chuẩn. Đây là một xu hướng đáng lo ngại vì nó cho thấy các bên trong tương lai có thể không sẵn sàng tin tưởng vào sự tiếp cận các nguồn tài nguyên dựa vào thị trường – vốn là nền tảng cho hệ thống toàn cầu. Cuối cùng, về mặt quân sự, Trung Quốc, Việt Nam và Philippine đều xem việc kiểm soát đối với các đảo là điều tối quan trọng cho an ninh quốc gia. Do đó, có nhiều cử tri trong mỗi quốc gia kiềm chế chính phủ của họ không được theo đuổi các thoả hiệp về chủ quyền. Điều này là một trong những lý do chính giải thích tại sao các chính phủ vẫn kiên quyết tránh những toà án quốc tế hay các ủy ban trọng tài nhằm giải quyết những vấn đề này. Đơn giản là có quá nhiều rủi ro.

Một lý do khác khiến các chính phủ tránh sự trợ giúp pháp lý quốc tế, đó là cơ chế luật pháp quốc tế điều chỉnh việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền còn chưa rõ ràng. Vì vậy, bản thân luật pháp là một nhân tố khác khiến các thoả hiệp trở nên khó khăn hơn -  thực sự nó làm trầm trọng thêm xu thế dẫn đến sự va chạm. Cụ thể, luật quốc tế khuyến khích khả năng của một quốc gia chứng tỏ một tuyên bố chủ quyền vượt trội bằng cách khẳng định sự chiếm đóng, quản trị hiệu quả và kiểm soát độc quyền. Tất cả các quốc gia biển Đông ngoại trừ Brunei có lực lượng đóng quân trên đảo, trạm theo dõi thời tiết, cơ sở vật chất để bảo vệ bờ biển, nghiên cứu khoa học, một số thậm chí đã được báo cáo là phát triển hoặc có kế hoạch phát triển hạ tầng du lịch. Tiếp theo mạch phát triển này, người Trung Quốc đã thiết lập một chính quyền thành phố trên quần đảo Trường Sa, thiết lập mạng lưới điện thoại di động, và hỗ trợ các hoạt động đánh bắt cá địa phương từ các hòn đảo. Người Malaysia thì lập ra một khu du lịch lặn trên một trong những đảo họ chiếm đóng được. Mỗi hoạt động này là một tuyên bố công khai về sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của một quốc gia đối với một đảo nào đó đang tranh chấp. Quả thực, để củng cố sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của mình, chính phủ Trung Quốc rõ ràng gần đây đã đi quá xa trong việc đặt cột mốc đánh dấu quyền chủ quyền của họ trên ba đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa, bao gồm bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) và bãi Amy Douglas gần Palawan. Để không mất đi yêu sách của mình trong việc quản lý và kiểm soát hiệu quả trên cùng những phần lãnh thổ đó, chính phủ Philippine đã tuyên bố rằng hải quân của họ đã tháo bỏ những cột mốc này và phái những đội tàu của họ đến để ngăn cản Trung Quốc khôi phục lại chúng. Philippine cũng gỡ bỏ một cái phao do Trung Quốc đặt ra khỏi mặt nước.[8]

Tóm lại, luật quốc tế liên quan đến chủ quyền tự nó đã tạo ra một cuộc cạnh tranh leo thang giữa các bên tranh chấp để chứng minh sự chiếm giữ và kiểm soát độc quyền trên các đảo. Bởi vì chủ quyền là một cuộc chiến một mất một còn, không bên nào có thể rút lui trong cuộc cạnh tranh và duy trì những đòi hỏi của mình. Khi những bên tham dự tăng lên, khả năng xảy ra sự cố nghiêm trọng hơn bao giờ hết. Như vậy, khuôn khổ luật quốc tế để giải quyết các tranh chấp chủ quyền hiện hành là một cơ chế không đủ để khuyến khích và tăng cường ổn định khu vực. Luật quốc tế cũng đưa ra các giải pháp đôi bên cùng có lợi khác dựa trên chia sẻ chủ quyền hay chủ quyền với những quyền quốc tế bất khả xâm phạm. Các bên sẽ thực hiện tốt việc thăm dò những lựa chọn kiểu đôi bên cùng có lợi này như là con đường đi dến những giải pháp tạm thời hoặc thậm chí là lâu dài cho vấn đề chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

Khuôn khổ tài phán biển của UNCLOS

Dạng tranh chấp thứ hai liên quan tới thẩm quyền trong không gian biển và các nguồn tài nguyên trên biển, trong biển và dưới đáy biển. Có lẽ điều quan trọng nhất trong khuôn khổ an ninh hàng hải đối với biển Đông là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). UNCLOS đã được đàm phán trong suốt những năm 1970 và đầu những năm 1980 để đáp ứng một số xu hướng gây bất ổn trong lĩnh vực hàng hải, tất cả đều vẫn còn hiện diện trong khu vực biển Đông ngày nay bất chấp việc các nước ven biển Đông đã tham gia vào Công ước toàn cầu này.

Một xu hướng như thế là khả năng ngày càng tăng của các quốc gia trong suốt thế kỉ 20 để khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật của một phần ngày càng mở rộng của những vùng duyên hải. Hoa Kỳ đã tiến hành hoạt động đầu tiên của một quốc gia trong kỷ nguyên hiện đại để thực hiện các quyền tài phán mở rộng trên biển với tuyên bố của Truman năm 1945, tuyên bố mà đã có kết quả ngoài ý muốn trong các thập kỉ tiếp theo trong việc dấy lên một cuộc chạy đua toàn cầu nhằm kiểm soát các nguồn tài nguyên biển thông qua một loạt các cơ chế cạnh tranh, bao gồm những tuyên bố của một số nước về chủ quyền quốc gia đầy đủ trong 200 hải lý tính từ bờ biển của họ. Vì nhiều lý do, nhiều nước khác mà đơn cử là không ít các cường quốc hàng hải không chấp nhận điều này do mất đi các quyền hàng hải quốc tế. Khi nhà nước có chủ quyền hoàn toàn đối với hơn 1/3 đại dương trên thế giới ngụ ý rằng một cơ chế chủ quyền hàng hải hoàn toàn sẽ được thiết lập.

Các tuyên bố của Truman cũng đã tạo ra các khu bảo tồn thuỷ sản ở biển sâu dưới quyền tài phán độc quyền của Hoa Kỳ với mục đích quản lý và bảo vệ những đàn cá vì lợi ích của người dân Mỹ. Như những gì đã xảy ra sau tuyên bố thềm lục địa, những điều kế tiếp là một mớ những yêu sách quốc gia về độc quyền nguồn tài nguyên mà cũng làm gia tăng các cuộc va chạm trên biển vì ở một số nơi, chẳng hạn như biển Đông, một chế độ pháp lý có thể không phải là giải pháp tốt nhất để mang lại một trật tự trong khu vực mà đã từng được xác nước ven biển xem là một khu vực hàng hải chung.

Trong một nỗ lực để mang lại trật tự và giảm thiểu va chạm, các cuộc đàm phán dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc được bắt đầu vào những năm 1950, đã mang lại một bộ công ước về luật biển sơ bộ nhưng rõ ràng là chưa đầy đủ tại Geneva vào năm 1958. Các cuộc đàm phán kéo dài vẫn tiếp tục, kết quả là vào năm 1982 trong một loạt các cuộc thương lượng lớn đã hình thành khuôn khổ UNCLOS cho việc ổn định các xu hướng nguy hiểm do tuyên bố Truman gây ra và vẫn tồn tại ở khu vực biển Đông ngày nay. Bốn khía cạnh trong công ước này đã được thiết lập để mang lại trật tự hợp lý trong việc “chiếm đất” trên biển và cân bằng các lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển với những lợi ích hợp pháp tương tự của các cường quốc hàng hải.

(còn nữa)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2011-danh-gia-hieu-qua-cac-khuon-kho-va-co-che-ve-an-ninh-bien-tren-bien-dong-hien-nay
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM