Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #210 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 12:40:43 am » |
|
Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay (tiếp theo) Đường cơ sở. Khía cạnh đầu tiên là pháp điển hoá các quy tắc liên quan đến đường cơ sở, các ranh giới tại hoặc gần bờ biển giữa lãnh thổ thuộc hoàn toàn chủ quyền của nước ven biển và các vùng biển mở rộng ra ngoài khơi của họ. Mục đích của một hệ thống các đường cơ sở thống nhất là hạn chế việc mở rộng thẩm quyền của quốc gia ven biển đối với các đại dương. UNCLOS điều 5 và 7 xác định rằng các đường cơ sở thường có đường nước thấp dọc theo bờ biển. Điều 7 cung cấp một tập hợp các tình huống rất hạn chế cho phép các quốc gia ven biển đi chệnh khỏi quy định thông thường, chủ yếu là nơi có tồn tại các vịnh nhỏ ven biển thụt sâu vào - như vịnh hẹp ở NaUy, hoặc các hải đảo chạy dọc theo khu vực lân cận của bờ biển - chẳng hạn như những đảo chạy dọc theo phía bờ biển tây nam của bán đảo Triều Tiên. Điều 47 cho phép các quốc gia gồm toàn bộ là các hòn đảo mà không có lãnh thổ đất liền - được gọi là các quốc gia quần đảo - được vẽ đường cơ sở xung quanh rìa ngoài xa nhất cho các đảo của họ và yêu sách một vị thế đặc biệt để đạt được và thực thi một mức độ quyền chủ quyền cao hơn đối với những vùng nước kèm theo. Mặc dù về cơ bản trên toàn cầu các nước có đủ tiêu chuẩn này là tương đối it, có hai nước giáp biển Đông đủ tiêu chuẩn này: Philippine và Indonesia. Tất nhiên, Malaysia không đủ tiêu chuẩn vì một phần lãnh thổ nước này là lục địa. Một điểm then chốt về cơ chế các đường cơ sở là chúng được vẽ dựa hoàn toàn vào địa lý của các quốc gia ven biển. Cơ chế dựa trên địa lý này được thiết lập nhằm đảm bảo trật tự trong quá trình thiết lập các yêu sách biển bằng cách thể hiện chúng từ một tập hợp đồng bộ các đặc điểm mở và không thể phủ nhận. Như vậy, không có ngoại lệ phi địa lý đối với việc vẽ các đường cơ sở mà được UNCLOS hoặc luật quốc tế nói chung công nhận. Các đường cơ sở của Trung Quốc. Mặc dù các đường cơ sở của Trung Hoa đại lục đều được thể hiện theo hình thù địa lý ven biển của nước này (đường hình chữ U trong biển Đông sẽ được bàn riêng), ở một vài nơi ngoài khơi, các đường cơ sở của Trung Quốc vượt quá mức cho phép của UNCLOS và luật án lệ quốc tế, thâu tóm một cách không chính đáng từ những vùng hoàn toàn thuộc quyền sử dụng quốc tế hơn 2500 hải lý vuông của không gian đại dương chủ yếu ở biển Hoa Đông. Điều quan trọng với vùng Biển Đông là Trung Quốc đã vẽ các đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa trong một hành vi vi phạm rõ ràng các quy tắc của UNCLOS rằng chỉ các quốc gia quần đảo mới có thể đưa ra một tuyên bố như vậy. Như vậy, mặc dù tiêu chuẩn quốc tế được thể hiện trong UNCLOS đã có một số tác động vào cách thức Trung Quốc vẽ đường cơ sở của họ như thế nào dọc theo đường bờ biển, chúng đã không ngăn chặn được Trung Quốc đưa ra những đòi hỏi quá mức hoặc rõ ràng không phù hợp trong một số trường hợp khác. Các đường cơ sở của Việt Nam. Trong khi từ phía bắc bờ biển đến phía nam, Việt Nam vẽ các đường cơ sở mở rộng từ các hải đảo, chứ không phải là các đường thuỷ triều thấp thuộc bờ biển của họ, tính chất quá mức của những tuyên bố này ở phía nam và tây nam phần bờ biển của nước này thực sự là khác thường. Việt Nam dường như có ý bao gồm hơn 27.000 hải lý vuông mà lẽ ra cần được mở cho quốc tế sử dụng. Trong khi Việt Nam sử dụng các đặc điểm địa lý để mô tả các đường cơ sở của mình, nước này làm như vậy theo một cách thức mở rộng quá mức theo những quy định của UNCLOS như đã được làm rõ trong luật án lệ quốc tế. Như vậy, cũng giống như trong trường hợp của Trung Quốc, quy chế các đường cơ sở do UNCLOS xác lập đã không đóng vai trò kiềm chế với Việt Nam. Các đường cơ sở của Indonesia và Philippine. Là hai quốc gia quần đảo trong khu vực, Indonesia và Philippine được quyền gộp phần lớn vùng nước vào các đường cơ sở của họ và khẳng định quyền chủ quyền trên đó. Mặc dù khi được vẽ lần đầu vào năm 1960, hệ thống các đường cơ sở thẳng của Indonesia không hề phù hợp với luật quốc tế, trong suốt các cuộc đàm phán UNCLOS vào những năm 1970 Indonesia đã vận động thành công để hệ thống của họ được chấp nhận cho tất cả các quốc gia bao gồm hoàn toàn các đảo. Ngày nay, các đường cơ sở của Indonesia đã được chấp nhận như một quy chuẩn. Tuy nhiên, Philippine từ lâu đã duy trì đường cơ sở mở rộng kế thừa từ thời thuộc địa của Tây Ban Nha và không đặt các đường cơ sở của họ phù hợp với UNCLOS cho đến tận tháng 3/2009 như một phần nỗ lực của họ nhằm đáp ứng hạn nộp hồ sơ cho Ủy ban thềm lục địa UNCLOS. Nói cách khác, để xác định thềm lục địa của mình, Philippine đầu tiên phải xác định các đường cơ sở để từ đó mới có thể vẽ ranh giới thềm lục địa. Trong thời gian dẫn đến tuyên bố các đường cơ sở của Philippine, Trung Quốc được cho là đã gây áp lực đáng kể với các thành viên của Quốc hội Philippine. Áp lực này nhằm thuyết phục Quốc hội Philippine thông qua một dự luật đường cơ sở không bao gồm quần đảo Trường Sa bên trong các đường cơ sở của quần đảo Philippine. Điều Trung Quốc muốn hơn là Philippine vẽ các đường cơ sở xung quanh các đảo “chính” và xem Trường Sa mà Philippine yêu sách như một “quy chế đảo riêng biệt” bên ngoài quần đảo chính và do vậy bên ngoài cả các đường cơ sở quần đảo. Có lẽ, Trung Quốc đã tìm cách để tránh một tình huống mà trong đó Philippine tuyên bố quần đảo Trường Sa có chủ quyền lãnh thổ không thể tách rời khỏi Philippine khi vẽ các đường cơ sở bao gồm cả các đảo chính của Philippine và cả nhóm đảo Kalayaan (Trường Sa). Vì những lí do rõ ràng, Trung Quốc nhạy cảm với những khó khăn chính trị ngày càng gia tăng mà chính phủ Philippines sẽ phải đối mặt trong việc đàm phán về quyền lãnh thổ, việc mà luật pháp Philippine cho rằng “cốt lõi” hay không thể tách rời khỏi lãnh thổ của họ. Cho dù vì áp lực của Trung Quốc hay một số lí do khác, sau một thời kì khó khăn chính trị, Quốc hội Philippine thực sự đã ban hành một dự luật các đường cơ sở trong đó loại yêu sách Kalayaan của họ trong quần đảo Trường Sa khỏi yêu sách quần đảo của họ và coi nhóm đảo đó như một tập hợp đảo riêng biệt. Điều này đã làm cho một số người ở Philippine tức giận rằng chính phủ của họ đã không chống lại nổi áp lực của Trung Quốc, sự oán giận mà đã đổ thêm dầu vào nỗi thất vọng mang tính chủ nghĩa dân tộc với sự can thiệp lúc đó của Trung Quốc trong những nỗ lực của Philippine nhằm thực hiện các cuộc điều tra về Bãi cỏ rong (A: Reed Bank, TQ: Liyue Tan, Lile Tan -nd). Tóm lại, hệ thống các đường cơ sở được thiết lập theo UNCLOS đã không đủ để ngăn chặn ít nhất là hai nước mấu chốt ở biển Đông - Việt Nam và Trung Quốc - khỏi đưa ra những yêu sách biển quá mức, bất hợp pháp và đã không đủ để loại bỏ va chạm giữa các quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam, như sẽ chứng minh dưới đây, nhìn chung đã tuân thủ tốt hơn các quy tắc về phân định biên giới biển theo UNCLOS hơn là Trung Quốc. Vùng đặc quyền kinh tế. Chuyển sang các nguồn tài nguyên ở biển Đông, có lẽ khuôn khổ UNCLOS quan trọng nhất được thiết lập nhằm đạt tới an ninh và ổn định hàng hải là quy chế của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Vùng EEZ được thiết lập để giảm thiểu các tranh chấp đối với nguồn tài nguyên ở những dòng nước và đối với nguồn tài nguyên dưới đáy biển ra đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển. UNCLOS cung cấp cho các quốc gia ven biển quy định quyền pháp lý để quản lý, bảo vệ và bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong khu vực này. Việc quy chế EEZ thay thế quy chế thềm lục địa để quản lý đáy biển ra đến 200 hải lý là một thực tế thường bị xem nhẹ. Vì vậy, những điều khoản thềm lục địa UNCLOS chỉ có tầm quan trọng thực tiễn trong các trường hợp mà theo đó một quốc gia có thể đòi hỏi các quyền thềm lục địa vượt ngoài 200 hải lý - được biết như là thềm lục địa mở rộng. UNCLOS khá rõ ràng rằng một tuyên bố quyền tài phán quốc gia đối với các nguồn tài nguyên phải được dựa trên địa lý của quốc gia ven biển. Biểu hiện của Trung Quốc về tuyên bố quyền tài phán hàng hải của họ trong biển Đông theo đường chữ U táo bạo mà không có bất cứ sự xem xét dù là trực tiếp hay thậm chí là gián tiếp nào về đặc điểm của hình thù địa lý duyên hải hay thậm chí là cả đường cơ sở của họ vì vậy là một sự vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và các qui chuẩn về cách hành xử được kỳ vọng của các quốc gia như đã nói rõ trong quy chế đường biên giới biển do UNCLOS lập ra. Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc do vậy là một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông - còn lại là các tranh chấp khác đang diễn ra về chủ quyền đối với các đảo biển đã được nói ở trên. Ý nghĩa cụ thể của tuyên bố đường hình chữ U của Trung Quốc lảng tránh sự xác định rõ ràng, dường như đây là một phần chính sách nhà nước mà Trung Quốc lựa chọn liên quan đến yêu sách này. Bốn sự giải thích thay thế khác hay có lẽ là trùng hợp nhau đã thể hiện ý nghĩa quyền tài phán của đường này: đối với một số người nó thể hiện chủ quyền hay quyền chủ quyền của Trung Quốc, đối với một số khác nó thể hiện một vùng với các quyền mang tính lịch sử quản lý khu vực, đối với một số khác nữa nó là một sự thể hiện các lợi ích về an ninh, và cuối cùng đối với một số người nó là một vùng mà trong đó Trung Quốc sở hữu tất cả các đảo và bất kỳ quyền về không gian vùng nước nào mà các đảo này có thể yêu sách. Chỉ có lời giải thích cuối cùng có giá trị theo UNCLOS, và thậm chí điều đó còn bị suy yếu bởi tuyên bố của Trung Quốc trong luật trong nước của Trung Quốc rằng họ có thêm các quyền lịch sử lâu đời đối với các vùng nước mà vượt ra ngoài những gì mà luật pháp quốc tế hiện nay công nhận. Thêm vào đó, Trung Quốc tuyên bố trong một bức thư gửi cho Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Giới hạn của thềm lục địa rằng quần đảo Trường Sa “hoàn toàn có quyền có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa.â  Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc - một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông
Mặt khác, tận dụng quá trình mà theo đó các quốc gia có thể tạo ra những tuyên bố thềm lục địa vượt quá 200 hải lý, Việt Nam và Malaysia đã tuyên bố công khai vùng đặc quyền kinh tế của họ trên biển Đông cộng thêm việc mở rộng các quyền thềm lục địa mà hoàn toàn tuân thủ các điều khoản của UNCLOS, tất nhiên ngoại trừ việc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bắt đầu quá xa ra biển do các đường cơ sở không phù hợp của nước này. Philippine và Indonesia mỗi bên cũng duy trì một tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý thích hợp xung quanh các đường cơ sở quần đảo của họ, được xác định theo địa lý. Không giống như Trung Quốc, bốn nước yêu sách chủ quyền này đối với một số hoặc tất cả các đảo Trường Sa đã hoàn toàn kiềm chế không tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa mở rộng mà các điểm đảo này không được quyền hưởng. Vì vậy, rõ ràng là ngoài cuộc đấu tranh chủ quyền trên các đảo, va chạm liên quan đến các quyền đánh bắt cá và cạnh tranh đối với nguồn tài nguyên hydrocarbon cần bổ sung thêm một cuộc đấu tranh về khuôn khổ qui phạm pháp luật mà theo đó các tranh chấp sẽ được giải quyết. Liệu UNCLOS, với tư cách là một quy chế quốc tế được chấp nhận rộng rãi và được phát triển để gìn giữ sự ổn định hàng hải trong cuộc cạnh tranh các nguồn tài nguyên biển có nên điều phối việc giải quyết các tranh chấp hay không? Hay cơ sở giải quyết tranh chấp nên là quan điểm của Trung Quốc về những quyền lợi lịch sử và sức mạnh đang ngày càng gia tăng của họ để thực thi chúng? Tuy nhiên tại thời điểm này, các điều khoản phân bổ nguồn tài nguyên của UNCLOS như một quy chế đảm bảo an ninh hàng hải và sự ổn định đã không thành công ở biển Đông. Các quyền hàng hải. Quy chế thứ ba của UNCLOS mang bình luận ngắn gọn, vì nó liên quan đến phạm trù của các cuộc tranh chấp bao hàm việc kiểm soát đối với các vùng nước ở biển Đông. Trong suốt quá trình các cuộc đàm phán dẫn đến bản Công ước cuối cùng, đã có bất đồng giữa các quyền lợi hợp pháp của các quốc gia ven biển trong việc bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật ngoài khơi và quyền tự do hàng hải ở những vùng biển sâu khác mà cho phép các nước thực hiện tự do thương mại và để bảo vệ lợi ích an ninh của họ. Chế độ vùng đặc quyền kinh tế đã được soạn thảo như một thoả hiệp được cân bằng một cách thận trọng giữa hai lợi ích hợp pháp. Nó bảo vệ các quyền đối với các nguồn tài nguyên bằng cách cho phép các quốc gia có chủ quyền đặc quyền và quyền tài phán đủ để họ quản lý nhưng không phải là chủ quyền hoàn toàn, nghĩa là cho phép các quốc gia ven biển can thiệp vào quyền tự do hàng hải của các nước khác khi họ dùng sức mạnh hải quân để theo đuổi các lợi ích an ninh của mình. Bởi vậy, sự tự do hàng hải, tự do hàng không và một số hoạt động hợp pháp lâu đời khác trên vùng biển quốc tế, bao gồm cả tự do quân sự, đã được duy trì một cách cụ thể bởi tất cả các quốc gia trong khuôn khổ quyền tài phán của UNCLOS tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việc Mỹ và Trung Quốc đấu tranh về sự cân bằng này là sự phản ánh thất bại của UNCLOS trong việc đáp ứng đầy đủ tiềm năng của nó như một cơ chế ổn định hàng hải liên quan đến việc cân bằng quyền lợi của các quốc gia ven biển và tự do quốc tế trong vùng đặc quyền kinh tế. Từ những phân tích trên đây có thể thấy rõ rằng chưa có được sự tuân thủ ở cấp độ toàn cầu về bộ quy tắc của UNCLOS trong việc vẽ các đường biên giới phân định biển mà phân bổ các quyền lợi tài nguyên cũng như tự do hàng hải cho mục đích quân sự. Việc ký kết các hiệp định và công ước không đồng nghĩa với việc tuân thủ các quy định và các chuẩn mực mà chúng đề ra. Cần phải có những nỗ lực kiên trì để tăng cường quy chế UNCLOS và khuyến khích việc áp dụng nó trên toàn cầu. (còn nữa)Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2011-danh-gia-hieu-qua-cac-khuon-kho-va-co-che-ve-an-ninh-bien-tren-bien-dong-hien-nay
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #211 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 12:44:43 am » |
|
Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay (tiếp theo) Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển ĐôngBởi vì khuôn khổ qui chuẩn do UNCLOS đưa ra không đủ để xây dựng sự ổn định hàng hải trong các mối quan hệ ở biển Đông, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã có những bước cố gắng đưa ra một khuôn khổ chính trị cho sự ổn định. Trong suốt những năm cuối thập kỷ 1990 và những năm bắt đầu thiên niên kỷ mới, ASEAN đã tìm cách để giảm thiểu căng thẳng và thúc đẩy một số nguyên tắc thành lập thông qua một sáng kiến của Indonesia. Cụ thể, ASEAN đã tìm cách “thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực thông qua tuân thủ công lý và quy định của pháp luật trong các mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực này... và đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế của khu vực.â UNCLOS. Như đã chứng minh ở trên, việc cam kết tuân thủ các điều khoản và quy phạm pháp luật trong UNCLOS đã minh chứng một sự thất bại ở cả khía cạnh pháp lý lẫn chính trị vì tuyên bố của Trung Quốc vê quyền tài phán ở biển Đông dựa trên khái niệm của các quyền lợi mang tính lịch sử hơn là dựa trên khuôn khổ địa lý được đưa ra bởi Công ước. ASEAN đã không thực hiện được bất cứ tiến trình thêm nào thông qua những phương cách chính trị để thay đổi cách cư xử của Trung Quốc về điểm này so với Mỹ trong việc khuyến khích tuân thủ quy chế thẩm quyền trên biển. Nói cách khác, cần lưu ý rằng mỗi hành động quốc gia của một nước ASEAN về lĩnh vực hàng hải trong thập kỷ qua nhìn chung là phù hợp với các điều khoản của UNCLOS. Philippine đặc biệt đã từ bỏ các tuyên bố lịch sử của mình về vấn đề vùng nước quần đảo của họ để ủng hộ hệ thống dựa trên địa lý mà UNCLOS quy định. Điều này có thể ít nhất là một phần do mong muốn liên kết các nguyên tắc và quy chuẩn trong ASEAN để mang lại lợi ích từ một sự thống nhất chính trị mà một sự liên kết như thế có thể thúc đẩy. Như vậy, ít nhất liên quan đến các quyết định của Philippine, bản DOC đã thành công trong việc thúc đẩy các quy phạm pháp luật của UNCLOS như một cơ sở để tạo nên các tuyên bố có thẩm quyền, hơn là những tuyên bố chỉ mang tính lịch sử. Tự do hàng hải. Về cam kết của DOC nhằm nêu cao các quyền tự do hàng hải quốc tế trên biển Đông có một động lực ngầm khá thú vị ở khu vực Đông Nam Á. Ngay cả khi Philippine, Việt Nam, Singapore và các nước khác tìm cách để thu hút sức mạnh hải quân Mỹ gần hơn đến khu vực này, có một xu hướng đáng chú ý nhằm tính toán lại sự cân bằng về quyền và lợi ích của các quốc gia ven biển trong khu vực đặc quyền kinh tế theo các cách thức mà đòi hỏi phải có sự cho phép của các quốc gia ven biển trước khi một thế lực bên ngoài nào có có thể tiến hành việc tập trận hay các hoạt động khác trong vùng biển thẩm quyền tài phán của họ. Trong khi điều này là mối quan ngại đáng kể tới Mỹ - vì nó làm suy yếu nguồn cội chính của sức mạnh khu vực của Mỹ - điều này dường như nhìn chung không gây quan ngại lắm ở nhiều nước Đông Nam Á. Có thể thấy điều này qua tuyên bố về cách hiểu đi kèm với thông báo gia nhập UNCLOS của Thái Lan, trong đó nêu: Chính phủ vương quốc Thái Lan hiểu rằng, trong vùng đặc quyền kinh tế, việc hưởng tự do hàng hải theo các quy định có liên quan đến Công ước không bao gồm bất cứ sự sử dụng không hoà bình nào mà không có sự đồng ý của quốc gia ven biển, cụ thể là những hoạt động tập trận quân sự hay những hoạt động khác mà có thể ảnh hưởng đến quyền lợi hoặc lợi ích của quốc gia trên biển....[11] Chỉ có Thái Lan cùng với Malaysia và Trung Quốc là các quốc gia khu vực có tuyên bố công khai như vậy, nhưng các cuộc đối thoại riêng tư chỉ ra có thể có thậm chí nhiều hơn sự đồng thuận chung giữa các nước Đông Nam Á về vấn đề này. Điều rõ ràng từ các cuộc đối thoại và từ cách cư xử của các quốc gia Đông Nam Á là đối tượng của mối quan tâm hiện tại không phải là sức mạnh hải quân của Mỹ, mà là khả năng quân sự đang lớn mạnh của Trung Quốc. Nói theo cách khác, nếu xu hướng hiện nay dẫn đến khu vực ngày càng hạn chế các hoạt động hải quân trong khi Mỹ tiếp tục thực hiện tự do hàng hải trên toàn biển Đông vì tất cả những mục tiêu quân sự - trừ trường hợp gặp xích mích với Trung Quốc - trong các vùng biển tranh chấp trên biển Đông thì Trung Quốc có thể bắt đầu phải nếm cách xử sự tương tự từ các láng giềng của mình theo cách mà nước này đã đối xử với Hải quân Hoa Kỳ. Các biện pháp xây dựng lòng tin. Cam kết trong DOC nhằm thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin có thể được ghi nhận một trong những thành công của nó đó là Hiệp định phân định lãnh thổ trên biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ [Hiệp định Vịnh Bắc bộ] giữa Việt Nam và Trung Quốc mà có hiệu lực vào tháng 6 năm 2004. Hiệp định này phân định biên giới trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ mà cho đến nay là biên giới duy nhất trên biển được phân định của Trung Quốc và thiết lập một khu đánh bắt cá chung theo một thoả thuận đi kèm. Khu đánh bắt cá chung này bao gồm hầu hết các khu đánh bắt đang hoạt động trong vùng và kéo dài đến tận năm 2019, và sau đó sử phần lớn không gian này sẽ quay về dưới sự kiếm soát của Việt Nam.[12] Hiệp định đã quy định các đội tuần tra đánh bắt cá chung, đôi khi được thực hiện, nhưng có lẽ không có sự nhiệt tình mấy từ cả hai bên. Sự đệ trình chung lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa về các đường biên giới biển dự kiến của Việt Nam và Malaysia trên biển Đông cũng cần được ghi nhận như là một dấu hiệu của việc xây dựng lòng tin song phương giữa hai quốc gia này. Việc Philippine và Brunei không thể tham gia với hai nước này có thể phản ánh mức độ phát triển của luật biển của họ. Một khi tiến trình bổ sung hoàn tất quy trình làm luật trong nước, hợp tác quốc tế bổ sung giữa bốn quốc gia ASEAN này trong đệ trình quốc tế của họ có thể trở nên rõ ràng. Đương nhiên điều này sẽ phản ánh cách thức đồng thuận mà ASEAN ưa thích. Điều đó cũng có thể mang lại sức nặng trong đàm phán với Trung Quốc vì Trung Quốc rõ ràng sẽ trở thành nước duy nhất còn lại dựa vào các tuyên bố của mình trên cơ sở khác với khuôn khổ quy định đã được thống nhất của UNCLOS. Như vậy, sáng kiến về tiến trình xây dựng lòng tin đa phương mà đã đem đến một hiệp định ranh giới chung giữa các bên tranh chấp trong ASEAN trên cơ sở của các điều khoản trong UNCLOS cần được khuyến khích như một cơ chế để khích lệ Trung Quốc tiến hành tương tự như vậy. Tất nhiên, Trung Quốc khăng khăng đòi các cuộc đàm phán song phương giữa họ và các quốc gia tranh chấp khác. Có lẽ phương án ưa thích này của Trung Quốc có thể được tôn trọng nếu các cuộc đàm phán song phương được tiến hành sau khi hoàn thành một tiến trình đàm phán đa phương do các nước tranh chấp còn lại tiến hành là Việt Nam, Malaysia, Philippine, Brunei và có lẽ cả Indonesia để đối phó với khu vực phía đông bắc đảo Natuna - nhằm đi đến một sự hiểu biết chung về ranh giới biển Đông giữa họ với nhau. Một trong những sự phức tạp hiện làm các cuộc đàm phán song phương trở nên quá khó khăn đó là thoả thuận của một bên tranh chấp với Trung Quốc ảnh hưởng đến khả năng đàm phán của nước này với tất cả các bên tranh chấp khác. Một tiến trình hai bước dựa trên thoả thuận cấp cao giữa các nước ASEAN, theo sau đó là các cuộc đàm phán song phương với Trung Quốc có thể dẫn đến việc sẽ đạt được một khuôn khổ khu vực mở rộng. Ngăn chặn việc kiểm soát các đảo và kiềm chế vũ lực. Một trong những khía cạnh hiệu quả nhất của DOC là ngăn chặn sự thay đổi hiện trạng chiếm giữ trong suốt 16 năm, kể từ vụ đảo Vành Khăn (A: Mischief Reef, TQ: Meiji Jiao- nd) thúc giục các bên phải nhanh chóng thay đổi tiến trình. Các cột mốc được Trung Quốc cắm trên Dải Amy Douglas và bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) quá gây tranh cãi vì nó báo hiệu một sự đổ vỡ rõ ràng đối với chuẩn mực hành vi mang tính ổn định và cũng là quan trọng nhất này. Các bên cũng hành động với sự kiềm chế quân sự vì thoả thuận không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực dường như đã bao hàm một sự hiểu biết rằng khu vực này sẽ không bị quân sự hoá. Tuy nhiên, ngay cả thoả thuận đó, dường như đang bị phá vỡ trong bối cảnh căng thẳng hiện tại. Mặc dù hầu hết người Trung Quốc nhìn nhận đất nước họ như nước duy nhất hành động kiềm chế trong khi các bên tranh chấp khác đoạt mất các nguồn tài nguyên nhưng sự thật có nhiều sắc thái khác. Trung Quốc có thể không quân sự hoá các tranh chấp ở biển Đông, nhưng chắc chắn họ sẽ tận dụng những tiềm lực hàng hải quốc gia to lớn khác để gây ảnh hưởng ở khu vực, bao gồm các tàu của Bộ chỉ huy thực thi luật đánh cá và Dịch vụ thăm dò biển của họ. Kết luận.Như đã từng thực hiện trong những năm 1995 và 1996, Indonesia với tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm 2011 đã tích cực tìm kiếm để mang lại cho cách tiếp cận hoà bình hơn trong vấn đề giải quyết tranh chấp, bao gồm việc tài trợ cho các cuộc thảo luận và đối thoại. Mỹ đã kêu gọi một cách công khai các bên cần đạt được tiến triển về một thoả thuận mang tính thực thi cho DOC hay cho một Bộ ứng xử COC đầy đủ, chính thức. Philippine đề xuất một vùng tự do và hợp tác. Không thiếu những nguyện vọng tốt nhưng dường như có một sự thiếu vắng ý chí chính trị nhằm tìm kiếm những thoả hiệp và tất cả các bên đều đang sử dụng sức mạnh hải quân đã gửi đi các tín hiệu về sự quyết tâm của họ. Nếu các bên muốn ngăn chặn xung đột, câu trả lời không nằm trong các kiến nghị một mất - một còn về chủ quyền và quyền tài phán mà nằm ở việc kiếm tìm những câu trả lời trong một số ví dụ của các khuôn khổ các bên cùng có lợi mà sẽ khu vực hoá lãnh thổ và vùng nước trên biển Đông, cho phép phát triển chung các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, và tạo điều kiện cho việc thực thi chung các điều luật. Nếu không tình hình sẽ lại giống như từ trước đến nay – kẻ mạnh sẽ làm những điều mà họ có thể và kẻ yếu sẽ làm những điều mà họ phải làm. Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2011-danh-gia-hieu-qua-cac-khuon-kho-va-co-che-ve-an-ninh-bien-tren-bien-dong-hien-nay
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
lyuka
Thành viên

Bài viết: 21
|
 |
« Trả lời #212 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2011, 03:45:48 pm » |
|
Từ Hà Nội vẫn nhìn thấy Trường SaNhờ hệ thống vệ tinh, Bộ Quốc phòng có thể quan sát được tình hình Trường Sa ngay từ Hà Nội. “Các đồng chí phải làm thế nào để hằng ngày tôi có thể nhìn thấy, nói chuyện trực tiếp với từng đồng chí đảo trưởng và chỉ huy nhà giàn DK” - Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã thôi thúc các cán bộ, kỹ sư thuộc Trung tâm Kỹ thuật thông tin Công nghệ cao (Binh chủng Thông tin liên lạc) vượt mọi sóng gió, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lắp đặt 39 trạm VSAT thành phần Bộ Quốc phòng tại 15 nhà giàn và 24 đảo, điểm đảo thuộc sự quản lý của Quân chủng Hải quân. Suốt mấy tháng nay, phòng làm việc của Đại tá Nguyễn Duy Hiền, Phó giám đốc Trung tâm Kỹ thuật Thông tin Công nghệ cao đóng cửa im ỉm. Đại tá Phạm Văn Thẩm, Chính trị viên Trung tâm tiết lộ, anh Hiền cùng 3 kỹ sư của Trung tâm đang “ăn sóng, nằm gió” trên các nhà giàn DK, đảo chìm, đảo nổi của Quần đảo Trường Sa để lắp đặt, chuyển giao kỹ thuật sử dụng các trạm VSAT thành phần Bộ Quốc phòng cho các đơn vị. Nụ cười chiến thắng của các kỹ sư và cán bộ, chiến sĩ nhà giàn DK khi lắp xong một trạm VSAT.
Trung úy, kỹ sư Vũ Văn Dũng, người vừa có gần 2 tháng công tác trên các đảo, điểm đảo Trường Sa tâm sự: “Khi nhận nhiệm vụ tổ chức lắp đặt 39 trạm VSAT tại 15 nhà giàn và 24 đảo, điểm đảo thuộc Quân chủng Hải quân, chúng tôi hiểu đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, không những góp phần vào quá trình thực hiện xây dựng hệ thống thông tin quân sự hiện đại mà còn là tấm lòng của những người lính thông tin hướng về Trường Sa thân yêu”. “Lắp đặt các trạm VSAT trên Biển Đông có gì khó?”. Đại tá Đặng Đức Đông, Giám đốc Trung tâm cho biết: “Khó khăn đầu tiên đến ngay trong quá trình làm công tác chuẩn bị, với quỹ thời gian ngắn, yêu cầu kỹ thuật cao, địa bàn hoạt động rộng, lại phải phối hợp với nhiều lực lượng trong Binh chủng và Quân chủng Hải quân. Chúng tôi đã gặp không ít trở lực, có lúc tưởng chừng không thể thực hiện được. Có những khâu như dự toán thiết kế, trong điều kiện không được tiếp cận với thực địa, mà mọi tính toán đều thông qua các bản vẽ thiết kế của các nhà giàn DK và thông tin mà các đồng chí cán bộ nhà giàn gọi điện về thông báo. Yêu cầu thiết kế là không được ảnh hưởng đến kết cấu chung của các nhà giàn và chịu được sự tác động của điều kiện thời tiết khí hậu biển, đảo”. Các kỹ sư phải “treo” mình trên dây thừng khi di chuyển từ tàu lên nhà giàn DK.
Gọi điện cho chúng tôi khi đang ở trên một nhà giàn, Đại tá Nguyễn Duy Hiền báo tin: “Chúng tôi đã chuẩn bị hết sức chu đáo và tỉ mỉ, từ những con ốc vít, bộ đồ cơ công, đến những điều kiện bảo đảm sinh hoạt cho bộ đội hoạt động dài ngày trên biển, đảo. Thế nhưng, ra đây mới thấy cái khó nhất là vận chuyển thiết bị từ tàu lên nhà giàn. Nhiều lần đến sát nhà giàn nhưng sóng to, gió lớn, không thể đưa thiết bị lên được. Có lúc, chuyển được một cái máy nổ từ tàu lên nhà giàn, chúng tôi cảm động đến phát khóc”. Đến Trung tâm vào những ngày này, ai cũng cảm nhận được bầu không khí khẩn trương, mỗi người làm việc bằng hai, không kể ngày đêm. Cả Trung tâm như công xưởng lớn, với tinh thần “Tất cả vì Trường Sa thân yêu”. Đại tá Phạm Văn Thẩm cho biết: “Chỉ trong thời gian một tuần, với khối lượng công việc lớn, cán bộ, nhân viên của Trung tâm đã làm nên một kỷ lục mới trong công tác chuẩn bị là tiếp nhận, tiến hành đồng bộ, khai báo luồng, tổ chức đóng gói, vận chuyển hàng trăm tấn trang thiết bị thông tin, trên quãng đường hàng nghìn ki-lô-mét đến khu vực tập kết phục vụ cho lắp đặt 39 trạm VSAT thành phần Bộ Quốc phòng tại các nhà giàn và đảo, điểm đảo bảo đảm an toàn tuyệt đối”. Cùng với công tác chuẩn bị, Đảng ủy, Ban giám đốc Trung tâm đã lựa chọn những đồng chí cán bộ có kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn, sức khỏe tốt và có ý thức trách nhiệm cao để thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, trực tiếp chỉ huy, lắp đặt. Đại tá Nguyễn Duy Hiền, Phó giám đốc Trung tâm cùng 3 kỹ sư: Thượng úy Phạm Văn Ba, Thiếu úy Trương Khánh Tùng và Thiếu tá Nguyễn Trung Tuấn là những người trực tiếp làm nhiệm vụ tại các nhà giàn. Mỗi người đều có hoàn cảnh khó khăn riêng. Người thì đang phải đi thuê nhà, người thì vợ con ở xa, nhưng điểm chung là tất cả đều sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Thiếu úy Trương Khánh Tùng bày tỏ: “Tôi nghĩ mình còn thanh niên độc thân, ra Trường Sa không chỉ là nhiệm vụ mà còn là niềm mơ ước. Nhưng như anh Phạm Văn Ba, quê ở tận Quảng Ngãi, vợ thì ở mãi Sơn Tây. Chưa kể là ra Trường Sa mà ngay trong công tác bình thường, anh ấy đã thường xuyên đi công tác nơi biên giới, vùng sâu, vùng xa. Vậy mà anh ấy vẫn hăng hái, nói mọi khó khăn đều có thể khắc phục được, còn vinh dự nào lớn hơn việc đưa Trường Sa và các nhà giàn DK “về gần” hơn với thủ đô Hà Nội”. Khi chúng tôi nhấc điện thoại gọi cho Phạm Văn Ba thì anh vừa hoàn thành một cuộc “thám hiểm” chính khả năng trèo bám của mình bằng dây thừng từ tàu lên nhà giàn. Các nhà giàn trên thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc giờ đây đã rất gần đất liền. Để minh chứng, Phạm Văn Ba bảo chúng tôi mở sẵn email rồi anh gửi cho chúng tôi xem tấm hình chụp các anh vừa di chuyển mà nếu nhìn, hẳn ai cũng nghĩ đây là hình ảnh của các diễn viên xiếc. Đáp lại nỗi lo âu của chúng tôi là nụ cười chiến thắng của các anh từ phía nhà giàn: “Chúng tôi đang lắp những trạm VSAT cuối cùng. Mọi việc đều rất tốt đẹp. Bộ đội trên các nhà giàn rất thông minh, tiếp nhận chuyển giao công nghệ rất nhanh, sử dụng máy móc rất thành thạo. Tin tưởng rằng, với sự góp mặt của 39 trạm VSAT thành phần Bộ Quốc phòng trên Biển Đông, những cánh sóng thông tin sẽ mãi mãi bay cao, bay xa và những người lính Trường Sa từ nay sẽ rất gần gũi với đất liền, hợp thành nguồn sức mạnh cùng với toàn quân, toàn dân bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thân yêu của Tổ quốc”. http://vtc.vn/2-300281/xa-hoi/tu-ha-noi-van-nhin-thay-truong-sa.htm
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #213 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2011, 12:08:24 am » |
|
Tuyên bố Hà nội của Bà Clinton về Biển Đông: Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ Bài viết của TS. Renato Cruz De Castro (Philippines) nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn của Mỹ trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông, đó là chính sách kiềm chế (constrainment ) đối với một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Bài viết cũng đưa ra những thách thức về khả năng thành công của với chính sách này. Bài viết nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông. Bài viết lưu ý rằng tuyên bố của bà khởi xướng một chiến lược ngoại giao mới trong việc ứng phó với một nước Trung Quốc đang nổi lên và ngày càng quyết liệt trong cách hành xử. Phát biểu của bà Hilary rằng Washington sẵn sàng hợp tác với các quốc gia thành viên ASEAN để thuyết phục Trung Quốc theo lối tiếp cận đa phương trong tranh chấp Biển Đông ngụ ý về việc hình thành và áp dụng sức ép tổng lực của khu vực để thay đổi hành vi của Trung Quốc liên quan đến tranh chấp. Tuy nhiên, người ta quan sát rằng Trung Quốc hiện nay đang thay đổi chính sách này bằng cách cảnh cáo các nước ASEAN về việc lôi kéo Mỹ và thúc đẩy một giải pháp đa phương cho tranh chấp này. Trong phần kết luận, bài viết cảnh báo chính sách này đang bị thách thức bởi: a) Trung Quốc là một trong những đối tác kinh tế chính và đôi khi là đồng minh chính trị của hầu hết các nước ASEAN và b) các nỗ lực mạnh mẽ của Trung Quốc khiến Mỹ không còn giữ thái độ trung lập trong chiến lược ngoại giao này nữa. Tuy nhiên, thất bại của chính sách này có nghĩa là các nước ASEAN sẽ đối diện với hai viễn cảnh: một sự cân bằng quyền lực châu Á khi mà các cường quốc lớn và nhỏ sẽ tự thấy mình bị chôn chặt trong một cuộc đối đầu liên tiếp, điều mà đến lượt nó sẽ sinh ra các nguy cơ lớn nhất từ trước đến nay về việc tạo ra các liên minh, liên kết, chạy đua vũ trang, gây hấn và xung đột; hoặc một châu Á với Trung Quốc là trung tâm nơi mà Trung Quốc sẽ thử nghiệm sức mạnh vượt trội để duy trì trật tự và định hình khu vực theo hướng có lợi cho nước này. Tóm lược Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 về tranh chấp Biển Đông: Khởi nguồn một chiến lược ngoại giao mới ứng phó với một Trung Quốc đang nổi lên?[1] Tác giả: TS. Renato Cruz De CastroChưa đầy một tháng sau khi Barack Obama tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 44 của Hợp chúng Quốc Hoa Kỳ, Ngọai trưởng mới được bổ nhiệm của ông là bà Hilary Clinton đã bắt đầu chuyến công du châu Á. Chuyến công du châu Á tháng 2 năm 2009 của bà Clinton nhấn mạnh lợi ích mới chớm và mang tính thử nghiệm của chính quyền mới của Mỹ ở khu vực. Trong suốt chuyến đi của mình đến Đông Á, bà nhấn mạnh rằng chính quyền Obama sẽ lắng nghe và phản hồi những quan ngại của đồng minh và đối tác và sẽ không lơ là khu vực cho dù sự có mặt của Mỹ ở đây đang đối mặt với rất nhiều thách thức nghiêm trọng.[2] Trong năm tiếp theo, chính quyền Obama chỉ mất ít thời gian để gây ấn tượng với khu vực rằng Mỹ đang trở lại và đang theo đuổi chính sách tái can dự tích cực vào Đông Á. Chính sách này bao gồm việc tăng cường uy tín của các cam kết chính trị/ngoại giao của Mỹ bằng cách làm vững chắc thêm các liên minh song phương và sự tham gia của Mỹ trong các cơ chế đa phương của khu vực với sự tự tin và tích cực mới tìm ra. Chính sách tái can dự của chính quyền Obama ở Đông Á trở nên ngày càng rõ ràng qua rất nhiều hành động chính sách đối ngoại mạnh mẽ và rõ rệt mà nước này đã thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2010. Tiêu biểu nhất trong số các hành động này là ngụ ý chính sách dài hạn trong Tuyên bố ngày 24/10/2010 của Ngoại trưởng Clinton về Biển Đông ở Hà Nội, Việt Nam. Phát biểu trong Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 17 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố rằng Mỹ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải, tiếp cận mở đối với các không gian hàng hải chung ở châu Á và với việc tôn trọng luật biển quốc tế của các quốc gia duyên hải trong khu vực Biển Đông. Quan trọng hơn, bà thêm rằng Mỹ đã chuẩn bị để thúc đẩy các đàm phán đa phương để giải quyết các tuyên bố chủ quyền đang gây tranh cãi về quần đảo Trường Sa. Thêm vào đó, tuyên bố của bà thẳng thừng phủ nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông mà mở rộng đến bờ biển của các nước ASEAN và gây ra sự chồng lấn một phần với các tuyên bố lãnh thổ của bốn nước ASEAN – Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei.[3] Mặc dù tuyên bố của bà được xem như nhằm giảm căng thẳng ở Biển Đông trong tình thế Trung Quốc ngày càng trở nên quả quyết, tuyên bố này thực sự là một lời khiển trách nặng nề với Bắc Kinh, nước luôn khăng khăng trong vài thập kỷ rằng phần lớn Biển Đông và các đảo trong Biển Đông thuộc về họ, và bất cứ giải pháp ngoại giao nào liên quan đến tranh chấp lãnh thổ biển này chỉ nên được giải quyết thông qua đàm phán song phương. Quan trọng nhất, bằng việc đưa ra quan điểm này, Washington đã khéo léo đánh đúng vào nỗi lo sợ của các quốc gia Đông Nam Á về lập trường hiếu chiến hoặc quả quyết của Trung Quốc ở rất nhiều tranh chấp biển khác trong khi bày tỏ sự lo lắng của chính họ về tự do hàng hải sau vụ tàu USS Impeccable tháng 3 năm 2009 va chạm với Trung Quốc.[4] Cuối cùng, tuyên bố của bà Clinton về quần đảo Trường Sa đã được truyền đạt khi Washington nhận thức rõ hơn rằng các quốc gia đưa ra yêu sách ở khu vực ASEAN đang rất lo ngại về sức mạnh hải quân của Trung Quốc và sự gia tăng tính quyết đoán của nước này trong các vụ việc liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, điều dễ dàng nhận ra trong các phân tích trên là ngụ ý dài hạn trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói riêng, và trong chính sách của các quốc gia khu vực nói chung liên quan tới sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7 khởi động một chiến lược ngoại giao mới trong đó ứng phó với một nước Trung Quốc đang lên và ngày càng quả quyết - chính sách chế ngự. Tuyên bố của Ngoại trưởng Clinton rằng Washington sẵn sàng hợp tác với các quốc gia thành viên ASEAN để thuyết phục Trung Quốc tìm kiếm một giải pháp đa phương cho tranh chấp lãnh thổ này ngụ ý việc hình thành và áp dụng sức ép tổng hợp khu vực để thay đổi hành vi của Trung Quốc về một vấn đề cụ thể - Biển Đông. Bài viết nghiên cứu những ngụ ý ngoại giao và chiến lược ẩn sau Tuyên bố Hà Nội năm 2010 khi nó gợi lên sự áp dụng chiến lược ngoại giao chế ngự trước sự lớn mạnh của Trung Quốc. Bài viết nghiên cứu câu hỏi cơ bản: Tuyên bố Hà Nội năm 2010 làm thế nào để có thể thực thi chiến lược kiềm chế trong tình thế một nước Trung Quốc đang trỗi dậy? Bài viết cũng giải quyết những câu hỏi mang tính hệ quả như sau: 1) Kiềm chế là gì? 2) Nền tảng chính trị, chiến lược cho Tuyên bố Hà Nội năm 2010? 3) Những nhân tố cơ bản của Tuyên bố Hà Nội? 4) Làm thế nào những nhân tố đó khiến chiến lược kiềm chế một Trung Quốc đang lên có tác dụng? 5) Trung Quốc đang ứng phó với chính sách kiềm chế đang tiến triển này như thế nào? 6) Đâu là những vấn đề trong việc áp dụng chiến lược này với một nước Trung Quốc đang lên? Và 7) Đâu là giới hạn của kiềm chế như là một chính sách dài hạn trong việc ứng phó với nước Trung Quốc đang nổi lên? Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2017-2017
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #214 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2011, 12:13:43 am » |
|
Trung Quốc đưa tàu ngư chính lớn tới Hoàng Sa Ngư chính 306 - tàu quản lý ngư trường lớn của Trung Quốc lần đầu tiên đã lên đường trong quyết định triển khai lâu dài tới vùng nước quanh quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông. Tàu Ngư chính 306 đã rời cảng ở Quảng Châu, Trung Quốc ra Hoàng Sa. Ảnh: THX Theo Tân hoa xã, hôm qua (2/9) con tàu này đã rời một cảng ở phía nam Trung Quốc. Hãng tin này nhất mạnh, con tàu có trọng lượng nước rẽ tối đa 400 tấn sẽ cùng với hai tàu quản lý ngư trường khác nhỏ hơn tuần tra vùng nước xung quanh quần đảo và bảo vệ chủ quyền hàng hải, quyền đánh bắt các cũng như các lợi ích của Trung Quốc. Ngư chính 306 dài 56 mét, rộng 7,8 mét và cao 3,85 mét, có tốc độ tối đa 18 hải lý/giờ. Hồi đầu tháng 6, một tàu cá Trung Quốc có sự hỗ trợ của hai tàu ngư chính đã phá cáp tàu Viking 2 do PetroVietnam thuê để tiến hành hoạt động thăm dò địa chấn ở Biển Đông khi tàu Viking hoạt động hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Trước đó không lâu, sáng 26/5, tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam, cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của PetroVietnam. Lực lượng hải giám và ngư chính là 2 trong 5 tổ chức thực thi pháp luật biển của Trung Quốc - đang được gia tăng không ngừng cả quy mô lẫn kích cỡ. Giới phân tích cho rằng, Trung Quốc thường thiên về xu hướng sử dụng các tàu phi quân sự hoặc bán quân sự (kiểu như tàu hải giám, ngư chính…) để quấy nhiễu các tàu nước ngoài hoạt động ở các vùng đặc quyền kinh tế hoặc các vùng biển tranh chấp. Hiện Trung Quốc đang có tranh chấp chủ quyền về quần đảo Điếu Ngư (tiếng Nhật gọi là Senkaku) với Nhật Bản ở biển Hoa Đông. Nước này cũng ngày một quả quyết hơn trong tranh chấp chủ quyền với một số quốc gia Đông Nam Á (bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei) tại Biển Đông. Nguồn: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=290849#ixzz1WwSumHUB%20%20http://www.xaluan.com/
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #215 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2011, 12:12:31 am » |
|
Tuyên bố chung Trung Quốc - Philippines sau chuyến thăm của Tổng thống Aquino Sau cuộc Hội đàm giữa Tổng thống Philippines Aquino với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, hội kiến với Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Chủ tịch Quốc hội Ngô Bang Quốc, hai bên ra Tuyên bố chung Trung Quốc - Philippines, đề cập các nội dung cụ thể sau: Hai bên nhất trí dốc sức thúc đẩy quan hệ hợp tác mang tính chiến lược Trung Quốc - Philippines phát triển ổn định, lâu dài; đồng ý tiếp tục thúc đẩy hợp tác trên mọi lĩnh vực dựa trên “Kế hoạch hành động chung hợp tác mang tính chiến lược” hai bên ký vào 29/10/2009. Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đưa ra 5 điểm phát triển quan hệ hai nước: (i) Cần nhìn xa trông rộng nhằm đảm bảo quan hệ phát triển ổn định, bền vững, hai bên cần thực hiện tốt hơn nữa những nhận thức chung chính trị quan trọng mà lãnh đạo hai nước đã đạt được khi thiết lập quan hệ hợp tác mang tính chiến lược dốc sức vì hòa bình và phát triển Trung Quốc - Philippines năm 2005 và “Kế hoạch cùng hành động trong hợp tác mang tính chiến lược Trung Quốc - Philippines”, thúc đẩy toàn diện sâu sắc quan hệ Trung Quốc - Philippines phát triển về phía trước; (ii) Đi sâu khai thác tiềm năng, triển khai cục diện mới về hợp tác kinh tế thương mại hai nước, hai bên cần tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực thương mại, cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng mới, năng lượng tái sinh, tài chính…thực hiện tốt các dự án có liên quan; đi sâu kết cấu kinh tế, triển khai quy mô về thương mại, thúc đẩy xây dựng kết nối, thực hiện đúng thời hạn mục tiêu mới về kim ngạch song phương; (iii) Trao đổi mật thiết, tăng cường hợp tác chấp pháp, an ninh quốc phòng, các bộ ngành liên quan cần duy trì sự trao đổi mật thiết, tăng cường đào tạo cán bộ, trao đổi thông tin, hợp tác về chống và giảm thiểu thảm họa..; chống khủng bố, đánh bại tội phạm xuyên quốc gia, bảo đảm an toàn về tính mạng và tài sản của nhân dân hai nước, duy trì xã hội ổn định; (iv) Kế thừa quá khứ, mở ra tương lai, tuyên truyền về tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước, hai bên cần phải thông qua nhiều biện pháp và con đường để mở rộng giao lưu hữu nghị giữa hai nước nhằm tạo bầu không khí tốt đẹp cho phát triển quan hệ hai nước; (v) Mở cửa, bao dung thúc đẩy điều phối hợp tác khu vực phát triển. TQ mong muốn nhân dịp thành lập 20 năm quan hệ đối thoại Trung Quốc - ASEAN và thực hiện hành động kế hoạch 5 năm lần thứ 2 giữa Trung Quốc - ASEAN, tiếp tục thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, tài chính, xây dựng kết nối, phát triển bền vững, xã hội nhân văn để phát huy vai trò mang tính xây dựng trong việc duy trì ổn định hòa bình Đông Á, thúc đẩy cùng phát triển. Về vấn đề Biển Đông: Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào khẳng định chủ trương và lập trường nhất quán của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Trung Quốc nhất quán chủ trương vấn đề tranh chấp Biển Đông cần phải thông qua nước đương sự, hai bên thông qua đàm phán trao đổi hòa bình để giải quyết. Trước khi giải quyết tranh chấp, các nước có liên quan có thể gác tranh chấp, tích cực tìm kiếm thảo luận về việc khai thác tại khu vực biển liên quan, điều này là phù hợp với lợi ích chung của các quốc gia có liên quan. Trung Quốc mong muốn cùng các nước ASEAN trong đó có Philippines tích cực thực hiện DOC cùng xây dựng khu vực Biển Đông thành vùng biển “hòa bình, hữu nghị, hợp tác”. Tổng thống Philippines nói Philippines khẳng định sẽ dốc sức duy trì hòa bình, ổn định khu vực, dốc sức thực hiện DOC, cho rằng vấn đề Biển Đông không phải là toàn bộ trong quan hệ Trung Quốc - Philippines, không nên để vấn đề Biển Đông ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ hai nước cũng như ảnh hưởng đến sự hợp tác hữu nghị giữa hai nước trên mọi lĩnh vực, tỏ mong muốn có thể sớm giải quyết vấn đề này tạo phúc cho nhân dân hai nước. Hai bên ký 9 thỏa thuận hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, viện trợ, đầu tư, thể dục, du lịch, thông tin, văn hóa, ký Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Trung Quốc - Philippines, hai bên cam kết nâng kim ngạch song phương lên 60 tỷ USD trong 5 năm tới (năm 2010 đạt 27,7 tỷ USD). Ngay sau khi Tổng thống Philippines kết thúc chuyến thăm Trung Quốc (3/9), người đứng đầu các lực lượng vũ trang Philippines tuyên bố hải quân nước này sẽ tiếp tục tăng cường tuần tra trên Biển Đông sau chuyến thăm TQ của Tổng thống Benigno Aquino. Tướng Eduardo Oban, Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Philippines bày tỏ hy vọng tranh chấp trên biển giữa Philippines với Trung Quốc và các nước khác sẽ hạ nhiệt sau chuyến thăm của Tổng thống Aquino tuy nhiên khẳng định Manila sẽ tiếp tục tăng cường khả năng tuần tra và chiến đấu của lực lượng hải quân, nhấn mạnh lập trường cứng rắn của Philippines trong tranh chấp lãnh thổ sẽ không thay đổi nhiều. Tướng Oban cho biết Philippines sẽ tiếp nhận tuần duyên hạm lớp Hamilton thứ 2 từ Mỹ vào năm 2012 và lực lượng không quân Philippines cũng sẽ mua 6 máy bay phản lực chiến đấu, đồng thời đào tạo phi công lái loại máy bay này, ngoài ra tăng cường mức độ tuần tra tại khu vực biển có tranh chấp để bảo vệ các hoạt động khai thác dầu khí của Philippines tại Biển Đông. Trước đó, Hải quân Philippines đã tiếp nhận một chiếc tuần duyên hạm lớp Hamilton của Mỹ hồi tháng 8/2011. Giới chức thông báo chiếc tàu sẽ được điều tới khu vực đặc quyền kinh tế của Philippines trên Biển Đông để bảo vệ hoạt động thăm dò, khai thác dầu mỏ và khí đốt./. Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2023-tuyen-b-chung-tq-philippines-trong-chuyn-thm-ca-tth-aquino
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #216 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2011, 12:11:41 am » |
|
ASEAN và tranh chấp Biển Đông Bài viết của GS. Baldas Ghoshal, Thành viên danh dự, Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (Ấn Độ), nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành. Lời giới thiệuTrọng tâm chính của bài viết là nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành. Tranh chấp quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa liên quan đến một số quốc gia thành viên của ASEAN, là Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Philíppin và Bru-nei. In-đô-nê-xi-a không phải là một bên yêu sách trong tranh chấp, nhưng có thời gian dài đóng góp tích cực vào việc thiết lập các phương thức xây dựng lòng tin với mục tiêu giảm bớt căng thẳng và tránh làm bùng phát bất cứ xung đột nào trong khu vực. Tuy nhiên, việc Trung Quốc gộp cả quần đảo Natura vào yêu sách của họ một vài năm trước đây đã khiến người In-đô-nê-xi-a thực sự bị sốc, họ đã tiến hành một cuộc tập trận lớn nhất xung quanh quần đảo Natura trong vòng ba tuần vào tháng 10 năm 1996 với sự góp mặt của hơn 19.000 binh sĩ, 50 tàu chiến và 41 máy bay bao gồm cả máy bay chiến đấu của ba quân chủng. Những thành viên còn lại của ASEAN dù không có bất kỳ sự liên quan nào đối với tranh chấp nhưng đều quan ngại về Biển Đông như một điểm bùng phát xung đột tiềm tàng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Vì các quốc gia ASEAN tham gia ở mức độ khác nhau vào tranh chấp và do đó lợi ích của họ cũng không tương đồng cho nên không có một cách tiếp cận chung của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, mặc dù tất cả các quốc gia trong khối đều tán thành ý tưởng xây dựng lòng tin và lôi kéo Trung Quốc tham gia vào việc hạn chế tranh chấp và kiềm chế xung đột trong khu vực. Thực ra, mặc dù nói là đồng thuận và đoàn kết ASEAN, mỗi quốc gia thành viên đều theo đuổi chính sách riêng của mình, đặc biệt liên quan đến vấn đề Trung Quốc yêu sách gần như toàn bộ Biển Đông. Người ta thậm chí có thể lập luận rằng trên thực tế, các quốc gia ASEAN đã chia rẽ về cách tiếp cận của họ đối với Trung Quốc, cũng như về phương thức nhằm giảm bớt căng thẳng trong khu vực. Mỗi quốc gia thành viên nhìn nhận Trung Quốc từ góc độ lợi ích quốc gia của chính mình – do vậy Trung Quốc được đánh giá như một nguồn lợi ích kinh tế hoặc giả như một mối đe dọa. Kết quả là, vị thế của ASEAN trong vấn đề chiến lược và chính trị so với Trung Quốc là tương đối yếu. Để bù đắp sự yếu kém này, ASEAN thường xuyên sử dụng phương thức ngoại giao và cố gắng quốc tế hóa các vấn đề khu vực nhằm lôi kéo các cường quốc bên ngoài vào để cân bằng với một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ. Một chiến lược như vậy mang lại cho ASEAN một vị thế ngoại giao cao hơn như trong xung đột Cam-pu-chia trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, giúp ASEAN có thể ngăn chặn được căng thẳng khu vực trong ngắn hạn; tuy nhiên ASEAN đã thất bại trong việc che dấu nhược điểm yếu cố hữu của mình trong việc đối phó với bá chủ khu vực - Trung Quốc. Thứ hai, Trung Quốc hiểu sự chia rẽ của các quốc gia ASEAN trong cách tiếp cận đối với mình và tận dụng triệt để cơ hội này để khoét sâu thêm mâu thuẫn trong hàng ngũ ASEAN. Điều này thể hiện khá rõ từ sự chia rẽ sâu sắc trong quá khứ giữa Philíppin và Ma-lai-xi-a về đề xuất Bộ quy tắc ứng xử dành cho các thành viên của ASEAN và Trung Quốc bao gồm một loạt vấn đề từ tìm kiếm và cứu nạn cho tới khảo sát chung ở Biển Đông. Sau nhiều năm tin tưởng rằng không có gì đáng ngại về một Trung Quốc đang trỗi dậy, chính quyền Bắc Kinh quyết đoán hơn gần đây đang thực hiện chiến thuật chia để trị đối với các nước láng giềng ở Đông Nam Á của mình, tìm cách cô lập những bên yêu sách các quần đảo tranh chấp trong một khu vực nhiều dầu và khí đốt. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì thừa nhận rằng “có những tranh chấp về lãnh thổ và quyền hàng hải” giữa Trung Quốc và một vài quốc gia láng giếng nhưng “những tranh chấp này không nên nhìn nhận như là một tranh chấp giữa Trung Quốc và cả khối ASEAN chỉ bởi vì các quốc gia có liên quan này là thành viên của ASEAN”. Phát biểu đó cho thấy Trung Quốc muốn chia cắt ASEAN thành một bên là các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại những đảo nhỏ trên Biển Đông là Philíppin, Việt Nam, Bru-nei và Ma-lai-xi-a, và bên kia là các quốc gia không có bất kỳ tranh chấp lãnh thổ nào như In-đô-nê-xi-a Thái lan, Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma và Xinh-ga-po. Thứ ba, vì các nước ASEAN không thống nhất trong lập trường của mình đối với Trung Quốc, tất cả các nước này dù là một cách riêng rẽ hay tập hợp đã đi trệch hướng vào các thời điểm khác nhau nhằm cố gắng theo đuổi một chính sách nhân nhượng lợi ích của Trung Quốc về vấn đề này. Trung Quốc chắc chắn có sức ép riêng của mình để đưa ra yêu sách đối với gần như toàn bộ Biển Đông và tiếp tục với “chính sách gặm nhấm dần dần” của mình, nhưng đồng thời cách tiếp cận có phần nhân nhượng của ASEAN có thể đã khuyến khích Trung Quốc theo đuổi điều mà cựu Bộ trưởng quốc phòng Philíppin Mercado những năm 90 gọi là chính sách “vừa đàm vừa chiếm”. Thậm chí thành công hạn chế ASEAN đạt được trong việc lôi kéo Trung Quốc tham gia vào các đối thoại khác nhau về vấn đề Biển Đông, như Đối thoại ASEAN – Trung Quốc, Hội thảo Biển Đông do In-đô-nê-xi-a tổ chức và sáng kiến Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), chủ yếu là vì Trung Quốc nhân nhượng các lợi ích thiết thân của ASEAN trong khi bảo lưu các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Việc chuyển đổi công thức “quy trình ba bước” (xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và giải quyết xung đột) vốn được ghi nhận ban đầu trong mục tiêu của ARF để kiểm soát xung đột trong khu vực thành một mục tiêu cuối cùng mập mờ và hạn chế là “tìm hiểu thêm về các cách tiếp cận đối với xung đột” cũng như việc tái định nghĩa phương thức ngoại giao phòng ngừa trong hội nghị Nhóm công tác CSCAP tại Băng Cốc từ tháng 1-3 năm 1999 là những ví dụ minh họa cho thấy những nỗ lực của ASEAN trong việc đáp ứng sự nhạy cảm và lợi ích của Trung Quốc. Trong bài viết này, chúng tôi muốn lập luận rằng chính sách của ASEAN trong việc lôi kéo sự can dự của Trung Quốc cũng như cách tiếp cận “mềm mỏng” và có phần nhượng bộ của họ đối với vấn đề Biển Đông chỉ đem lại những lợi ích tạm thời ở khía cạnh gác lại tranh chấp, nhưng không có hiệu quả trong việc kiểm soát xung đột hay kiềm chế xung đột leo thang trong tranh chấp ở Trường Sa. Những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông trong hai thập kỷ qua chứng tỏ rằng Trung Quốc chỉ nói suông đối với tiến trình xây dựng lòng tin trên biển, điều mà ARF (Diễn đàn khu vực ASEAN), CSCAP (Hội đồng hợp tác an ninh khu vực Châu Á Thái Bình Dương), những tuyên bố và hoạt động ngoại giao khác nhau của ASEAN cũng như những hiệp định song phương với Trung Quốc đang cố gắng để đạt được. Trung Quốc từ lâu vẫn duy trì quan điểm không thỏa hiệp trong vấn đề chủ quyền đối với Biển Đông; nước này cũng không thật sự chân thành trong vấn đề khai thác chung các nguồn tài nguyên trong khu vực. Căn nguyên của vấn đề là việc chồng chéo của hàng loạt yêu sách chủ quyền đối với hàng trăm hòn đảo và bãi đá. Việc kiểm soát khu vực đó có tác động quan trọng đối với tự do qua lại của tàu thuyền và rốt cuộc, việc triển khai các hoạt động đầu tư vào khí đốt tự nhiên và dầu sẽ không thể được thực hiện cho tới khi các vấn đề chủ quyền được giải quyết. Do đó, các bên tranh chấp đều cố gắng củng cố yêu sách của mình. Trong 53 đảo ở Trường Sa bị chiếm đóng bởi các bên yêu sách khác nhau, Trung Quốc chiếm 11; Philíppin chiếm 8, Ma-lai-xi-a chiếm 5, Đài loan chiếm 1, số đảo còn lại thuộc về Việt Nam. Các quốc gia yêu sách viện dẫn yếu tố lịch sử, địa lý và Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc để hỗ trợ cho yêu sách của mình. Các nước yêu sách, dù không thường xuyên, đều cố gắng tăng cường khả năng phòng thủ trên các đảo mà mình chiếm đóng. Khi chưa có bất kỳ một giải pháp toàn vẹn nào, tranh chấp ở Trường Sa cuối cùng có thể sẽ dẫn đến những cuộc xung đột vũ trang, đặc biệt khi kết hợp với các vấn đề trên đất liền. Tuy nhiên, các nhà phân tích quân sự cho rằng bất chấp sự tăng cường lực lượng đồn trú và triển khai các cơ sở hạ tầng để phòng thủ, không hòn đảo nào ở Trường Sa thực sự có khả năng phòng thủ xét về khía cạnh quân sự. Họ cũng chỉ ra rằng sự phối hợp quân sự giữa mỗi quốc gia yêu sách và các đảo mà họ chiếm đóng có thể bị gián đoạn bởi các vấn đề tiếp vận khá phức tạp. Do đó, việc phòng thủ ở các hòn đảo ở Trường Sa sẽ đặt các quốc gia chiếm đóng trước nhu cầu phải phát triển các năng lực triển khai sức mạnh. Điều này giải thích cho việc tại sao trong những năm gần đây, Trung Quốc đẩy mạnh phát triển năng lực hải quân viễn dương và xây dựng các hạm đội hiện đại phối hợp với các đơn vị trên bộ và trên không để chiến đấu bảo vệ chủ quyền trên biển của mình. Điều đó cũng phần nào giải thích tại sao Trung Quốc, kể từ năm 1994, tiến hành một số cuộc tập trận trên biển mặc dù nhiều lần biểu lộ ý định gác tranh chấp chủ quyền. Đối phó với những động thái này của Trung Quốc, các quốc gia ASEAN, một phần vì cân nhắc đến tình huống khủng hoảng có thể xảy ra do tranh chấp Trường Sa, đã chi tiêu cho quốc phòng và có các hoạt động hợp tác quân sự với phía Mỹ. Chúng tôi cũng lập luận thêm rằng cách thức kiềm chế Trung Quốc không phải là bằng việc bộc lộ những yếu kém của ASEAN và nhân nhượng những lợi ích thiết yếu của Trung Quốc ở Biển Đông, mà chỉ có thể là bằng một lập trường thống nhất và kiên định mà đã truyền tải một thông điệp như các ngoại trưởng ASEAN đã từng làm vào ngày 18 tháng 3 năm 1995 sau sự kiện Trung Quốc chiếm đóng Đảo Vành Khăn bị phát hiện. Chỉ sau khi có tuyên bố đó, phía Trung Quốc đã không những đồng ý giải quyết đa phương với ASEAN mà còn thể hiện một chút linh hoạt đối với vấn đề. Chiến lược Châu Á của Trung Quốc là giải quyết song phương với tất cả các bên để qua đó có thể tối đa hóa lợi thế của một nước lớn trong những mối quan hệ không cân xứng. Nhưng mặt khác, với việc sử dụng lá chắn đoàn kết để thay thế cho sức mạnh quân sự, ASEAN đã buộc Trung Quốc phải giải quyết vấn đề với các thành viên của mình như với cả một khối thống nhất. Đồng thời Trung Quốc chấp nhận một cách tiếp cận mang tính hòa giải hơn. Ví dụ như, tháng 7 năm 1995, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định rằng Trung Quốc không có lợi khi cản trở tự do lưu thông hàng hải ở khu vực Trường Sa và cho biết rằng nước này cảm thấy các vấn đề đều có thể được giải quyết mà không cần có trung gian hòa giải hoặc sự can thiệp nào từ bên ngoài. Thời gian sau đó, ASEAN đã không còn thể hiện được sự đoàn kết như trước đây bởi việc xung đột lợi ích quốc gia đã bắt đầu chia cắt ASEAN một lần nữa, đồng thời cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á gây ra bất ổn trong các quốc gia thành viên cũng như bản thân ASEAN. Tranh chấp Biển Đông và Chiếm đóng dần dầnTrước khi chúng ta đi sâu vào một số điểm đã nêu ở trên cần đề cập ngắn gọn về tranh chấp ở Biển Đông. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam là những bên tranh chấp chủ yếu trong cuộc chiến giành chủ quyền đối với các đảo cùng các bãi đá và đảo nhỏ ở xung quanh, Philíppin sau đó cũng đưa ra yêu sách đối với những hòn đảo giàu tài nguyên này, ngoài ra còn có những bên yêu sách khác như Đài Loan, Ma-lai-xi-a và Bru-nei. Tuy nhiên, trước những năm 1990, chỉ có Trung Quốc và Việt Nam đã từng đụng độ quân sự trong việc tranh chấp các đảo. Sử dụng các sự kiện lịch sử và những phát hiện khảo cổ để chứng minh cho những yêu sách của mình, hai nước có vụ đụng độ đầu tiên vào năm 1973 khi Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa từ một nước Việt nam cộng hòa đang rệu rã và yếu kém, đổi tên nó thành Tây Sa và sát nhập vào khu vực đảo Hải Nam. Tiếp theo vào năm 1988, đã diễn ra một cuộc đụng độ hải quân khốc liệt tại Đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa. Tàu Trung Quốc đã bắn chìm một số tàu Việt Nam và gần 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam đã hi sinh. Một vài năm trước sự kiện này, Trung Quốc phát động một cuộc tấn công trên bộ “để dạy cho người Việt Nam một bài học”. Năm 1992 Trung Quốc cũng đã thông qua luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của mình trong tuyên bố vào tháng 1 năm 1992 trong đó không chỉ nêu ra yêu sách đối với những quần đảo này mà Trung Quốc còn tự cho mình quyền đuổi bắt các tàu thuyền nước ngoài nếu bị bắt gặp vi phạm luật lệ và những quy định của Trung Quốc. Cũng trong năm đó, Việt nam đã cáo buộc Trung Quốc khai thác dầu bởi nước này đã nhượng quyền khai thác cho một công ty thăm dò dầu đến từ Denver, tập đoàn năng lượng Cretonne, trong một khu vực đang tranh chấp quanh Bãi Tư Chính, người Trung Quốc gọi là bãi Vạn An 21 (WAB 21). Thời điểm đưa ra thông báo về việc nhượng quyền của Trung Quốc đối với công ty Mỹ khá quan trọng bởi nó diễn ra cùng lúc khi mà đại diện của quốc gia yêu sách bao gồm những đại biểu từ Trung Quốc và các nước khác đang hội họp tại Jogjakarta dưới sự bảo trợ của Ngoại trưởng In-đô-nê-xi-a, để tìm ra một giải pháp khả dĩ cho vấn đề Biển Đông. Việc này đã khiến một học giả Ma-lai-xi-a bình luận rằng: “Dù hành động đó có ý làm mất mặt một vài bên nào đó hay không, nó đã để lại hệ quả rất xấu trong mối quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc”. Mặc dù phát sinh một số xung đột quân sự trong hai thập kỷ qua, vấn đề yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa chưa đạt được bất kỳ kết quả rõ rệt nào. Khi thiếu vắng những đồng thuận khu vực rõ ràng, quy luật xa xưa “chân lý thuộc về kẻ mạnh” dường như đang thắng thế ở Biển Đông. (còn nữa)Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2025-asean-va-tranh-chp-bin-ong
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #217 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2011, 12:15:28 am » |
|
ASEAN và tranh chấp Biển Đông (tiếp theo) Việc Trung Quốc xâm phạm khắp Biển Đông dẫn đến xung đột trực tiếp với một quốc gia thành viên không thuộc phe cộng sản của ASEAN là Philíppin. Theo nguồn tin của Philíppin, ngày 8 tháng 1 năm 1995, lực lượng vũ trang Trung Quốc được tám tàu chiến yểm trợ đã chiếm Đá Vành Khăn, nằm cách khu vực Philíppin gọi là tỉnh Palawan 200 km, và cắm cờ Trung Quốc. Tháng 3 năm đó, quân đội Philíppin được huy động để đẩy lui và xóa bỏ mọi cột mốc của người Trung Quốc. Năm 1996, một tàu hải quân của Trung Quốc đã đấu pháo với một tàu chiến của Philíppin gần đảo Campones. Tháng 4 năm 1997 hải quân Philíppin phát hiện một tàu cao tốc và hai tàu cá của Trung Quốc trong khu vực Bãi Cạn Hoàng Nham, nơi mà Trung Quốc đang cố gắng thiết lập các công trình xây dựng. Trong năm 1998 và 1999, việc Trung Quốc một lần nữa xây dựng thêm các công trình trên Đá Vành Khăn đã làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước. Trung Quốc đã bác bỏ kháng nghị ngoại giao của Philíppin đối với các hoạt động xây dựng trên đảo, nhấn mạnh rằng đấy là một phần lãnh thổ của Bắc Kinh và đó là công việc sửa chữa đơn thuần nơi trú ẩn cho ngư dân bị hư hại bởi gió biển. Manila khẳng định đảo đá nằm bên trong khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý của mình theo Công ước Luật biển của Liên hiệp quốc đối với quốc gia quần đảo như Philíppin. Khu vực này nằm cách đảo Hải Nam, vùng lãnh thổ gần nhất của Trung Quốc khoảng 1100km. Trung Quốc đang làm mọi cách để giành được đất, cả về mặt thực tế lẫn chính trị, trong cuộc tranh giành Biển Đông. Do vậy, dường như Trung Quốc đang theo đuổi một chính sách mà rất nhiều người hiện tại có thể mô tả là “gặm nhấm dần dần” – một chính sách từng bước thiết lập sự hiện diện lớn mạnh ở Biển Đông mà không cần đến sự đối đầu quân sự. Chính sách này tiến hành đồng thời hai chiến thuật chủ yếu để đạt được mục tiêu cuối cùng là ưu thế vượt trội ở Biển Đông. Chiến thuật đầu tiên là sử dụng phương thức ngoại giao trong đó Trung Quốc không ngần ngại nêu lập trường không thay đổi trong chủ quyền của mình đối với Trường Sa và chủ quyền đó không thể mang ra đàm phán, nhưng Trung Quốc cũng sẵn sàng tạm gác vấn đề chủ quyền, hợp tác với các bên yêu sách khác để tìm ra một giải pháp hòa bình cho tranh chấp dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và cùng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên với các bên khác. Chiến thuật thứ hai là sử dụng phương thức thiết lập sự hiện diện trên thực địa hoặc bản đồ đối với khu vực mà Trung Quốc yêu sách là của mình. Điều này bao gồm cắm các cột mốc lãnh thổ và, ở bất cứ nơi nào có thể, chiếm đóng những đảo đá chưa bị kiểm soát và xây dựng các công trình trên đó, giống điều họ đã từng làm trong vụ Đá Vành Khăn năm 1995 và 1999. Những cột mốc và công trình này được biểu thị trên bản đồ Trung Quốc để mô tả đường ranh giới của biển Trung Quốc và được viện dẫn như là điểm tham khảo trong các cuộc đàm phán song phương hoặc đa phương, kể cả trong hội thảo về Biển Đông được In-đô-nê-xi-a tổ chức. Để thể hiện cam kết của mình đối với luật pháp quốc tế, Trung Quốc cũng tuyên bố rằng nước này sẽ tuân thủ Công ước Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS). Ví dụ, Tuyên bố chung giữa chủ tịch Trung Quốc và những người đứng đầu quốc gia/chính phủ của các nước thành viên ASEAN vào ngày 16 tháng 12 năm 1997 nói rõ “nhận thức rằng việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực phục vụ cho lợi ích của tất cả các bên, họ cam kết giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua các phương thức hòa bình, không viện đến đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Các bên liên quan đồng ý giải quyết tranh chấp liên quan đến Biển Đông thông qua phương thức thảo luận và đàm phán thiện chí theo luật pháp quốc tế đã được công nhận trên toàn cầu, bao gồm Công ước Luật biển 1982”. Điều thú vị là, khi bị các nước ASEAN gây sức ép chấp nhận một bộ quy tắc ứng xử để giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông, Trung Quốc lập luận rằng tuyên bố chung này thích hợp đóng vai trò như chuẩn mực ứng xử. Tuy nhiên trên thực tế, kể từ năm 1982 Trung Quốc đã theo đuổi chiến thuật thứ hai với việc đặt các cột mốc lãnh thổ và chiếm đóng một số đảo đá. Cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển ĐôngĐầu năm 1992, khi Trung Quốc đã là một đối tác đối thoại của ASEAN, ASEAN đưa ra vấn đề về Tuyên bố những quy tắc trên Biển Đông trong đó tổ chức ASEAN– chứ không phải là các quốc gia thành viên – thúc đẩy “tất cả các bên liên quan” có hành động kiềm chế nhằm tạo ra “một môi trường tích cực hình thành giải pháp cuối cùng cho mọi xung đột”. Mười năm sau đó, năm 2002, Trung Quốc ký,một văn kiện gọi là Tuyên bố về ứng xử giữa các bên ở Biển Đông với một khối ASEAN thống nhất, không phải chỉ riêng với những quốc gia có tranh chấp chưa được giải quyết với Trung Quốc. Kể từ đó, ASEAN và Trung Quốc xây dựng một “Bộ quy tắc ứng xử khu vực trên Biển Đông” nhưng một hiệp định dường như bị né tránh. Hiện tại, sau 19 năm đối thoại, cho rằng một khối ASEAN thống nhất không tham gia vào tiến trình là không đúng. Hơn nữa, Trung Quốc biết rằng các nước thành viên của ASEAN đã nhất trí rằng trước khi các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ gặp gỡ để thảo luận với Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông, tất cả 10 quốc gia thành viên sẽ gặp gỡ trước để tìm ra một lập trường chung. Các thành viên ASEAN nên biết rằng nếu riêng lẻ, sức mạnh của họ không đáng kể nhưng nếu đoàn kết lại thì họ sẽ có một sức mạnh chính trị ghê gớm. Hiệp định ký kết giữa Trung Quốc và ASEAN trong năm 2002 đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Năm ngoái, sau hội nghị thường niên của Diễn đàn khu vực ASEAN, với sự tham dự của các Ngoại trưởng từ 27 quốc gia, một tuyên bố được đưa ra trong đó các bộ trưởng “tái khẳng định tầm quan trọng của Tuyên bố cách ứng xử của các bên trên Biển Đông năm 2002 như là văn kiện mang dấu mốc quan trọng giữa ASEAN và Trung Quốc”. Bất chấp dấu ấn mang tính lịch sử này, ngoại trưởng Trung Quốc nhấn mạnh trong khi phản đối Bà Hillary Clinton rằng “Những quốc gia ASEAN không có yêu sách cho phía Trung Quốc biết rằng họ không phải là một phần của tranh chấp, họ không chọn bên và hy vọng rằng những tranh chấp này sẽ được giải quyết thông qua đàm phán song phương giữa các nước có liên quan”. Điều này giống như Trung Quốc đang cố gắng hướng một số nước thành viên của ASEAN chống lại chính tổ chức khu vực của mình, và chia cắt ASEAN thành hai khối. Một khi các quốc gia ASEAN nhận ra rằng Trung Quốc đang quá khẳng định cái mà nước này mô tả là “lợi ích cốt lõi” và gộp cả Biển Đông vào trong đó thì họ sẽ không thờ ơ thêm nữa trước những vấn đề đang phá vỡ mối quan hệ của mình với Trung Quốc. Trước tiên, Ma-lai-xi-a và Việt Nam đưa ra một bản đệ trình chung vào mùng 6 tháng 5 năm 2009. Việt Nam đưa ra một bản đệ trình bổ sung vào mùng 7 tháng 5 năm 2009. Trung Quốc phản đối những bản đệ trình này. Philíppin phản đối bản đệ trình của Ma-lai-xi-a và Việt Nam, đưa ra một bản đệ trình một phần về một khu vực bên ngoài Biển Đông, cho rằng luật về đường cơ sở của mình phù hợp với các điều khoản của UNCLOS về đường cơ sở quần đảo. Trung Quốc và Bru-nei đã đệ trình thông tin sơ bộ. Bản đệ trình chung của Ma-lai-xi-a và Việt Nam kiến nghị rằng hai nước này có lập trường rằng quyền chủ quyền đối với những nguồn tài nguyên ở Biển Đông nên được xác định theo những nguyên tắc điều chỉnh thềm lục địa được tính từ bờ đất liền. Bằng cách không tính thềm lục địa hay khu EEZs của họ từ bất kỳ hòn đảo nào mà họ yêu sách trên Biển Đông, trên thực tế họ giữ lập trường rằng không hòn đảo nào ở Biển Đông được quyền có chiều rộng quá 12 hải lý – khoảng cách tối đa được cho phép theo UNCLOS. Thứ hai, các nhà lãnh đạo ASEAN đã vận động rất tích cực đối với phía Mỹ trong việc đảm nhận một vai trò tích cực trong việc duy trì an ninh cho các tuyến lưu thông hàng hải trên Biển Đông và do đó cũng là an ninh cho khu vực. Sự quyết đoán của Trung Quốc và nỗ lực quốc tế hóa tranh chấp của ASEANTranh chấp giữa Trung Quốc và ASEAN bùng phát công khai sau khi Ngoại trưởng Mỹ Bà Hilary Clinton, trong hội nghị thường niên của Diễn đàn khu vực ASEAN với sự tham dự của 27 quốc gia, bày tỏ sự ủng hộ của Mỹ đối với “quá trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên yêu sách nhằm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau trên tinh thần tự nguyện”. Kết quả là, rõ ràng có nhiều quốc gia, trong và ngoài ASEAN, hoan nghênh vai trò của Mỹ trong việc tạo ra đối trọng với Trung Quốc. Những nước phát biểu về vấn đề này không chỉ là những nước có yêu sách mà còn có cả các nước khác, như In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản và Úc. Việc khẳng định rằng tranh chấp của Bắc Kinh chỉ với một số nước thành viên thay vì với cả khối ASEAN là rất khó phù hợp với những ghi nhận trong các văn kiện nêu trên. Trong khi yêu sách chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông, Bắc Kinh đã đề xuất giải pháp hòa hoãn đối với tranh chấp thay vì thảo luận về khai thác chung các nguồn tài nguyên dưới biển. Để xoa dịu những quan ngại của khu vực, Trung Quốc đã ký một hiệp định bế tắc gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông với cam kết kiềm chế trong các hành động. Mục đích của việc làm này để hướng sự chú ý đi xa khỏi nỗ lực của Trung Quốc trong việc tăng cường kiểm soát quân sự đối với các vị trí mà nước này chiếm đóng và mở rộng đường ranh giới trên thực tế bằng việc ngăn cản các nước láng giềng đánh bắt cá trong các vùng biển tranh chấp hoặc khoan dầu ở vùng biển rất xa Trung Quốc. Trong năm 2007 và 2008, nước này thậm chí ngăn cấm BP và Exxon Mobil khoan dầu trong vùng biển ngoài khơi của Việt Nam. Trung Quốc thực hiện yêu sách bành trướng của mình đối với Biển Đông ở mức độ cao hơn bằng việc thách thức (năm 2009) một tàu khảo sát của hải quân Mỹ, tàu Impeccable, cách bờ biển của đảo Hải Nam Trung Quốc 75 dặm, mở rộng trên thực tế lãnh hải 12 hải lý của mình ra vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 dặm. Phía Mỹ cho rằng theo Luật biển của Liên hiệp quốc, tàu hải quân của nước này có quyền tự do lưu thông qua vùng EEZ. Vào tháng ba, Trung Quốc nói với các quan chức cấp cao của Mỹ rằng chủ quyền của họ đối với Biển Đông là không phải bàn cãi và là một trong những vấn đề cốt lõi không được phép thỏa hiệp. (còn nữa)Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2025-asean-va-tranh-chp-bin-ong
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #218 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2011, 12:16:57 am » |
|
ASEAN và tranh chấp Biển Đông (tiếp theo) Sự khẳng định chủ quyền ngày càng tăng của Trung Quốc, cùng với việc tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng càng làm gia tăng sự lo ngại ở Đông Á. Được khuyến khích bởi lợi ích mới mà chính quyền Obama đưa ra, các quốc gia trong khu vực đã lặng lẽ vận động Washington giữ một vai trò tích cực đối với các vấn đề của khu vực. Một phần bởi sự thúc giục từ ASEAN, phía Mỹ đã nối lại tiếp xúc với Mi-an-ma trong một thỏa thuận để thuyết phục nước này hướng tới cải cách dân chủ và thoát hẳn khỏi vòng tay của Trung Quốc. Kể từ khi giữ vai trò chủ tịch luân phiên ASEAN mùa hè năm ngoái, Việt nam đã có những cố gắng liên tục trong việc thu hút sự chú ý của Mỹ đối với mối đe dọa từ quyền lực Trung Quốc đang trỗi dậy ở Biển Đông; Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Philíppin cũng bày tỏ những quan ngại của mình với Washington. Một số nhà lãnh đạo Đông Nam Á tham dự hội nghị thượng đỉnh về An ninh Hạt nhân tại Washington tháng 3 năm 2010 đã tổ chức những cuộc hội đàm với Tổng thống Barack Obama và các quan chức cấp cao khác để bày tỏ những quan ngại của mình. Thượng nghị sĩ John Kerry, chủ tịch Ủy ban Quan hệ Đối ngoại của Thượng Viện, bày tỏ một cách công khai với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, người cũng tham gia cuộc gặp với Obama, rằng “Chúng tôi sẽ theo sát vấn đề một cách nghiêm túc. Nó liên quan trực tiếp đến tự do lưu thông hàng hải tại khu vực”. Kết LuậnNhững phân tích được đề cập ở trên cho thấy chính sách của ASEAN trong việc lôi kéo sự can dự của Trung Quốc và kìm chế cách hành xử của nước này ở Biển Đông chỉ thành công hạn chế trong phạm vi tạm gác lại xung đột. Cho đến nay, không một cơ chế nào trong ba cơ chế mà ASEAN áp dụng để chế ngự Trung Quốc – Đối thoại ASEAN – Trung Quốc, Hội thảo Biển Đông và ARF, mang lại một kết quả rõ ràng cho việc giải quyết vấn đề đã gây ra những căng thẳng trong khu vực. Như chúng tôi đã đề cập ở phía trên, căn nguyên của vấn đề là Trung Quốc và sự quyết đoán dần dần của nước này ở Biển Đông. Mục tiêu chính của ASEAN là khuyến khích Trung Quốc đồng ý giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và không chiếm đóng thêm các bãi đá và đảo ở khu vực tranh chấp Trường Sa. Đến nay, Trung Quốc chỉ nói suông với cả hai cam kết này. Nước này sử dụng cả phương thức ngoại giao và chiếm đóng thực địa để đẩy mạnh mục tiêu của mình ở Biển Đông. Trong khi thảo luận với ASEAN, nước này cũng đã chiếm các bãi đá và đảo ví dụ như Đá Vành Khăn. Với các quốc gia ASEAN, cách hành xử của Trung Quốc rõ ràng đã gây ra lo ngại, nhưng đồng thời, họ lại đi trệch hướng nhằm đáp ứng những lợi ích và quan ngại của Trung Quốc. Quả thực, phần lớn các đối thoại ASEAN – Trung Quốc hoặc những tương tác chỉ có thể thực hiện được dựa trên các điều khoản của Trung Quốc. Điều này, như chúng ta đã lập luận ở trên, cơ bản là vì sự yếu kém của ASEAN so với Trung Quốc, về mặt quân sự và mặt khác. Chúng tôi cũng tranh luận thêm rằng cách tiếp cận hiện nay của ASEAN đối với Trung Quốc là quá mềm mỏng và yếu ớt. Trung Quốc hiểu điều này rất rõ và đã theo đuổi mục tiêu của mình mà không bị ngăn cản. Trong khi thể hiện ra bên ngoài hình ảnh của một quốc gia biết lẽ phải và một người bạn quốc tế có trách nhiệm, Trung Quốc không thỏa hiệp về các vấn đề mà nước này coi là thiết yếu đối với lợi ích quốc gia. Vấn đề quần đảo Trường Sa là một trong lợi ích thiết yếu như vậy. Thay đổi trong văn hóa chính trị nội bộ của Trung Quốc và môi trường quốc tế có thể đã mang đến sự thay đổi trong lập trường của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, nhưng nhân tố quyết định cho sự thay đổi đó phải là sự thống nhất của chính ASEAN và một lập trường được xác định rõ ràng hơn nữa đối với vấn đề như họ đã từng làm vào tháng 3 năm 1995, ngay sau khi xảy ra sự kiện Đá Vành Khăn, và điều đó cũng đã lẫn đến tuyên bố của Bà Hilary Clinton tại hội nghị ở Hà Nội năm 2010. Giọng điệu hòa giải mà Trung Quốc thể hiện lúc đó là kết quả của một tuyên bố chung như vậy và của việc quốc tế hóa vấn đề. Vấn đề đặt ra hiện nay đối với ASEAN không phải là đối đầu hay làm ngơ với Trung Quốc mà tốt nhất là làm sao điều chỉnh mối quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc để yếu tố đe dọa trong việc mở rộng địa kinh tế của Trung Quốc bị loại bỏ hay ít nhất là giảm xuống một mức có thể chấp nhận hơn cũng như những khía cạnh tích cực trong mối quan hệ giữa hai bên được thực hiện mang tính xây dựng hơn và làm lợi cho tất cả. Vẫn chưa thể chắc là chiến thuật của ASEAN trong việc lôi kéo sự tham gia mang tính xây dựng của Trung Quốc có thành công hay không. Tuy nhiên trong lúc này, sẽ là hy vọng hão nếu cho rằng Trung Quốc một ngày nào đó có thể bị áp đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ. Trong khi không có bất kỳ lựa chọn khả thi nào khác, đây là một lựa chọn tốt nhất cho ASEAN để giải quyết thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh của mình trước một Trung Quốc đang hồi sinh và tràn đầy tự tin. Tuy nhiên, một chiến thuật như vậy sẽ đòi hỏi ASEAN đóng một vài trò mang tính xây dựng trong mối quan hệ giữa Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc, những cường quốc chủ chốt sẽ quyết định tương lai của Châu Á – Thái Bình Dương. Chỉ bằng cách duy trì sự cân bằng thận trọng trong quan hệ của mình với những cường quốc trên thì ASEAN mới có thể đóng một vài trò hữu ích trong ngoại giao khu vực và tạo ra một không gian trong đó các quốc gia thành viên có thể theo đuổi công cuộc phát triển kinh tế và chính trị của riêng mình trong một trường hòa bình và ổn định. Mối quan hệ thân thiết của ASEAN với Ấn Độ có thể là nhân tố duy trì ổn định đặc biệt. Trên tất cả, chính sự đoàn kết của ASEAN sẽ không chỉ quyết định vị thế ngoại giao trong tương lai của cả khối, mà còn quyết định khả năng của ASEAN trong việc đối phó với một Trung Quốc quyết đoán./. Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2025-asean-va-tranh-chp-bin-ong
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #219 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2011, 12:54:15 am » |
|
Về lợi ích cốt lõi trong Sách trắng của Trung Quốc 2011 Ngày 6/9, Trung Quốc công bố “Sách trắng về Phát triển hòa bình TQ năm 2011” cam kết phát triển hòa bình, không xưng bá. Điểm đáng chú ý là năm nay Sách trắng nước này lần đầu tiên làm rõ nội hàm khái niệm “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Tổng hợp các báo Trung Quốc về vấn đề này như sau. Sau khi ngày 6/9, Văn phòng Báo chí Quốc Vụ viện TQ công bố “Sách trắng về Phát triển hòa bình TQ năm 2011”, nhấn mạnh cam kết về con đường phát triển hòa bình, gửi đi thông điệp mạnh mẽ rằng TQ không tìm kiếm bá quyền và sẽ là đối tác đáng tin cậy trong việc theo đuổi hòa bình và phát triển thế giới. Cựu Đại sứ TQ tại Mỹ Zhou Wenzhong nhận định sách trắng được công bố trong bối cảnh tình hình quốc tế đang có những biến động lớn. “Điều này đòi hỏi TQ phải thể hiện và phát triển mô hình phát triển hòa bình, mở rộng ảnh hưởng và cho thế giới thấy được sự chân thành và thiện chí của TQ với thế giới. Sách trắng cũng nêu rõ những quan ngại của những ai khi đặt câu hỏi về ý đồ chiến lược của TQ thực tế”. Ông Meng Xiangqing, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Quốc phòng TQ cho rằng TQ đã nỗ lực rất lớn kể từ khi phát hành sách trắng năm 2005. “GDP TQ đã vượt Nhật Bản và vị thế quốc tế của TQ đã tăng lên mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, TQ cần nói với thế giới một cách thẳng thắn rằng những gì mà TQ đang thực hiện con đường phát triển và cần cho biết điều đó có ý nghĩa thế nào với TQ và thế giới. Đây là lần đầu tiên TQ tuyên bố rõ ràng về 6 lợi ích cốt lõi của TQ. Trong vòng 20 năm qua, TQ chưa có định nghĩa rõ ràng nào về lợi ích quốc gia xét về khía cạnh chính trị và giới học giả. “Đã đến lúc cần nói với nhân dân TQ và thế giới biết đường giới hạn cuối cùng của TQ là gì và điều này rất quan trọng bởi không một lợi ích cốt lõi nào có thể bị thỏa hiệp”. Phó Hiệu trưởng Trường nghiên cứu Quốc tế thuộc Đại học Bắc Kinh Wang Yizhou cho biết sách trắng cũng nhằm thống nhất những suy nghĩ trong nước khi có một số luận điệu trong nước yêu cầu TQ cần cứng rắn hơn trên trường quốc tế. Sách trắng sẽ thông báo với công chúng rằng TQ sẽ tiếp tục khiêm nhường và cẩn trọng trong chính sách ngoại giao. Về khái niệm “lợi ích cốt lõi” trong chính sách đối ngoại Trung Quốc: Đáng chú ý, ngoài các nội dung trình bày về việc Trung Quốc kiên trì đi con đường phát triển hòa bình; kiên trì chính sách ngoại giao hòa bình, độc lập, tự chủ; kiên trì chính sách quốc phòng mang tính phòng ngự; không xưng bá, không tranh bá… “Sách trắng” năm nay lần đầu tiên làm rõ nội hàm khái niệm “lợi ích cốt lõi” của TQ. Trong chương về “Chính sách đối ngoại”, “Sách trắng” nêu rõ 6 vấn đề lợi ích cốt lõi bao gồm: Chủ quyền quốc gia; an ninh quốc gia; toàn vẹn lãnh thổ; thống nhất quốc gia; chế độ chính trị và cục diện ổn định xã hội mà Hiến pháp TQ đã quy định; những đảm bảo cơ bản cho phát triển bền vững kinh tế xã hội. Đây là lần đầu tiên chính phủ TQ chính thức ra một văn kiện trong đó xác định và giới hạn rõ nội hàm vấn đề “lợi ích cốt lõi”. Đồng thời, cũng là lần đầu tiên vấn đề “cục diện ổn định xã hội” được đưa vào phạm vi này. Theo giới phân tích, việc coi “ổn định xã hội” là “lợi ích cốt lõi” cho thấy TQ muốn cảnh báo một số quốc gia và tổ chức bên ngoài không nên mượn vấn đề nhân quyền, pháp trị, tôn giáo để gây áp lực cho TQ. Vài năm gần đây, trong ngôn ngữ ngoại giao của TQ thường xuyên xuất hiện cụm từ “lợi ích cốt lõi”, tuy nhiên khái niệm này chưa được hệ thống hóa, cách đề cập thường gặp nhất là để chỉ các vấn đề Đài Loan, Tây Tạng… Đầu năm 2010, theo truyền thông nước ngoài đưa tin, TQ lần đầu tiên đề cập vấn đề Biển Đông như một trong những “lợi ích cốt lõi” của mình, khiến cho Mỹ, Nhật và các nước láng giềng không khỏi quan ngại. Điều này đã làm cho ngoại giao TQ từng rơi vào thế bị động. Tháng 12/2010, Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc có bài viết tựa đề “Kiên trì đi con đường phát triển hòa bình”, trong đó lần đầu tiên trình bày một cách có hệ thống về khái niệm lợi ích cốt lõi của TQ. Theo ông Đới Bỉnh Quốc, “lợi ích cốt lõi” được hiểu là: (i) Một là thể chế chính trị và ổn định chính trị quốc gia, tức là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ XHCN và con đường CNXH đặc sắc Trung Quốc; (ii) Hai là an ninh chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước; (iii) Ba là những đảm bảo cơ bản cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội. Đây là những vấn đề lợi ích không được phép xâm phạm hay phá hoại. So với phát biểu trên của Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc, “Sách trắng” lần này đã trình bày một cách hoàn thiện và quy phạm hơn về vấn đề lợi ích cốt lõi của TQ. Cơ bản có thể phân thành 3 phạm trù: (1) Một là chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước. Tức là chủ quyền lãnh thổ quốc gia không thể bị xâm phạm, xâm lược hay đe dọa; sự nghiệp thống nhất đất nước tất yếu phải hoàn thành; không cho phép các hành động chia cắt đất nước, cụ thể là trong vấn đề Đài Loan, Tân Cương, Tây Tạng. (2) Hai là an ninh quốc gia, chế độ chính trị và cục diện ổn định xã hội theo Hiến pháp TQ đã quy định. Tức là không cho phép bên ngoài đe dọa hoặc xâm phạm tới chế độ chính trị mà TQ đã lựa chọn phù hợp với tình hình TQ. (3) Ba là những đảm bảo cơ bản cho sự phát triển bền vững của kinh tế xã hội, an ninh tiền tệ, ổn định kinh tế v.v… Giáo sư Chu Phong, Viện Quan hệ quốc tế Đại học Bắc Kinh bày tỏ, “lợi ích cốt lõi” trong ngôn ngữ ngoại giao của TQ có một hàm nghĩa đặc thù. Vấn đề mà TQ xem là lợi ích cốt lõi, nhấn mạnh TQ có quyền bảo lưu toàn bộ quyền lựa chọn chính sách, bao gồm cả việc lựa chọn biện pháp vũ lực để giải quyết vấn đề. Việc TQ tuyên bố và nhấn mạnh những vấn đề “lợi ích cốt lõi” trong chính sách ngoại giao, là đặc chỉ những phạm vi trong quan hệ đối ngoại mà trong đó TQ tuyệt đối sẽ không nhượng bộ, không cho phép tranh cãi, không cho phép can thiệp, ví dụ như vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương. Tuy nhiên, ông Chu Phong cũng nhấn mạnh, không thể mang nguyên tắc cơ bản về lợi ích cốt lõi quốc gia gom chung với “lợi ích cốt lõi” trong thực tiễn quan hệ đối ngoại, càng không thể mang những vấn đề tranh chấp trong quan hệ quốc tế của Trung Quốc mở rộng thành “lợi ích cốt lõi”. “Quan niệm về lợi ích cốt lõi” là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc nhận thức và định nghĩa lợi ích quốc gia; còn “cách nói về lợi ích cốt lõi” là phản ứng đặc định trong chính sách ngoại giao đối với những vấn đề cụ thể và xác định, là thực tiễn của “quan niệm về lợi ích cốt lõi” trong chính sách ngoại giao. Nếu như trùm chiếc mũ “lợi ích cốt lõi” lên tất cả những vấn đề trong chính sách đối ngoại thì chỉ làm cho khái niệm “lợi ích cốt lõi” bị suy yếu./. Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2038-ve-loi-ich-cot-loi-trong-sach-trang-cua-trung-quoc-2011
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|