Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:19:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 432868 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #260 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2011, 10:37:27 am »

Tình huống chiến lược Biển Đông (Tiếp theo)


Nước đi thứ ba

Trung Quốc đáp trả bằng cách phá vỡ nguyên trạng ở Biển Đông, cố tình đẩy căng thẳng lên một cấp độ mới bằng việc thực hiện hai mũi giáp công được tính toán kỹ lưỡng:

1. Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc tiến hành hàng loạt cuộc tiếp xúc quốc tế quan trọng.[12]

2. Thực hiện các vụ đột kích gây va chạm nghiêm trọng bằng nhiều tàu cá, ngư chính và hải giám vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) của Phi-líp-pin và Việt Nam.

Mũi thứ nhất nhằm tạo sự hòa dịu, lôi kéo, phân hóa, chia rẽ các bên có liên quan, ngăn cản xu hướng hình thành quan điểm thống nhất về Biển Đông, đồng thời “viễn giao, cận công” - dàn dựng bối cảnh quốc tế thuận lợi cho mũi thứ hai. Mũi thứ hai nhằm tạo sự răn đe, gây sức ép lên các bên có liên quan. Thời điểm được Trung Quốc lựa chọn cho chiến dịch đột kích là sau Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 18 (tháng 5/2011), nhưng trước khá xa các hội nghị lớn của khu vực như hội nghị ngoại trưởng ASEAN 44, ARF, thượng đỉnh ASEAN 19, EAS, v.v… cho phép Trung Quốc vừa kiểm tra được phản ứng của các bên, vừa đủ thời gian để Trung Quốc kịp xử lý các diễn biến bất trắc có thể xảy ra.

Bằng chiến dịch trả đũa, Trung Quốc đã: (i) “Biến không thành có” - thực thi “đường chữ U” trên thực địa; (ii) Làm giảm tác dụng của các cơ chế an ninh khu vực như DOC, Đối thoại Shangri-La; (iii) Đe dọa Việt Nam và gây sức ép phân hóa ASEAN; (iv) Thử thách chiến lược “trở lại châu Á” và quan hệ với các đồng minh khu vực của Mỹ.    

Trong những năm qua, quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia ven biển đã vạch ra ranh giới pháp lý góp phần quan trọng vào duy trì cân bằng lực lượng tại Biển Đông. Việc phá vỡ ranh giới này, đơn phương áp đặt một đường ranh giới mới đe dọa làm đảo lộn cán cân lực lượng tại đây. Để đánh giá mức độ đe dọa cần phân tích sâu hơn nước đi của Trung Quốc.

Thứ nhất, loạt hành động đe dọa của Trung Quốc tuy mạnh, nhưng có giới hạn: (i) Về phương tiện - chỉ sử dụng một số ít tàu chấp pháp chứ chưa phải tàu quân sự; (ii) Về thời gian - chỉ gây hấn trong thời gian ngắn; (iii) Về cường độ - chỉ gây va chạm gián tiếp (cắt cáp) chứ không va chạm trực tiếp bằng tàu (như tại Điếu ngư/Senkaku với tàu của Nhật Bản) vào tháng 9/2010; (iv) Về không gian - chưa có động thái điều động lực lượng nhằm mở rộng quy mô xung đột. Điều này hàm ý rằng, Trung Quốc hiện chỉ muốn phát đi thông điệp răn đe đối với những nước có liên quan đừng đi quá xa trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Thứ hai, Trung Quốc lặp lại nhiều lần việc xâm nhập dân sự là để ngầm cho các bên hiểu rằng, sự đe dọa của họ là hoàn toàn có chủ đích, được hoạch định kỹ lưỡng, không phải là các va chạm ngẫu nhiên. Thứ ba, việc Trung Quốc sử dụng chiến thuật xâm nhập chớp nhoáng vào sâu vùng EEZ của Việt Nam và Phi-líp-pin rồi rút lui nhanh chóng cho thấy họ vẫn muốn tránh rủi ro đụng độ với lực lượng vũ trang của các nước này, chưa có ý định khiêu khích quân sự và chủ động đẩy tình hình đến mức xung đột lớn. Thứ tư, Trung Quốc chỉ hạn chế việc gây căng thẳng trên biển và trên các phương tiện truyền thông, chưa có biểu hiện mở rộng sang lĩnh vực khác. Điều này cho thấy, họ chỉ muốn kiểm tra mức độ phản ứng của Việt Nam và Phi-líp-pin, mà chưa muốn thách thức quan hệ với Việt Nam và Phi-líp-pin nói chung. Thứ năm, Trung Quốc chỉ gây căng thẳng với hai nước gần nhất tại Biển Đông là Việt Nam và Phi-líp-pin, trong khi không động chạm tới các nước ở xa hơn như Bru-nây, Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a. Đây vẫn là chiến thuật “chia để trị” quen thuộc nhằm khai thác tối đa “nan đề tù nhân” (prisoner’s dilemma) của các nước ASEAN[14]. Thứ sáu, Trung Quốc chỉ cảnh báo Mỹ không được can dự vào vấn đề Biển Đông bằng lời ở cấp thấp (người phát ngôn Bộ Ngoại giao), mà không đi kèm bất cứ hành động trả đũa nào trên thực tế, đồng thời tái cam kết tôn trọng tự do hàng hải tại vùng nước này, cố gắng tách vấn đề tự do hàng hải mà Mỹ tuyên bố có lợi ích quốc gia ra khỏi vấn đề tranh chấp chủ quyền. Điều này chứng tỏ, Trung Quốc chỉ muốn “đả thảo kinh xà” hay “rung cây dọa khỉ”,  chưa muốn va chạm trực tiếp với Mỹ. Trên thực tế, việc Mỹ tuyên bố có lợi ích quốc gia đối với hòa bình, ổn định và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông, nhưng không cam kết cụ thể sẽ làm gì khi điều này bị vi phạm, đồng thời cũng nhắc đi nhắc lại rằng không can dự vào tranh chấp chủ quyền giữa các bên đã tạo cho Trung Quốc sự tự tin nhất định.

Như vậy có thể thấy, vào thời điểm hiện tại, áp đặt “đường chữ U” bằng bất cứ giá nào chưa phải là mục tiêu sống còn của Trung Quốc. Chia nhỏ một đe dọa lớn thành nhiều bước đi gây đe dọa nhỏ được Trung Quốc áp dụng là kiểu chiến thuật răn đe điển hình, chưa nhằm kích động xung đột lớn.[15] Vấn đề mấu chốt là ở chỗ, bằng hành động của mình, Trung Quốc đã “qua sông đốt cầu” - phủ nhận việc áp dụng quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các bên ở Biển Đông, phủ nhận DOC và các cơ chế an ninh liên quan, khiến cho tình hình không thể trở về trạng thái trước đó.

Điểm yếu căn bản trong nước đi của Trung Quốc là đã phát đi một đe dọa quá lớn. Một khi ranh giới pháp lý ở Biển Đông bị chọc thủng, thì nguy cơ “vỡ đê” an ninh trên toàn tuyến Biển Đông lập tức đặt các nước có liên quan vào tình trạng báo động khẩn cấp. Nghiêm trọng hơn, do cân bằng chiến lược tại Biển Đông liên hệ chặt chẽ với các cân bằng chiến lược then chốt khác ở châu Á - Thái Bình Dương, nên phá vỡ nguyên trạng tại Biển Đông đồng thời cũng đe dọa an ninh trên toàn khu vực. Đến lượt nó, đe dọa này lại khiến cho vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa mạnh, hình ảnh “phát triển hòa bình” và lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với Trung Quốc như một nước lớn có trách nhiệm bị tổn hại.

Nước đi thứ tư

1. Việt Nam liên tiếp phản đối hành vi của phía Trung Quốc, đưa vấn đề Biển Đông ra Hội nghị ngoại trưởng ASEM lần thứ 10 (tháng 6/2011 tại Godollo, Hungary), tập trận bắn đạn thật gần bờ, tổ chức Đối thoại chính trị - an ninh - quốc phòng Việt-Mỹ lần bốn tại Washington với tuyên bố chung “tái khẳng định cam kết tăng cường quan hệ song phương trên cơ sở hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau, và các cam kết chung về đảm bảo một khu vực châu Á - Thái Bình Dương hoà bình, ổn định, phồn vinh và an ninh”, “thảo luận việc nâng tầm quan hệ song phương hướng tới quan hệ đối tác chiến lược”. Mặt khác, Việt Nam vẫn thực hiện tuần tra hải quân định kỳ với Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ, tiến hành thăm viếng quốc phòng và đặc biệt là cử phái viên của lãnh đạo cấp cao đến Bắc Kinh.

2. Phi-líp-pin cũng phản đối mạnh mẽ đường chữ U và hành vi gây hấn của Trung Quốc và gửi kháng nghị thư lên LHQ, tăng cường sức mạnh hải quân và không quân, cử ngoại trưởng thăm Mỹ, tập trận hải quân với Mỹ, tuyên bố dự định đưa tranh chấp với Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Đồng thời nước này cũng đưa ra sáng kiến thiết lập Khu vực hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác tại Biển Đông (ZoPFF/C),[16] phái ngoại trưởng Del Rosario tới Bắc Kinh để đàm phán.

3. Mỹ tái khẳng định thực hiện Hiệp ước phòng thủ chung và tập trận hải quân với Phi-líp-pin, diễn tập phi tác chiến với hải quân Việt Nam, tập trận hải quân ba bên Mỹ - Nhật - Ô-xtrây-li-a ngoài khơi Bru-nây, ra các nghị quyết của Thượng viện và Hạ viện về tình hình Biển Đông kêu gọi thiết lập cơ chế an ninh đa phương. Mặt khác, Mỹ cũng tích cực đối thoại với Trung Quốc, đặc biệt là chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân M. Mullen.    

Phản ứng của Việt Nam, Phi-líp-pin và Mỹ là thích đáng, nhưng rõ ràng mang tính kiềm chế và xây dựng. Thứ nhất, các bên đều ra các tuyên bố mạnh mẽ đi kèm với hành động đáp trả có mức độ răn đe vừa đủ. Thứ hai, các nước này đều chủ động đối thoại song phương với Trung Quốc - cử đại diện cấp cao sang Bắc Kinh nhằm tháo ngòi nổ xung đột. Thứ ba, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, Phi-líp-pin - Hoa Kỳ nói riêng, và quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ nói chung được củng cố và tăng cường hơn.

Tuy nhiên, sự thống nhất của ASEAN trong vấn đề Biển Đông rõ ràng đã suy giảm. Những phản ứng rời rạc tại Đối thoại Shangri-La (3-5/6/2011) và tuyên bố của Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan rằng, “ASEAN không can thiệp vào vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Bru-nây, Phi-líp-pin, Đài Loan và Trung Quốc, nhưng sẽ mở diễn đàn thảo luận công khai và thẳng thắn về các vấn đề Biển Đông” cho thấy sự lúng túng của tổ chức này. Đây chính là những biểu hiện của tình trạng né tránh trách nhiệm hay “đùn đẩy chiến lược” (buck-passing), cái mà Michael Richardson gọi là “nan đề ASEAN” (ASEAN’s dilemma).[17] Mặt khác, rõ ràng là Mỹ có lợi ích hạn chế trong việc giải quyết triệt để tranh chấp tại Biển Đông. Mục đích chính của Washington là quản trị rủi ro, khống chế tình trạng nhùng nhằng để không bùng phát thành xung đột thông qua các cơ chế đa phương. Trên thực tế, hiệu quả khiêm tốn của các cơ chế như vậy có thể thấy qua hàng loạt ví dụ như cơ chế đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân Triều Tiên hay nhóm P5+1 về vấn đề hạt nhân I-ran.

Bốn nước đi được phân tích ở trên cho thấy, tranh chấp ở Biển Đông đã mang sắc thái “ăn miếng, trả miếng” nguy hiểm, nhưng chưa đến mức “một mất, một còn” của trò chơi có tổng bằng 0. Hòa bình, ổn định và phát triển vẫn là các lợi ích to lớn được tất cả các bên tính tới và cân nhắc.

(Còn nữa)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/2101-tinh-huong-chien-luoc-bien-dong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #261 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2011, 10:40:27 am »

Tình huống chiến lược Biển Đông (Tiếp theo)


Một vài dự báo

Kiểu nước đi và phản ứng tiếp theo của các bên là gì? Căn cứ vào ba chiều cạnh là phương tiện (ngoại giao, pháp lý, dân sự, quân sự), không gian (bên ngoài hay bên trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng) và thời gian (đột kích chớp nhoáng hay đồn trú lâu dài), có thể thấy Trung Quốc có 7 nhóm đối sách chính, được sắp xếp theo thứ tự mức độ nghiêm trọng tăng dần (Bảng 1), trong đó nhóm đối sách sau không loại trừ, mà bao gồm các nhóm đối sách đứng trước.

Việc Trung Quốc lựa chọn nước đi nào tùy thuộc vào tình hình chính trị bên trong, cũng như phản ứng từ bên ngoài. Do khuôn khổ bài viết có hạn, nghiên cứu này giả định rằng, sẽ không có những thay đổi nào trong nội bộ Trung Quốc làm đảo lộn đường hướng chiến lược của họ tại Biển Đông,[18] cũng như Hoa Kỳ vẫn tiếp tục theo đuổi mục tiêu can dự vào vùng biển này.[19] Trong trường hợp đó, có thể xem xét quỹ đạo chuyển dịch tình huống chiến lược Biển Đông thông qua sự thay đổi trong cặp đối sách Việt - Trung.

Bảng 1. Các lựa chọn chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

     Giảm mức                         Duy trì mức độ                                               Gia tăng           
     độ nghiêm                        nghiêm trọng                                                  mức độ
     trọng                              hiện nay                                                        nghiêm trọng
   
   Đàm phán            Gây sức ép   Gây sức ép    Đột kích                Đồn trú          Đột kích         Đồn trú
   đa phương           bên ngoài       pháp lý        dân sự                  dân sự          quân sự         quân sự
                              VnEEZ                           trong                     trong             trong            trong
                                                                VnEEZ                    VnEEZ            VnEEZ           VnEEZ

                             
Tùy thuộc vào phương tiện được sử dụng để đấu trang bảo vệ chủ quyền mà Việt Nam có 5 nhóm đối sách chính theo mức độ nghiêm trọng tăng dần là: đàm phán đa phương - đấu tranh dân sự - đấu tranh ngoại giao - đấu tranh pháp lý - đấu tranh vũ trang. Các nhóm đối sách sau không loại trừ, mà bao gồm các nhóm đối sách đứng trước.

Bảng 2. Ma trận lợi ích chiến lược Việt Nam-Trung Quốc ở Biển Đông


Ma trận lợi ích chiến lược (Bảng 2) phản ánh tất cả các cặp đối sách của Việt Nam và Trung Quốc. Lợi ích (hay thiệt hại) của mỗi bên từ việc lựa chọn đối sách được đánh giá theo thang điểm từ -5 đến +5 và được ghi vào ô tương ứng, ở góc dưới bên trái đối với Việt Nam và góc trên bên phải đối với Trung Quốc. Để khách quan, việc cho điểm cần được thực hiện bằng phương pháp chuyên gia, tuy nhiên trong bài viết này chỉ sử dụng đánh giá chủ quan của tác giả.

Cấu trúc chiến lược Biển Đông như đã phân tích ở phần trước có thể thấy rõ qua các bước chuyển trên ma trận. Bước chuyển từ A qua B đến C phản ánh nỗ lực ngoại giao của Trung Quốc nhằm phân hóa, chia rẽ các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông, gia tăng sức mạnh trên biển, tuyên bố chủ quyền bên trong “đường chữ U”. Chuyển dịch từ C qua D đến E là những bước đi chủ động phòng ngừa của Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2010. Bước ngoặt từ E sang F là kết quả của nước đi gây căng thẳng vừa qua của Trung Quốc, đe dọa nghiêm trọng an ninh quốc gia của Việt Nam.

Ma trận cho phép dự báo, trong ngắn hạn, từ trạng thái F hiện nay tình hình có thể tiến triển theo một trong sáu kịch bản sau: 

1. Trung Quốc đơn phương rút lui tuyên bố về “đường chữ U”, cam kết tôn trọng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước láng giềng ở Biển Đông (chấp nhận lùi từ F trở về E). Sau việc Trung Quốc đã chính thức chuyển cho CLCS bản đồ về “đường chữ U”, kịch bản này rất khó có khả năng xảy ra.

2. Việt Nam từ bỏ chủ trương đa phương hóa vấn đề Biển Đông (lùi từ F về G), quay về đàm phán song phương với Trung Quốc. Đối sách này không những ít có khả năng xoa dịu tình hình, mà còn có thể kích thích Trung Quốc thừa cơ lấn tới, gây thiệt hại lớn hơn cho Việt Nam. Vì vậy, đây là kịch bản mà Việt Nam không thể chấp nhận được.

3. Việt Nam đưa tranh chấp ra tòa án quốc tế (từ F tới H). Đây là phương án được Phi-líp-pin đề xuất, hoàn toàn nằm trong khuôn khổ UNCLOS và DOC. Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý quốc tế cho thấy, trong ngắn và trung hạn lựa chọn này ít có tác dụng kịp thời, còn về dài hạn thì khả năng giải quyết tranh chấp rất thấp.

4. Việt Nam sử dụng biện pháp đấu tranh bằng quân sự trước (từ F xuống J). Đây là hành động tự vệ chính đáng khi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, tình hình hiện vẫn chưa đến mức “một mất, một còn” của trò chơi có tổng bằng 0, hòa bình, ổn định, phát triển vẫn là các giá trị được tất cả các bên tính tới. Nói cách khác, cơ hội giải quyết thông qua đối thoại hòa bình vẫn chưa khép lại và do đó, kiềm chế sử dụng vũ lực trước vẫn là ưu tiên hàng đầu.

5. Trung Quốc tiếp tục leo thang căng thẳng, đẩy tình hình lên cấp độ nghiêm trọng mới bằng việc đồn trú dân sự trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam (từ F sang I). Trong trường hợp này, bất chấp tình hình có thể xấu đi, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kiên quyết ngăn chặn để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (từ I xuống K).

6. Giữ nguyên hiện trạng (dừng ở điểm F). Việc “đóng băng” tình trạng hiện nay có thể được đạt được bằng cam kết của các bên, hoặc song phương giữa Việt Nam - Trung Quốc hoặc đa phương giữa ASEAN - Trung Quốc, về việc không có hành động làm phức tạp thêm tình hình. Cả hai phương án đều phải chấp nhận “lờ đi” hành động gây căng thẳng vừa qua của Trung Quốc để đổi lấy cam kết không làm tình hình xấu hơn.

Trên thực tế, việc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN+Trung Quốc họp tại Bali (In-đô-nê-xi-a) ngày 21/7/2011 vừa qua đạt được thỏa thuận về bản Hướng dẫn thực thi DOC cho thấy tình hình có chiều hướng tiến triển theo kịch bản thứ sáu. Tin tốt là trong ngắn hạn, kiểu tạm ước như vậy, cho dù nội dung sơ sài đến đâu, vẫn có tác dụng “hoãn binh” kiềm chế nguy cơ bùng phát xung đột tức thời. Trong bối cảnh hiện nay, duy trì nguyên trạng là phương án vừa khả thi nhất, vừa an toàn nhất cho tất cả các bên. Tin xấu là về trung hạn, nếu căn cứ vào các đánh giá trên ma trận (Bảng 2), trạng thái F là một cân bằng Pareto không bền vững,[20] trong đó bên có lợi thế “nắm dao đằng chuôi” - luôn có thể sử dụng hoặc đe dọa sử dụng các nước đi làm xói mòn hay thậm chí phá vỡ nguyên trạng (ví dụ chuyển từ F sang I).

Trong bất cứ trường hợp nào cần chặn đứng xu hướng chuyển dịch ngày càng xa khu vực an toàn (góc trên bên trái ma trận) và ngày càng gần khu vực nguy hiểm (góc dưới bên phải ma trận), hóa giải nguy cơ “tiến thoái lưỡng nan Xi-bê-ri” (Xi-bê-ri dilemma) đang hiện rõ, trong đó các bên chỉ còn hai lựa chọn: xung đột sớm hay xung đột muộn.

Thay lời kết   

Về dài hạn, cục diện pháp lý tại Biển Đông ít có triển vọng đạt đến trạng thái phân định rạch ròi như ở biển Ban-tích, Hắc Hải, Cax-pi-a hay Vịnh Mê-hi-cô. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, đặt vấn đề giải quyết triệt để tình trạng chồng lấn chủ quyền trên biển không những là nhiệm vụ bất khả thi, mà còn  đẩy tình hình tranh chấp vào chỗ bế tắc hoàn toàn với kết cục xung đột khó tránh khỏi. Tuy nhiên, cục diện pháp lý kém khả quan này không có nghĩa là cục diện an ninh Biển Đông không có lối thoát.

Như đã phân tích, việc bảo đảm an ninh lâu dài ở Biển Đông đòi hỏi phải xây dựng một khuôn khổ an ninh chung dựa trên nền tảng cân bằng quyền lực.[21] Mô hình Liên minh Địa Trung Hải[22] kết hợp được cả hai yếu tố này, vì thế, có thể là một gợi ý không tồi về lối thoát cho cục diện an ninh Biển Đông - vùng biển vốn được nhà địa chính trị Nicolas Spykman gọi là “Địa Trung Hải châu Á”.[23] Thứ nhất, mức độ thể chế hóa an ninh Biển Đông bằng tuyên bố chung DOC hay bộ quy tắc ứng xử COC, thậm chí ngay cả đề xuất của Phi-líp-pin về Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác ASEAN - Trung Quốc ở Biển Đông là cần, nhưng có thể không đủ để ngăn chặn các hành động đơn phương vi phạm các cam kết, nhất là đối với bên có lợi thế “nắm dao đằng chuôi”. Thứ hai, tương tự như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á đã trở thành nền tảng cho toàn bộ kết cấu hội nhập khu vực lấy ASEAN làm trung tâm, các quy tắc ứng xử cần được thể chế hóa ở mức độ cao hơn, trở thành chuẩn mực bắt buộc cho tất cả các “cổ đông” ở Biển Đông, làm nền tảng cho việc hình thành một Liên minh, Cộng đồng hay Ủy hội Biển Đông. Một tổ chức như vậy sẽ khắc phục được sự lỏng lẻo thiếu hiệu quả của các diễn đàn an ninh hay nhóm đối thoại, nhưng đồng thời lại có lợi thế là không đòi hỏi sự tham gia ngay từ đầu của tất cả các bên như các cam kết về ứng xử, mà từng bước gia tăng sức nặng của mình, cho phép dung hòa được “2 trong 1” phương châm “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” và quan điểm đa phương hóa - quốc tế hóa hiện vẫn đối chọi nhau. Thứ ba, đó phải là một cơ chế an ninh tập thể mang tính mở, thu hút được tất cả các nước lớn có lợi ích quốc gia ở vùng biển này nhằm đảm bảo thực hiện “cân bằng quyền lực được thể chế hóa” (institutionalized balancing).[24]  Đây sẽ là sự bổ sung thiết yếu cho Cộng đồng an ninh ASEAN nói riêng, cũng như toàn bộ kết cấu an ninh Đông Á lấy ASEAN làm hạt nhân nói chung, góp phần quản trị quyền lực, loại trừ nguy cơ xung đột, tăng cường hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển tại khu vực.

Cuối cùng, bài học về sự đảo chiều của cục diện Biển Đông trong thập niên vừa qua cho thấy, để ngăn ngừa tình hình xấu đi, tiến trình kiến tạo khuôn khổ an ninh vững chắc cho vùng biển này không được tụt hậu, mà phải luôn vượt lên trước xu thế xói mòn nguyên trạng.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/2101-tinh-huong-chien-luoc-bien-dong
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #262 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2011, 12:11:17 am »

Tiến sĩ Dương Danh Huy: Cần chủ động ngăn chặn “đường lưỡi bò”


Việc người Trung Quốc đưa bản đồ thể hiện yêu sách đường lưỡi bò lên các ấn phẩm khoa học quốc tế, chẳng hạn các tạp chí Science và Nature, được hiểu là một phần của kế hoạch độc chiếm biển Đông. Tiến sĩ Dương Danh Huy trao đổi với Thanh Niên về vấn đề này.

* Theo ông, tại sao một tạp chí uy tín như Science lại đăng bản đồ như vậy? Phải chăng đội ngũ bình duyệt của họ không biết về tranh chấp biển Đông?

Người bình duyệt cho một bài trên Science là những chuyên gia trong lãnh vực của bài đó chứ không nhất thiết am tường về tranh chấp lãnh thổ. Khả năng là họ từng nghe đến vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng khó đòi hỏi họ quen thuộc với những tranh chấp này, hay nhất là đòi hỏi họ tự thấy ngay ý nghĩa của các bản đồ lưỡi bò. Vì vậy, tôi nghĩ đó là do sơ suất.

Bản đồ có đường lưỡi bò (ảnh nhỏ) của Trung Quốc đăng trên tạp chí Nature ngày 2.9.2010 - Ảnh: Chụp lại từ Nature

Vào năm 2008, ngay cả Hội đồng Olympic quốc tế, một cơ quan đáng lẽ phải có kiến thức về quan hệ quốc tế và tuyệt đối trung lập về tranh chấp lãnh thổ, cũng sơ suất để Trung Quốc vẽ đường lưỡi bò lên bản đồ rước đuốc Olympic.

Việc gửi bản đồ có đường lưỡi bò đến các tạp chí khoa học không đơn giản là một chiến thuật mới mà là hệ quả tất nhiên từ chính sách có tính toán của Trung Quốc    
Nhưng bản thân chúng ta, bao gồm người dân và Nhà nước, là những người có trách nhiệm chính. Mình muốn người ta biết thì mình phải nói.

* Theo ông , vệc đăng bản đồ có đường lưỡi bò trên các tạp chí khoa học quốc tế như vậy gây ra cho Việt Nam (và cả những nước liên quan khác) những hiểm họa gì?

Việc gửi bản đồ có đường lưỡi bò đến các tạp chí khoa học không đơn giản là một chiến thuật mới mà là hệ quả tất nhiên từ chính sách có tính toán của Trung Quốc.

Thứ nhất, cách đây vài năm, nếu tôi nhớ không lầm thì là 2007, Trung Quốc ra chỉ thị tất cả các bản đồ Trung Quốc phải có đường lưỡi bò. Như vậy, khi một nhà khoa học dùng bản đồ Trung Quốc cho công trình của mình thì khả năng là nó sẽ có đường lưỡi bò.

Thứ nhì, chính sách của Trung Quốc là quảng bá cho đường lưỡi bò. Ví dụ năm 2008, Trung Quốc đã cho đường lưỡi bò vào bản đồ rước đuốc Olympic, và anh Lê Minh Phiếu, một người được chọn rước đuốc, đã viết thư đến Hội đồng Olympic quốc tế để phản đối. Trong một số quả địa cầu của các nhà xuất bản Âu, Mỹ thì các nhà gia công Trung Quốc cũng chèn đường lưỡi bò vào. Như vậy, việc Trung Quốc lạm dụng các kênh học thuật nói riêng, hay tất cả những kênh khác, để quảng bá đường lưỡi bò là việc chúng ta phải biết là sẽ xảy ra.

Trước hết, những điều Trung Quốc làm là nhằm bình thường hóa đường lưỡi bò, vốn là một thứ bất thường và vô lý, trong nhận thức của thế giới. Thứ nhì, Trung Quốc sẽ nói rằng những ấn phẩm với đường lưỡi bò là sự công nhận của thế giới, và nói rằng không phản đối là thừa nhận. Thứ ba, chiến lược của Trung Quốc là chiếm biển Đông bằng kiểm soát trên thực tế, và quảng bá đường lưỡi bò sẽ góp phần tạo ấn tượng là Trung Quốc có kiểm soát trên thực tế. Tất cả những điều này đều có hại cho Việt Nam.

* Chúng ta phải làm gì để chặn việc quảng bá đường lưỡi bò trên các ấn phẩm và phương tiện khác ở tầm quốc tế? Hay chỉ đơn giản là “săn tìm” và lên tiếng?

Chúng ta phải xây dựng cơ sở hạ tầng để “phòng cháy”, “phát hiện”, và “chữa cháy”. “Phát hiện” thì chúng ta có gần 100 triệu người Việt trong nước và nhiều triệu người ở nước ngoài. Sau khi “phát hiện” thì cách “chữa cháy” hiệu nghiệm nhất là một cơ quan có thẩm quyền viết thư yêu cầu chỉnh sửa thông tin sai trái. Song song đó, cơ quan này phải “phòng cháy” bằng cách lưu ý đối tượng về rủi ro liên quan tới thông tin sai trái và nguyên tắc xử lý.

Cơ sở hạ tầng cho công việc trên chỉ cần một website hay địa chỉ e-mail và một vài nhân viên làm bán thời gian cho cơ quan nói trên để yêu cầu chỉnh sửa những thông tin sai trái. Ngoài ra, chúng ta phải “phòng cháy” rộng rãi hơn bằng cách nâng cao ý thức và kiến thức trên thế giới về Hoàng Sa, Trường Sa, về tranh chấp biển Đông.

Science chấn chỉnh việc đăng bản đồ

Ngày 30.9, tạp chí Science đăng thư của ban biên tập với nội dung: “Trong bài khảo cứu Lịch sử dân số Trung Quốc và những thách thức trong tương lai trên số xuất bản ngày 29.7, hình 1 thể hiện bản đồ biển Đông. Chúng tôi được biết nhiều bạn đọc cho rằng việc đăng bản đồ này là sự thừa nhận của Science về đường biên giới biển vẽ trong bức hình đó. Thật ra không phải vậy.

Chủ trương của Science, đăng tại trang đầu đề của mỗi số tạp chí, nêu rõ tất cả bài viết trên Science - bao gồm xã luận, tin tức và bình luận, điểm sách - được ký tên và thể hiện quan điểm của cá nhân người viết và không phải là quan điểm chính thức của Hiệp hội Mỹ vì sự phát triển khoa học hay của tổ chức mà tác giả là thành viên. Science không đứng về bên nào trong các yêu sách về quyền tài phán đối với vùng biển có trong bản đồ đó. Chúng tôi đang rà soát lại quy trình tiếp nhận bản đồ kèm theo các bài viết để trong tương lai Science không bị cho là ủng hộ bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải”.

Giải thích được đưa ra sau khi cộng đồng người Việt khắp thế giới phản đối việc Science đăng bài viết của tác giả Trung Quốc Bành Hi Triết kèm bản đồ có đường lưỡi bò. Báo Thanh Niên đã lên tiếng về vấn đề này trong bài “Đường lưỡi bò” núp bóng khoa học trên số ra ngày 28.9.


Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20111002/tien-si-duong-danh-huy-can-chu-dong-ngan-chan-duong-luoi-bo.aspx
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #263 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2011, 12:40:14 am »

Cử bác sĩ sản, nhi đến công tác tại Trường Sa

TT - Tin từ Văn phòng UBND tỉnh Khánh Hòa cho biết Phó chủ tịch UBND tỉnh Lê Xuân Thân vừa có văn bản chỉ đạo Sở Y tế có kế hoạch cử bác sĩ chuyên khoa sản, nhi đến công tác tại huyện đảo Trường Sa ít nhất mỗi năm hai lần.

Văn bản còn chỉ đạo phải đảm bảo đầy đủ cơ số thuốc và vật tư, thiết bị y tế thiết yếu phục vụ công tác khám chữa bệnh của cán bộ, nhân dân huyện đảo.

Theo ông Lê Hữu Thọ - phó giám đốc Sở Y tế Khánh Hòa, hiện huyện đảo Trường Sa có 12 trạm xá ở thị trấn Trường Sa, hai xã Sinh Tồn, Song Tử Tây và chín đảo nổi khác. Các trạm xá của huyện đảo còn thiếu nhiều trang thiết bị y tế, chưa có nhân viên y tế chuyên khoa sản, nhi.

Năm 2011, Sở Y tế Khánh Hòa đã chỉ đạo Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh cử cán bộ đến huyện Trường Sa tập huấn cho cán bộ y tế trên đảo và cung cấp văcxin, vật tư tiêm chủng mở rộng, đồng thời tổ chức tiêm phòng sởi, uốn ván cho trẻ em của huyện.

 Tỉnh Khánh Hòa cũng có kế hoạch kiện toàn mô hình quân - dân y kết hợp khám chữa bệnh cho bộ đội, nhân dân trên đảo và ngư dân đánh bắt trên vùng biển Trường Sa.

Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/458670/Cu-bac-si-san-nhi-den-cong-tac-tai-Truong-Sa.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #264 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2011, 12:50:29 am »

Hiện trạng mô hình hợp tác Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và một số gợi ý ban đầu cho Việt Nam

Bài viết của TS. Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý biển và hải đảo, giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia trên thế giới. Từ việc phân tích những lợi ích của mô hình này, bài viết đề xuất phân chia khu vực biển Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế.

Tóm tắt

Bài viết giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia (transboundary marine protected areas - TBMPA) trên thế giới. TBMPA là vùng biển nằm trên khu vực biển, đại dương có hai hoặc nhiều đường biên giới giữa các quốc gia, có vai trò giữ gìn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa địa phương, được hợp tác quản lý thông qua luật pháp hoặc các chính sách khác trên qui mô song phương hay đa phương. Lợi ích của TBMPA nhằm cải thiện trong quan hệ và công tác bảo tồn quốc tế, thực thi các công ước và điều ước quốc tế về biển. Có một số mô hình TBMPA thành công ở các vùng biển tranh chấp của nhiều quốc gia được gọi là Công viên biển hòa bình (MPP), mô hình xây dựng vùng biển đặc biệt nhậy cảm (PSSA IMO)… Biển Việt Nam có nhiều vùng biển có ranh giới với nhiều quốc gia như Trung Quốc, Phi-líp-pin, Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a, là vùng biển có rất nhiều khu biển có giá trị sinh thái, lịch sử, văn hóa đã được bảo tồn cấp quốc gia và của một số tổ chức quốc tế như Cô Tô, Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Trường Sa, Hoàng Sa, Phú Quốc. Bài báo đề xuất phân chia khu vực biển cận biên Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế.

Theo định nghĩa của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Khu bảo tồn biển liên quốc gia (Transboundary Marine Proctected Area - TBMPA) là: “Vùng biển nằm trên khu vực biển, đại dương có hai hoặc nhiều đường biên giới giữa các quốc gia, các đơn vị lãnh thổ như tỉnh, vùng, vùng tự trị hoặc các vùng nằm ngoài giới hạn chủ quyền và phạm vi quốc gia, có vai trò giữ gìn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa, được hợp tác quản lý thông qua luật pháp hoặc các biện pháp khác”.

Thành lập khu bảo tồn biển liên quốc gia nhằm cải thiện quan hệ và thúc đẩy bảo tồn tài nguyên môi trường quốc tế. Các hệ sinh thái và động vật hoang dã không có ranh giới chính trị, đặc biệt trên biển và đại dương, do vậy, quản lý tài nguyên môi trường biển phải được coi là nhiệm vụ quốc tế của khu vực và của các quốc gia láng giềng.

Có một số cách tiếp cận hay mô hình HTQT trong việc thiết lập các khu bảo vệ - bảo tồn biển như các khu bảo tồn xuyên biên giới (hay liên quốc gia) có thể được gọi là TBMPA - khu bảo tồn xuyên biên giới, MPP - công viên biển hòa bình, hay PSSA - vùng biển đặc biệt nhậy cảm với nỗ lực chung là đạt được sự bảo tồn liên quốc gia dựa trên phương thức quản lý hệ sinh thái phục vụ phát triển biển bền vững.

Hiện trạng mô hình và các phương pháp tiếp cận TBMPA trên thế giới

Các tổ chức quốc tế đang tích cực thúc đẩy các mô hình TBMPA là IUCN, WWF, IMO và đã thực hiện được gần 30 năm với mục tiêu bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học biển xuyên quốc gia phục vụ phát triển bền vững biển và đại dương.

Khu bảo tồn biển xuyên biên giới là những vùng mà các quốc gia láng giềng đã có ranh giới chủ quyền được phân định rõ ràng.

Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã kiểm kê số lượng các khu vực bảo vệ phức hợp xuyên biên giới hiện đang tồn tại, cả trên cạn và dưới biển. Theo UNEP, hiện trên thế giới có 227 khu vực này.

Một số khu biển TBMPA hiện có trên thế giới:

1. Khu vực bảo vệ quốc tế Biển Wadden - bao gồm nhiều khu bảo tồn biển và bảo vệ khác nhau tại các quốc gia Đan Mạch, Đức, và Hà Lan - là một ví dụ hàng đầu về Mô hình quản lý bảo tồn và hợp tác quốc tế dựa vào hệ sinh thái. Từ năm 1982, chính phủ ba quốc gia này đã ký Hiệp ước hợp tác về bảo tồn biển. Đến nay khu này đã là di sản thiên nhiên thế giới UNESCO, PSSA.

2. Khu các dải san hô Trung Mỹ bao gồm 80 khu bảo vệ giữa các quốc gia Bê-li-xê, Goa-tê-ma-la và Mê-hi-cô.

3. Khu Pelagos có diện tích 100.000 km2 cho cá voi ở biển Liguria - hợp tác giữa các nước Pháp, I-ta-li-a và Mô-na-cô.

4. Vùng Đông Thái Bình Dương có Khu TBMPA gồm các đặc khu kinh tế của Cô-lôm-bi-a, Cô-xta-ri-ca, Ê-cu-a-đo và Pa-na-ma.

5. Vùng Nam Đại Dương, được quản lý như một khu vực được bảo vệ rất lớn bởi Ủy ban bảo tồn tài nguyên sinh vật biển của Nam Cực.

6. Khu bảo tồn biển giữa Nam Phi và Mô-dăm-bích.

7. Đảo Rùa nằm trên đường biên giới của Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin là một ví dụ về khu bảo tồn biển liên quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, được biết đến là nơi bảo tồn loài Rùa Xanh (Chelonia mydas). Đảo này hiện nay đã được công nhận là “Khu bảo tồn Di sản Đảo Rùa” được ký kết giữa Phi-líp-pin và Ma-lai-xi-a từ năm 1996.

Công viên biển hòa bình

Theo IUCN định nghĩa, Công viên biển hòa bình (MPP) là: Khu bảo vệ liên quốc gia được chính thức dành riêng cho việc bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa có liên quan để thúc đẩy hòa bình và hợp tác quốc tế trên biển, hải đảo tại những nơi còn có xung đột, mâu thuẫn.

Công viên biển hòa bình có những lợi ích sau đây:

- Là biểu tượng của sự hợp tác đang diễn ra giữa các quốc gia với mục đích hòa bình;

- Là điểm nhấn cho các cuộc thảo luận giữa các nước láng giềng mặc dù các quốc gia có thể đang có chia rẽ sâu sắc về kinh tế, xã hội, môi trường, hoặc lợi ích khác;

- Tăng cường an ninh và kiểm soát các nguồn tài nguyên trong khu vực biên giới biển để các chủ sở hữu hợp pháp có thể có lợi hơn từ chúng;

- Phát triển cơ hội cho du lịch sinh thái biển và phát triển bền vững liên doanh quốc tế trên một khu vực qui mô rộng hơn;

- Một địa điểm phong phú và linh hoạt của các mối quan hệ đối với các nhà quản lý bảo tồn biển từ các quốc gia tham gia, các cơ quan chính phủ, địa phương và phi chính phủ quốc tế, và cộng đồng các nhà tài trợ.

Hiện  trạng Công viên biển Hòa bình - MPP

1. "Công viên biển hòa bình Hồng Hải" - một mô hình MPP điểm về hợp tác quốc tế - áp dụng theo đúng nghĩa đen với những gì I-xra-en và Gioóc-đa-ni đã được công nhận trong phía Bắc Vịnh Aqaba, một vùng biển nửa kín được chia sẻ bởi các quốc gia này. Đây là một phần của hiệp ước hòa bình mà hai nước đã ký kết năm 1994 để bình thường hóa quan hệ. Hai quốc gia I-xra-en và Gioóc-đa-ni đã phát triển MPP Hồng Hải thể hiện qua hai Khu bảo tồn biển: Aqaba của Gioóc-đa-ni và khu Eilat của I-xra-en. Việc thành lập MPP Hồng Hải kêu gọi các quốc gia đối tác có những nỗ lực nghiên cứu về san hô và sinh vật biển, thực hiện các chính sách và quy định phối hợp để bảo vệ các rạn san hô và tài nguyên sinh vật biển.

2. Công viên biển hòa bình Triều Tiên

Những bài học từ các MPP Hồng hải cũng như từ nhiều công viên hòa bình trên mặt đất đang được áp dụng trong các nỗ lực thành lập một công viên hòa bình biển trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2005, chính phủ Hàn Quốc đã có kế hoạch bắt đầu xây dựng MPP với CHDCND Triều Tiên trong vùng biển phía tây bán đảo Triều Tiên -  nhằm mục đích giúp đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững và hòa bình trong khu vực, là biểu tượng của "3 chữ P": bảo vệ sinh thái toàn vẹn, hòa bình và thịnh vượng kinh tế.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu từ I-xra-en, Gioóc-đa-ni, và Mỹ đề xuất một số MPP tiềm năng trên toàn Đại dương thế giới chủ yếu tại các vùng còn có các xung đột, khủng hoảng:

3. Phía Đông đảo quốc Ca-ri-bê;

4. Vùng biển Địa Trung Hải (Gaza/Gioóc-đa-ni/I-xra-en);

5. Vùng ven biển Pa-ki-xtan và Ấn Độ (vùng ven đồng bằng sông Indus);

6. Vùng biển Adriatic (thuộc các nước cộng hòa Nam Tư cũ);

7. Vùng biển ở Cyprus (Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ);

8. Các vùng biển đảo tranh chấp khu vực Biển Đông như Trường Sa, Hoàng Sa.

Khu biển đặc biệt nhậy cảm - PSSA

PSSA là một khu vực cần bảo vệ đặc biệt thông qua các hành động của tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO). Đây là vùng biển có giá trị cao về sinh thái, kinh tế - xã hội, khoa học và có thể dễ bị tổn thương hoặc thiệt hại do các hoạt động hàng hải quốc tế.

PSSA được xem như là một công cụ chính trong chiến lược phát triển bền vững biển của IMO, phối hợp nhiều công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển và là một công cụ bảo vệ khu vực biển rộng có nhiều giá trị về tài nguyên môi trường khỏi các mối đe dọa hàng hải cụ thể. Nó cũng là sự lựa chọn của nhiều quốc gia, khu vực và toàn thế giới. Đã có 12 PSSA chính thức trên thế giới đã được công nhận từ năm 1990 và chứng minh được lợi ích của công cụ này trong quản lý môi trường biển - hàng hải quốc tế. Vùng thứ 13 - Bonifacio (Pháp - I-ta-li-a) đã được công nhận về nguyên tắc.

Trong số đó có các vùng:

- Wadden Sea (ba nước Đan Mạch, Hà Lan, Đức) năm 2002;

-  Biển Ban-tích (tám nước Lát-vi-a, Thụy điển, Ét-xtô-ni-a, Lít-va, Phần Lan, Đan Mạch, Đức, Ba Lan) năm 2005;

- Vùng ven các nước Tây Âu (bốn nước Bỉ, Pháp, Ai-len, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh) năm 2004;

- Eo Bonifacio (hai nước Pháp - I-ta-li-a) năm 2010;

- Eo biển Torres  (hai nước Ô-xtrây-li-a và Pa-pua Niu Ghi-nê) năm 2005.

Đánh giá hiện trạng, phân vùng và đề xuất mô hình HTQT các vùng cận biên của biển Việt Nam

Hiện nay vùng biển Việt Nam có một di sản thế giới, một khu RAMSAR, sáu khu dự trữ sinh quyển thế giới UNESCO, 16 khu bảo tồn biển MPA quốc gia (hình 1).

Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập quốc tế toàn diện nên việc thiết lập các TBMPA là những bước đi đúng đắn trong công tác bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Khu Bảo tồn biển xuyên biên giới đầu tiên (TPA) đang được tiến hành trên đất liền - khu bảo tồn xuyên biên giới (Chư Mom Ray-Virachay - Dong Am Phan) - (Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia) - bảo vệ thiên nhiên dãy Trường Sơn.

Các vùng biển cận biên của Việt Nam dựa theo các quyết định, chính sách về bảo tồn biển, đa dạng sinh học biển có thể được phân chia ra bốn khu vực cận biên:

Khu vực vịnh Bắc Bộ

Hiện có bốn khu bảo tồn biển quốc gia đã được thành lập gồm: Khu bảo tồn biển Đảo Trần (Quảng Ninh), Khu bảo tồn biển Cô Tô (Quảng Ninh), Khu bảo tồn Bạch Long Vỹ (Hải Phòng),  Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ (Quảng Trị).

Các vùng biển cận biên tại vịnh Bắc Bộ hiện không còn tranh chấp về biên giới - lãnh thổ với Trung Quốc, bởi vậy ta có thể đề xuất với Trung Quốc một số hình thức hợp tác sau:

- Xây dựng một số TBMPA hoặc PSSA thí điểm phía Bắc vịnh;

-  Xây dựng TBMPA hay PSSA thuộc dải ven biển Việt Nam và Trung Quốc;

- Xây dựng toàn vịnh Bắc Bộ thành một TBMPA hay PSSA.

Khu vực biển quần đảo Hoàng Sa

Vùng này có tính đa dạng sinh học cao, tuy còn vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, nhưng Việt Nam có thể đề xuất xây dựng MPP tại khu vực này.

Khu vực quần đảo Trường Sa

Khu vực này gồm có: Khu bảo tồn biển Nam Yết, quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) và đang đề xuất thêm khu bảo tồn biển Đảo Thuyền Chài.

Vùng biển đảo Trường Sa đang có sự tham gia và chiếm giữ các đảo của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc; Việt Nam, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Bru-nây và Đài Loan. Các quốc gia ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan tại Biển Đông (DOC), tuy nhiên các xung đột, va chạm vẫn thường xuyên xảy ra và rất khó sớm có giải pháp chính trị để phân chia lãnh thổ biển rõ ràng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam có thể đưa ra một đề xuất để các bên liên quan sớm xem xét: lồng ghép mô hình hợp tác MPP Trường Sa cho tiểu vùng hay toàn vùng biển quần đảo Trường Sa như là một bước tiến trong công tác bảo tồn thiên nhiên.

Khu vực vịnh Thái Lan

Gồm: Khu bảo tồn đảo Phú Quốc (Kiên Giang).

Vùng cận biên này có thể đề xuất với tất cả hay riêng rẽ từng quốc gia Cam-pu-chia, Ma-lai-xi-a, Thái Lan để xây dựng TBMPA hay PSSA.

Thảo luận và kiến nghị

Việt Nam chưa có kế hoạch xây dựng TBMPA, MPP, PSSA với các quốc gia láng giềng. Lợi ích của TBMPA là bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinh học biển và hợp tác quốc tế vì hòa bình - hữu nghị, đặc biệt đối với các vùng biển cận biên. Công tác bảo tồn và bảo vệ tài nguyên biển của Việt Nam tại các vùng biển cận biên còn chưa có tính liên thông quốc tế. Môi trường biển lại không có biên giới như trên đất liền mà liên kết chặt chẽ với các vùng biển quốc gia lân cận. Vì vậy, để thúc đẩy HTQT, việc lựa chọn mô hình hợp tác phù hợp là rất quan trọng cho các vùng biển cận biên nhằm tuân thủ các công ước, điều ước quốc tế về biển, về môi trường và đa dạng sinh học. Từ đây, có thể xem xét một số gợi ý sau:

Một là, trên cơ sở chính sách chung, Việt Nam cần có sự cụ thể hóa chính sách sao cho phù hợp riêng với từng vùng: vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa, Trường Sa, vịnh Thái Lan nhằm định hướng cho công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên biển hợp lý ở mỗi vùng này;

Hai là, nghiên cứu, cập nhật kinh nghiệm về hoạch định và triển khai chính sách cho các vùng biển cận biên trên thế giới làm cơ sở khoa học cho đàm phán ngoại giao song phương và đa phương về các vấn đề liên quan tới vùng lãnh hải của Việt Nam;

Ba là, các cơ quan quản lý về biển như Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ ngành liên quan thiết lập cơ chế HTQT để phục vụ nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc thiết lập các vùng TBMPA với các nước lân cận, lựa chọn và phát triển các mô hình, công cụ HTQT phù hợp trong bảo vệ chủ quyền và tài nguyên, môi trường biển.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/2102-hin-trng-mo-hinh-hp-tac-quc-t-v-bo-tn-thien-nhien-ti-cac-vung-bin-cn-bien-va-mt-s-gi-y-ban-u-cho-vit-nam
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #265 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 12:07:30 am »

Thỏa thuận Việt - Trung về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển


Ngày 11/10, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai bên đã ký Thỏa thuận về những Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
 
Ngày 11/10, ngay sau các cuộc hội đàm, hội kiến, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hồ Cẩm Đào cùng hai Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam và Trung Quốc đã chứng kiến Lễ ký các văn kiện hợp tác quan trọng giữa hai Đảng, hai Nhà nước.

Trong các văn kiện trên, có văn kiện Thỏa thuận những Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Theo đó, Đoàn đại biểu Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đoàn đại biểu Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhất trí cho rằng, giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc là phù hợp với lợi ích căn bản và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực.
Hai bên nhất trí căn cứ vào những nhận thức chung mà Lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc đã đạt được trong vấn đề trên biển, trên cơ sở “Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” năm 1993, xử lý và giải quyết vấn đề trên biển tuân theo những nguyên tắc dưới đây:           
1. Lấy đại cục quan hệ hai nước làm trọng, xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn cục, dưới sự chỉ đạo của phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đóng góp vào việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc, góp phần duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.
2. Trên tinh thần tôn trọng đầy đủ chứng cứ pháp lý và xem xét các yếu tố liên quan khác như lịch sử…, đồng thời chiếu cố đến quan ngại hợp lý của nhau, với thái độ xây dựng, cố gắng mở rộng nhận thức chung, thu hẹp bất đồng, không ngừng thúc đẩy tiến trình đàm phán. Căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp trên Biển.
3. Trong tiến trình đàm phán vấn đề trên biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC).
Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác.
4. Trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, tích cực bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thỏa thuận này.
5. Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.
6. Hai bên tiến hành cuộc gặp định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần, luân phiên tổ chức, khi cần thiết có thể tiến hành các cuộc gặp bất thường. Hai bên nhất trí thiết lập cơ chế đường dây nóng trong khuôn khổ đoàn đại biểu cấp Chính phủ để kịp thời trao đổi và xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển./.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2121-tha-thun-vit-trung-v-nhng-nguyen-tc-c-bn-ch-o-gii-quyt-vn--tren-bin
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #266 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2011, 12:06:58 am »

Trung Quốc và thỏa thuận biển Việt-Trung


Hôm thứ Tư 11/10, ngay ngày đầu tiên trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, hai bên đã ký kết Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển nhằm tháo gỡ các tranh chấp tại Biển Đông.

Cùng lúc, hải quân Trung Quốc lập trạm xá tại quần đảo Trường Sa mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Truyền thông Trung Quốc tỏ ra khá phấn khởi trước bản văn kiện vừa ký tại Bắc Kinh.

Chương trình Trọng tâm Hôm nay trên kênh truyền hình CCTV-4 của nhà nước Trung Quốc hôm 12/10 phát buổi thảo luận giữa một số chuyên gia về ý nghĩa của thỏa thuận này.

Theo lập luận của phía Trung Quốc, dường như bản thỏa thuận nhắc lại gần như đầy đủ quan điểm của Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông.

Ông Trương Hải Văn, Phó Giám đốc Viện Chiến lược Phát triển Biển của Trung Quốc, khách mời của chương trình, nhận xét rằng thỏa thuận về các nguyên tắc chính mang tầm quan trọng đặc biệt vì nó biểu tượng cho sự đồng thuận tin tưởng giữa hai bên, rằng đàm phán là biện pháp tối ưu để giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Ông Trương nói nó giúp bình ổn tình hình Biển Đông và tiến tới thiết lập cơ chế để giải quyết bất đồng trong tương lai.

Các khách mời trong chương trình đều cho rằng bản thỏa thuận đã đưa ra được "nguyên tắc cơ bản cho giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Biển Đông là giải quyết bất đồng thông qua "đàm phán song phương" chứ không thảo luận đa phương.

Họ cũng nói đây có thể là mô hình cho Trung Quốc và các nước tham gia tranh chấp chủ quyền Biển Đông khác.

Phó Giám đốc Trương nói sự đột phá lớn nhất của thỏa thuận này là "tinh thần tôn trọng triệt để các bằng chứng pháp lý đối với các yếu tố liên quan khác như bằng chứng lịch sử, cùng lúc tính đến quan ngại hợp lý của các bên".

Trong một diễn biến đáng chú ý khác, cùng lúc hai ông Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận về Biển Đông, Hải quân Trung Quốc loan báo vừa thiết lập một trạm xá quân y gần một đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc gọi là đảo Vĩnh Thử (Yongshu Reef), còn Việt Nam gọi là Đá Chữ Thập.

Đây là vị trí gần nơi xảy ra cuộc hải chiến Trường Sa năm 1988, trong đó gần 70 chiến sỹ hải quân Việt Nam bị Trung Quốc bắn thiệt mạng.

Đảo Chữ Thập đã bị Trung Quốc chiếm giữ từ đầu năm 1988 tới nay, và Tân Hoa Xã dẫn nguồn Hải quân Trung Quốc nói trạm xá mới sẽ chăm sóc y tế cho quân và dân của nước này đang sinh sống ở Trường Sa, mà Bắc Kinh coi là "phần lãnh thổ không thể tách rời" của Trung Quốc, thuộc quyền quản lý của tỉnh Hải Nam.

Tiếp tục đối thoại

Báo chí quốc tế trong khi đó cũng tập trung sự chú ý vào văn kiện này, mà lãnh đạo cao cấp Việt Nam và Trung Quốc cho là bước đi cần thiết để giải tỏa nguy cơ xung đột đang tiềm ẩn.

Tạp chí Time của Mỹ có bài viết dưới dạng blog của tác giả Austin Ramzy, tựa đề 'Bước lùi khỏi miệng vực ở Biển Đông' với hàm ý hoan nghênh điều mà ông Ramzy, phóng viên thường trú của tạp chí này tại Bắc Kinh, nói là cho thấy cả Hà Nội và Bắc Kinh đều tìm cách giảm tranh chấp để khai thác chung nguồn năng lượng ở Biển Đông.

Bài blog nhận định: "Trong khi thỏa thuận giữa hai nước Việt-Trung, vốn đã có cuộc chiến ngắn ngủi dọc đường biên giới đất liền hồi năm 1979 và đụng độ tại Trường Sa ở Biển Đông năm 1988, được cho như một sự hòa hoãn đáng hoan nghênh, nó chưa phải là giải pháp lâu dài".

Phóng viên Ramzy cũng nhắc lại rằng từ 2002, các bên tham gia tranh chấp Biển Đông đều đã thống nhất không làm phức tạp thêm tình hình, họ vẫn chưa tìm ra được một thỏa thuận chung có tính ràng buộc pháp lý.

"Thỏa thuận tuần này giữa Việt Nam và Trung Quốc, nói một cách giản lược nhất, là thỏa thuận tiếp tục đối thoại với nhau về vấn đề Biển Đông."

"Tuy chưa phải là đột phá, nhưng có đối thoại còn hơn là không đối thoại."

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/10/111013_chinesemedia_scs_pact.shtml
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #267 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2011, 12:10:55 am »

Ấn Độ ký thỏa thuận khai thác dầu với Việt Nam


Tập đoàn dầu khí Ấn Độ ONGC đã ký kết một thỏa thuận khai thác dầu khí trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam với thời hạn ba năm.

Thỏa thuận này cùng một loạt các thỏa thuận khác được ký hôm thứ Tư ngày 12/10 sau các cuộc hội đàm giữa Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang và Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh ở New Delhi.

ONGC và PetroVietnam tập trung hướng đến phát triển sự hợp tác lâu dài trong lĩnh vực dầu khí, theo thông cáo báo chí từ ONGC.

Thỏa thuận bao gồm các dự án đầu tư mới cũng như thăm dò, khai thác dầu và khí đốt để cung cấp cho hai nước.

ONGC dự định sẽ bắt đầu thăm dò dầu khí vào năm tới trong hai lô ngoài khơi Việt Nam, mà Trung Quốc nói là thuộc chủ quyền của họ.

Trước đó New Delhi đã bác bỏ phản đối của Trung Quốc về việc ONGC thăm dò dầu khí, nói đây vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam và tuyên bố thêm rằng Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải.

Trung Quốc đang nhìn sự can dự của Ấn Độ vào Biển Đông với ánh mắt đầy nghi ngờ.

Trong một thông điệp tinh tế nhằm vào Bắc Kinh, Thủ tướng Singh nói trong cuộc họp báo chung với Chủ tịch Việt Nam rằng mối quan hệ đối tác chiến lược của Ấn Độ với Việt Nam là ‘một nhân tố hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương’.

“Chúng tôi phải cùng nhau hợp tác để đảm bảo an toàn và an ninh của các tuyến đường biển quan trọng và tiếp tục các trao đổi trong lĩnh vực này trong tương lai,” ông nói, ngụ ý nhắc đến sự phản đối của Trung Quốc đối với các thỏa thuận khai thác dầu mỏ trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam.

An ninh hàng hải

Mặc dù Thủ tướng Singh không đề cập trực tiếp đến sự phản đối của Trung Quốc với việc Ấn Độ khai thác dầu khí ở Biển Đông, việc ông nhắc đến an ninh hàng hải chính là nhắc lại lập trường của Ấn Độ về việc cần phải duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông.

Thủ tướng Singh gọi Việt Nam là ‘láng giềng trên biển’ và nói hai nước cùng đối diện với những thách thức chung như là khủng bố, cướp biển, thảm họa và đồng ý hợp tác chặt chẽ với nhau để đương đầu với các thách thức này qua các hiệp định về hợp tác chống khủng bố và dẫn độ.

Trữ lượng dầu thô và khí đốt của Việt Nam đang có sức hút đối với Ấn Độ, nước đang tìm kiếm thêm các nguồn năng lượng phục vụ cho sự bùng nổ kinh tế của họ.

Thủ tướng Manmohan Singh nói Ấn Độ quyết tâm thúc đẩy đầu tư giữa hai nước.

“Một số công ty Ấn Độ hiện đang làm ăn ở Việt Nam, và chúng tôi cũng chào đón các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Ấn Độ,” ông nói.

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút được một khối lượng đầu tư đáng kể từ các công ty Ấn Độ.

Chủ tịch Trương Tấn Sang nói hai nước đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại giữa hai nước, hiện đang xấp xỉ ba tỷ đô la, lên mức bảy tỷ đô la trong vòng bốn năm tới.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Chủ tịch Sang, hai nước cũng đồng ý thúc đẩy hợp tác trên một loạt các lĩnh vực bao gồm thương mại, năng lượng, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và bảo tồn các di tích văn hóa Ấn Độ ở Việt Nam.

“Chúng tôi cũng thiết lập một cơ chế đối thoại hai năm một lần về các vấn đề an ninh giữa Bộ Nội vụ của chúng tôi và những người đồng cấp Việt Nam,” Thủ tướng Singh phát biểu.

Trước đó, trong lễ đón chính thức tại Phủ Tổng thống, Ấn Độ đã dành những nghi thức trọng thể nhất để đón tiếp Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang với đội kỵ binh danh dự hộ tống và 21 phát đại bác chào mừng.

Tổng thống Ấn Độ, bà Pratibha Patil, và phu quân cùng Thủ tướng Manmohan Singh đều có mặt trong lễ đón ông Sang và phu nhân, bà Mai Thị Hạnh, theo tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam.

Phát biểu tại lễ đón, Chủ tịch Trương Tấn Sang đã gọi Ấn Độ là ‘người bạn lớn, chí tình của nhân dân Việt Nam’.

Ông cũng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng củng cố và không ngừng phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện và đối tác chiến lược với Ấn Độ

Liên minh chiến lược

Trong bản tin của mình, nhật báo Wall Street Journal của Mỹ đã bình luận rằng ông Trương Tấn Sang đang sử dụng một trong những chuyến thăm viếng nước ngoài đầu tiên của ông trên cương vị Chủ tịch nước để bác bỏ cáo buộc trước đó của Trung Quốc rằng các kế hoạch thăm dò của Ấn Độ xâm phạm chủ quyền của họ.

Wall Street Journal nhắc lại tuyên bố trước chuyến thăm Ấn Độ của ông Sang rằng ‘mọi dự án hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác khác trong lĩnh vực dầu khí, trong đó có ONGC, đều nằm trong phạm vi thềm lục địa thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà Việt Nam có quyền chủ quyền và quyền tài phán.’

Wall Street Journal nhận xét tuyên bố này cùng quyết định của ông Sang đi thăm Ấn Độ sau khi ông lên làm Chủ tịch nước vào tháng Bảy năm 2011 là nhằm để đẩy mạnh liên minh giữa New Delhi và Hà Nội.

“Hà Nội xem Ấn Độ là một đối trọng chiến lược với Trung Quốc và hai nước đang tăng cường mối quan hệ quân sự,” bài báo viết.

Còn đối với New Delhi, việc tăng cường quan hệ với Việt Nam là cách để nước này thể hiện vai trò chiến lược ngày càng tăng ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, Wall Street Journal cũng đánh giá là cả New Delhi và Hà Nội đều không thể mạo hiểm đánh mất quan hệ với Trung Quốc khi mà quan hệ kinh tế giữa họ với nước này đang ngày một tăng trưởng.

Mặc dù giữa Ấn Độ và Trung Quốc đang có những tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Himalaya, quan hệ thương mại giữa hai nước vốn không ngừng phát triển và hiện đạt 60 tỷ đô la.

Trung Quốc cũng đang là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch lên tới 27 tỷ đô la trong năm 2010.

Hồi tháng Chín năm 2011, Trung Quốc đã khẳng định trên trang web của tờ Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Trung Quốc, rằng Ấn Độ và Việt Nam không nên phá hoại mối quan hệ kinh tế và chính trị của mình với Trung Quốc ‘chỉ vì những lợi ích nhỏ ở Biển Nam Trung Hoa’.

" New Delhi và Hà Nội đều không thể mạo hiểm đánh mất quan hệ với Trung Quốc khi mà quan hệ kinh tế giữa họ với nước này đang ngày một tăng trưởng"

Wall Street Journal


Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/10/111012_viet_india_deal.shtml
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #268 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2011, 12:07:51 am »

Hải quân Ấn Độ 'vẫn tiếp tục vào Biển Đông'


Ấn Độ vừa lên tiếng tuyên bố tàu chiến nước này sẽ tiếp tục hoạt động tại Biển Đông và bảo vệ các lợi ích của Ấn Độ ở đây, bất chấp việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ khu vực.

Trung Quốc đang tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với một số quốc gia lân cận, trong đó có Việt Nam.

Cuộc tranh cãi về chủ quyền đối với vùng biển mà Trung Quốc gọi là Nam Hải đã được nhắc tới tại Liên Hiệp Quốc, và Trung Quốc không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào.

Hôm 12/10, báo The Tribune của Ấn Độ ấn bản điện tử có bài tường thuật, theo đó Bộ trưởng Quốc phòng AK Antony nói: "Để bảo đảm cho việc qua lại thông suốt và an toàn của tàu bè thương mại, Ấn Độ sẽ tiếp tục vào vùng biển này để tham gia tập trận hải quân nhằm bảo vệ các lợi ích căn bản của mình."

Tuy nhiên, ông bộ trưởng nói rõ rằng sẽ không có chuyện tăng sự hiện diện quân sự của Ấn Độ tại Biển Đông.

Phát biểu của ông AK Antony được đưa ra trước giới truyền thông bên lề Hội nghị Các chỉ huy Hải quân Ấn Độ.

Tuyên bố được đưa ra chỉ vài tuần sau cuộc khẩu chiến giữa hai nước láng giềng Trung Quốc và Ấn Độ, và đúng vào dịp Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang có chuyến thăm chính thức tới Ấn Độ.

Vụ đụng chạm đầu tiên giữa Ấn Độ và Trung Quốc xảy ra hồi cuối tháng Bảy, khi tàu hải quân INS Airavat của Ấn Độ rời cảng Nha Trang đi trong khu vực Biển Đông và bị một tàu chiến Trung Quốc phát tin qua sóng radio, đòi vị thuyền trưởng xác định danh tính con tàu của Ấn cũng như lý do khiến tàu hiện diện tại vùng biển này.

"Hợp tác chặt chẽ"

Ba tuần trước, hãng dầu khí của Ấn Độ, ONGC, loan báo sẽ Bấm hoạt động thăm dò tại hai lô dầu khí ngoài khơi Việt Nam.

Ấn Độ tỏ rõ quan điểm rằng đây là vùng biển chủ quyền của Việt Nam và các dàn khoan của Ấn Độ sẽ được bảo vệ trước bất kỳ sự gây hấn nào.

Cũng trong ngày 12/10, bất chấp Bấm sự phản đối của Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam đã ký kết thỏa thuận thúc đẩy việc Bấm khai thác dầu khí tại Biển Đông, bên cạnh một loạt các thỏa thuận khác nhằm củng cố quan hệ thương mại, an ninh và hợp tác chiến lược giữa hai quốc gia.

Trong chuyến viếng thăm của Chủ tịch Việt Nam, ông Trương Tấn Sang và Thủ tướng Manmohan Singh đã có các cuộc thảo luận về những quyền lợi chung.

Sau cuộc gặp gỡ với ông Sang, thủ tướng Ấn Độ nói với báo giới: "Ấn Độ và Việt Nam là hàng xóm trên biển với nhau. Hai nước có chung những thách thức về khủng bố, cướp biển và thảm họa thiên nhiên."

"Chúng tôi tin rằng điều quan trọng là phải đảm bảo an toàn, an ninh cho các tuyến hải hành quan trọng. Chúng tôi đã đồng ý sẽ tiếp tục duy trì và tăng cường trao đổi hợp tác trong các lĩnh vực này," hãng tin PTI trích lời ông Singh.

Ông thủ tướng Ấn Độ khẳng định sự hợp tác chặt chẽ giữa Ấn Độ và Việt nam "là một nhân tố cho hòa bình, ổn định và phát triển tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương."

Việt Nam đang hy vọng tăng cường hợp tác hải quân với Ấn Độ, đặc biệt là trong việc nâng cấp hạm đội và đào tạo thủy thủ đoàn cho các tàu chiến và cả tàu ngầm trong tương lai.


Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/10/111013_indianavy_southchinasea.shtml
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #269 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2011, 12:14:51 am »

Học giả Trung Quốc ‘làm nóng’ diễn đàn Biển Đông


Cựu quan chức ngoại giao và nay là giáo sư đại học Trung Quốc tái khẳng định Trường Sa và Hoàng Sa là của Trung Quốc tại hội thảo Biển Đông ở Manila.

Giáo sư Trần Sỹ Cầu, từng là người đứng đầu các phái đoàn chuyên gia Trung Quốc bàn về biển đảo với Việt Nam và Indonesia, nói Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) “không thể nào là nền tảng cho đòi hỏi lãnh thổ của một nước”.

UNCLOS “cũng không thể thay đổi vị thế pháp lý không tranh cãi của Trung Quốc trong việc có chủ quyền ở Nam Sa” [tên Trung Quốc đặt cho quần đảo Trường Sa].

Lập trường cứng rắn công khai của nhà ngoại giao kỳ cựu, từng là Đại sứ Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc, bị một học giả Việt Nam chỉ trích tại diễn đàn.

Đến lượt giáo sư Trần sau đó, trong tư cách thính giả, cũng đứng lên phê phán bài phát biểu của học giả Việt Nam tại phiên thuyết trình sống động ở Manila sáng thứ Hai 17/10.
‘Khả năng dùng vũ lực’

Giáo sư Trần Sỹ Cầu phát biểu: “Từ rất lâu, cả hơn một ngàn năm trước thập niên 1970, chẳng có cái gọi là tranh chấp chủ quyền với Nam Sa. Không có nghi ngờ gì quanh sự thật là Nam Sa, cùng Tây Sa [Hoàng Sa], Đông Sa, Trung Sa thuộc về Trung Quốc.”

“Không có nước nào quanh Nam Hải (Biển Đông) thách thức chủ quyền của Trung Quốc với Nam Sa và các vùng nước lân cận.”

“Chỉ bắt đầu từ thập niên 1970, khi dự trữ dầu hỏa và khí đốt được phát hiện ở Nam Hải, một số nước bắt đầu chiếm một phần các đảo và rặng san hô của Nam Sa và đòi chủ quyền, và thế là biến Nam Sa của Trung Quốc thành tranh chấp.”

Với giọng nói hùng hồn và vẻ mặt nghiêm nghị, người hiện giữ chức Phó Chủ tịch Hội Trung Quốc Nghiên cứu Nhân quyền, đọc cho cử tọa nghe “lịch sử” về “một phần không thể tách rời lãnh thổ Trung Quốc” liên quan khu vực mà nước ông gọi là Nam Sa.

Trong phần kết, ông đưa ra bốn kịch bản trong tương lai gần cho vùng Biển Đông.

Thứ nhất, ông nói về khả năng dùng vũ lực nhưng trấn an rằng “thời thế đã thay đổi. Nay các tranh chấp cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình.”

Thứ hai là tiếp tục “cãi nhau” để rồi rủi ro xảy ra xung đột là “rất cao”.

Thứ ba, học giả Trung Quốc nêu ra “giải pháp thông qua đối thoại trực tiếp và tham vấn bằng biện pháp hòa bình”. Có thể tóm tắt là các nước liên quan “cần chứng tỏ thành thật chính trị và linh động để tìm ra giải pháp cuối cùng mà hai bên chấp nhận được”.

Cuối cùng là kịch bản mà giáo sư Trung Quốc cho là khả thi nhất hiện nay. Vẫn dẫn lại khẩu hiệu Đặng Tiểu Bình “gác tranh chấp, cùng khai thác”, ông mời gọi các nước có những “dàn xếp tạm thời hay chuyển tiếp” để “không chỉ đem lại lợi ích cho mọi bên liên quan, mà tạo ra môi trường thuận lợi để giải quyết xung đột về lâu dài”.

Học giả Trung Quốc cũng không quên nhắc lại rằng không nên có “bên ngoài” tham gia, không nên “quốc tế hóa” vấn đề.

Ông Hasjim Djalal, cố vấn cao cấp cho Tham mưu trưởng Hải quân Indonesia, bình luận lời kêu gọi cùng khai thác chung đã có từ hơn một thập niên, nhưng câu hỏi căn bản vẫn là “ở đâu?”

Năm 1998, tại một hội thảo, ban đầu các bên tưởng đã đồng ý về dự định khai thác chung. Nhưng sau đó, ông Hasjim Djalal kể lại: “Có một nước đến bảo thôi không được, phần này lớn quá, nó lại thuộc về chúng tôi cơ mà. Thồi, để chúng tôi suy nghĩ thêm hai năm nữa, và rồi chẳng có gì xảy ra.”

Ông nói thêm tất cả những đề nghị “dễ để làm trước” kiểu như nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái…tại Biển Đông đều đã từng được nêu ra lâu rồi, nhưng các nước có quyết tâm chính trị hay không lại là chuyện khác.

Phản bác của học giả Việt Nam

Đến lượt mình phát biểu, tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông tại Học viện Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội, nói thẳng Trung Quốc có chính sách Ba Không: Không nói rõ nội hàm của tuyên bố chủ quyền, Không đa phương hóa, Không quốc tế hóa.

Ông cũng châm biếm giáo sư Trần Sỹ Cầu: “Một số chuyên gia tự hỏi nếu Trung Quốc chứng minh được chủ quyền nhờ bằng chứng lịch sử, tại sao Trung Quốc không chấp nhận nhờ bên thứ ba giải quyết hay ra Tòa án Công lý ‎Quốc tế?”


Sau khi học giả Việt Nam hoàn tất bài nói, giáo sư Trần, ở tư cách thính giả, đứng lên không tán thành, nói rằng chính Trung Quốc đã góp phần làm giảm, chứ không làm tăng, căng thẳng.

Có điều đặc biệt ông Trần là diễn giả duy nhất tại hội thảo có hai bài phát biểu, ở buổi sáng và chiều thứ Hai.

Sang buổi chiều, bài nói của ông Trần Sỹ Cầu được xếp ngay sau phần trình bày của nhà báo Barry Wain, người mạnh mẽ chỉ trích Trung Quốc.

Ông Trần phân bua ông không đến diễn đàn để “cãi nhau”.

Ông khẳng định Trung Quốc không chấp nhận quyền tài phán của Tòa án Công l‎ý Quốc tế và lại mời gọi các bên “ngồi lại nói chuyện với nhau”.

Việc ông cũng là người nhận được nhiều câu hỏi nhất từ thính giả cho thấy sự quan tâm của mọi người muốn biết Trung Quốc thực sự muốn gì.

Câu trả lời có lẽ vẫn là một sự “nhập nhằng chiến lược”, cho dù học giả Trần Sỹ Cầu bác bỏ cụm từ này mà nói ‎ rằng chẳng có sự nhập nhằng nào cả, vì Trung Quốc chỉ có thiện chí bỏ ngỏ khoảng trống để thương lượng mà thôi.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/10/111017_scs_conference.shtml
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM