Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:53:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 432675 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #250 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2011, 12:10:12 am »

Nhân dân Nhật báo Trung Quốc: Không nên mơ hồ trong vấn đề Biển Đông


Về bản chất yêu sách của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông, tác giả Đinh Cương (Dinh Gang), phóng viên cao cấp của Nhân dân Nhật báo (Trung Quốc) cho rằng, để tránh bất lợi cho Trung Quốc,nước này cần làm rõ chi tiết vị trí địa lý yêu sách của mình, đồng thời báo chí Trung Quốc cần tránh gọi "Nam Hải (Biển Đông)" là "Nam Hải (Biển Đông) của Trung Quốc.
 
Ấn Độ tích cực tham gia cùng Việt Nam khai thác dầu khi trong vùng biển thuộc phạm vi chủ quyền của Trung Quốc ở "Nam Hải" (Biển Đông), gây nên sự phẫn nỗ mạnh mẽ của rất nhiều người dân Trung Quốc. NFN/BNG Trung Quốc khi trả lời câu hỏi về vấn đề này, nhắc lại lập trường nhất quán của Trung Quốc: Phản đối bất kỳ nước nào tiến hành hoạt động thăm dò khai thác dầu khí trong vùng biền thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.

Người viết bài này đã tra tìm các bài viết liên quan trên báo chí Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc, đều không tìm thây "chúng cứ xâm phạm" cụ thể nào về việc Việt Nam khai thác trên vùng biển chủ quyền của Trung Quốc. NFN/BNG Trung Quốc cũng không giải thích cụ thể đối với vấn đề này tất cả xem ra đều mơ hồ.

Đầu tiên là cách nói của Việt Nam rất mơ hồ. Quan chức Việt Nam nhiêu lần tuyên bố khu vực này thuộc phạm vi chủ quyền của Việt Nam, còn như một hoặc những khu vực nào, vị trí ở đâu trên bản đồ, không thể hiện cụ thể, chỉ có ký hiệu hai lô này là 127 và 128. Ấn Độ cũng giống như vậy, tuyên bố dự án này không hề liên quán đến vùng biển của Trung Quốc.

Có báo chí Trung Quốc nói, hai lô này nằm ở vùng biển thuộc quần đảo “Nam Sa” (Trường Sa), nhưng nhìn từ Sơ đồ phân lô Biển Đông của Việt Nam trên mạng, xem ra lại không gần quần đảo "Nam Sa" (Trường Sa), mà rất có khả năng nằm sát chồng lên đường 9 đoạn". Hai cách nói này đều không được cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan nghiên cứu chứng thực rõ ràng, cho nên cũng chỉ có thể là mơ hồ. Đến nạy cũng chưa thây bất kỳ báo chí nào đưa tin chi tiết về khu vực mà Việt Nam tiến hành khai thác.

Việt Nam và Ấn Độ đương nhiên mong muốn mơ hồ, bởi vì càng mơ hồ thì càng có lợi cho họ thăm dò và khai thác. Việt Nam thậm chí đã thu được tiến triển trên thực tế trong sự mơ hồ này. Nhưng Trung Quốc không giống như vậy, Trung Quốc cần phải rõ ràng. Các cơ quan hữu quan của Trung Quốc cần công bố cho công chúng các tài liệu địa lý chi tiết về việc này, Trung Quốc cũng cần có quyền yêu cầu Việt Nam và ấn Độ cung cấp sơ đồ vị tri cụ thể. Bởi vì đây.là một khu vực nhạy cảm, nếu những lô này xâm phạm vùng biển của Trung Quốc, nếu Việt Nam và Ấn Độ qua việc làm này đã phá hoại "Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông" và Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố này, thì cần phải để cho cả thế giới biết rõ.

Những năm gần đây, cùng với sự nóng lên của tranh chấp Biển Đông Báo chí Mỹ, phương Tây và một số nước ở Biển Đông mượn cớ đưa ra “Thuyết về mối đe đoạ từ Trung Quốc". Một thủ đoạn thường dùng của họ là chỉ trích Trung Quốc coi Biển Đông là "ao nhà”. Sau khi sự kiện này xảy ra, có báo chi nước ngoài nói rằng, "Trung Quốc nói, sự thật lịch sử chứng minh Trung Quốc có quyền tuyên bố có chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông.

Đối với cạm bẫy ý đồ chụp cái mũ bá quyền cho Trung Quốc, chúng ta phải đề cao cảnh giác. Báo chí Trung Quốc cần tránh gọi "Nam Hải (Biển Đông)" là "Nam Hải (Biển Đông) củaTrung Quốc", càng không nên nói một cách quá chung chung nước nào đó khai thác ở Biển Đông, là xâm phạm lợi ích cốt lõi của trung Quốc. Trong vấn đề những nước liên quan khai thác ở Biển Đông  xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, các cơ quan hữu quan của Trung Quốc cần đưa ra cho thế giới chứng cứ rõ ràng hơn, mà không nên luôn xừ lý nhẹ nhàng, mơ hồ. Chúng ta càng mơ hồ, thì càng có thể rơi vào các bẫy mà người khác đã giăng sẵn.

Vấn đề Biển Đông cần giải quyết hòa bình, Trung Quốc không thể luôn đi theo một vài nước xung quanh để chơi trò “đánh đố". Nếu là của chúng ta, chúng ta kiến quyết không nhượng bộ, nếu không là của chúng ta, chúng ta một tấc cũng không lấy. Đường biên giới trên biên vạch ra ở đâu, không thể có một chút mơ hồ.

Bài gốc tiếng Anh “People’s Daily reporter: sovereignty over the South China Sea demarcation should not be obfuscated”

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2081-nhan-dan-nht-bao-tq-khong-nen-m-h-trong-vn--bin-ong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #251 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2011, 12:15:19 am »

Vấn đề Biển Đông: Xuất hiện động thái mới


Với sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, giờ đây ASEAN đã tự tin và đoàn kết trước một Trung Quốc quyết đoán, sẵn sang liều lĩnh trong tranh chấp Biển Đông. Báo "Thái Dương" (Hồng Công) số ra ngày 25/9 đăng bài của tác giả Bành Hải Văn về vấn đề này như sau.


Theo Bành hải Văn, bất chấp sự phản đối quyết liệt của Trung Quốc, Philíppin đã tổ chức hội nghị 10 nước ASEAN để chuẩn bị cho việc đơn phương phân chia Biển Đông. Trên thực tế, hội nghị này không chỉ bàn về vấn đề phân chia Biển Đông, mà còn hé lộ một động thái mới trong vấn đề Biển Đông, đó là việc từ nay về sau các nước ASEAN sẽ đoàn kết thành một khối chống lại Trung Quốc.

Theo tác giả, từ đầu năm tới nay, vấn đề Biển Đông đã xuất hiện những dấu hiệu khác so với trước đây. Đầu tiên là việc Mỹ công khai biểu lộ thái độ can dự vào vấn đề Biển Đông. Đây là hành động rất hiếm gặp trong quá khứ. Coi việc can dự vào vấn đề Biển Đông như một điểm tựa cho chiến lược trở lại châu Á, Mỹ nhiều lần yêu cầu Trung Quốc kiềm chế, không được gây trở ngại đối với việc tự do đi lại ở Biển Đông, thực chất là tạo cớ để nhúng tay vào vấn đề Biển Đông giống như truyền thông Nhật Bản đã đưa tin. Mục đích chính của việc Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông là nhằm kiềm chế Trung Quốc.

Ngoài Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ cũng bắt đầu can dự vào vấn đề Biển Đông. Xét về mặt địa lý, Nhật Bản và Ấn Độ không liên quan gì tới vấn đề Biển Đông. Về căn bản, việc Nhật Bản và Ấn Độ can dự vào vấn đề Biển Đông chủ yếu là để liên kết ASEAN chống lại Trung Quốc. Ngày 9/9, Nhật Bản và Philíppin đã tổ chức tham vấn về vấn đề an ninh biển ở khu vực châu Á, nội dung chính không ngoài việc bàn biện pháp ứng phó với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông và biển Hoa Đông. Trong chuyến thăm Nhật Bản mới đây của Tổng thống Philíppin Benigno Aquino III, tình hình Biển Đông và việc đối phó với Trung Quốc tiếp tục trở thành một trong những nội dung thảo luận quan trọng giữa hai bên.

Nhật Bản bắt tay với Philíppin, Việt Nam thì dần dần dựa vào Ấn Độ. Điều đáng chú ý là mới đây Ấn Độ đã can dự vào vấn đề Biển Đông và có hành động khá quyết liệt. Ngày 14/9, Ngoại trưởng Ấn Độ đã sang thăm Việt Nam và hai bên tỏ ra rất đồng thuận trong vấn đề Biển Đông. Ngay sau đó, Công ty Dầu khí ONGC của Ấn Độ tuyên bố sẽ tiến vào Biển Đông khai thác dầu khí, còn phía Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ hoàn toàn. Trước sự phản đối quyết liệt của Trung Quốc, giới truyền thông Ấn Độ đưa tin rằng Trung Quốc và Ấn Độ đang bày trận trên biển và biển đã trở thành “chiến trường cạnh tranh mới” của hai nước. Trước đó, Việt Nam đã nhiều lần mời hải quân Ấn Độ tới thăm quân cảng của Việt Nam cũng như đề nghị Ấn Độ giúp chế tạo tàu tuần tra biển và tàu tấn công cao tốc. Nếu việc này thành hiện thực, hai nước Ấn Độ và Trung Quốc vốn đã có tranh chấp lãnh thổ sẽ rơi vào sự đối kháng toàn diện.

Ngoài ra, các nước ASEAN cũng đã liên kết với nhau để chống Trung Quốc. Trước đây, các nước ASEAN vốn chỉ đơn lẻ đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình và có nhiều mâu thuẫn với nhau. Nhưng việc Philíppin tổ chức hội nghị 10 nước ASEAN lần này cho thấy các nước ASEAN đã ý thức được rằng trước một đối thủ khổng lồ như Trung Quốc, việc đấu tranh đơn lẻ khó có thể giành được chiến thắng. Cộng thêm sự hậu thuẫn, thúc đẩy của Mỹ, ASEAN sẽ bắt tay nhau chống Trung Quốc. Do đó, từ nay về sau, đối thủ của Trung Quốc không phải là vài nước ASEAN nhỏ bé, phân tán, mà là một ASEAN đoàn kết. Hơn nữa, đối thủ này lại có sự giúp đỡ của Nhật Bản và Ấn Độ, đặc biệt là đằng sau còn có sự hậu thuẫn của Mỹ, nước mà Trung Quốc càng khó đối phó hơn. Với sự ủng hộ của Mỹ, thế bao vây Trung Quốc từ Nhật Bản tới Ấn Độ đã hình thành, trong đó ASEAN làm điểm tựa.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2083-vn--bin-ong-xut-hin-ng-thai-mi
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #252 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2011, 12:12:40 am »

Quan hệ Việt - Ấn: Phép thử sự kiên nhẫn của Trung Quốc


Bài phân tích trên mạng thông tin tình báo Stratfor "India, Vietnam: Testing China's Patience” cho rằng, những rắc rối trong quan hệ ngoại giao Trung - Ấn trong vài tháng gần đây liên quan đến việc thăm dò dầu khí tại Biển Đông đã làm nổi bật lên việc Việt - Ấn tăng cường quan hệ. Mặc dù Biển Đông đối với Ấn Độ chỉ là vấn đề thứ yếu, tuy nhiên đây lại là một phần trong chính sách “Hướng Đông” của nước này nhằm đối chọi lại với Trung Quốc. Bên hưởng lợi chính là Việt Nam.

ÂĐ đã coi nhẹ sự phản đối của TQ đối với liên doanh thăm dò dầu khí ÂĐ - Việt Nam tại Biển Đông, nói rằng liên doanh đã hoạt động từ năm 1988 và không có kế hoạch ngưng hoạt động. TQ, thông qua báo chí của mình, coi liên doanh là sự khiêu khích nghiêm trọng. Thực tế là công ty dầu khí ÂĐ và PetroVietnam đã ký hợp đồng có hiệu lực 7 năm từ năm 2006 mà không có bất cứ sự phản đối ngoại giao đáng kể nào từ TQ. Căng thẳng ngoại giao giữa các cường quốc trong khu vực liên quan đến vấn đề thăm dò dầu khí và khoáng sản tại các vùng biển tranh chấp vẫn xẩy ra, đáng chú ý lần này là việc Việt - Ấn tăng cường quan hệ. ÂĐ dường như muốn hướng về Việt Nam nhằm tăng cường sự hiện diện tại ĐNÁ và nhằm chống lại ảnh hưởng của TQ tại khu vực, trong khi Việt Nam coi ÂĐ như một đối tác tự nhiên khi nước này muốn đảm bảo an ninh tại Biển Đông.

Việt - Ấn là đối tác chiến lược ổn định trong hơn một thập niên qua, tuy vậy, việc hai nước tăng cường trao đổi đoàn cấp cao trong tháng qua cho thấy cả hai bên dường như muốn thúc đẩy việc tăng cường quan hệ, đặc biệt trong vấn đề an ninh. Nguyên nhân có thể là do sự mạnh bạo gần đây của TQ tại Biển Đông và ý định của nước này muốn kiềm chế môi trường chiến lược của ÂĐ và Việt Nam.

Mặc dù Biển Đông có vai trò quan trọng chiến lược đối với Việt Nam nhưng nơi này hiện không có ý nghĩa chiến lược quan trọng với ÂĐ về mặt an ninh và năng lượng. Đối với ÂĐ, việc liên minh với Việt Nam thể hiện mong muốn can dự vào một vấn đề đang ngày càng được quốc tế hóa, qua đó có được một chỗ đứng trong khu vực và giúp cân bằng ảnh hưởng với TQ, qua đó xử lý nhiều vấn đề chiến lược khác của mình như tranh chấp lãnh thổ với TQ hoặc buộc TQ phải điều chỉnh chiến lược của mình trong các vấn đề tại Ấn Độ Dương, Nam Á… Ngoài ra, trong chính sách “Hướng Đông” của mình, quan hệ quốc phòng tay ba giữa ÂĐ - Mỹ và NB là nhằm kiềm chế TQ. Đưa Việt Nam vào mối quan hệ này sẽ giúp các nước tiếp cận được các căn cứ quân sự vùng bờ biển Việt Nam, cùng với chính sách tái can dự khu vực CÁ - TBD của Mỹ, việc ÂĐ tăng cường can dự vào vấn đề sẽ giúp ÂĐ có lợi ích về kinh tế cũng như mở rộng môi trường chiến lược của mình.

TQ, nước đặc biệt nhạy cảm với sự can dự của cường quốc bên ngoài với Việt Nam, đã đưa ra cảnh báo của mình. Sự kiện vụ đụng độ giữa tàu TQ - ÂĐ (nếu thực sự đã diễn ra) là một thông điệp không chỉ cảnh cáo ÂĐ mà còn nhằm tới Việt Nam. Tuy ÂĐ không có nhiều lựa chọn, nhưng việc gia tăng lợi ích của nước này tại các vấn đề khu vực ĐNÁ cũng như nhu cầu chiến lược để cân bằng ảnh hưởng với TQ sẽ giúp họ có được kết quả.

Tuy Việt Nam - ÂĐ cùng chia sẻ lợi ích chung và muốn tăng cường quan hệ quân sự, sự khác biệt trong các ưu tiên cũng như yếu tố TQ sẽ khiến hai nước không đi quá nhanh và quá xa.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-quoc-te-tong-hop/2084-quan-h-vit-n-phep-th-s-kien-nhn-ca-trung-quc
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #253 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2011, 12:45:12 am »

Philippines lại có hội thảo về Biển Đông

Philippines, nước đang đẩy mạnh nỗ lực ngoại giao cho tuyên bố chủ quyền của họ tại Biển Đông, sắp tổ chức thêm một hội thảo quốc tế.

Tổ chức Carlos P. Romulo vì Hòa bình và Phát triển, cùng hợp tác với Viện Nghiên cứu Đông Á ở Singapore, sẽ tổ chức một diễn đàn về Biển Tây Philippine (tên chính thức mà chính phủ nước này sử dụng) vào ngày 17/10 ở Manila.

Chỉ cách đây vài ngày, hôm 22/09, đã có một hội nghị tương tự tại Manila, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc.

Một hội nghị với chủ đề "An ninh hàng hải trên Biển Đông", do Đại sứ quán Việt Nam, Philippines và Indonesia đồng tổ chức tại Bỉ, đã được tổ chức ngày 19/9.

Thông báo mới nhất về hội nghị tháng 10 ở Manila cho biết 23 nhân vật, gồm cả cựu quan chức và học giả, từ các nước Asean, Trung Quốc, Úc, Ấn Độ, Canada, Mỹ và châu Âu, sẽ đến hội nghị.

Vào ngày 16/10, sẽ có một phiên họp kín theo quy tắc "Chatham House", tức là người tham dự có quyền sử dụng thông tin từ phiên họp nhưng sẽ không tiết lộ danh tính của các diễn giả.

Sang ngày 17/10, chủ trì hội nghị sẽ là cựu ngoại trưởng Philippines Domingo L. Siazon Jr.

Thông báo nói rằng diễn đàn tháng 10 hy vọng "giúp các chính phủ tiến hành đối thoại chính thức với nhau".

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/09/110929_philippines_sea_forum.shtml
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #254 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2011, 12:22:37 am »

BIỂN ĐÔNG CHỈ LÀ MỘT ƯU TIÊN CHIẾN LƯỢC THẤP ĐỐI VỚI ẤN ĐỘ


Theo mạng phân tích thông tin tình báo chiến lược "Stratfor" (Mỹ) ngày 26/9, trong những tháng gần đây, quan hệ Việt Nam-Ấn Độ ngày càng được củng cố. Cả Ấn Độ và Việt Nam đều coi việc tăng cường quan hệ giữa hai nước là cách để đối trọng với Trung Quốc. Tuy nhiên, "Stratfor" cũng cảnh báo rằng Biển Đông chỉ là một ưu tiên chiến lược thấp đối với Niu Đêli.

Việt Nam và Ấn Độ đã duy trì mối quan hệ đối tác chiến lược ổn định trong hơn một thập kỷ. Thời gian gần đây, dường như hai nước ngày càng quan tâm đến mối quan hệ hợp tác song phương, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh. Ngoài các dự án thăm dò dầu khí ở Biển Đông, Ấn Độ còn mong muốn sử dụng cảng Nha Trang của Việt Nam làm cảng hải quân và đề nghị hỗ trợ huấn luyện hải quân Việt Nam sử dụng tàu ngầm lớp Kilo mới mua của Nga và các hoạt động chống tàu ngầm.

Sự tăng cường quan hệ này một phần là do thái độ gây hấn của Trung Quốc trong các tranh chấp ở Biển Đông và ý đồ của Trung Quốc muốn kiềm chế phạm vi ảnh hưởng chiến lược của Việt Nam và Ấn Độ. Quan hệ hợp tác Việt Nam-Ấn Độ được thúc đẩy sau một số vụ việc căng thẳng xảy ra tại Biển Đông hồi đầu năm, khi các tàu tuần tra của Trung Quốc va chạm với các tàu thăm dò nghiên cứu của Việt Nam và Philíppin.

Tuy nhiên, "Stratfor" cho rằng Ấn Độ sẽ không quá tập trung chiến lược vào Biển Đông và hiện tại, Biển Đông cũng không quá quan trọng đối với Ấn Độ về mặt an ninh kinh tế và năng lượng. Đối với Ấn Độ, việc hợp tác với Việt Nam thể hiện mong muốn củng cố chỗ đứng của nước này trong khu vực thông qua việc tham gia vào một vấn đề đang ngày càng được quốc tế hóa, đồng thời cũng là để giúp Ấn Độ có thể đối trọng với Trung Quốc. Ngoài ra, do Niu Đêli và Bắc Kinh có tranh chấp biên giới, liên quan đến khoảng 125.000 km2 đất mà Ấn Độ cần làm vùng đệm, nên Ấn Độ tính toán rằng việc hợp tác với một nước khác cũng có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Đông sẽ khiến Bắc Kinh phân tán sự chú ý khỏi cuộc tranh chấp biên giới với Ấn Độ. Thực ra, Ấn Độ quan tâm nhiều đến những vấn đề xảy ra ở Ấn Độ Dương, khu vực dọc biên giới của nước này với Pakixtan (khu vực tranh chấp Kashmir) và các nước láng giềng khác như Mianma, Nêpan và Xri Lanca.

Theo "Stratfor", mặc dù mối quan hệ Ấn Độ-Việt Nam đang được củng cố nhưng vẫn còn rất nhiều rào cản trong quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Việt Nam coi Ấn Độ là một đối tác tự nhiên và hiểu rằng lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông là hạn chế và Ấn Độ đặt ưu tiên chiến lược cao hơn ở khu vực khác. Về phía Ấn Độ, khó có khả năng nước này can thiệp vào xung đột Trung-Việt tại Biển Đông (nếu xảy ra) do Trung Quốc rất nhạy cảm với việc bên thứ ba tham dự vào Biển Đông. Bản thân Ấn Độ cũng biết giới hạn mà Trung Quốc có thể chấp nhận trong hợp tác Ấn Độ-Việt Nam.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2088-2088
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #255 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2011, 02:04:16 am »

Đằng sau việc Ấn Độ bước chân vào Biển Đông


Bài viết của TS. Ngô Triệu Lễ, Ban châu Á-Thái bình Dương, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, đánh giá về động cơ của Ấn Độ trong việc can dự vào Biển Đông, quan hệ  Ấn Độ - Việt Nam và Ấn Độ - Trung Quốc trong bối cảnh Công ty dầu khí quốc doanh Ấn Độ chuẩn bị vào khai thác dầu khí ở thềm ục địa của Việt Nam nhưng bị Trung Quốc phản đối.

Ngày 15/9/2011 trong thời gian Ngoại trưởng Ấn Độ Krishna ở thăm Việt Nam, báo Ấn Độ “Hindustan Times” đưa tin Công ty dầu khí quốc doanh của Ấn Độ (ONGC) có kế hoạch vào khai thác dầu khí trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông đồng thời cho biết kế hoạch đã được Việt Nam cho phép. Ngày 16/9 Ấn Độ và Việt Nam quyết định tăng cường hợp tác khai thác dầu khí, đồng thời quyết định sẽ tiếp tục dự án hợp tác ONGC.

Từ lâu nay thái độ của Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông tương đối rõ ràng, nghĩa là ủng hộ tự do hàng hải ở Biển Đông, hy vọng các bên tôn trọng “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” ký kết năm 2002. Có thể nói, lập trường của Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông là phù hợp với chủ trương nhất quán của Trung Quốc. Tuy nhiên phía sau nguyên tắc, Ấn Độ đã làm một “động tác nhỏ”, đúng như báo chí Ấn Độ đã nói dự án ONGC là lần đầu tiên Ấn Độ nhảy vào vòng tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam trong vấn đề Biển Đông.

Việt Nam là trụ cột quan trọng cho “chính sách hướng Đông” của Ấn Độ

Tại buổi họp báo về việc Ngoại trưởng Ấn Độ đi thăm Việt Nam tổ chức ngày 15/9, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ tuyên bố đối với Ấn Độ, quan hệ với Việt Nam là một trụ cột then chốt và cực kỳ quan trọng. Có thể nói trong quan hệ với các nước ASEAN, cách xác định quan hệ như trên quả là có một không hai. Trong bối cảnh Ấn Độ thực thi “chính sách hướng Đông” và Việt Nam phát triển không gian sang phía Tây, hai nước Việt Nam-Ấn Độ trước đây vốn đã rất tâm đầu ý hợp, nay nhu cầu chiến lược cần nhau được tăng cường, lợi ích chung gặp gỡ tăng lên, cả hai đều xác định lại quan hệ song phương bằng góc nhìn chiến lược hoàn toàn mới. Nhất là trong bối cảnh Trung Quốc không ngừng phát triển, thực lực không ngừng tăng lên, hai nước đều đang có tranh chấp lãnh thổ hoặc lãnh hải chưa giải quyết được với Trung Quốc, nay hình thành mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, nếu nói đó là mối quan hệ “đoàn kết nương nhờ nhau” cũng là điều hết sức bình thường.

Tính đến nay, hai nước đã cùng tổ chức 6 lần “Đối thoại chiến lược quốc phòng”, 2 lần “Đối thoại chiến lược” và 5 lần “trao đổi ngoại giao”. Đặc biệt sau khi hai nước ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng vào tháng 11 năm 2009, giao lưu hợp tác quân sự song phương tăng lên rõ rệt. Tháng 7/2010 Tư lệnh lục quân Ấn Độ lần đầu tiên sau 10 năm đi thăm Việt Nam; Tháng 7/2011, Việt Nam mời tàu tấn công đổ bộ “INS Airavat” đến Việt Nam. Ủng hộ nhau về chính trị, dựa vào nhau về an ninh trở thành đặc điểm nổi bật nhất trong quan hệ Ấn Độ-Việt Nam. Việt Nam là sợi dây nối quan trọng để Ấn Độ phát triển quan hệ với các nước ASEAN.

Quan hệ Trung - Ấn có cả cơ sở lẫn lo ngại

Từ năm 2011 đến nay quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Ấn Độ phải nói tương đối bình lặng. Trên cơ sở cùng tổ chức “Tết Trung Quốc” tại Ấn Độ và “Tết Ấn Độ” tại Trung Quốc năm 2010, hai bên lại đã xác định năm 2011 là “Năm giao lưu Trung-Ấn”. Hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực kinh tế thương mại phát triển nhanh chóng, kim ngạch thương mại song phương năm 2010 đạt 61,7 tỉ USD, trên cơ sở đó trong 8 tháng đầu năm nay đã đạt 48,16 tỉ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy thế, giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng có lo ngại. Việc giữa Trung Quốc và Pakixtan hình thành mối quan hệ đối tác “trong mọi điều kiện” trong bối cảnh Ấn Độ và Pakixtan đối đầu nhau đã bị Ấn Độ giải thích là Trung Quốc dựa vào Pakixtan đối đầu với Ấn Độ, nhất là giải thích việc Trung Quốc tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước Đông Á là nhắm vào quy hoạch chiến lược của Ấn Độ, cho rằng Trung Quốc thực thi “chiến lược chuỗi ngọc trai” bao vây Ấn Độ. Hơn nữa, những tác động tiêu cực từ những vấn đề hiện thực như vấn đề biên giới, Đạtlai Lạtma, mất cân bằng thương mại và hiện đại hóa quân đội còn tồn tại giữa hai nước là không thể xem thường. Mức độ tin cậy lẫn nhau về chính trị giữa Trung Quốc và Ấn Độ thấp, giao lưu phi chính thức có hạn khiến cho chiều sâu hợp tác trong khuôn khổ song phương giữa hai nước bị hạn chế, còn tồn tại cạnh tranh, thậm chí còn đối đầu ở mức độ nhất định.

Mục đích của việc Ấn Độ thúc đẩy dự án ONGC là không những có thể khéo léo ủng hộ Việt Nam, nước hiện nay đang có quan hệ “keo sơn” với Ấn Độ, mà còn có thể dựa vào đó để tỏ cho Trung Quốc thấy rằng trong vấn đề liên quan đến quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Ấn Độ cũng có “con bài” khác để chơi. Một số chính khách Ấn Độ cho rằng cần phải cảnh giác trước biện pháp ngoại giao khéo léo mà cứng rắn của Trung Quốc. Có học giả còn đề xuất chủ trương phải thành lập “Tổ chức hợp tác Hà Nội” với Việt Nam và một số nước khác để cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc. Một số nhân vật “diều hâu” trong quân đội cho rằng Ấn Độ không thể đối phó thách thức của Trung Quốc bằng thái độ mềm yếu và biệt lập, Ấn Độ cũng có quyền tổ chức “chuỗi ngọc trai” của riêng mình bao vây Trung Quốc.

Có tương đối nhiều học giả Ấn Độ đã biết rõ rằng “Việc Ấn Độ đâu đâu cũng bố trí phòng vệ trước Trung Quốc sẽ làm cho họ sắp trở thành người thua cuộc, nếu xét về lâu về dài”, nhưng Ấn Độ muốn thấy mình ở vào một ưu thế chiến lược nào đó trong khi xử lý quan hệ với Trung Quốc. Ấn Độ cũng đang lợi dụng tâm lý lo lắng của một số nước trước việc Trung Quốc thể hiện thực lực sau khi họ đã lớn mạnh để phát triển không gian chiến lược cho bản thân mình. Trên thực tế, Việt Nam dùng Ấn Độ để tìm điểm cân bằng, Ấn Độ cũng dựa vào Việt Nam để “nhìn về hướng Đông”; Việt Nam coi Ấn Độ là lực lượng quan trọng để cân bằng ảnh hưởng với Trung Quốc, Ấn Độ muốn lợi dụng vị trí địa lý của Việt Nam để mở rộng sự có mặt và ảnh hưởng của mình ở khu vực Đông Nam Á. Ấn Độ xem Việt Nam là một tiếp điểm then chốt để phá vỡ cái gọi là “chiến lược chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc.

Biển Đông không phải là “trà trong cốc” của Ấn Độ

Việc Ấn Độ bước vào Biển Đông hoàn toàn không có nghĩa là họ đã làm tốt công tác chuẩn bị từ các phương diện tâm lý và vật chất để đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông. Học giả Ấn Độ Raman cho rằng trong vấn đề về các đảo tranh chấp ở Biển Đông, đến Mỹ là nước có thực lực hải quân vượt xa Ấn Độ cũng giữ lập trường trung lập. Trong cuộc đối đầu với Trung Quốc, Việt Nam không có khả năng bảo vệ Công ty dầu khí của Ấn Độ, trong khi các đảo tranh chấp lại ở xa Ấn Độ, nhưng lại gần Trung Quốc, hải quân Ấn Độ trước mắt cũng không có khả năng bảo vệ cho Công ty dầu khí của Ấn Độ. Raman thậm chí cho rằng dù có nhằm để yêu cầu Trung Quốc “ngừng các hoạt động kiểm soát vùng Casơmia ở Pakixtan” thì Ấn Độ cũng không nên có ý đồ đối kháng Trung Quốc ở Biển Đông, vì Biển Đông không phải là “trà trong cốc” của Ấn Độ./.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2090-2090-
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #256 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2011, 12:18:43 am »

Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong quan hệ ASEAN - Trung Quốc


Từ việc phân tích tổng hợp các nhân tố dẫn đến căng thẳng và kéo dài trong tranh chấp Biển Đông, TS. Aileen S.P Baviera , Đại học Philippines đề cập đến các giải pháp: song phương, đa phương, hợp tác về an ninh hàng hải nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp Biển Đông, trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò tiếp cận đa phương.

Những sự kiện gần đây đã thu hút sự chú ý đối với các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông - một vùng biển mà căng thẳng đang ngày càng leo thang và có khả năng xảy ra một cuộc đối đầu quân sự  giữa các bên yêu sách đối địch nhau, đặc biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam, Trung Quốc và Philippines. Trong khi trước đó, nhiều nước yêu sách đã từng thực hiện những hành động đơn phương riêng lẻ mà được giải thích là việc khẳng định chủ quyền (bao gồm thông qua các luật liên quan đến lãnh thổ và các vùng biển, các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên, và các nỗ lực ngăn chặn hoạt động tương tự của các quốc gia khác), thì vòng căng thẳng mới nhất lại liên quan đến nhiều nhân tố đáng lo ngại.

Những nhân tố mới trong tranh chấp

Đầu tiên, và trước hết là việc Trung Quốc tăng cường sử dụng quân sự, bán quân sự hay các cơ quan thực thi pháp luật nhằm khẳng định chủ quyền tại các khu vực tranh chấp thể hiện trong bản đồ Đường đứt khúc chín đoạn, đặc biệt tại các khu vực gần bờ biển của các quốc gia duyên hải. Điều này cần phải được hiểu trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tăng cường năng lực của mình và thể hiện rõ ý định triển khai sức mạnh hải quân tại Biển Hoa Đông và Biển Đông. Trung Quốc gần đây đã đệ trình bản đồ thể hiện chính thức yêu sách của mình với Liên Hợp Quốc (như là một phần trong công hàm phản đối của nước này chống lại một đệ trình chung của Việt Nam - Malaysia về giới hạn thềm lục địa tại Biển Đông).

Thứ hai là sự thất bại cho đến nay của ngoại giao đa phương ở khu vực giữa Trung Quốc và ASEAN trong việc tiến tới thúc đẩy xây dựng lòng tin, hợp tác hay cấp bách hơn nữa, là trong việc nhất trí các giải pháp tránh xung đột và các quy định ứng xử khác trong khu vực tranh chấp.

Thứ ba là sự không chắc chắn về quỹ đạo của quan hệ các cường quốc, trong một môi trường mà sự nổi lên của Trung Quốc đang diễn ra giữa lúc kinh tế Mỹ đang suy giảm và các mối quan tâm của Mỹ thì đang ở các nơi khác trên thế giới (mặc dù chính quyền Obama đã tuyên bố dự định vẫn duy trì quyền lực ở Thái Bình Dương).

Các yếu tố này hợp lại dường như đã làm thay đổi cục diện của các tranh chấp lãnh thổ theo những cách khác nhau. Đang có một sự chuyển trọng tâm trong các nỗ lực quản lý xung đột từ việc xây dựng lòng tin giữa Trung Quốc và ASEAN và tìm kiếm công thức cho việc hợp tác tài nguyên sang (1) nhu cầu phải làm rõ chính xác phạm vi và các căn cứ pháp lý của các yêu sách tương ứng, cũng như bản chất của các bộ luật và các cơ chế có thể áp dụng trong các vùng biển xung quanh; (2) làm thế nào để ngăn chặn sự bùng nổ chiến tranh vũ trang và một cuộc chạy đua vũ trang lâu dài giữa các bên yêu sách đối địch, và (3) vấn đề liệu việc đưa Mỹ vào làm đối trọng với Trung Quốc là hữu ích hay gây nguy hại đến tiến trình ngoại giao giữa ASEAN - Trung Quốc về vấn đề này.

Bề ngoài của cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc

Như đã được tranh luận từ lâu, tranh chấp Biển Đông là một phép thử về thái độ và hành xử của Trung Quốc với các nước láng giềng nhỏ hơn với tư cách cường quốc mới nhất và lớn nhất của khu vực. Quan điểm cứng rắn và sự phô trương sức mạnh quân sự gần đây của Trung Quốc diễn ra sau một thời gian khá dài các mối quan hệ và hợp tác song phương cũng như đa phương với các nước Đông Nam Á khá suôn sẻ, từ đó gửi đi các tín hiệu lẫn lộn tới các láng giềng và làm xuất hiện mâu thuẫn với Khái niệm An ninh Mới mà nước này đang cố gắng thể hiện. Đồng thời, quan ngại của Mỹ về những gì mà nước này cho là thiếu minh bạch trong hiện đại hoá quân đội Trung Quốc nói chung, và khả năng chống can thiệp và phong tỏa khu vực (anti-access area-denial  capability) nói riêng của Trung Quốc, cộng hưởng ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Sự phát triển căn cứ tàu ngầm trên đảo Hải Nam và ý định triển khai các nhóm tàu sân bay chiến đấu của Trung Quốc là những điểm đáng chú ý đặc biệt.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2097-tranh-chp-lanh-th--bin-ong-trong-quan-h-asean-trung-quc
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #257 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2011, 10:38:14 am »

Trích từ bài: "Tuyên bố chung của Hội nghị Bộ trưởng Mỹ - Úc 2011"

.................

" Vấn đề Biển Đông

Tái khẳng định Mỹ và Ôxtrâylia, cùng với cộng đồng quốc tế, có lợi ích quốc gia trong vấn đề tự do lưu thông hàng hải, duy trì hòa bình và ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế và không cản trở thương mại ở Biển Đông.

Tái khẳng định Mỹ và Ôxtrâylia không đứng về bên nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông, kêu gọi chính phủ các nước/các bên làm rõ và theo đuổi những tuyên bố chủ quyền của mình, cùng với các quyền hàng hải phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển.

Tái khẳng định Mỹ và Ôxtrâylia ủng hộ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa ASEAN – Trung Quốc năm 2002, khuyến khích các bên tuân thủ cam kết của mình, trong đó có tự kiềm chế, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, hướng tới xây dựng bộ quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc. Phản đối việc gây sức ép hoặc sử dụng vũ lực hoặc gây trở ngại hoạt động kinh tế hợp pháp.

* Cơ cấu khu vực

Tăng cường cơ cấu khu vực để duy trì và tăng cường hòa bình, thịnh vượng ở châu Á-Thái Bình Dương.

Hợp tác nhằm đạt được thành công tại Hội nghị Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) sắp tới dưới sự lãnh đạo của Mỹ, qua đó đẩy nhanh tiến trình APEC, thúc đẩy tự do thương mại và hội nhập kinh tế trong khu vực. Khẳng định vai trò quan trọng của Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) vì nó thiết lập một khuôn khổ hợp tác trên một loạt lĩnh vực.

Hoan nghênh vai trò lãnh đạo của Ôxtrâylia trong việc xây dựng một cộng đồng năng động ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương thông qua EAS. Tận dụng hội nghị các nhà lãnh đạo các nước ở Inđônêxia trong năm nay để định hướng cho việc mở rộng EAS và can dự vào các cuộc thảo luận hiệu quả tại Bali vào ngày 19/11 tới về các vấn đề chính trị, kinh tế, chiến lược và các vấn đề khác của khu vực.

Thiết lập những mối liên kết chặt chẽ giữa EAS và các diễn đàn cấp bộ trưởng khác mà ASEAN làm trung tâm như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF). Hoan nghênh thành lập Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), coi đây là một nhân tố quan trọng trong cấu trúc khu vực và đóng góp vào an ninh và ổn định khu vực.

Hợp tác hướng tới việc kết thúc thành công đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhằm mở rộng thương mại, đầu tư và tăng trưởng giữa 9 nước thành viên TPP, trong đó có Mỹ và Ôxtrâylia, đồng thời tăng cường hội nhập kinh tế khu vực. "

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-quoc-te-tong-hop/2091-tuyen-b-chung-ca-hi-ngh-b-trng-m-uc-2011
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #258 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2011, 09:20:24 am »

Trung Quốc sẽ bỏ đường lưỡi bò?


Trung Quốc có một loạt phản ứng nhằm "nhắc nhở" các nước đang tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông không vận động các cường quốc khác với hy vọng gây sức ép lên Bắc Kinh.

Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc cảnh báo các nước Đông Nam Á không khiêu khích Trung Quốc bằng việc nhờ sức mạnh quân sự của Mỹ để giải quyết tranh chấp

"Có những nước nghĩ rằng nếu có thể cân bằng với Trung Quốc bằng sức mạnh quân sự của Mỹ, họ được tự do làm những gì họ muốn."

Bài xã luận của Nhân dân Nhật báo hôm thứ Tư nói tiếp: "Chúng ta không phủ nhận là một số nước châu Á có cảm giác bất an vì sự phát triển nhanh của Trung Quốc, nhất là sức mạnh quân sự của Trung Quốc sẽ phá vỡ cân bằng do Mỹ cố duy trì."

"Nhưng châu Á ngày nay đã thay đổi...Không nước nào muốn trả lại tấm vé đi chuyến tàu cao tốc của sự phát triển kinh tế của Trung Quốc."

Nói chuyện với hãng tin Bloomberg, ông Huang Jing, giáo sư của Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu thuộc Đại học Quốc gia Singapore, cho rằng bài xã luận có thể ngụ ý rằng Bắc Kinh muốn thỏa hiệp với Asean về Biển Đông để ngăn sự can dự của Mỹ.

Đặc biệt, ông này ra giả thiết Trung Quốc có thể từ bỏ “đường 9 điểm” trên bản đồ (đường lưỡi bò).

Thay vào đó, Bắc Kinh sẽ nhấn mạnh chủ quyền ở khu vực quanh các bãi đá ngầm và bãi nước cạn nhằm xoa dịu Malaysia và Philippines.

Ông nói: "Trung Quốc biết họ không có căn cứ gì để đòi đường 9 điểm. Nếu Trung Quốc không nói rõ quan điểm, họ sẽ cho Mỹ có cớ hay lý do để can thiệp."

Nhắc nhở Tokyo?

Cùng ngày thứ Tư, tại một cuộc họp báo ở Bắc Kinh, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói nước ông phản đối việc nước khác can thiệp vào vùng biển mà Trung Quốc gọi là Nam Hải.

"Trung Quốc cương quyết phản đối cố gắng của bất kỳ nước nào muốn can thiệp vấn đề Nam Hải dưới chiêu bài tự do đi lại."

Người phát ngôn quân đội Trung Quốc phát biểu một ngày sau khi Nhật Bản và Philippipnes ký thỏa thuận hợp tác hải quân.

Nhân chuyến thăm Tokyo của Tổng thống Philippines hôm 27/09, hai nước ra tuyên bố có nhắc về Biển Đông.

Thông cáo chung bằng tiếng Anh sau hội nghị nói: "Hai nhà lãnh đạo xác nhận Biển Nam Trung Hoa (South China Sea) là tối quan trọng, vì nó kết nối thế giới và châu Á Thái Bình Dương, và rằng hòa bình cùng ổn định là lợi ích chung cho cộng đồng quốc tế."

Chen Qinghong, nhà nghiên cứu thuộc Viện Trung Quốc về Quan hệ Quốc tế Đương đại, nói Nhật Bản muốn dùng vấn đề Biển Đông để khiêu khích Trung Quốc sau khi vị trí nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nay đã thuộc về Trung Quốc.

Ông này cũng cho rằng Tokyo có ý đồ xen vào Biển Đông cũng là vì hy vọng sẽ mặc cả tốt hơn với Bắc Kinh quanh tranh chấp ở đảo Điếu Ngư (mà Nhật Bản gọi là Senkaku).

Tuy nhiên, lời lẽ từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại có vẻ nhấn mạnh các góc độ khác với Bộ Quốc phòng.

Ngày 29/9, ở Bắc Kinh người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Hồng Lỗi nói "chẳng hề có câu hỏi về tự do hàng hải ở biển Nam Hải", hàm ý vùng biển này hoàn toàn an toàn để lưu thông.

Ông cũng nói: "Các nước trong và ngoài vùng biển đều là những bên hưởng lợi ích."

Phía Trung Quốc đáp lại quan điểm của Ngoại trưởng Nhật Yoshihiko Noda và Tổng thống Philippines Benigno S. Aquino III cùng nêu ra hôm thứ Ba rằng họ quan ngại về tự do hàng hải tại vùng biển này.

'Phát triển hòa bình'

Trong một bài bình luận khác, vừa ra hôm nay, Nhân dân Nhật báo nhấn mạnh Trung Quốc đi theo con đường "phát triển hòa bình".

Đề cập đến Biển Đông, tác giả Le Yucheng, ca ngợi nước ông đã "không lạm dụng ngôn ngữ hay sức mạnh quân sự" cho dù từ đầu năm nay, ông nói "một vài nước" đã có "tiểu xảo" để khiêu khích.

Tác giả bài viết, cũng là giám đốc Vụ Hoạch định Chính sách của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, nhắc lại Trung Quốc đã mời Tổng thống Philippines Aquino đi thăm và tiến hành "trao đổi đa cấp với chính phủ Việt Nam để xây dựng hiểu biết và niềm tin giữa hai nước".

Đây không phải là lần đầu tiên báo chí chính thống của Trung Quốc đề nghị chính phủ làm rõ hơn các tuyên bố chủ quyền ở vùng biển tranh chấp.

Gần đây, bản tiếng Anh của People's Daily có đăng bài từ bản tiếng Hoa của báo Hoàn Cầu tại Trung Quốc, cho rằng các bên còn lại cũng cần nêu rõ vấn đề.

Theo tác giả Ding Gang thì sau khi kiểm tra mọi thông tin do cả Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc công bố, ông cũng chưa thể tìm thấy bằng chứng rằng vụ khai thác của Việt Nam "vi phạm lãnh hải của Trung Quốc", vì tất cả còn "rất mù mờ".

Bài báo cũng kêu gọi chính phủ Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ cùng công bố các bản đồ về các khu vực họ nói đến.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/09/110929_china_south_china_sea.shtml
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #259 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2011, 10:32:58 am »

Tình huống chiến lược Biển Đông

Bài viết của TS. Đặng Xuân Thanh*, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.

Tóm tắt

Cục diện an ninh Biển Đông biến động bất thường do tranh chấp chủ quyền gần đây đã bị đẩy lên một cấp độ nghiêm trọng mới. Ranh giới pháp lý trên biển bị phủ nhận, các cơ chế duy trì an ninh tỏ ra kém hiệu quả, cán cân quyền lực tại vùng biển này trở nên bấp bênh, đe dọa xói mòn các cân bằng chiến lược then chốt khác trên toàn vành đai Tây Thái Bình Dương. Bài viết này không trình bày lại diễn biến tình hình, mà chủ yếu tập trung phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.

Cục diện thế giới trong những năm 2000 được đặc trưng bởi hai bước ngoặt và một xu hướng lớn.[1] Một là cao trào mở rộng địa chiến lược do Mỹ phát động với cuộc chiến chống khủng bố và phổ biến dân chủ trên phạm vi toàn cầu, mở rộng NATO về phía Đông, đơn phương xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa (NMD), bành trướng trật tự đơn cực hình thành sau Chiến tranh lạnh ra quy mô chưa từng có. Hai là đợt thoái trào với sự suy yếu tương đối của toàn bộ khu vực trung tâm của trật tự hiện hành bao gồm Mỹ, EU và Nhật Bản, được đánh dấu bởi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế “trăm năm một lần”. Xuyên suốt hai bước ngoặt đó là xu hướng đa cực hóa với sự trỗi dậy của một số cường quốc mới nổi mà biểu hiện tập trung nhất là sự tăng tốc vượt bậc về kinh tế của Trung Quốc: rút ngắn tương đối nhanh chênh lệch sức mạnh tổng hợp quốc gia so với Mỹ và ngày càng quyết đoán trong quan hệ quốc tế.

Tại Đông Á, sự trỗi dậy của Trung Quốc làm thay đổi trật tự khu vực. Về kinh tế, sự trỗi dậy này đã tạo lực hút, lôi cuốn hầu hết các nền kinh tế tại đây vào mạng sản xuất lấy Trung Quốc làm trung tâm, gia tăng sự phụ thuộc vào thị trường Hoa Lục, đồng thời định hướng lại tiến trình hội nhập kinh tế Đông Á với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Về chính trị, sự trỗi dậy này làm chuyển dịch mạnh cán cân quyền lực khu vực về phía Trung Quốc, nhưng đồng thời lại gây tình trạng thiếu hụt về an ninh do sản sinh ra hàng loạt những bất ổn mới như mất cân đối kinh tế vĩ mô, ô nhiễm môi trường, chạy đua vũ trang, mâu thuẫn quốc tế… Kết quả là, trong lúc Bắc Kinh cố gắng “tấn công mê hoặc” (charm offensive)[2] nhằm lôi kéo các nước trong khu vực về phía mình, thì họ lại “xuất khẩu” nỗi lo ngại, làm trầm trọng thêm “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc”, đẩy nhiều nước vào tình thế buộc phải tăng cường khả năng phòng v6] nếu muốn khai thác tài nguyên biển để phát triển. Hậu quả là trong gần một thập niên kể từ năm 2002, tiến trình đàm phán ASEAN - Trung Quốc về việc nâng cấp DOC thành bộ quy tắc ứng xử (COC) hầu như dẫm chân tại chỗ, khuôn khổ an ninh Biển Đông ngày càng trở nên lỗi thời, tụt hậu, không phù hợp với tương quan quyền lực mới.

Nguy cơ mất cân bằng chiến lược và sự giảm sút lòng tin buộc các nước còn lại phải gia tăng tiềm lực quốc phòng, đẩy mạnh thực thi chủ quyền trên biển, thực hiện ngoại giao phòng ngừa, tìm kiếm các quan hệ đối trọng. Một vòng xoáy “tiến thoái lưỡng nan về an ninh” (security dilemma) mới lại hình thành tại Biển Đông. Điều nguy hiểm là vùng áp thấp này có xu hướng mạnh lên thành bão.

Cấu trúc tình huống chiến lược

Cục diện đa biên tại Biển Đông không hoàn toàn là cuộc đấu quyền lực mạnh được, yếu thua, cũng không hoàn toàn là tranh tụng pháp lý nơi có quan tòa phân xử ai đúng, ai sai. Về mặt cấu trúc, đây là kiểu trò chơi xung đột phức tạp giữa nhiều bên không có sự thống nhất tuyệt đối, cũng như đối nghịch tuyệt đối về lợi ích, trong đó nước đi chiến lược của mỗi bên có thể chứa đựng cả yếu tố hợp tác lẫn bất hợp tác.[7] Mặc dù các bên can dự tại Biển Đông có lợi ích, động cơ và tính toán chiến lược riêng, nhưng các nước đi của họ có thể chia thành hai nhóm: các nước đi phù hợp với UNCLOS, góp phần bảo toàn nguyên trạng và các nước đi không tuân thủ UNCLOS, làm thay đổi nguyên trạng.

Nước đi thứ nhất

Trong bối cảnh Mỹ và các đồng minh sa lầy trong cuộc chiến chống khủng bố và suy thoái kinh tế, Trung Quốc tích cực sử dụng sức mạnh vượt trội của mình để mở rộng ảnh hưởng trên toàn cầu. Tại Biển Đông, nước này trở lại lối hành xử đơn phương, cứng rắn, không phù hợp với UNCLOS và khuôn khổ an ninh khu vực.

1. Từ nửa cuối năm 2007, Trung Quốc tăng cường các hoạt động chấp pháp tại khu vực tranh chấp, gây sức ép, buộc một số công ty đa quốc gia phải ngừng hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí với các nước tại Biển Đông, tăng cường tuần tra, bắt giữ ngư dân các nước láng giềng, tập trận quy mô lớn, thực thi lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, v.v…

2. Năm 2009, Trung Quốc phản đối hồ sơ đệ trình lên Ủy ban LHQ về Ranh giới thềm lục địa (CLCS) của các quốc gia khác ở Biển Đông. Ngày 7/5/2010 nước này lần đầu tiên chính thức gửi CLCS bản đồ về “đường chữ U” hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của UNCLOS.

Nước đi này của Trung Quốc, một mặt, đã làm đảo chiều cục diện Biển Đông, khiến tần suất và cường độ tranh cãi ngoại giao, cũng như va chạm trên biển tăng vọt một cách nguy hiểm.[8] Mặt khác, tuyên bố về “đường chữ U” đã đẩy tranh chấp vào chỗ hoàn toàn bế tắc về pháp lý.        

Nước đi thứ hai

1. Năm 2010, trên cương vị chủ tịch ASEAN, Việt Nam thực hiện điều chỉnh chính sách Biển Đông theo hướng kết hợp song phương với đa phương trên cơ sở UNCLOS với ba bước đi quan trọng theo hướng: (i) Thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ; (ii) Thống nhất lập trường các nước ASEAN về Biển Đông; (iii) Đẩy mạnh liên kết ASEAN - Mỹ.[9] Mặt khác, Việt Nam tăng cường khả năng phòng thủ đường biển, tuyên bố sử dụng Cam Ranh làm trung tâm dịch vụ hải quân quốc tế.

2. Từ giữa năm 2010, ban lãnh đạo mới của Phi-líp-pin thực hiện “nhất biên đảo” về phía Mỹ, thay đổi quan điểm trước đây về Biển Đông[10], dựa hẳn vào UNCLOS để đẩy mạnh tuyên bố và thực thi chủ quyền ở vùng biển được họ đổi tên thành biển Tây Phi-líp-pin. Ngày 5/4/2011 Phi-líp-pin gửi công hàm lên LHQ chính thức phản đối tuyên bố “đường chữ U” của Trung Quốc.

3. Trong năm 2010, Mỹ củng cố các quan hệ chiến lược ở Đông Bắc Á (với các đồng minh Hàn Quốc, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, nâng cấp quan hệ với Niu Di-lân, nối lại hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan), tích cực “trở lại” Đông Nam Á (cải thiện quan hệ với các nước ASEAN, ký Hiệp định Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), tham gia ARF, tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN, đưa ra sang kiến Hạ Mê Công, gia nhập EAS, …).

Mặc dù xuất phát từ những tính toán lợi ích khác nhau, nhưng những nước đi của các nước kể trên cùng có tác dụng duy trì nguyên trạng tại Biển Đông trong khuôn khổ UNCLOS. Sự đồng bộ của các nước đi này đã tạo ra lực cộng hưởng nhằm đúng vào hai điểm yếu mà Trung Quốc luôn che chắn bằng chiến thuật “hai không”, đó là sự đồng thuận của ASEAN trong vấn đề Biển Đông và sự can dự trở lại Đông Nam Á của Mỹ. Trung Quốc rơi vào thế bị động, lúng túng, tham vọng “đường chữ U” dường như đang bị “vòng vây chữ C” ngăn cản.[11]

(Còn nữa)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/2101-tinh-huong-chien-luoc-bien-dong
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM