Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #240 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2011, 12:09:48 am » |
|
Chuyên gia hàng hải ASEAN họp về biển Đông Cuộc họp của các chuyên gia hàng hải ASEAN diễn ra tại thủ đô Manila - Philippines để nghiên cứu về đề xuất của nước này liên quan đến các khu vực tranh chấp trên biển ĐôngCác chuyên gia hàng hải ở Đông Nam Á đã tập trung nghiên cứu một đề xuất của Philippines về việc giải quyết tranh chấp căng thẳng các hòn đảo trên biển Đông bất chấp sự phản đối của Trung Quốc. Diễn ra hôm 22-9, cuộc gặp chỉ giới hạn trong phạm vi các chuyên gia hàng hải và pháp lý đến từ 10 nước thành viên ASEAN, dựa trên quyết định của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 44 tại Bali, Indonesia hồi tháng 7 vừa qua. Cuộc gặp - được coi là lần đầu tiên dưới hình thức này - thể hiện nỗ lực của Philippines nhằm đưa ra một chính sách thống nhất của khu vực để tạo đối trọng với tuyên bố độc quyền của Trung Quốc đối với tất cả các hòn đảo. Theo hãng tin AP, Philippines cùng với Việt Nam là những nước bày tỏ thái độ mạnh mẽ nhất trong cuộc tranh chấp. Hai nhà ngoại giao cấp cao Philippines, đề nghị không nêu tên, nói với hãng thông tấn AP rằng Bắc Kinh phản đối cuộc họp 2 ngày này. Họ còn cho biết thêm Bắc Kinh đặt câu hỏi vì sao ASEAN bàn về các tranh chấp với tư cách một khối trong khi đa số thành viên không phải là nước đòi yêu sách. Lâu nay, Trung Quốc vẫn theo đuổi các cuộc đàm phán song phương với từng quốc gia có tranh chấp, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam. Việc giải quyết tranh chấp “có thể mất nhiều thế kỷ” - Phó Tổng thống Philippines Jejomar Binay thừa nhận trong khi trao đổi với các phóng viên sau bài diễn văn khai mạc hội nghị. Ông lưu ý rằng vùng biển - với hơn một nửa các siêu tàu chở dầu đi qua - đã “trở thành nguồn gốc gây căng thẳng, đe dọa an ninh” của không chỉ tuyến đường biển quan trọng mà cả trong khu vực và thế giới. Bản dự thảo tuyên bố sẽ đưa ra sau cuộc họp đã cho thấy tất cả những người tham gia có chiều hướng ủng hộ đề nghị của Manila, xem nó “phù hợp với luật pháp quốc tế”. Họ sẽ thúc giục các nước có tranh chấp “gặp gỡ nhau và thăm dò khả năng xác định” những vùng tranh chấp cho những dự án chung. Đề xuất của Philippines bao gồm việc phác họa các hòn đảo đang tranh chấp có thể được phi quân sự hóa và trở thành một “khu vực hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác”. Một khi các vùng tranh chấp được vạch rõ, những bên liên quan có thể quyết định rút quân đội của họ, thay vào đó là các lực lượng dân sự đồng thời đưa ra cam kết về kế hoạch nghiên cứu chung, luyện tập chống thảm họa để xây dựng lòng tin. Tuy vậy, theo hãng tin AP, việc phân định và tách các khu vực tranh chấp ra sẽ là công việc khó khăn. Nguồn: http://nld.com.vn/20110922113031958p0c1006/chuyen-gia-hang-hai-asean-nhom-hop-ve-bien-dong.htm
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #241 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2011, 12:20:23 am » |
|
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh: Quyết giữ toàn vẹn lãnh thổ Trung tướng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định như vậy trước thềm cuộc đối thoại quốc phòng Việt Nam - Mỹ tại Washington cũng như sau các cuộc đối thoại về chiến lược an ninh - quốc phòng tương tự với hai cường quốc khác là Trung Quốc và Ấn ĐộĐối thoại củng cố lòng tin* Phóng viên: Xin thứ trưởng cho biết nội dung cuộc đối thoại quốc phòng Việt Nam - Mỹ sẽ diễn ra ngày 19-9 tại Washington?
- Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh: Hai bên sẽ tập trung trao đổi chính sách quốc phòng của hai nước, đánh giá tình hình quốc tế, khu vực và bàn về hợp tác Việt Nam - Mỹ trên lĩnh vực quốc phòng. Hai bên cũng trao đổi hợp tác về khắc phục hậu quả chiến tranh, bao gồm rà phá bom mìn và tẩy độc, tìm kiếm quân nhân Mỹ và Việt Nam mất tích trong chiến tranh, đồng thời bàn đến hợp tác về cứu hộ, cứu nạn trên biển và trên đất liền. An ninh biển cũng là một chủ đề sẽ bàn tại cuộc đối thoại lần này. * Cuộc đối thoại chiến lược quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ ngày 14-9 tại Hà Nội nhìn nhận thế nào về thách thức an ninh chung cũng như hợp tác để đối phó?
- Nhận thức chung lớn nhất giữa hai nước là cần duy trì môi trường hòa bình ổn định trong khu vực để phát triển kinh tế, đồng thời phải giải quyết mọi vấn đề vì hòa bình và bằng biện pháp hòa bình. Việt Nam và Ấn Độ có chung quan điểm: Muốn như vậy phải xây dựng một đất nước độc lập, tự chủ và phải mạnh. Đó là gốc rễ cơ bản cho việc giữ gìn hòa bình, xử lý được xung đột và vượt qua các thách thức. Thứ đến là phải đẩy mạnh hơn nữa hội nhập quốc tế với tất cả các nước và tìm cách giải quyết bất đồng với những nước đang tồn tại những khác biệt hay xung đột về lợi ích. * Thưa thứ trưởng, cuộc đối thoại quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc trước đó (ngày 29-8) tại Bắc Kinh có mang lại nhận thức chung mới nào trong xử lý quan hệ hai nước, nhất là đối với các vấn đề trên biển Đông?
- Giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có nhận thức chung quan trọng, thể hiện qua các tuyên bố của các lãnh đạo cấp cao hai nước về quan hệ đối tác chiến lược toàn diện theo phương châm 16 chữ và 4 tốt, giải quyết bất đồng, xung đột bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đối thoại của các nhà quân sự trên cơ sở nhận thức chung đó phải phân tích sự kiện đang diễn ra xem có phù hợp với nhận thức chung không. Trên cơ sở đó đưa ra những điểm tương đồng và những khác biệt và cách thức xử lý những khác biệt đó. Đối thoại quốc phòng không phải là cơ chế giải quyết các vấn đề như phân chia trên biển Đông như thế nào, mà chủ yếu bàn cách ứng xử trên biển trong lĩnh vực quốc phòng. Trước hết là không sử dụng vũ lực và không đe dọa sử dụng vũ lực. Cam kết này phải cụ thể bằng các quy định như cách thức hoạt động của hải quân hai nước, cư xử với ngư dân... Hai bên thống nhất tăng cường giao lưu hải quân, tổ chức tuần tra, diễn tập chung, cứu hộ cứu nạn trên biển. Đó là các biện pháp nhằm giảm thiểu, đi đến triệt tiêu khả năng xung đột. Không để xảy ra xung đột* Vậy với nhận thức chung và đối thoại thẳng thắn, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc sẽ ổn định, lành mạnh hơn trong tương lai?
- Tôi tin rằng vấn đề biển Đông và quan hệ Việt Nam - Trung Quốc sẽ phát triển tốt hơn, trước hết là vì lợi ích của hai nước. Rõ ràng, Trung Quốc có lợi ích khi quan hệ hòa hiếu với Việt Nam và các nước láng giềng. Ngược lại, nếu mối quan hệ đó xấu đi sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của Trung Quốc dù họ là nước lớn. Nhận thức chung là cơ sở để hai nước giải quyết được những bất đồng, kể cả các vấn đề tích cực cũng như các khác biệt và xung đột. Về quốc phòng, chúng tôi khẳng định là phải làm mọi cách để không xảy ra xung đột, dù có vấn đề gì xảy ra cũng phải được xử lý bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của hai bên. * Hai bên có bàn và đưa ra cơ chế phòng ngừa xung đột nhằm biến những cam kết không để tái diễn những vụ việc như thời gian vừa qua giữa Việt Nam và Trung Quốc thành hiện thực?
- Cơ chế phòng ngừa xung đột đã có và được nhắc lại nhiều lần. Đó chính là nhận thức chung. Nguyên tắc lớn đã có, hai nước phải kiên trì triển khai thực hiện. Cũng cần kiên trì xây dựng lòng tin giữa hai nước trên cơ sở lợi ích chung. Quan hệ hợp tác, hữu nghị mang lại lợi ích cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Công khai, minh bạch chính sách cũng như cách hành xử cũng là một cơ chế phòng ngừa xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là quá trình lâu dài, khó khăn. Kiên quyết không để mất một tấc đất, tấc biển nhưng bài toán không kém khó khăn là làm thế nào để giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định, không để xảy ra xung đột. Chúng ta thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo song quyết không bao giờ nhượng bộ về chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tăng cường đối thoại quốc phòng* Trung Quốc gần đây tăng cường hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là thử nghiệm tàu sân bay, máy bay tàng hình J-20. Xin thứ trưởng cho biết ý kiến về vấn đề này?
- Với một cường quốc biển và đang phát triển như Trung Quốc thì việc tăng cường vũ khí hiện đại là nhu cầu tất yếu và đương nhiên. Song việc một quốc gia láng giềng như Trung Quốc tăng cường hiện đại hóa vũ khí thì chúng ta phải quan tâm, nghiên cứu và theo dõi sát sao. Việt Nam hoan nghênh Trung Quốc sử dụng những vũ khí trang bị hiện đại để bảo vệ đất nước họ và bảo vệ an ninh hàng hải, chống cướp biển… nhằm xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định và phát triển. Ngược lại, chúng ta sẽ không hoan nghênh nếu việc sử dụng các loại vũ khí đó có biểu hiện bất thường như được đưa ra khu vực tranh chấp, tăng ngân sách quốc phòng, tổ chức tập trận bất thường… Trong đối thoại, Việt Nam có đưa ra thảo luận và phía Trung Quốc khẳng định rằng việc hiện đại hóa vũ khí chỉ để tự vệ. * Thưa thứ trưởng, có thông điệp gì mới khi Việt Nam liên tiếp có các cuộc đối thoại về chiến lược an ninh - quốc phòng với các cường quốc?
- Đại hội XI của Đảng xác định đường lối hội nhập quốc tế sâu rộng, tích cực và chủ động, trong đó có tăng cường đối ngoại quốc phòng. Trong tình hình hiện nay, quan hệ đối ngoại quốc phòng cần đẩy mạnh nhằm tạo ra sự tin cậy lẫn nhau với các nước có cùng mối quan tâm về lợi ích, trao đổi về các vấn đề chiến lược, trong đó có chiến lược quốc phòng. Trong đối thoại quốc phòng, đối thoại chiến lược cấp thứ trưởng quốc phòng là mức cao nhất, có tác dụng xây dựng lòng tin để thế giới và đối tác hiểu chính sách quốc phòng của Việt Nam, thấy rõ một nước Việt Nam hòa hiếu nhưng quyết tâm bảo vệ chủ quyền và độc lập tự chủ của Tổ quốc mình. Cần làm cho các nước thấy rằng quan hệ với Việt Nam là mối quan hệ có lợi, với mục đích duy nhất là củng cố hòa bình và cùng phát triển. Đối thoại quốc phòng cũng giúp ta hiểu chính sách quốc phòng của các nước, có được mối quan hệ để bảo đảm không phương hại đến lợi ích đất nước ta trong lĩnh vực quốc phòng. Mua tàu ngầm để bảo vệ chủ quyền * Thứ trưởng sẽ giải thích ra sao nếu có ý kiến về việc chúng ta vừa đưa vào hoạt động các tàu hải quân hiện đại Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ hay công bố sẽ mua tàu ngầm, máy bay hiện đại để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ?
- Với gần 90 triệu dân, có vị trí địa - chính trị quan trọng như đất nước ta thì việc hiện đại hóa quân đội là đương nhiên và cần thiết. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh từng tuyên bố rõ là Việt Nam mua tàu ngầm chỉ để bảo vệ vùng biển thuộc chủ quyền của đất nước. Hiếm có nước nào trên thế giới có chính sách quốc phòng như vậy, tàu ngầm chỉ hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình. Đây chỉ là quá trình hiện đại hóa quân đội để phù hợp với sự phát triển chung của đất nước. Việc chúng ta công khai thông báo việc mua tàu ngầm, tàu chiến đã tạo niềm tin rất tốt rằng Việt Nam là đất nước hòa hiếu, không đe dọa, gây chiến tranh. Vũ khí vô địch của chúng ta là chiến lược quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân. Chúng ta cũng cần có sự ủng hộ của cộng đồng thế giới vì đó là sức mạnh thời đại. Nguồn: http://vndefence.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1315
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #242 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2011, 12:27:36 am » |
|
Ngư dân không có tiền hỗ trợ vì thiếu con dấu ở Hoàng Sa TP - Hơn 100 chủ tàu ở Đà Nẵng cho đến nay vẫn chưa thể nhận tiền hỗ trợ xăng dầu (theo Quyết định 48 của Chính phủ) bởi một lý do duy nhất: Không thể xác nhận được ngư trường hoạt động bằng một con dấu đỏ giữa Hoàng Sa mênh mông. Ngậm ngùi chờ tiềnTrong khi ngư dân cả nước đã hoan hỉ cầm tiền tươi sau khi trở về từ biển thì hàng loạt chủ tàu ở Đà Nẵng vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ dù hồ sơ đã nộp đầy đủ. Thuyền trưởng tàu ĐNa 90307 Nguyễn Phú Hùng trình bày: Chúng tôi được biết Nhà nước hỗ trợ tiền dầu hằng năm, ai nấy hoan hỉ. Nhưng đi mấy chuyến về, chẳng thấy tiền đâu. Hỏi Hội Nông dân, Hội lắc đầu. Thuyền trưởng Hồ Ngọc Thạnh vừa có chuyến biển đầy rủi ro bởi bị sét đánh hỏng toàn bộ máy, ICOM, bộ đàm... Trình hồ sơ lên cả tháng nay vẫn không nhận được tiền. Theo ông Thạnh, ngay khi được xem Quyết định 48 từ bên Biên phòng, ngư dân cũng thấy kỳ lạ và thắc mắc, rằng đánh bắt ở ngư trường Hoàng Sa thì làm sao có con dấu xác nhận. Nào ngờ đến nay thành chuyện lớn, là mấu chốt vấn đề. Chủ tàu Phạm Văn Chạy (Xuân Hà – tàu ĐNa 90011), nói: Theo quy định này, đây là một thiệt thòi lớn cho ngư dân Đà Nẵng, bởi đa phần tàu Đà Nẵng đánh bắt ở ngư trường Hoàng Sa, nơi ngư dân không thể vào đảo xác nhận con dấu. Còn nếu vòng xuống Trường Sa để xác nhận thì thà về tay không còn hơn. Các tàu cá Quảng Ngãi ban đầu cũng gặp khó tương tự, nhưng đã được chính quyền giải quyết bằng cách lắp đặt máy định vị GPS trên các con tàu đánh bắt xa bờ, vì thế, ngay khi cập bến, Đồn BP đã có thể xác nhận cho họ đánh bắt ở ngư trường Hoàng Sa, bởi nhật trình đều được thể hiện chi tiết trên GPS. Tuy nhiên, đến nay, vẫn không hiểu Đà Nẵng vì sao chưa triển khai lắp đặt máy định vị GPS cho ngư dân ? Lúng túngTrên tay ông Nguyễn Văn Cồn – Phó Chủ tịch Hội Nông dân phường Xuân Hà (Thanh Khê) là một tập hồ sơ các trường hợp ngư dân có đi đánh bắt nhưng chưa được hỗ trợ tiền xăng dầu theo QĐ 48 của Chính phủ. Theo ông Cồn, cả thành phố hiện tồn đọng 121 trường hợp không thể nhận tiền xăng dầu vì thiếu con dấu đỏ ở ngư trường đánh bắt. “Đáng lẽ là 123 hồ sơ nhưng mới đây, 2 trường hợp đã có con dấu ở Trường Sa nên được giải quyết, số còn lại phải chờ” – ông Cồn nói. Được biết trong hội nghị tổng kết thông tin liên lạc giữa tàu cá với đất liền tổ chức tại Đồn BP 248 mới đây, Chủ tịch quận Thanh Khê Trần Văn Huy đã đề cập và yêu cầu các bên tìm hướng giải quyết những tồn tại hiện nay trong chuyện chậm hỗ trợ ngư dân. Tuy nhiên đến nay, vẫn chưa tìm được cách nào khả thi. Quyết định 48 ngày 13-7-2010 của Chính phủ về việc hỗ trợ xăng dầu cho ngư dân ghi tàu 150–250CV được hỗ trợ 25 triệu đồng/chuyến; tàu trên 250CV–dưới 400 CV hỗ trợ 45 triệu đồng/chuyến; trên 400 CV hỗ trợ 60 triệu đồng/chuyến. Trung tá Vũ Văn Chường – Đồn trưởng Đồn BP 248 cho hay, vì QĐ 48 đã ghi rõ phải có xác nhận từ ngư trường hoặc định vị GPS, cả hai điều kiện này còn thiếu nên Biên phòng không thể xác nhận. “Cố gắng lắm, chúng tôi chỉ xác nhận cho họ ngày xuất bến, thời gian đánh bắt và ngày cập bờ, còn đánh bắt ở đâu thì chịu. Mặc dù đôi khi anh em biết rõ, họ đánh ở ngư trường nào” – Trung tá Chường nói. Khi chúng tôi đề cập vấn đề và hướng giải quyết, ông Đặng Công Ngữ - Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa cho biết chưa hề biết thông tin này, nhưng nếu như Biên phòng, rồi các cơ quan chức năng khác xác nhận đầy đủ, giấy tờ hợp lệ thì chuyện lãnh đạo huyện Hoàng Sa xác nhận, đóng dấu cho họ cũng không có vấn đề gì. Ông Trần Đình Quỳnh – GĐ Sở NN&PTNT Đà Nẵng cho biết, đang tìm cách giải quyết, nhưng chưa tìm ra phương án khả thi. Ông Nguyễn Văn Cồn lật giở đống hồ sơ tồn đọng từ cuối 2010 đến nay, ngao ngán: Trong khi ngư dân các tỉnh thành miền Trung đã được lắp máy định vị GPS thì Đà Nẵng vẫn chưa triển khai, họ nói là đang chờ. Tôi không biết chờ cái gì, doanh nghiệp họ lắp máy, mình trả tiền sau mà vẫn chậm thế. Tôi chỉ e ngại, khi được lắp máy, có định vị GPS thì những trường hợp từ cuối 2010 đến nay, làm sao nhận được tiền ? Nguồn: http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/552643/Ngu-dan-khong-co-tien-ho-tro-vi-thieu-con-dau-o-Hoang-Sa-tpp.html
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #243 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2011, 12:09:09 am » |
|
Đóng dấu xác nhận, đâu cũng gặp khó (Tiếp bài 'Ngư dân chưa được hỗ trợ vì thiếu con dấu Hoàng Sa') TP - Để giúp ngư dân xác nhận điểm khai thác tại Hoàng Sa, tỉnh Quảng Ngãi khuyến khích bà con trang bị máy định vị tầm xa. Tuy vậy, việc triển khai vẫn vướng nhiều thủ tục. Trong khi đó, tàu thuyền vào Trường Sa xin dấu xác nhận thì phí tổn xăng dầu ngang tiền hỗ trợ. Tốn kémDù có tên trong danh sách hỗ trợ xăng dầu, nhưng tàu QNg 95138TS của ông Bùi Lành (Bình Chánh, Bình Sơn, Quảng Ngãi) vừa cập cảng Sa Kỳ không thể nhận tiền hỗ trợ vì thiếu con dấu xác nhận điểm đánh bắt Trường Sa. Gần 3 tháng lênh đênh câu mực xa khơi, phí tổn cho chuyến đi của con tàu công suất 350CV này lên đến gần 400 triệu đồng. Ông Lành nói: “Tàu ngốn hết 20.000 lít dầu, nếu được hỗ trợ tôi sẽ được nhận 45 triệu đồng, tính ra giảm bớt được hơn 2.000 lít. Tiếc là thủ tục nào tôi cũng đảm bảo, riêng cái giấy xác nhận thì chịu. Bởi điểm khai thác trong chuyến đánh bắt vừa qua cách Trường Sa cả trăm hải lý. Nếu tính công ra vào, lấy giấy xác nhận, phí tổn xăng dầu cũng tốn ngang tiền hỗ trợ”. Ông Nguyễn Minh (Bình Chánh), chủ tàu QNg 95454TS, cho hay: Thực chất, không phải lúc nào ngư dân cũng đánh bắt gần Trường Sa. Nhiều lúc gặp sóng to, gió lớn, tàu bị đẩy ra vài chục hải lý. Hay những khi thiên tai, gặp nạn phải cập bờ sớm… ai mà lòng vòng ra vào Trường Sa để xin đóng dấu. Chi phí nhiên liệu chiếm đến 70% phí tổn chung cả chuyến ra khơi, quỹ hỗ trợ chỉ chiếm khoảng 1/10 phí nhiên liệu, nên phải tính toán từng mét nước một, ông Minh nói. Phó Chủ tịch UBND xã Bình Chánh, ông Nguyễn Thánh Tần, nói: Xã có hơn 100 tàu thuyền công suất lớn, chủ yếu đánh bắt ở Hoàng Sa, Trường Sa. Ngư dân vùng Trường Sa đã khó khăn, còn ngư dân đánh bắt vùng Hoàng Sa coi như bất lực vì không thể có được con dấu xác nhận. Riêng việc lắp đặt máy định vị tầm xa nhằm xác nhận thay con dấu, đến nay xã chỉ có 2-3 tàu thuyền đáp ứng được, do kinh phí lên đến 28-30 triệu đồng/máy. Theo ông Phan Huy Hoàng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Ngãi, tháng 6, tỉnh phê duyệt hơn 360 tàu trong diện hỗ trợ xăng dầu và mới tăng thêm gần 80 chiếc. Tuy nhiên, hiện chỉ có hơn 20 hồ sơ đăng ký nhận hỗ trợ, chủ yếu là vùng biển Trường Sa. Ngư dân Hoàng Sa sẽ thiệt thòi nếu không kịp nhận hỗ trợ máy định vị theo quy định. Trong khi đó, toàn tỉnh có trên 100 tàu công suất lớn thường xuyên đánh bắt ngoài Hoàng Sa. Thiếu nguồn vốn ứngTheo ông Lê Văn Sơn, Chi cục trưởng Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Ngãi, ngư dân ứng tiền ra mua máy định vị tầm xa trước rồi lấy hóa đơn, chứng từ làm hồ sơ gửi Sở. Sau đó hội đồng thẩm định sẽ xét duyệt và trả lại tiền lại cho dân. Cách làm lòng vòng này khiến việc triển khai lắp máy chậm, trong khi không phải ngư dân nào cũng đủ tiền ứng trước. Đến nay, toàn tỉnh lắp đặt 1 máy tổng thu nhận tín hiệu trên bờ và mới chỉ có 3–5 tàu thuyền lắp đặt máy định vị tầm xa. Một máy không thể dùng chung cho cả tổ đội khai thác vì các thành viên trong tổ đội có thể ra khơi khác nhau. Mới đây, tại buổi làm việc với Quảng Ngãi, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám đồng ý chủ trương cho địa phương lắp đặt trực tiếp máy định vị tầm xa cho ngư dân, tránh để họ phải ứng tiền trước. Khẳng định đây là phương án hay, nhưng ông Lê Viết Chữ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, lo rằng địa phương không biết lấy nguồn vốn ứng ở đâu. Tính chung tiền hỗ trợ xăng dầu, mua máy định vị tầm xa, bảo hiểm… cho hơn 450 trường hợp được phê duyệt, toàn tỉnh cần đến hơn 40 tỷ đồng. Vẫn phải chờTại Đà Nẵng từng có một số doanh nghiệp đến làm việc với cơ quan chức năng thành phố, chào giá và đề nghị sẽ lắp đặt máy định vị GPS cho ngư dân trước, nhận tiền sau. Tuy nhiên, không hiểu sao đến giờ vẫn chưa triển khai. Ông Nguyễn Đỗ Tám, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản (Sở NN&PTNT Đà Nẵng), cáo bận việc không tiếp PV mà chỉ trả lời qua điện thoại: “Chúng tôi đã tham mưu bằng văn bản vấn đề này với lãnh đạo thành phố từ khi có Quyết định 48 (ngày 13-7-2010). Còn việc vì sao vẫn chưa lắp máy định vị GPS, vì sao dân chưa nhận được tiền thì tôi cũng không biết trả lời thế nào. Có gì các anh cứ lên Sở mà hỏi, ở đó người ta nắm kỹ hơn”. Ngày 22-9, liên lạc với ông Trần Đình Quỳnh, Giám đốc Sở NN&PTNT, thì ông Quỳnh cũng nói bận, bảo phóng viên làm việc với ông Hồ Phó, Phó Giám đốc Sở. Liên lạc với ông Phó, ông này cũng cáo bận, chỉ nói qua điện thoại: “Nhờ anh nói với ngư dân cứ yên tâm, chúng tôi đang khẩn trương tiến hành, một thời gian rất ngắn nữa dân sẽ nhận được tiền. Còn phải chờ một vài thủ tục nữa”. Khi được hỏi, liệu những trường hợp đánh bắt từ cuối năm 2010 đến nay đã đi về nhưng không thể có con dấu ở ngư trường Hoàng Sa, liệu họ có thiệt thòi? Ông Phó nói: “Về nguyên tắc là không thể mất được, rồi sẽ có cách nào đó để xác minh chứ. Mặc dù vậy, cụ thể là cách nào thì các ban ngành... chưa nghĩ ra”. Về việc một số doanh nghiệp đề nghị lắp máy trước lấy tiền sau, ông Phó cho hay, về nguyên tắc, là phải công khai, minh bạch, phải đấu thầu và có trình tự. Hồ sơ đang được lập để công khai đấu thầu. Sau Quyết định 48 ngày 13-7-2010 của Thủ tướng Chính phủ, đến ngày 14-3-2011, liên Bộ NN&PTNT, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính có thông tư liên tịch số 11 hướng dẫn thực hiện quyết định này. Theo đó, điểm b, mục 4 điều 9 ghi rõ: Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định hỗ trợ ngay sau khi nhận được đủ hồ sơ hợp lệ của ngư dân. Thông tư cũng quy định cụ thể: mỗi tàu cá có giấy tờ hợp lệ, làm đơn đăng ký, được cấp máy liên lạc HF, có định vị GPS mới 100%. Có 21 đảo và 6 nhà giàn thuộc Trường Sa được quyền xác nhận ngư trường đánh bắt cho ngư dân. Nguồn: http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/552746/Dong-dau-xac-nhan-dau-cung-gap-kho-tpp.html
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #244 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2011, 12:05:28 am » |
|
Tránh bão ở Hoàng Sa, 2 tàu cá bị tàu chiến lạ tấn công (NLĐO)- Ngày 26-9, Trạm Biên phòng cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi), cho biết lúc 13 giờ ngày 24-9, Trạm ICom thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn đã nhận được thông tin 2 tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu nước ngoài tấn công.
Hai tàu cá đó là QNg 95337TS do ông Trương Văn Đức làm thuyền trưởng kiêm chủ tàu và QNg 95850 TS do ông Trương Tài làm chủ. Được biết, hai tàu cá trên chạy vào trú bão tại đảo Trụ Cẩu (khu vực quần đảo Hoàng Sa Việt Nam) đã bị một tàu chiến nước ngoài xua đuổi, buộc 2 thuyền trưởng phải cho tàu chạy ra khỏi khu vực đảo Trụ Cẩu. Khi chạy được 30 hải lý thì tàu chiến này tiếp tục đuổi theo, đâm vào thân tàu cá, bơm nước vào tàu, bắn đạn qua tàu cá làm cháy cabin, cháy bộ đàm… Hiện nay, 2 tàu cá trên đang chạy vào đất liền tránh bão số 4. Nguồn: http://nld.com.vn/20110926085748876p...a-tan-cong.htm
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #245 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2011, 12:09:06 am » |
|
Báo Trung Quốc: Biển Đông sẽ trở thành tuyến đầu quân sự Bìa viết trên mạng Tân Hoa cho rằng Biển Đông hiện nay trở thành tiêu điểm chiến lược quan trọng của Á - Âu, vài năm tới Biển Đông sẽ trở thành tuyến đầu quân sự của Trung Quốc. Khi các cường quốc thế giới và khu vực ngày càng can dự và lo ngại cùng với sức mạnh quân sự gia tăng và tham vọng khống chế Biển Đông của Trung Quốc. Thời báo Nhật Bản ngày 19/9 cho rằng, 10 năm qua, tốc độ phát triển sức mạnh quân sự Trung Quốc đã vượt quá sự dự đoán của nhiều người, chỉ riêng trong một năm qua, Trung Quốc đã triển khai hệ thống tên lửa chống hạm, hoàn thành thử nghiệm chiếc may bay chiến đấu tàng hình đầu tiên, hạ thủy tầu sân bay đầu tiên, sự phát triển sức mạnh quân sự Trung Quốc đã đến mức gây thách thức tại Thái Bình Dương. Phản ứng trước sự kiện trên biển gần đây giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Mỹ yêu cầu cần triển khai tiến trình ngoại giao để giải quyết liên quan tranh chấp Biển Đông. Biển Đông hiện nay trở thành tiêu điểm chiến lược quan trọng của Á - Âu, nhiều người còn cho rằng, vài năm tới Biển Đông sẽ trở thành tuyến đầu quân sự của Trung Quốc. Các nước châu Á lo ngại cùng với sức mạnh quân sự gia tăng nhanh chóng, Trung Quốc không những muốn khống chế Biển Đông giàu tài nguyên dầu khí mà còn muốn khống chế tuyến đường biển quốc tế là huyết mạch kinh tế tại khu vực này. Đáp lại việc Trung Quốc đưa chủ quyền Biển đảo (Biển Đông) vào “lợi ích cốt lõi”, Mỹ đã đề xuất Mỹ ủng hộ xây dựng một cơ chế quốc tế để điều phối yêu cầu chủ quyền giữa các nước Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia. Các nước khu vực đã ủng hộ quan điểm này của Mỹ mà không phải lập trường song phương của Trung Quốc đưa ra. Ấn Độ cũng muốn bảo vệ tuyến đường biển từ khu vực Biển Đông đến Đông Bắc Á và Mỹ, do gần đây ảnh hưởng của Ấn Độ đối với Đông Á và ĐNÁ ngày càng tăng nên rất muốn khẳng định lợi ích hợp pháp của mình tại khu vực Biển Đông Á. Gần đây do Trung Quốc tăng cường sự hiện diện tại khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương, nên Ấn Độ cũng muốn đưa ra yêu cầu quyền lợi của mình tại Đông Á, Ấn Độ muốn mở rộng phạm vi đối tác an ninh, quyết đinh hợp tác với Việt Nam nhằm đảm bảo sự hiện diện lâu dài của mình tại khu vực này. Mỹ dẫn đầu các nước bao vây kiềm chế Trung Quốc, trước thái độ cứng rắn và ưu sách chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc,các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền Biển Đông đang liên kết với nhau. Mỹ cũng đã tham dự vào tranh chấp này và đang có sự điều chỉnh bố trí quân sự tại khu vực. Các đồng minh của Mỹ là Nhật Bản, Hàn Quốc cũng dựa vào Mỹ triển khai việc bảo vệ lợi ích từ nguồn năng lượng quan trọng qua vùng biển châu Á này. Bên cạnh đó, một đồng minh khác của Mỹ là Australia, phần lớn thương mại mậu dịch của nước này với châu Á cũng được vận chuyển qua khu vực Biển Đông. Hiện nay, Ấn Độ cũng gia nhập vào hàng những nước chủ yếu có quyền lợi giao thông tại Biển Đông. Các nước Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc đã cùng phối hợp lập trường với Mỹ liên quan đến Biển Đông, các nước này cũng lên kế hoạch sẽ đưa ra những lo ngại đối với Trung Quốc tại Hội nghị cấp cao Đông Á được tổ chức vào tháng 11/2011 tại Indonesia. Hải dương trở thành võ đài mới trong cạnh tranh Trung Quốc - Ấn Độ. Võ đài này còn có ý nghĩa cả về an ninh quốc phòng. Ngay sau khi Ấn Độ tuyên bố sẽ hợp tác với Việt Nam khai thác dầu khí Biển Đông, ngày 17/9 Trung Quốc đã bày tỏ rằng sẽ mở rộng phạm vi việc thăm dò khu vực đáy biển của nước này tại vùng Tây Nam Ấn Độ Dương. Tuyên bố này được xem là một phần của chính sách phát triển Hải dương Trung Quốc từ 2011 - 2015. Ngoài ra, Cục Quản lý đáy biển quốc tế ngày 11/7 cũng đã đồng ý cho Hiệp hội nghiên cứu phát triển tài nguyên khoáng sản Đại dương của Trung Quốc được tiến hành một số hoạt động thăm dò tại Ấn Độ Dương./. Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2064-2064
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #246 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2011, 12:17:58 am » |
|
Tranh chấp Biển Đông - Điềm báo về sự thay đổi mang tính chiến lược trong khu vực Ngày 11/9, nhật báo Asahi đã đăng bài South China Sea disputes: Harbinger of regional strategic shift của tác giả Yoichi Kato, chuyên gia phân tích vấn đề an ninh quốc gia của nhật báo này, về vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Tác giả nhận định các tranh chấp này có thể là điềm báo về sự thay đổi mang tính chiến lược trong khu vực và những thách thức lớn đối với Nhật Bản. Các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông giữa Trung Quốc và các quốc gia ven biển khác, trong đó có Việt Nam và Philíppin, đang ngày càng có ý nghĩa hơn về mặt chiến lược đối với toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương và bên ngoài khu vực này. Nhật Bản không thể xem thường vấn đề này như một hiện tượng riêng biệt ở khu vực xa xôi bởi vì, nó phản ánh chiến lược khu vực của Trung Quốc, vốn được xây dựng trên cơ sở nền kinh tế đang tăng trưởng và sự quyết đoán của nước này. Thách thức mang tính cơ bản hơn là các nước trong khu vực, trong đó có Nhật Bản, cần xử lý mâu thuẫn chiến lược trong tư tưởng xuất phát từ sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng với Trung Quốc và sự phụ thuộc vào trật tự an ninh khu vực được Mỹ bảo đảm. Các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông có vẻ như đã đạt tới trạng thái cân bằng nhất định tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN-Trung Quốc và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) vào tháng 7 ở Bali, Inđônêxia. Mười nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí về các đường lối chỉ đạo mới, trong đó quy định cách thức thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) vì một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp lãnh thổ này. Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản lúc đó Takeaki Matsumoto, người tham dự các hội nghị này của ASEAN, đã hoan nghênh diễn biến này. Phát biểu tại Quốc hội Nhật Bản, ông Matsumoto nói: “Tôi coi đây là bước tiến”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng coi đây là “bước đi quan trọng”, đồng thời kêu gọi ASEAN và Trung Quốc hành động nhanh chóng để xây dựng một bộ quy tắc ứng xử mang tính bắt buộc về pháp lý nhằm ngăn chặn các cuộc xung đột. Bà Clinton nói: “Tất cả các bên tuyên bố chủ quyền cần phải công bố các tuyên bố của họ một cách công khai và chi tiết để chúng tôi biết được nơi đâu có tranh chấp”. Tuy nhiên, có vẻ như trạng thái cân bằng này đang sụp đổ một cách nhanh chóng. Chưa đầy hai tuần sau hội nghị ở Bali, tờ Nhân dân Nhật báo, tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã đăng bài bình luận trên trang nhất tố cáo Philíppin xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc bằng cách xây dựng một hầm trú ẩn quân sự trên một trong các đảo tranh chấp ở quần đảo Trường Sa. Bài báo này kết thúc với lời cảnh báo: “Những ai đưa ra các quyết định sai lầm nghiêm trọng về chiến lược đối với vấn đề này sẽ phải trả giá thích đáng”. Tân Hoa Xã của Trung Quốc ngay lập tức trích đăng tóm tắt bài bình luận này bằng tiếng Anh. Rõ ràng là Đảng và Chính phủ Trung Quốc có ý định gửi thông điệp này tới tất cả các bên liên quan. Trên thực tế, thông điệp này đã tạo ra một sự xáo trộn trong khu vực. Các Chính phủ Nhật Bản và Mỹ coi các hội nghị cấp bộ trưởng của ASEAN gần đây là một thành công, bởi vì họ thành công trong việc đưa vấn đề “an ninh trên biển” vào trong chương trình nghị sự của Hội nghị Cấp cao Đông Á sắp tới vào tháng 11. Với quyết định này, vấn đề Biển Đông có thể được thảo luận kỹ hơn trong một khuôn khổ đa phương rộng hơn tại Hội nghị Cấp cao Đông Á cùng với các hội nghị liên quan của ASEAN. Điều này sẽ đảm bảo cơ hội cho các bên không tuyên bố chủ quyền và các nước sử dụng (các tuyến đường biển) trên Biển Đông như Nhật Bản và Mỹ có thể tham gia cuộc thảo luận này. Về mặt nhạy cảm hơn, nó cũng được coi là thành công bởi vì có một thỏa thuận ngầm giữa các quốc gia tuyên bố chủ quyền và các quốc gia liên quan trên Biển Đông để tiếp tục đặt vấn đề xung quanh tính hợp pháp về mặt pháp lý trong tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với cái gọi là “đường 9 đoạn” trên Biển Đông. Chiến lược thận trọng này có vẻ như nhằm đưa Trung Quốc vào một thỏa thuận đa phương mới. Đó là bộ quy tắc nhằm giải quyết các tranh chấp này một cách hòa bình thông qua việc gây áp lực mang tính tập thể về tính pháp lý đối với tuyên bố chủ quyền “đường 9 đoạn này”. Trung Quốc sử dụng đường 9 đoạn hình chữ U dọc theo bờ biển và các chuỗi đảo ở Biển Đông là cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của nước này. Khu vực khoanh tròn mở rộng tới phần lớn Biển Đông. Theo tài liệu chính thức mà Chính phủ Trung Quốc đệ trình lên Liên Hợp Quốc vào năm 2009 cùng với một bản đồ, Bắc Kinh tuyên bố có “chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo này ở Biển Đông và các vùng biển xung quanh”. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu có phải Trung Quốc tuyên bố toàn bộ khu vực trên Biển Đông nằm trong đường 9 đoạn này là lãnh hải của nước này hay tuyên bố chủ quyền của nước này chỉ mở rộng tới các đảo này và các vùng biển xung quanh. Ngày 24/8, một tháng sau hội nghị ARF, hai tàu tuần tra của Cơ quan Quản lý Nghề cá Trung Quốc đã đi vào lãnh hải của Nhật Bản ở vùng biển gần một trong những đảo thuộc quần đảo Senkaku trên biển Hoa Đông. Đây là lần đầu tiên các tàu của Chính phủ Trung Quốc xâm phạm lãnh hải của Nhật Bản gần quần đảo Senkaku kể từ năm 2008, khi hai tàu tuần tra của Lực lượng Hải giám Trung Quốc (CMS) xâm nhập lãnh hải Nhật Bản trong hơn 9 giờ. Lần này, khoảng thời gian xâm phạm lãnh hải Nhật Bản ngắn hơn nhiều. Tuy nhiên, Chính phủ Nhật Bản coi sự cố này là rất nghiêm trọng bởi vì, ngay khi một tàu đánh cá của Trung Quốc đâm vào một tàu tuần tra của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản (JCG) hồi tháng 9 năm ngoái gần quần đảo Senkaku, tất cả các tàu của Chính phủ Trung Quốc, trong đó có các tàu của Cơ quan Quản lý Nghề cá và CMS, rõ ràng đã ở trong lãnh hải của Nhật Bản. Phản ứng trước phản đối chính thức của Chính phủ Nhật Bản, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói: “Đảo Điếu ngư (đảo Senkaku theo cách gọi của Nhật Bản) và các đảo phụ thuộc là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc kể từ thời xa xưa. Các tàu của Cơ quan Quản lý Nghề cá Trung Quốc đã tuần tra các vùng biển này để duy trì trật tự sản xuất nghề cá thông thường”. Quan điểm này không có gì mới nhưng đó là hành động được tăng cường của một trong những cơ quan thực thi pháp luật biển. Có lời đồn đại trong một bộ phận Chính phủ Nhật Bản rằng ý định của Trung Quốc có thể là nhằm kiểm tra sự kiên quyết trong lập trường của Chính phủ Nhật Bản đối với các tuyên bố chủ quyền của nước này sau hội nghị ARF và đặc biệt khi Nhật Bản đang trong quá trình chuyển giao quyền lực chính quyền của Thủ tướng Kan sang Chính quyền Noda. Quan điểm chiếm ưu thế trong Chính phủ Nhật Bản đó là những điều đang xảy ra ở biển Hoa Đông có mối liên hệ chặt chẽ với các tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông. Phát biểu trước Quốc hội, Bộ trưởng Matsumoto nói: “Nhật Bản có quan tâm lớn đối với các tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông bởi vì chúng có thể có ảnh hưởng đối với hòa bình và an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và chúng cũng có quan hệ chặt chẽ với việc đảm bảo an ninh hàng hải”. Các tranh chấp lãnh thổ này không chỉ giới hạn ở trên biển. Có một số dấu hiệu về sự tăng cường lực lượng ở biên giới trên bộ giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Có một quan điểm trong các học giả Ấn Độ đó là Trung Quốc đang muốn tái xác định các biên giới trên bộ và trên biển trong quá trình theo đuổi tư cách một siêu cường. Hàng loạt các hành động tái xác định biên giới như vậy đang được thực hiện và gây thiệt hại cho sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các nước láng giềng của Trung Quốc. Ấn Độ theo dõi sát sao tình hình ở Biển Đông bởi vì họ coi đây là dấu hiệu cho những gì có thể xảy ra trong vấn đề tranh chấp biên giới với Trung Quốc. Thách thức cơ bản hơn nữa mà toàn bộ khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương đang phải đối mặt đó có thể là mâu thuẫn trong tư tưởng mang tính chiến lược mới nổi. Phần lớn các nước ở trong khu vực này đều coi Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng, thậm chí là lớn nhất, trong khi họ lại phụ thuộc vào Mỹ trong việc duy trì trật tự an ninh khu vực, trong đó có quyền tự do đi lại trên biển. Tuy nhiên, sự phụ thuộc kép này có thể sẽ khiến các nước trong khu vực khó hơn trong việc quyết định hành động gì cần làm nếu và khi Trung Quốc thách thức sự bá chủ của Mỹ. Có vẻ đây là điều đang xảy ra ở Biển Đông hiện nay. Năm ngoái, ông Hugh White, giáo sư thuộc Đại học quốc gia Ôxtrâylia, đã có bài viết mang tiêu đề “Sự dịch chuyển quyền lực – Tương lai của Ôxtrâylia giữa Oasinhtơn và Bắc Kinh”. Trong bài viết này, ông đã chỉ ra rằng kỷ nguyên “sự bá chủ không thể tranh cãi của Mỹ” đã kết thúc và một trật tự hòa bình mới ở châu Á phù hợp với quyền lực đang gia tăng của Trung Quốc có thể được xây dựng “nếu Mỹ sẵn sàng cho Trung Quốc một không gian chính trị và chiến lược nào đó”. Điểm cốt lõi trong lập luận của ông White đó là Mỹ cần phải tránh cạnh tranh quyền bá chủ với Trung Quốc mà thay vào đó là chia sẻ quyền lực với nước này. Ông này cũng đưa ra đề xuất rằng đây là thời điểm phải xem xét lại chiến lược bao vây. Đây là một câu trả lời có thể để giải quyết vấn đề tiến thoái lưỡng nan là “sự phụ thuộc kép”. Điều nổi lên từ lập luận trên đối với Biển Đông là sự thừa nhận các tranh chấp lãnh thổ thực chất là sự tranh giành ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc và rằng Mỹ không thể chiếm ưu thế trong khu vực này bất chấp các tiềm năng quân sự to lớn của nước này. Quan điểm đa số trong số các nước ASEAN có thể không rõ ràng và quá khích như quan điểm của ông White. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu sự “nổi lên của Trung Quốc và sự suy yếu tương đối của Mỹ” tiếp tục diễn biến xấu hơn, sự chuyển dịch từ “sự bá chủ của Mỹ” sang “sự chia sẻ quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ” có thể sẽ trở thành xu thế trong số các nước và người dân khu vực. Đây là thách thức lớn đối với Nhật Bản, nước vẫn xây dựng chiến lược an ninh trên cơ sở giả định rằng quyền bá chủ của Mỹ là không thể lung lay. Những điều đang diễn ra ở Biển Đông có thể là điềm báo về sự thay đổi tiềm tàng trong suy nghĩ mang tính chiến lược trong số các quốc gia khu vực và trật tự chiến lược trong khu vực này. Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2067-2067
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #247 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2011, 12:24:36 am » |
|
Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và biển Hoa Đông (Tóm lược) Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này. LỜI MỞ ĐẦUNhững tranh chấp chủ quyền trên biển ở khu vực Đông và Đông Nam Á là những mối đe dọa tiềm tàng lớn nhất đối với nền an ninh và lợi ích kinh tế của các quốc gia trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Các tuyến giao thông lớn trên biển, đặc biệt là Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự lưu thông tự do của thương mại và hàng hóa. Đồng thời, các vùng biển này này cũng chứa đựng trong nó những tài nguyên sinh vật và phi sinh vật để góp phần duy trì nền kinh tế và dân số của các quốc gia yêu sách cũng như các quốc gia sử dụng các nguồn tài nguyên đó. Cùng với sự phát triển của công nghệ cho phép khoan, đào, khai thác sâu dưới nước, giờ đây tiềm năng tài nguyên của khu vực lại càng lớn. Tuy nhiên, những yêu sách chồng lấn về quyền tài phán và những nỗ lực của các quốc gia nhằm khẳng định vị trí của mình đã gây cản trở cho mọi hoạt động, từ các hoạt động thăm dò cho đến việc khai thác các tài nguyên vốn có. Do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan, cho đến nay các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này. Thậm chí vấn đề này còn trở nên phức tạp hơn do áp lực ngày càng tăng về việc phát triển nguồn năng lượng trong khu vực khi mà yêu cầu của thế giới ngày càng cao. Những nỗ lực nhằm giải quyết tranh chấp đã được thực hiện hàng thập kỷ nay, cả ở các cấp chính thức lẫn cấp Kênh II, kết quả chúng mang lại là những thỏa thuận nhằm gác xung đột chủ quyền sang một bên và cùng nhau khai thác các nguồn tài nguyên theo các hiệp định tạm thời – một phương pháp được ưu tiên để xây dựng lòng tin và hướng về phía trước. Một số hiệp định song phương ở Vịnh Thái Lan đã cho phép các dự án phát triển tài nguyên đã được triển khai. Các biện pháp xây dựng lòng tin ở Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN, đặc biệt là Tuyên bố về Ứng xử của các Bên tại Biển Đông năm 2002 (DoC), cũng đã góp phần kiềm chế các căng thẳng, mặc dù không có cơ chế triển khai chính thức. Tuy nhiên các dàn xếp hiện hành cũng có những hạn chế của nó, thậm chí một vài dàn xếp đã bị trì hoãn một cách vô thời hạn. Do đó căng thẳng vẫn tiếp tục leo thang và thường xuyên trở thành tâm điểm thời sự, đặc biệt là giữa các quốc gia yêu sách ở Biển Đông. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam có lẽ là nóng nhất trong khu vực này và nổi bật bởi hàng loạt các vụ việc xảy ra trong những năm gần đây. Những vụ việc liên quan đến các quốc gia yêu sách khác về vấn đề Trường Sa, cũng như về việc xây dựng các trạm quân sự trên các bãi và đảo san hô ở Biển Đông đã khiến cho căng thẳng đến nay vẫn tiếp diễn và có tính nghiêm trọng, đồng thời trở thành động lực cho các chương trình hiện đại hóa quân sự trong khu vực. Hệ quả là, rất ít khả năng để những quốc gia này giải quyết các bất đồng trong tương lai gần. Nhận thức được rằng, có lẽ là trong hàng thập kỷ tới các quốc gia vẫn khó có thể đi đến được các giải pháp cho những tranh chấp quyền tài phán trên biển trong khu vực, nhưng cũng nhận thức được tầm quan trọng của các vùng biển tranh chấp đối với thương mại và tài nguyên; do đó Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) đã nghiên cứu về những tranh chấp này và tác động của chúng, để từ đó đưa ra những cách nhìn mới về cách thức quản lý những xung đột trên trước khi có được một giải pháp về chính trị. Để làm việc này, NBR đã tập hợp một đội ngũ gồm các chuyên gia quốc tế để thực hiện một dự án ba năm có tên là “Maritime Energy Resources in Aisa: Opportunities for Joint Development” [Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung] (MERA) để phân tích các diễn biến gần đây trong khu vực và cung cấp những phân tích và các lựa chọn thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách nhằm góp phần cải thiện các tranh chấp. Dự án này được hỗ trợ bởi Sáng kiến An ninh Châu Á thuộc Quỹ John D. Và Catherine T. MacArthur và được dẫn đầu bởi nhà nghiên cứu trưởng là Tiến Sĩ Cliv Schofield (Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương, Đại học Wollongong, Úc). Báo cáo này được tổng hợp từ những kết luận và quan điểm chính của đội ngũ các học giả của dự án cũng như kết hợp ý kiến chuyên môn và phân tích của nghiên cứu trưởng, các cố vấn cấp cao, và nhân viên của NBR, những người đã tham dự hội thảo kéo dài ba ngày vào tháng 5/2011 để dự thảo báo cáo này. Mục đích của báo cáo là để tóm tắt và tập trung vào các khía cạnh liên quan đến chính sách của dự án MERA mà không bị hạn chế bởi các chính sách quốc gia hay các đòi hỏi về chủ quyền. Tôi muốn bày tỏ sự cảm kích đối với các tác giả của bản báo cáo này vì thời gian và cống hiến mà họ đã dành ra, cũng như sự ủng hộ của họ đối với dự án MERA trong tất cả các giai đoạn. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Quỹ MacArthur vì sự ủng hộ hào phóng về mặt tài chính, mà nếu không có nó thì dự án này đã không thể thực hiện được. Tim Cook, Giám đốc Dự án, Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á CLIVE SCHOFIELD là Giáo sư và Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương (ANCORS), Đại học Wollongong, Úc. Hiện ông là Ủy viên giám đốc của Hội đồng Nghiên cứu Úc và là nghiên cứu trưởng của dự án “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của NBR. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ < clives@uoww.edu.auĐịa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. >. IAN TOWNSEND-GAULT là Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Pháp lý Châu Á, Khoa Luật, Đại học British Columbia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ < itgault@law.ubc.caĐịa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. > HASJIM DJALAL là thành viên Hội đồng Biển Indonesia; Cố vấn Cấp cao của Bộ trưởng Bộ Hàng hải và Ngư nghiệp, Bộ trưởng Bộ Giao thông, và Trưởng Tham mưu Hải quân Indonesia; và là thành viên của Nhóm Chuyên gia Pháp lý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Indonesia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ < hdh@cbn.net.idĐịa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. >. IAN STOREY là Ủy viên giám đốc của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore, và là Biên tập viên của tạp chí Contemporary Southeast Asia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ < ijstorey@edu.sgĐịa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. >. MEREDITH MILLER là Phó Chủ nhiệm Các vấn đề Thương mại, Kinh tế, và Năng lượng ở Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với bà qua địa chỉ < mmiller@nbr.orgĐịa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. >. TIM COOK là Giám đốc Cao cấp của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ tcook@nbr.orgĐịa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. TÓM TẮTBáo cáo này phân tích các kết luận từ dự án ba năm về “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á, trong đó đánh giá các tranh chấp quyền tài phán trên biển và các cơ hội hợp tác ở Đông và Đông Nam Á. NHỮNG KÉT LUẬN CHÍNHNhững tranh chấp lâu năm về các yêu sách quyền tài phán trên biển ở Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan đe dọa sự ổn định và thịnh vượng lâu dài của các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực đa phương trong những thập kỷ gần đây cùng với các thể chế pháp lý quốc tế như Công ước LHQ về Luật Biển, nhưng căng thẳng giữa các quốc gia yêu sách và các quốc gia sử dụng vẫn cao. Các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan và áp lực cần phải phát triển các nguồn năng lượng trong khu vực tranh chấp. Những mối quan ngại về quyền tiếp cận tài nguyên, cùng với việc các quốc gia yêu sách đã không thực thi được các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) để xoa dịu căng thẳng, đã cho thấy rằng một giải pháp chính trị khó có thể đạt được trong ngắn hạn. Ngay cả khi không có một thỏa thuận dài hạn, thì các quốc gia yêu sách vẫn cần phải có những hành động phối hợp tạm thời để xoa dịu căng thẳng, tăng cường hợp tác và lòng tin, cũng như duy trì cương vị quản lý đối với môi trường và tài nguyên biển. Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ+ Các quốc gia có thể quản lý tốt hơn những căng thẳng hiện tại bằng cách thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin, bao gồm cả các biện pháp được liệt kê trong Tuyên bố về Ứng xử của Các bên tại Biển Đông (DoC). Những biện pháp này có thể bao gồm những việc như sử dụng các đường dây nóng, thông báo trước về việc tập trận quân sự, tìm kiếm và cứu nạn chung, hợp tác về phòng, chống các mối đe dọa xuyên quốc gia, các quy định về ứng xử khi đụng độ trên biển cả, và tăng cường minh bạch về quân sự. + Bất kể hạn chế trong việc thực thi DoC, Trung Quốc và các nước ASEAN cần phải bắt đầu đàm phán để về một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông để chính thức hóa các biện pháp xây dựng lòng tin và hạn chế những hành động gây mất ổn định. +Việc quản lý tạm thời nhiều tranh chấp lãnh thổ và trên biển có liên kết với nhau ở Châu Á là cách tốt nhất để đảm bảo quyền tự do hàng hải và sự lưu thông tự do của thương mại, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Những dàn xếp này sẽ không phương hại tới các yêu sách trên biển của các quốc gia trong thời gian ngắn. (Còn nữa)Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2052-bao-cao-nbr
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #248 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2011, 12:26:55 am » |
|
Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông (Tóm lược) (Tiếp theo) Không gian biển nửa kín của Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan là nơi chứa đựng các tuyến giao thông trên biển (SLOC) có giá trị vô cùng quan trọng không chỉ với các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á mà còn với thương mại toàn cầu. Hơn nữa những vùng biển này còn chứa một môi trường biển vô cùng đa dạng về sinh học, có giá trị lớn với ngành đánh cá, và do đó nó duy trì được sự sống của hàng trăm triệu người. Thêm vào đó, từ lâu đã có những dự đoán rằng những khu vực này chứa đựng trữ lượng dồi dào các nguồn năng lượng đáy biển – một tiềm năng có sức hấp dẫn vô cùng lớn trong một thời đại mà mối lo ngại về an ninh năng lượng ngày càng gia tăng. Tuy các nguồn trữ lượng năng lượng dưới đáy biển đã được phát hiện và đang trong quá trình được phát triển trong khu vực Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, nhưng tiềm năng thực sự của những khu vực này vẫn chưa được làm sáng tỏ và cũng chưa thể hiện thực hóa do các tranh chấp về quyền tài phán lãnh thổ và trên biển vẫn là những đặc tính cố hữu của những vùng biển này. Thực tế là những không gian biển này đã được định hình bởi nhiều tranh chấp chủ quyền đối với những hòn đảo, đảo đá, bãi đá ngầm có diện tích nhỏ và cách xa bờ cùng với những yêu sách chồng chéo và không phải lúc nào cũng rõ ràng về quyền tài phán. Những tranh chấp về chủ quyền và quyền tài phán trên biển ở Đông và Đông Nam Á là những điểm nóng có nguy cơ trở thành mối đe dọa đối với hòa bình, an ninh, và cùng với nó là thịnh vượng về kinh tế trong những khu vực này. Những yêu sách xung đột nhau về chủ quyền đối với các hòn đảo và các đảo nhỏ cùng với những yêu sách chồng lấn trên biển liên quan đến chúng là nguồn gốc của sự căng thẳng trong suốt hàng thập kỷ qua. Những tranh chấp này đã dẫn đến hàng loạt các vụ việc và thậm chí là đụng độ quân sự giữa các quốc gia yêu sách trong quá khứ. Với sự dai dẳng của các tranh chấp, rất có khả năng những vụ việc đó sẽ lại tiếp diễn và có nguy cơ phát triển thành những xung đột lớn hơn. Việc không có một giải pháp giải quyết tranh chấp đã là một cản trở lớn đối với các lợi ích tích cực mà những không gian biển và các tài nguyên của nó có thể mang lại cho các quốc gia trong khu vực. Đặc biệt là khi nhìn từ góc độ năng lượng, các tuyến biển của Châu Á là những điểm quá cảnh quan trọng – và cũng có thể là những nguồn trữ lượng dồi dào – của năng lượng hidrocacbon mà các nền kinh tế trong khu vực phải dựa vào để duy trì quỹ đạo phát triển của mình. Nhiều quốc gia trong khu vực đang bị thâm hụt nguồn năng lượng trong nước một cách nghiêm trọng và đang ngày càng phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu thô để đáp ứng các yêu cầu. Chẳng hạn, ở Đông Á Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước phụ thuộc rất nhiều vào dầu thô để đáp ứng hầu hết các yêu cầu của mình, và trong năm 2009 Trung Quốc đã phải dựa vào dầu thô nhập khẩu để giải quyết 53% các nhu cầu. Sự lệ thuộc vào dầu thô và khí của hầu hết các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á (ngoại trừ Brunei) được dự đoán là sẽ còn tăng mạnh trong tương lai. Hầu hết các nguồn năng lượng nhập khẩu này đến từ Châu Phi và Trung Đông và được vận chuyển bằng đường biển qua các điểm kiểm tra ở Đông Nam Á như Eo biển Malacca, Singapore, Sunda, Lombok, Makassar, và Balabac rồi mới đi tiếp qua Biển Đông và Biển Hoa Đông đến bến cảng cuối cùng. Bất kỳ cuộc đụng độ hay biểu dương lực lượng nào ở một trong những điểm này cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh năng lượng trong khu vực do tàu thuyền phải điều chỉnh lại tuyến hàng hải. Do trữ lượng dầu chủ yếu của thế giới tập trung ở những nơi như Trung Đông nên các nguồn cung cấp thay thế mà không đòi hỏi việc quá cảnh qua khu vực bị ảnh hưởng là tương đối thấp (xem Hình 1-3). Hình 1 Hình 2 Hình 3  Tranh chấp trong khu vực trải rộng từ những yêu sách chủ quyền đối với đảo và vùng biển liên kết cho đến những bất đồng về năng lực của những hòn đảo nhỏ, xa bờ, và không có người sinh sống để bổ trợ cho những yêu sách mở rộng đối với không gian biển. Những bất đồng về vai trò của các hòn đảo trong việc phân định biên giới trên biển, cũng như những bất đồng về cách thức tiếp cận hay phương pháp của việc phân định biên giới đã làm trầm trọng thêm sự phức tạp của các tranh chấp và dẫn đến sự trì hoãn của một biện pháp giải quyết cuối cùng. Những nỗ lực để giải quyết các tranh chấp này đã tiếp diễn hàng thập kỷ nay tại các cấp độ chính phủ và cấp độ Kênh II mà hầu như không đạt được mấy thành công. Trong đó, những nỗ lực trong cách tiếp cận về pháp luật quốc tế dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), các cuộc đàm phán phân định biên giới song phương, và các hiệp định phát triển tài nguyên chung đã đóng vai trò kiềm chế hành vi của các quốc gia, đưa ra các lựa chọn thay thế, và nhìn chung đã nhấn mạnh vai trò của ngoại giao và đàm thoại thay vì sử dụng lực lượng quân sự trong việc giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, vẫn có những dấu hiệu đáng báo động về căng thẳng đang gia tăng giữa các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á về những yêu sách chồng chéo của họ. Chẳng hạn, trong nửa đầu năm 2011 đã có ít nhất là hai lần tàu hải giám của Trung Quốc quấy rầy tàu thăm dò địa chấn do chính phủ Philippin và Việt Nam làm chủ quản và buộc những con tàu này phải ngừng các hoạt động khai thác của mình. Sự kiện đầu tiên xảy ra vào tháng 3 ở Bãi Cỏ rong, một khu vực mà Philippin cho là thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) kéo dài 200 hải lý của mình. Sự kiện thứ hai xảy ra vào tháng 5 ở vùng biển gần tỉnh Phú Yên của miền trung Việt Nam. Cả Manila và Hà Nội đều đã phản đối những hành động của tàu tuần tra Trung Quốc. Một vụ việc khác đã xảy ra vào tháng 9/2010 khi lực lượng Biên phòng Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng của một con tàu đánh cá của Trung Quốc sau một cuộc đụng dộ ở vùng biển tranh chấp ở Biển Hoa Đông. Sự kiện này, cùng với căng thẳng ngoại giao về sau, đã làm dấy lên căng thẳng giữa các thành phần chủ nghĩa dân tộc của hai nước và làm lu mờ hơn khả năng thực thi hiệp định năm 2008 về vùng phát triển chung và dự án dầu khí. Trong khi đó, ở Vịnh Thái Lan tình trạng xấu đi của quan hệ giữa Campuchia và Thái Lan, chủ yếu do những tranh chấp trên biên giới đất liền, vẫn có khả năng lan ra biển. Những vụ việc nêu trên và một loạt các tranh cãi tương tự đã thường xuyên xảy ra trong các năm gần đây. Trong mọi vụ việc thì căng thẳng và sự mất lòng tin đều gia tăng giữa các chủ thể chính, và từ đó đặt ra nghi vấn về khả năng giải quyết những tranh chấp này trong tương lai. Ở những nơi có những yêu sách chồng lấn về biển, những bất trắc về quyền tài phán rõ ràng đã gây phức tạp cho công tác quản lý tài nguyên đại dương. Những chính sách không được điều phối dẫn đến tranh chấp về tài nguyên mang tính hủy hoại và không bền vững, đặc biệt là đối với các tài nguyên sinh vật biển. Sự đối đầu, va chạm giữa các đoàn tàu đánh cá có thể nhanh chóng kéo các cơ quan chức năng của các quốc gia ven biển vào cuộc, đặc biệt là khi các lực lượng an ninh của quốc gia chỉ đơn thuần cho là mình đang tuần tra ở không gian biển “của mình”. Sự cạnh tranh về tài nguyên cũng có xu hướng kích động các thành phần chủ nghĩa dân tộc - tương tự những gì đã xảy ra trong các cuộc biểu tình ở Trung Quốc về việc Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng thuyền đánh cá của Trung Quốc. Những tư tưởng chủ nghĩa dân tộc như vậy càng làm gia tăng rủi ro cho các nhà lãnh đạo chính trị do họ có thể vì lí do nhượng bộ mà thể hiện sự yếu đuối với công dân của mình. Trong trường hợp xấu nhất, nếu căng thẳng leo thang và trở thành xung đột vũ trang thì quyền tự do hàng hải và thương mại tren biển, bao gồm việc quá cảnh các nguồn tài nguyên năng lượng quan trọng, sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2052-bao-cao-nbrPS: phần báo cáo chi tiết tôi xin post vào dịp khác
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #249 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2011, 03:14:52 pm » |
|
Việt Nam, Philippines đẩy mạnh tuần tra chung trên biển Quân đội Việt Nam và Philippines sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hoạt động tuần tra chung trên biển trong thời gian tới.  Tư lệnh hải quân Philippines Alexander P Pama bắt tay Tư lệnh hải quân Việt Nam Nguyễn Văn Hiến tại Hội nghị Tư lệnh hải quân ASEAN hồi tháng 7 tại Hà Nội. Đây là một trong những lĩnh vực mà Trung tướng Đỗ Bá Tỵ, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, và Đại tướng Eduardo San Lorenzo Oban, Tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Philippines nhất trí cho rằng quân đội hai nước Việt Nam-Philippines cần tăng cường hợp tác. Trong buổi hội kiến chiều 28/9, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng quân đội hai nước Việt Nam và Philippines cho rằng, trong thập kỷ qua mặc dù quan hệ quốc phòng song phương giữa hai nước đã có bước phát triển tốt, nhưng quân đội hai nước vẫn chưa khai thác hết tiềm năng hợp tác được đề cập trong Bản Thỏa thuận về hợp tác quốc phòng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Philippines ký vào tháng 10/2010. Do vậy, thời gian tới quân đội hai nước sẽ thúc đẩy quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực trao đổi đoàn, thiết lập đường dây nóng cấp cao, chia sẻ thông tin tình báo, diễn tập tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giao lưu hải quân và những vấn đề cùng quan tâm, góp phần củng cố mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa quân đội và nhân dân hai nước. Cũng trong buổi hội kiến, Trung tướng Đỗ Bá Tỵ đã cảm ơn Chính phủ Philippines trong việc ra quyết định thả 122 ngư dân Việt Nam, cũng như việc hải quân Philippines đã thông báo, cứu giúp 12 ngư dân khác của Việt Nam bị nạn trên biển ngày 1/9/2011 đồng thời chia sẻ với Đại tướng Eduardo San Lorenzo Oban trước những thiệt hại, mất mát mà nhân dân Philippines phải hứng chịu do các cơn bão gây ra thời gian qua. Nguồn http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/09/viet-nam-philippines-day-manh-tuan-tra-chung-tren-bien/
|
|
|
|
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
|