Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:28:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 432819 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #290 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 10:02:10 am »

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh:
Thỏa thuận Việt - Trung về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết những vấn đề trên biển được đánh giá cao

Vừa về nước sau khi dự Hội nghị Hẹp Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM Hẹp) tại Ba-li, In-đô-nê-xi-a, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã dành cho báo Quân đội nhân dân một cuộc phỏng vấn về kết quả Hội nghị này…


Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh

PV:  Đề nghị Thứ trưởng cho biết, Đoàn Việt Nam mang tới ADMM Hẹp thông điệp gì để thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Được sự ủy quyền của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao  Việt Nam dự ADMM Hẹp tại  Ba-li, In-đô-nê-xi-a. Mục đích chủ yếu của Hội nghị này là kiểm điểm những hoạt động hợp tác quốc phòng trong năm Chủ tịch ASEAN của In-đô-nê-xi-a. Nhìn chung các Bộ trưởng Quốc phòng đều hài lòng về việc hợp tác quốc phòng ngày càng đóng góp nhiều hơn cho hòa bình và ổn định ở khu vực.

Ý kiến đầu tiên chúng ta khẳng định tại Hội nghị là Việt Nam đã và sẽ làm với tất cả khả năng của mình để tăng cường hợp tác, đóng góp cho hòa bình, ổn định trong khu vực. Trong năm 2010, chúng ta đã làm tốt vai trò Chủ tịch ASEAN và đặc biệt là đã tổ chức được ADMM+ đầu tiên. Năm 2011, tuy không còn là nước Chủ tịch ASEAN nhưng Việt Nam vẫn tham gia tích cực, đặc biệt là đóng góp vào các sáng kiến quốc phòng của ASEAN như cứu trợ thảm họa, hợp tác quân y…

Điểm thứ hai chúng tôi đề cập là những thách thức phi truyền thống, đặc biệt là thảm họa môi trường. Ngay trong những ngày này tại Thái Lan, Cam-pu-chia, Việt Nam, Lào, lũ lụt đã làm cho hàng chục triệu người lâm vào cảnh khó khăn. Đây không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là vấn đề an ninh. Bên cạnh những thảm họa do thiên nhiên gây ra còn có những thảm họa môi trường do chính con người gây ra. Ví dụ như vấn đề nguồn nước. Chúng tôi đã đề nghị Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan, Mi-an-ma cùng Việt Nam hợp tác tích cực và hiệu quả hơn nữa để bảo vệ nguồn nước sông Mê Công, tránh để vài chục năm nữa con cháu phải gánh chịu thảm họa do chính chúng ta gây nên.

Điểm thứ ba Đoàn Việt Nam đề cập là an ninh biển, một vấn đề được sự quan tâm của tất cả các Bộ trưởng. Với tinh thần thiện chí và xây dựng, chúng ta nhắc lại rằng các vấn đề an ninh biển, truyền thống hay phi truyền thống phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế và những thỏa thuận đã có được như DOC, hướng tới COC. Đáp lại  mong muốn của tất cả các Bộ trưởng Quốc phòng tại Hội nghị, tôi cũng đã thông báo những nét cơ bản Thỏa thuận Việt - Trung về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo vấn đề trên biển, được ký kết trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Thỏa thuận này không chỉ đem lại lợi ích cho Việt Nam và Trung Quốc mà cho cả khối ASEAN và rộng hơn là các nước có lợi ích trong khu vực. Tất cả các Bộ trưởng Quốc phòng dự Hội nghị đều bày tỏ sự đánh giá cao đối với Thỏa thuận này. Họ hy vọng đây là nhân tố mới, mang tính chất động lực đề hai nước giải quyết vấn đề còn tồn tại với nhau, đồng thời Việt Nam và Trung Quốc cùng tham gia giải quyết những vấn đề có tính chất đa phương và quốc tế ở Biển Đông.

Rõ ràng vấn đề Biển Đông cần phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật  pháp quốc tế cũng như DOC. Thế nhưng, trước hết, cần phải có cách hiểu thống nhất, vận dụng giống nhau về luật pháp quốc tế. Có như vậy luật pháp quốc tế mới có tác dụng, còn nếu mỗi nước lại hiểu hoặc luận giải luật pháp quốc tế theo cách của mình, có lợi cho mình thì luật pháp quốc tế lúc đó vô hiệu.

PV: Tại ADMM hẹp, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ có gặp các Trưởng đoàn của các nước ASEAN, trong cuộc gặp đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nói gì với các Trưởng đoàn các nước ASEAN, thưa Thứ trưởng?

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lê-ôn Pa-nét-ta (Leon Panetta) nhân chuyến thăm chính thức In-đô-nê-xi-a đã gặp không chính thức các Trưởng đoàn ADMM theo sáng kiến của nước chủ nhà In-đô-nê-xi-a. Tháng 5-2011, tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN lần thứ 5, In-đô-nê-xi-a cũng đã bố trí để các Trưởng đoàn ADMM có cuộc gặp tương tự với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt.

Trong buổi gặp, Bộ trưởng Quốc phòng Lê-ôn Pa-nét-ta  đưa ra đánh giá của Chính phủ và Quốc hội Mỹ, của Bộ Quốc phòng Mỹ về vị trí vai trò của châu Á- Thái Bình Dương nói chung, cũng như Đông Nam Á nói riêng. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh, dù còn khó khăn về tài chính, kinh tế và các vấn đề khác, nhưng Mỹ vẫn sẽ hiện diện lâu dài ở khu vực này để đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Bộ trưởng Quốc phòng Lê-ôn Pa-nét-ta  cũng bày tỏ mong muốn giải quyết ổn thỏa, lâu dài các vấn đề an ninh biển, trong đó có an ninh trên Biển Đông. Ông Pa-nét-ta hoan nghênh quan điểm của các nước ASEAN là giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, cụ thể là UNCLOS 1982. Đoàn Việt Nam đồng tình với ý kiến của ông Pa-nét-ta nhưng cũng nhắc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ rằng Mỹ chưa ký UNCLOS 1982. Ông Pa-nét-ta cho hay, Bộ Quốc phòng cũng như chính phủ Mỹ, Tổng thống Ô-ba-ma mong muốn ký UNCLOS 1982. Tuy nhiên, do sự phức tạp của nền chính trị Hoa Kỳ nên chưa ký được. Sắp tới đây vấn đề này sẽ được đưa ra Thượng viện và ông Pa-nét-ta hy vọng Mỹ sẽ sớm đặt bút ký vào Công ước.  

PV: Vậy Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ có quan tâm tới Thỏa thuận Việt Nam – Trung Quốc vừa mới ký kết hay không, thưa Thứ trưởng?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Sau cuộc gặp, Bộ trưởng Quốc phòng Lê-ôn Pa-nét-ta  có trao đổi với tôi như thế này: Nước Mỹ đánh giá rất cao Thỏa thuận đạt được giữa Việt Nam và Trung Quốc nhân chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đặc biệt là những nội dung nói về tuân thủ luật pháp quốc tế. Đồng thời nhấn mạnh Mỹ ủng hộ và mong muốn Thỏa thuận ấy biến thành hiện thực. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cho rằng, điều này sẽ đem lại lợi ích cho Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực.

PV: Lĩnh vực đối ngoại quốc phòng của Việt Nam sẽ được triển khai như thế nào để thực hiện tốt Thỏa thuận Việt - Trung nói trên, thưa Trung tướng?

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh: Có thể thấy ngay, Thỏa thuận này là một thành công lớn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, đã làm dịu đi tình hình, làm bớt đi căng thẳng do những khác biệt, xung đột gây ra trên Biển Đông. Chúng ta một lần nữa nhắc lại quyết tâm của hai Đảng, hai nước về xử lý vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chúng ta cũng khẳng định được tính độc lập tự chủ và thái độ trách nhiệm của Việt Nam khi nói rằng, mọi vấn đề phải được xử lý trên cơ sở luật pháp quốc tế, cụ thể là UNCLOS 1982, phải tôn trọng lợi ích của các nước trong khu vực, cụ thể là tôn trọng DOC, và phải công khai minh bạch.

Trên cơ sở Thỏa thuận này, chúng ta tiếp tục tăng cường hợp tác quốc phòng, tăng cường giao lưu từ cấp Bộ trưởng cho tới các Quân binh chủng, tăng cường hợp tác Hải quân với Trung Quốc, chấp hành nghiêm nguyên tắc không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Từ đó sẽ tìm các giải pháp để xử lý từng bước vấn đề trên biển. Chúng ta cần thực hiện rất gương mẫu, nghiêm chỉnh Thỏa thuận đã đạt được, và cũng yêu cầu các bạn Trung Quốc thực hiện nghiêm. Hợp tác quốc phòng sẽ phải phục vụ đắc lực cho Thỏa thuận này.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng.

Nguồn http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/10/50/50/165046/Default.aspx
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #291 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 12:18:10 am »

Nhật Bản sẽ đảm nhận vai trò mới ở Biển Đông


Mạng phân tích tình báo chiến lược "Stratfor" của Mỹ gần đây có đăng bài Japan taking a new role in the South China Sea cho rằng việc Nhật Bản ký thoả thuận hợp tác quân sự với Philíppin cho thấy nước này dường như đang xem xét việc can dự lớn hơn vào những tranh chấp ở Biển Đông.

Trong chuyến thăm của Tổng thống Philíppin Benigno Aquino đến Nhật Bản từ ngày 25 - 27/9, Philíppin và Nhật Bản đã ký thoả thuận hợp tác quân sự để mở rộng các cuộc tập trận hải quân chung và các cuộc đàm phán định kỳ giữa các quan chức hải quân.

Thoả thuận đã đưa quan hệ của hai nước vượt qua các mối quan hệ kinh tế truyền thống và bước vào lĩnh vực an ninh. Tổng thống Benigno Aquino đã nói trước chuyến đi của mình rằng ông cũng tìm kiếm sự ủng hộ của Chính phủ Nhật Bản trong các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Mặc dù tránh can dự trực tiếp vào những tranh chấp ở Biển Đông, nhưng lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông là lâu dài và thực tế, có liên quan đến các mối lo ngại địa lý trực tiếp của nước này: đảm bảo việc tiếp cận các tuyến đường thương mại và các nguồn tài nguyên mà quốc đảo này thiếu. Hồi đầu năm nay, những căng thẳng ở Biển Đông tăng lên giữa Trung Quốc, Philíppin và Việt Nam vì Bắc Kinh ngày càng khẳng định những đòi hỏi về lãnh thổ của mình. Trong khi đó, Nhật Bản cũng coi việc ảnh hưởng của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng là một thách thức đối với vị thế vốn vững chắc của Tôkyô ở Đông Nam Á. Nhật Bản cũng coi sự thống trị của Trung Quốc ở Biển Đông là mối đe dọa đối với tuyến đường biển then chốt của nước này và đối với tầm ảnh hưởng chiến lược của chính mình. Khi các nước có khẳng định chủ quyền ở Biển Đông khác tìm kiếm sự cộng tác để củng cố các luận điểm của họ và khi Mỹ khôi phục lại sự can dự của mình ở khu vực, Tôkyô có thể sử dụng những tranh chấp ở Biển Đông để xác lập lại vị thế của mình ở Đông Nam Á.

Lợi ích của Nhật Bản ở Đông Nam Á

Nhật Bản đã hoạt động tích cực ở Biển Đông vì công cuộc công nghiệp hoá buộc nước này phải bảo vệ các tuyến đường thương mại và tìm kiếm các nguồn tài nguyên. Điều này song hành với công cuộc quân sự hoá và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Nhật Bản. Nhật Bản đã bắt đầu khai thác ở quần đảo Trường Sa từ năm 1918 và chiếm đóng quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai để triển khai quân sự của nước này tại châu Á - Thái Bình Dương.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, chính sách của Nhật Bản là để trở thành nhà lãnh đạo về kinh tế ở Đông Nam Á, chủ yếu thông qua viện trợ và đầu tư, và để xây dựng lòng tin giữa các quốc gia trong khu vực với một học thuyết quân sự hạn chế. Từ năm 1977 đến 1992, viện trợ phát triển của Nhật Bản cho các nước Đông Nam Á đã tăng từ 1,42 tỷ lên 50 tỷ USD. Trong khoảng thời gian này, Nhật Bản đã giành được ảnh hưởng đáng kể đối với Đông Nam Á và can dự nhiều vào các công việc của khu vực.

Tuy nhiên, kể từ thập niên 1990, ảnh hưởng của Nhật Bản ở khu vực đã giảm đáng kể do những hạn chế về kinh tế và chính trị ở trong nước và do những thách thức nổi lên từ các đối thủ khu vực, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Biển Đông không còn quan trọng đối với Nhật Bản. Việc nhập khẩu dầu mỏ và các nguyên liệu thô có ý nghĩa sống còn với một nước nghèo năng lượng và tài nguyên như Nhật Bản. Hiện tại, Nhật Bản phụ thuộc gần như 100% vào dầu thô nhập khẩu, 88% số đó lại được vận chuyển qua Biển Đông. Hơn nữa, eo biển Malắcca là một tuyến vận chuyển quan trọng để hàng hoá của Nhật Bản đi ra các thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, những hạn chế của Nhật Bản cùng với sự quan tâm yếu đi của Mỹ đối với khu vực đã cho phép Trung Quốc sử dụng ảnh hưởng chính trị và kinh tế đang tăng lên của nước này để coi mình là một cường quốc đang nổi lên ở khu vực Đông Nam Á.

Những lo ngại của khu vực đối với Trung Quốc

Trong 5 năm qua, chiến lược biển và việc phát triển quân sự của Trung Quốc đã tạo ra những lo ngại trong các quốc gia Đông Nam Á về việc Trung Quốc xây dựng quân đội và sự hồi sinh những căng thẳng ở Biển Đông. Những diễn biến này cũng thu hút sự chú ý của Nhật Bản, nước coi thái độ ngày càng gây hấn của Trung Quốc ở các vùng biển là môt mối đe dọa tiềm tàng đối với các tuyến đường cung ứng của Nhật Bản. Nhật Bản cũng có những tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc liên quan đến quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) ở Biển Hoa Đông và đã dẫn đến các cuộc tranh cãi thường xuyên với Bắc Kinh liên quan đến các dự án thăm dò chung. Đối với Nhật Bản, việc Trung Quốc tăng cường quân đội và những đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông không chỉ cho thấy cách tiếp cận tương tự có thể được sử dụng trong những tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản, mà còn cho thấy Trung Quốc muốn có một vai trò thống trị hơn trong các công việc ở Đông Nam Á.

Trước đây, Nhật Bản không muốn thách thức trực tiếp Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, gần đây, Tôkyô đã có thái độ mạnh mẽ hơn trong các vấn đề của khu vực, đặc biệt là liên quan đến Biển Đông. Do những căng thẳng ở vùng biển này đã gia tăng mức độ cao mới hồi đầu năm nay, Nhật Bản đã nhiều lần lên tiếng bày tỏ lo ngại đối với sự thống trị các vùng biển của Trung Quốc tại các cuộc họp của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và hỗ trợ các quốc gia có liên quan kêu gọi sự quan tâm chú ý lớn hơn đến vấn đề an ninh khu vực.

Nhật Bản dường như cũng đã thúc đẩy những nỗ lực của mình để làm Oasinhtơn quan tâm hơn đến Biển Đông. Điều này được thể hiện thông qua ý định của Tôkyô thúc đẩy một khuôn khổ cho sự hợp tác Mỹ - Nhật Bản cùng với các nước ASEAN để ép Trung Quốc tuân thủ các quy định quốc tế. Nhật Bản cũng thúc đẩy sáng kiến hợp tác với Mỹ và Hàn Quốc để xoa dịu những căng thẳng ở Biển Đông và đề xuất các cuộc đối thoại Mỹ - Ấn Độ - Nhật Bản về các vấn đề an ninh khu vực. Tiếp đó, Lực lượng phòng vệ hải quân Nhật Bản (JMSDF) hồi đầu năm nay đã triển khai đến Biển Đông để tham gia một cuộc diễn tập quân sự nhỏ với Mỹ và Ôxtrâylia ở ngoài khơi Brunây.

Vai trò có thể thay đổi của Nhật Bản

Nhiều thay đổi đã làm cho Nhật Bản có thể sử dụng những căng thẳng ở Biển Đông để có quan điểm mạnh mẽ hơn đối với Trung Quốc. Thứ nhất, nhờ Mỹ lại quan tâm đến những công việc ở châu Á – Thái Bình Dương, Nhật Bản - đồng minh hùng mạnh nhất của Mỹ ở khu vực, đã chịu áp lực từ Oasinhtơn phải đảm nhận vai trò lớn hơn trong các công việc của khu vực nhằm đối trọng với Trung Quốc. Trong thập kỷ qua, Nhật Bản đã dần rời xa cái ô an ninh của Mỹ và bắt đầu chịu trách nhiệm nhiều hơn trong việc bảo vệ mình. Điều này, cùng với sức mạnh kinh tế tăng lên và sự hiện đại hoá và mở rộng quân sự của Trung Quốc ở khu vực, đã làm cả Oasinhtơn và Tôkyô phải xem xét lại các mối quan hệ của mình với Bắc Kinh. Lợi ích của Nhật Bản trong việc bảo vệ tuyến đường biển của mình trước sự xâm lấn của Trung Quốc đã làm Tôkyô có thêm động cơ đảm nhận một vai lớn hơn trong vấn đề an ninh khu vực.

Thứ hai, Nhật Bản có thể muốn tiếp tục mở rộng vai trò của JMSDF để giải quyết vấn đề dễ bị tổn thương của tuyến đường cung cấp năng lượng và mối đe dọa chung do Trung Quốc gây ra - cả hai điều này đang ngày càng trở nên quan trọng. JMSDF được xem là một trong những lực lượng hải quân tinh vi và giỏi nhất thế giới, nhưng những ký ức còn lại của Chiến tranh Thế giới thứ Hai và những quan niệm của công chúng về quân đội Nhật Bản đã cản trở mạnh mẽ sự phát triển của nó. Những quan niệm này thể hiện những dấu hiệu của sự thay đổi dần dần, làm cho Tôkyô dễ dàng hơn trong việc ủng hộ triển khai quân đội vì mục đích nhân đạo và ở nước ngoài, như người ta đã thấy khi JMSDF phản ứng với thảm họa sau động đất và sóng thần 11/3. Do đó, sự gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông có thể giúp thanh minh cho các chiến dịch của JMSDF.

Cho đến nay, việc mở rộng vai trò của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản (JSDF) mới chủ yếu tập trung vào việc cứu trợ thiên tai hoặc các nhiệm vụ gìn giữ hoà bình, nhưng nhiệm vụ chống cướp biển ngoài khơi Xômali và căn cứ không quân ở Gibuti cho thấy ý định của Tôkyô tăng cường sự hiện diện hoà bình của JSDF ở nước ngoài. Việc huấn luyện song phương JMSDF với các quốc gia Đông Nam Á có thể là sự bắt đầu của một sự can dự quân sự lớn hơn ở Biển Đông nói riêng.

Cuối cùng, Nhật Bản cũng đã theo đuổi mối quan hệ an ninh song phương và đa phương với các nước khác trong khu vực, với sự tham gia của Mỹ. Tôkyô đã hợp tác quốc phòng với các nước, bao gồm Philíppin và Việt Nam - cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông, và Ấn Độ, nước có lợi ích chiến lược trong việc kiềm chế sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc. Một số hội nghị thượng đỉnh song phương liên quan đến quốc phòng và các cuộc đối thoại ba bên bao gồm cả Mỹ cũng đã được đưa ra. Các quốc gia Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông tin rằng hợp tác với Nhật Bản có thể làm tăng sức mạnh của họ trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc, thu hút sự chú ý quốc tế đối với những tranh chấp lãnh thổ. Hơn nữa, hợp tác với Nhật Bản còn là một cơ hội rất tốt đối với Philíppin. Mặc dù dường như việc Nhật Bản quan tâm đến Biển Đông là một phần trong chiến lược của nước này để giành lại ảnh hưởng ở Đông Nam Á khi mà Trung Quốc ngày càng gây hấn, nhưng Tôkyô dường như vẫn tiếp cận một cách thận trọng để tránh nguy cơ căng thẳng hơn với Bắc Kinh. Vẫn chưa rõ liệu chính phủ mới của Nhật Bản muốn có quan điểm quyết đoán chống lại Trung Quốc trong các vấn đề biển hay không. Cho đến nay, nội các mới của Nhật Bản dường như không có kế hoạch cho bất kỳ một bước đi mạnh mẽ nào trong lĩnh vực này. Trước khi thực hiện một bước đi lớn nhằm tái thể hiện vai trò của mình ở Đông Nam Á, Tôkyô có thể phải tập hợp sự ủng hộ chính trị và cân đối cho phù hợp với chiến lược chung của Mỹ ở khu vực./.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2123-2123
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #292 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 01:06:10 am »

http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2011/10/hieu-the-nao-ve-thoa-thuan-nguyen-tac-giai-quyet-van-de-tren-bien-viet-trung/

BẠN ĐỌC VIẾT
Thứ bảy, 29/10/2011, 09:32 GMT+7
Hiểu thế nào về thỏa thuận nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung
Trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (11 – 15/10), Việt Nam và Trung Quốc đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Thỏa thuận).

Việc ký kết Thỏa thuận có ý nghĩa hết sức quan trọng nhất là trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang diễn biến hết sức phức tạp. Nội dung Thỏa thuận còn một số điểm chưa thật sự rõ ràng, song có thể nói Thỏa thuận đã xác định được một số nguyên tắc cơ bản định hướng cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Để hiểu và có cách nhìn đúng đắn về những nội dung của Thỏa thuận vừa được ký kết, chúng ta hãy đi sâu phân tích những nội dung chính của Thỏa thuận.

Một là, nội dung về tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông nêu tại điều 2 của Thỏa thuận đã xác định căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên để giải quyết các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng vì nó sẽ là cơ sở pháp lý để hai bên đi vào trao đổi giải quyết vấn đề trên biển. Nếu hai bên tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc này thì nhất định sẽ tìm ra được giải pháp công bằng hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

Trong điều 2 của Thỏa thuận cũng nêu rõ “cần tôn trọng đầy đủ các chứng cứ pháp lý” nghĩa là những bằng chứng, tài liệu mang tính pháp lý sẽ được lấy làm cơ sở chính để giải quyết các tranh chấp, còn các yếu tố khác như lịch sử, địa hình… sẽ được xem xét như một yếu tố bổ trợ trong quá trình giải quyết tranh chấp. Điều này hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp về biên giới lãnh thổ trên thế giới. Thực tiễn giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ cho thấy yếu tố lịch sử cùng với các yếu tố liên quan khác như địa hình, quản lý trên thực tế chỉ được tính đến một khi các chứng cứ pháp lý chưa rõ ràng. Với nội dung này thì những văn bản pháp lý về chủ quyền của các nhà nước phong kiến Việt Nam như các Châu bản, Sắc chỉ… sẽ là những tài liệu hết sức quý giá khi giải quyết vấn đề quần đảo Hoàng Sa vì đây là những tài liệu thể hiện rõ sự quản lý của nhà nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa. Yếu tố lịch sử ở đây không có nghĩa là nói về yêu sách "đường lưỡi bò" của Trung Quốc vì trong lịch sử chưa bao giờ Trung Quốc có sự quản lý trên thực tế đối với "đường lưỡi bò", hơn thế nữa "đường lưỡi bò" của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và không nhận được sự ủng hộ của bất cứ nước nào.

Hai là, điều 3 của Thỏa thuận nêu rõ “trong tiến trình đàm phán vấn đề trên biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC)”. Nội dung này có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. DOC là văn kiện quan trọng được ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc, trong đó đã đưa ra nhiều quy định (gồm: tôn trọng tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Đông; kiềm chế các hoạt động có thể làm phức tạp thêm tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định; cam kết tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin; có thể tìm kiếm và tiến hành các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trong khi tìm kiếm giải pháp toàn diện lâu dài cho vấn đề tranh chấp ở Biển Đông và quan trọng nhất là quy định về việc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông) mà các bên liên quan cần nghiêm túc thực hiện để duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Vừa qua, ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC, do vậy việc thực hiện nghiêm túc các nội dung DOC là trách nhiệm của mỗi bên tham gia ký kết.

Ba là, một nội dung hết sức quan trọng thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam về phương thức giải quyết vấn đề trên biển là cả song phương lẫn đa phương đã được ghi nhận trong điều 3 của Thỏa thuận là “đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam - Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác”. Điều này có nghĩa là Việt Nam – Trung Quốc chỉ có thể giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa hai nước, như tranh chấp Hoàng Sa, cửa Vịnh Bắc Bộ, không thể giải quyết các tranh chấp liên quan đến các bên khác, như vấn đề Trường Sa. Đây cũng là lần đầu tiên Trung Quốc ký kết một văn bản chính thức trong đó nói rõ tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì phải trao đổi ý kiến với các bên đó. Nội dung này của thỏa thuận đã mở ra khả năng về giải quyết đa phương tranh chấp ở Biển Đông. Điều này là phù hợp với quan điểm chung của các nước trong và ngoài khu vực, phù hợp với thực tế tranh chấp ở Biển Đông và phù hợp với xu thế giải quyết các tranh chấp liên quan đến nhiều bên trong quan hệ quốc tế hiện đại.

Vấn đề Biển Đông hết sức phức tạp liên quan đến lợi ích của nhiều nước, nhiều bên. Với nội dung này trong điều 3 của Thỏa thuận, chúng ta có thể hiểu rằng đối với việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông thì những vấn đề chỉ liên quan đến Việt Nam – Trung Quốc như vấn đề phân định vùng biển chồng lấn ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và vấn đề quần đảo Hoàng Sa sẽ được trao đổi giải quyết song phương giữa Việt Nam – Trung Quốc; vấn đề quần đảo Trường Sa sẽ phải bàn bạc giải quyết giữa các bên liên quan trong tranh chấp; vấn đề duy trì hòa bình ổn định, an ninh an toàn hàng hải ở Biển Đông cần phải trao đổi bàn bạc giữa tất cả các bên liên quan và có lợi ích trong vấn đề này.

Bốn là, một nội dung đáng chú ý trong Thỏa thuận là tại điều 4 hai bên xác định “trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, hai bên bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thỏa thuận này”.

Với nội dung này, hai bên đã đưa ra khả năng về một giải pháp mang tính quá độ đối với các khu vực tranh chấp, bao gồm cả việc hợp tác cùng phát triển theo nguyên tắc đã nêu ở điều 2 của Thỏa thuận, nghĩa là căn cứ vào luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982. Giải pháp quá độ tạm thời, hợp tác cùng phát triển là phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Dàn xếp tạm thời về “hợp tác cùng phát triển” được khuyến nghị trong Điều 74 và Điểu 83 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982. Theo đó, các quốc gia khi chưa tìm được giải pháp phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế thì có thể thỏa thuận về các dàn xếp tạm thời mang tính thực tiễn; các dàn xếp tạm thời không làm phương hại đến kết quả phân định cuối cùng. Trên thế giới đã có nhiều thỏa thuận về các dàn xếp tạm thời “hợp tác cùng phát triển” dưới nhiều hình thức và trong các lĩnh vực khác nhau (nghề cá, dầu khí…). Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có: Hiệp định về khai thác chung Nhật Bản – Hàn Quốc năm 1974 ở khu vực biển chồng lấn giữa hai nước; Hiệp định về phát triển chung vùng biển chồng lấn ở Biển Đông Timor giữa Australia và Indonesia năm 1989. Năm 1992, Việt Nam cũng đã ký với Malaysia Thỏa thuận về khai thác chung dầu khí tại 01 khu vực biển chồng lấn giữa hai nước và đến nay đang được triển khai thuận lợi.

Thỏa thuận đã cho thấy thái độ và tinh thần hợp tác nhằm duy trì hòa bình ổn định trên biển. Một điều cần nhấn mạnh trong nội dung này là điều 76 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 cũng quy định rõ mỗi quốc gia ven biển có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý tính từ đường cơ sở, thậm chí có thể mở rộng ra đến 350 hải lý. Như vậy, giải pháp quá độ tạm thời, hợp tác cùng phát triển theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 là phải tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa tối thiểu của mỗi quốc gia ven biển. Do vậy, hợp tác cùng phát triển chỉ có thể được thực hiện ở những khu vực thực sự có tranh chấp ngoài thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam.

Ngoài ra, Thỏa thuận đã nêu ra một số nguyên tắc khác là giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn. Hai bên cũng đã nhất trí cơ chế gặp định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ 2 lần/năm; thiết lập cơ chế đường dây nóng trong khuôn khổ đoàn đại biểu cấp Chính phủ để kịp thời trao đổi và xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển.

Kết quả đàm phán luôn là một sự dung hòa của các mối lợi ích để tìm ra tiếng nói chung mà hai bên đều có thể chấp nhận được chứ không thể đòi hỏi chỉ giành phần thắng lợi về mình. Nội dung Thỏa thuận về cơ bản đã đảm bảo được những nguyên tắc lớn trong quan điểm lập trường của Việt Nam là giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982; thực hiện nghiêm túc DOC nhằm duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông; giải quyết tranh chấp ở Biển Đông cả song phương lẫn đa phương; hợp tác cùng phát triển phải phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982, nghĩa là tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia ven biển.

Tóm lại, với những nội dung phân tích trên đây thì việc ký kết Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bàn bạc giải quyết các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đi đầu tiên trong quá trình giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc. Tình hình Biển Đông sẽ còn diễn biến phức tạp, công việc tiếp theo sẽ còn hết sức khó khăn. Để có thể tìm kiếm một giải pháp quá độ tạm thời hay giải pháp lâu dài cho các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông đòi hỏi nỗ lực và thiện chí của cả hai bên, nhất là cần thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc đã được xác định trong Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Mặt khác, vấn đề Biển Đông là vấn đề nhạy cảm được cả cộng đồng quốc tế quan tâm, do vậy trong quá trình giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan ở Biển Đông, cần thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa. Việc đăng toàn văn Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển ngay sau khi ký kết là cách làm đúng đắn, cần tiếp tục được thực hiện trong thời gian tới.

Hoàng Trường
Logged
Man va Toi
Thành viên
*
Bài viết: 20


« Trả lời #293 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 08:29:40 am »

Nhà mới


Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #294 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2011, 09:31:21 am »

Phía sau nền ngoại giao pháo hạm tại Biển Đông


tạp chí "Bình luận Chiến lược" của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) tại Luân Đôn đánh giá về tình hình tranh chấp tại Biển Đông thời gian qua. Về xu thế, Biển Đông sẽ tiếp tục nóng với sự leo thang cạnh tranh hiện đại hóa hải quân giữa các nước và đối đầu trên biển giữa các lực lượng của các bên tuyên bố chủ quyền.

IISS kết luận rằng việc có được một bộ quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc chính trị đối với các bên tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông sẽ còn phải mất nhiều năm nữa. Trong thời gian trước mắt, Biển Đông sẽ tiếp tục nóng với sự leo thang cạnh tranh hiện đại hóa hải quân giữa các nước và đối đầu trên biển giữa các lực lượng dân quân của các bên tuyên bố chủ quyền. Dưới đây là nội dung bài viết:

Trung Quốc đã bị cáo buộc có ít nhất bốn lần trong năm nay quấy rối tàu của các quốc gia khác trong vùng biển tranh chấp, trong đó Bắc Kinh đã quấy rối các hoạt động của cả Việt Nam và Philíppin ở quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Các cuộc diễn tập quân sự trong khu vực đã gia tăng mạnh, cùng với đó là các cuộc khẩu chiến giữa các bên, các cuộc biểu tình của công chúng và các cuộc tấn công mạng theo kiểu ăn miếng trả miếng. Các đối thủ của Trung Quốc thậm chí còn vận động hành lang đề nghị đổi tên “South China Sea”. Tại Việt Nam, hiện có kiến nghị đổi tên thành Biển Đông Nam Á; còn ở Philíppin, người phát ngôn của quân đội nước này đã đề nghị đổi tên thành Biển Tây Philíppin.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, trong đó có cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Các nước Việt Nam , Philíppin, Đài Loan, Malaixia và Brunây cũng tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ đối với hai quần đảo này. Các tuyến đường hàng hải quan trọng cũng chạy qua khu vực biển được cho là giàu tài nguyên và khí đốt này. Một thỏa thuận hồi tháng 7/2011 giữa Trung Quốc và ASEAN tuyên bố hướng tới sự hợp tác trên Biển Đông là một bước đi quan trọng sau 9 năm gián đoạn. Tuy nhiên, nó chưa thể làm dịu được các tranh chấp. Mỹ cũng hết sức quan ngại về tham vọng hải quân của Trung Quốc.

Căng thẳng đã tăng dần từ năm 2005, sau quãng thời gian tương đối yên tĩnh cuối những năm 1990. Trong tháng 3/2011, Manila đã phàn nàn rằng tàu tuần tra hải quân Trung Quốc đã quấy rối một tàu thăm dò dầu khí của Philíppin gần Bãi Cỏ rong (Reed Bank), bãi đá ngầm lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, mà Manila nói nằm trong khu đặc quyền kinh tế 200 hải lý của mình. Trong tháng Năm, Việt Nam phản đối khi Trung Quốc đặt phao và xây các trụ đá gần Iroquois Reef Amy Douglas Bank. Trong tháng Sáu, một tàu chiến Trung Quốc bắn vào ba tàu đánh cá Philíppin gần Jackson Atoll.

Bắc Kinh đã chỉ trích việc Manila xây dựng căn cứ cho quân đội trên đảo Flat ( Flat Island ) (Philíppin gọi là Patag và Trung Quốc gọi là Feixin). Trong bài diễn văn cuối tháng 7, Tổng thống Philíppin Benigno Aquino nói: "Chúng ta không muốn gia tăng căng thẳng với bất cứ ai, nhưng chúng ta cần phải cho thế giới biết chúng ta đã sẵn sàng để bảo vệ những gì thuộc về chúng ta".

Cũng đã có một sự căng thẳng nghiêm trọng giữa Trung Quốc với Việt Nam. Trong tháng 5/2011 và một lần nữa vào tháng 6/2011, Hà Nội tuyên bố rằng các cáp thăm dò của tàu khảo sát Việt Nam đã bị cắt ở độ sâu 30 mét dưới mặt nước, sau khi các tàu này đối mặt với các tàu đánh cá của Trung Quốc. Về phần mình, Trung Quốc cáo buộc Việt Nam vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của mình khi đưa các tàu hải quân ra để "đuổi một cách bất hợp pháp" các tàu thuyền đánh cá trong sự kiện tháng Sáu, gần Vanguard Bank (bãi Tư chính) thuộc quần đảo Trường Sa.

Hai bài xã luận trên truyền thông nhà nước của Trung Quốc trong tháng 6 và tháng 7/2011 tuyên bố rằng "nếu Việt Nam muốn bắt đầu một cuộc chiến tranh, Trung Quốc có đủ sự tự tin để phá hủy các tàu chiến xâm lược của Việt Nam", và rằng "không nên đánh giá thấp quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc". Điều bất thường là các cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã diễn ra tại cả Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong tháng 6/2011, Trung Quốc đã tổ chức cuộc diễn tập chống tàu ngầm ngoài khơi đảo Hải Nam, một trong sáu cuộc diễn tập lớn do Hải quân Trung Quốc tổ chức trong tháng đó, trong khi Mỹ tổ chức các cuộc tập trận hải quân chung với Việt Nam và Philíppin. Li Jinming, giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Trường Đại học Hạ Môn nói với tờ "Thời báo Tài chính" rằng: "Các tàu tuần tra duyên hải và ngư nghiệp của chúng tôi thực tế đã tăng cường các hoạt động tuần tra ở Biển Đông thời gian gần đây khi căng thẳng tại khu vực này một lần nữa lại gia tăng".

Những lý do gia tăng căng thẳng

Tầm quan trọng chiến lược ngày càng tăng của Biển Đông, đặc biệt đối với Bắc Kinh, là một trong những lý do cho sự gia tăng căng thẳng gần đây. Là trung tâm sản xuất hàng hóa quan trọng nhất của thế giới, Trung Quốc hiện phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là nguồn cung cấp năng lượng và quặng sắt, để có thể duy trì mức tăng trưởng kinh tế của mình. Người tiêu dùng Trung Quốc cũng đã bắt đầu đòi hỏi nhiều lương thực và các sản phẩm khác mà Trung Quốc không thể cung cấp. Vì vậy, các tuyến đường biển, đặc biệt là thông qua Biển Đông, đã trở nên ngày càng quan trọng trong tư duy của Bắc Kinh.

Đồng thời, nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của Trung Quốc đã đẩy giá dầu và khí tự nhiên lên. Tình trạng thiếu dầu lửa đang hiện rõ đã khiến cho các nguồn nguyên liệu mới tiềm tàng có giá trị hơn bao giờ hết. Vì vậy, việc đảm bảo chủ quyền trên Biển Đông và các tiềm năng ở vùng biển này (bao gồm cả cá và hải sản khác) đã trở thành mục tiêu chính sách đối ngoại chủ chốt của các quốc gia trong khu vực.

Tranh chấp trên Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp sau khi việc khảo sát ba bên tại một khu vực thăm dò chung tạm thời giữa Trung Quốc, Việt Nam và Philíppin ngừng lại năm 2008 do sự chỉ trích mạnh mẽ tại Philíppin, nơi mà việc hợp tác ba bên được coi là vi phạm chủ quyền quốc gia. Các kết quả khảo sát không được công bố và mỗi quốc gia sau đó tiếp tục thăm dò đơn phương. Những sự việc gần đây cho thấy Philíppin và Việt Nam quyết tâm tiếp tục khảo sát (và, có lẽ, cuối cùng là khai thác) dầu khí ở Biển Đông.

Tập đoàn Năng lượng Talisman của Canađa, đối tác của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước, đã công bố ý định khoan thăm dò, có thể là trong năm tới, trong khi Tập đoàn ExxonMobil lên kế hoạch thăm dò một giếng dầu ngoài khơi bờ biển Việt Nam trong năm 2011. Một số nhà báo Trung Quốc đã ví Biển Đông là "Vịnh Ba Tư thứ 2", và cho rằng khu vực này có thể chứa hơn 50 tỷ tấn dầu thô và hơn 20 nghìn tỷ mét khối khí đốt tự nhiên. Tuy nhiên, khi các cuộc khảo sát chưa kết thúc thì không thể biết trữ lượng chính thức là bao nhiêu.

Trong khi tăng trưởng kinh tế ở Đông Á đã làm gia tăng việc cạnh tranh các nguồn lực, nó cũng mang lại một sự gia tăng hiện đại hóa quân sự đáng kể trong khu vực. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc bình quân luôn ở mức 2 con số trong suốt 30 năm qua. Những quốc gia khác cùng có tuyên bố chủ quyền trong vùng Biển Đông cũng đang cố gắng nâng cấp thực lực hải quân của họ. Việt Nam đặt mua hai tàu khu trục nhỏ lớp Gepard và đã đặt mua 6 tàu ngầm lớp Kilo. Đài Loan đã mua 4 tàu tuần dương lớp Keelung trong 2005-2006, có sức mạnh gấp ba lần so với các tàu chiến trước đây của nước này. Đầu năm nay, Brunây đã nhận hai tàu tuần tra duyên hải mới và đang tiếp tục đặt chiếc thứ 3. Malaixia đã mua 2 tàu ngầm đầu tiên kể từ năm 2009.

Chỉ có Philíppin ít đầu tư nâng cấp lực lượng hải quân của mình.

Tuy nhiên, hầu hết các sự cố trong năm 2011 liên quan đến các lực lượng tổ chức theo mô hình phòng vệ bờ biển chứ không liên quan tới hải quân. Trung Quốc đã và đang nỗ lực không ngừng phát triển các lực lượng dân quân trên biển, đặc biệt là Cơ quan Giám sát biển Trung Quốc (CMS) thuộc Cục Quản lý Hải dương Nhà nước. Sun Shuxian, Phó Giám đốc CMS, cho biết cơ quan này tăng số lượng tàu lên 36 chiếc trong 5 năm tới và tuyển dụng thêm khoảng 1.000 nhân viên hỗ trợ và thủy thủ đoàn. CMS, cùng với Bộ Tư lệnh Thực thi Luật Thủy sản và Cục An toàn Hàng hải, đã tăng cường dấu ấn của mình trên Biển Đông thông qua việc tăng cường tuần tra thường xuyên.

Những tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi

Một nhân tố khác khiến các nước trong khu vực thực thi một quan điểm cứng rắn hơn về vấn đề Biển Đông là hạn chót tháng 5/2009 để đăng ký tuyên bố mở rộng thềm lục địa vượt ra ngoài vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý theo quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Để kịp mốc thời hạn đó, Malaixia và Việt Nam đã đệ trình một tuyên bố chung; Việt Nam sau đó đệ trình một tuyên bố riêng; Philíppin thông qua một đạo luật về đường cơ bản mới để hỗ trợ cho việc đệ trình tuyên bố một phần; và Brunây đệ trình "thông tin ban đầu". Vấn đề chính đối với Bắc Kinh là Malaixia và Việt Nam đã quyết định tuyên bố quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên của Biển Đông dựa trên tuyên bố chủ quyền lục địa tính từ bờ biển của họ, không phải từ các hòn đảo mà các nước này tuyên bố chủ quyền. Nguyên tắc này, nếu được thông qua bởi tất cả các bên tranh chấp, sẽ làm suy yếu đáng kể tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, vốn không dựa trên việc mở rộng thềm lục địa.

Tuy nhiên, vẫn còn khó khăn để nhận định một cách chính xác về những yêu sách của Trung Quốc bởi một văn bản khác mà nước này đệ trình phản đối cả đệ trình của Philíppin và đệ trình đơn phương của Việt Nam . Nội dung đệ trình của Trung Quốc tuyên bố rằng Bắc Kinh có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo ở Biển Đông và vùng biển lân cận - ám chỉ vùng lãnh hải 12 hải lý xung quanh các đảo ở Biển Đông. Tuy nhiên, trong phần phụ lục, Trung Quốc đã đệ trình chính thức lần đầu tiên bản đồ "đường chín đoạn" hay còn gọi là "hình chữ U". Bản đồ này, lần đầu tiên được xuất bản ở Trung Quốc vào năm 1948 và được các quan chức nước này cho rằng có cơ sở lịch sử, rõ ràng cho thấy quyền chủ quyền của Bắc Kinh đối với 90% Biển Đông mà không đề cập tới giới hạn vùng lãnh hải 12 hải lý theo quy định của UNCLOS.

Như vậy, những tuyên bố chủ quyền đệ trình Ủy ban ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc (CLCS) năm 2009 đã cho thấy rõ căn bệnh nan y của xung đột, bản chất quy mô lớn và đầy tham vọng trong tuyên bố của Trung Quốc cho thấy sự phức tạp trong giải quyết tranh chấp. Hơn nữa, các đệ trình lên CLCS trong năm 2009 không có một tuyên bố rõ ràng nào liên quan đến chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông, mà chỉ tập trung vào các tuyên bố thềm lục địa. Với việc Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Brunây, Malaixia và Philíppin đều tuyên bố chủ quyền với các đảo hoặc các địa hình đặc trưng khác trên Biển Đông (Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đòi chủ quyền tất cả), thì rõ ràng việc tìm giải pháp cho xung đột chỉ là mò kim đáy bể. Thậm chí kể cả khi xung đột trong các tuyên bố chủ quyền với đảo và các địa hình đặc trưng được giải quyết thì cách thức tính vùng lãnh hải từ các đảo này sẽ tạo ra một lĩnh vực gây tranh cãi nhiều hơn: Brunây, Malaixia, Philíppin và Việt Nam có thiên hướng ủng hộ vùng lãnh hải 12 hải lý tuân thủ theo UNCLOS nhưng Trung Quốc có thể muốn một số đảo có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

Với sự phức tạp của tranh chấp, có lẽ không ngạc nhiên rằng các thỏa thuận đa phương tìm một giải pháp thường vừa dài lê thê và vừa mang tính chất cục bộ. Phải mất hơn 1 thập kỷ thì ASEAN và Trung Quốc mới thống nhất và ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông năm 2002 kể từ khi nó được thai nghén và đề cập; và cũng mất 9 năm mới đạt được thỏa thuận hồi tháng 7/2011 về các bước đi để thực hiện tiến trình này. Theo hướng dẫn này thì các ủy ban sẽ được thành lập để giám sát tiến trình hướng tới một Bộ Quy tắc Ứng xử có tính ràng buộc về mặt chính trị và thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực như nghiên cứu, an toàn hàng hải và tội phạm đa quốc gia.

Thế nhưng, họ hứa hẹn rất ít về việc giải quyết tranh chấp. Họ không đưa ra được một thời hạn chót hay một lịch trình để nhất trí về Bộ Quy tắc Ứng xử, và tới nay cũng không có tuyên bố nào về cách thức giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Thực tế là Trung Quốc liên tục tuyên bố muốn đàm phán song phương với các bên tuyên bố chủ quyền (trừ Đài Loan), trong khi các quốc gia ASEAN muốn có một môi trường đa phương thông qua Diễn đàn Khu vực ASEAN để khỏa lấp sự khác biệt giữa các bên.

(Còn nữa)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2134-2134
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #295 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2011, 09:32:21 am »

Phía sau nền ngoại giao pháo hạm tại Biển Đông (Tiếp theo)


Tranh chấp khó có thể giải quyết?

Với việc không có thoả thuận về các bước đi để giải quyết tranh chấp, và chỉ có các biện pháp xây dựng lòng tin đang được xem xét, thì có vẻ như không chắc rằng các nước trong khu vực sẽ có thể làm chậm lại tiến trình hiện đạo hóa quân đội đang diễn ra trên Biển Đông hay ngăn chặn được việc xây dựng thêm các pháo đài trên các cơ sở hạ tầng thuộc quần đảo Trường Sa. Những nhượng bộ có thể sẽ có được thông qua các cuộc đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử, đặc biệt liên quan tới các hoạt động tập trận quân sự trên Biển Đông. Tuy nhiên, đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử, đó là chưa nói đến việc thực hiện, có vẻ như sẽ phải mất nhiều năm nữa.

trước mắt, các bên tuyên bố chủ quyền nhiều khả năng sẽ củng cố vị trí của mình tại quần đảo Trường Sa và tăng cường các chương trình phát triển lực lượng dân quân và hải quân. Vì thế, tương lai của Biển Đông nhiều khả năng sẽ là leo thang cạnh tranh hải quân và đối đầu giữa các lực lượng dân quân, kể cả khi các nỗ lực ngoại giao vẫn được tiếp tục để tìm giải pháp cho tranh chấp.

Theo mạng phân tích thông tin tình báo chiến lược "Stratfor" của Mỹ ngày 5/10, khi kinh tế phát triển thịnh vượng, Việt Nam và Trung Quốc sẽ cố gắng tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình trong khu vực. Tuy nhiên, do sự gần gũi về địa lý cũng như khu vực tìm kiếm ảnh hưởng của hai nước chồng lấn nhau, Hà Nội và Bắc Kinh sẽ tiếp tục duy trì tình trạng căng thẳng gia tăng trong tương lai.

Trong thập kỷ qua, nhiều nền kinh tế Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, đã hội nhập hơn vào hệ thống kinh tế quốc tế và điều này mang đến cho họ sự thịnh vượng mới. Với sự thịnh vượng này, Việt Nam đã có thể theo đuổi mục tiêu củng cố hơn nữa vùng đệm chiến lược của mình ở Biển Đông, bán đảo Đông Dương và bảo vệ biên giới phía Bắc. Tuy nhiên, vấn đề là những mục tiêu này lại đi ngược lại với những mục tiêu của Trung Quốc, nước cũng đang ở vị thế đủ vững mạnh để có thể thúc đẩy ảnh hưởng khu vực của mình ra bên ngoài nhằm loại bỏ tất cả những gì nước này coi là mối đe dọa sắp xảy ra. Do đó, căng thẳng giữa hai nước được dự báo là sẽ tăng lên trong tương lai gần.

Những yêu cầu địa chính trị của Việt Nam

Bảo vệ biên giới là vấn đề quan trọng đối với tất cả mọi nước và điều này đặc biệt quan trọng đối với những nước như Việt Nam do nằm sát với những cường quốc mạnh hơn. Việt Nam có 1.347 km đường biên giới với Trung Quốc, nước trong lịch sử đã nhiều lần xâm lược và chiếm đóng miền bắc Việt Nam. Do đó, không nghi ngờ gì, nhu cầu địa chính trị trước tiên của Hà Nội là bảo vệ biên giới phía Bắc.

Thực tế, lịch sử vẫn khắc in trong sự nghi ngờ của người dân Việt Nam đối với Trung Quốc. Trung Quốc đã can dự vào Việt Nam từ năm 214 trước Công nguyên, khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất miền Nam Trung Quốc và thành lập chính quyền địa phương ở khu vực phía Bắc của Việt Nam ngày nay. Khi triều đại nhà Tần kết thúc, một tướng Trung Quốc tên là Triệu Đà đã thành lập quốc gia Nam Việt, nhưng quốc gia này cũng sụp đổ sau khi Trung Quốc tái thống nhất dưới thời nhà Hán. Trung Quốc dưới thời nhà Hán đã chiếm Nam Việt hàng trăm năm và đưa nhiều yếu tố văn hoá Trung Quốc đến đây.

Vương quốc ở miền Bắc Việt Nam giành độc lập từ Trung Quốc trong thế kỷ thứ 10, khi Trung Quốc suy yếu. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn duy trì sự quan tâm của mình đối với các công việc của Việt Nam kể từ đó. Trung Quốc đã phản đối sự hiện diện của Pháp tại Đông Dương trong thế kỷ 18 và ủng hộ chính phủ cộng sản ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến 1978, trong khi phản đối chính phủ do Mỹ kiểm soát ở miền Nam Việt Nam. Hiện tại, Trung Quốc vẫn duy trì ảnh hưởng đáng kể đối với Việt Nam thông qua các mối quan hệ về ý thức hệ, chính trị và kinh tế.

Mặc dù việc bảo vệ biên giới phía Bắc có thể giúp giải quyết phần nào các mối đe dọa xuất phát từ phương Bắc, Việt Nam vẫn phải bảo vệ các đường biên giới khác của mình bằng việc tạo ra các vùng đệm chiến lược ở bán đảo Đông Dương và Biển Đông. Với chiều dài khoảng 1.650 km và chiều rộng tại điểm hẹp nhất chỉ khoảng 50 km, địa lý của Việt Nam dễ dẫn đến sự chia cắt Bắc Nam và trên thực tế Việt Nam có lịch sử chia cắt dài hơn là thống nhất. Do đó, yêu cầu địa chính trị thứ 2 của Việt Nam là tiếp tục củng cố ảnh hưởng của mình ở Đông Dương đối với phía Tây và ở Biển Đông đối với phía Đông.

Đó chính là lý do tại sao Hà Nội hoạt động rất tích cực ở Lào và Campuchia. Hai quốc gia này nằm dưới sự ảnh hưởng của Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 và sau khi thống nhất năm 1975, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy nỗ lực mở rộng ảnh hưởng của mình sang phía Tây. Việt Nam ủng hộ phong trào cộng sản của Lào và cuối cùng đã xây dựng một chính phủ của Đảng nhân dân cách mạng Lào thân Việt Nam . Tại Campuchia, sự hình thành của chế độ Khơme Đỏ, chế độ có thái độ thù địch với nước láng giềng ở phía Đông - Việt Nam, đã dẫn đến việc Hà Nội đưa quân sang đóng tại Campuchia cho đến tận cuối thập niên 1980. Mặc dù sự hiện diện ở hai nước Lào và Campuchia giảm kể từ đó, nhưng Việt Nam vẫn duy trì được ảnh hưởng đáng kể về chính trị và kinh tế.
Tương tự như thế, việc duy trị sự hiện diện ở Biển Đông cũng quan trọng đối với Việt Nam, một quốc gia có 3.444 km bờ biển, không kể các đảo - một khu vực lãnh thổ lớn phải bảo vệ trước các lực lượng xâm lược. Việt Nam dễ bị chia cắt từ các mối đe dọa ở phía Tây, các lực lượng hải quân nước ngoài không bị kiểm soát có thể vào từ phía Đông, chia cắt Việt Nam ở điểm hẹp nhất của nước này. Chính điều này lý giải tại sao việc kiểm soát quần đảo Hoàng Sa, nằm ở Biển Đông bên ngoài miền Trung, lại có ý nghĩa quan trọng sống còn đối với Việt Nam.

Kể từ năm 1975, Việt Nam chiếm giữ 29 đảo trong quần đảo Trường Sa ở Biển Đông và nguồn thu từ việc khai thác năng lượng ở xung quanh các đảo này chiếm gần 30% tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam trong năm 2010. Đòi hỏi chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam đi ngược lại với yêu cầu của Trung Quốc đòi toàn bộ Biển Đông, khu vực được nước này coi là là một tuyến vận tải biển quan trọng, có nguồn năng lượng tiềm tàng và là vùng đệm chiến lược. Việc cạnh tranh các đảo với Trung Quốc không mới, nó diễn ra từ cuối thế kỷ 19, khi Việt Nam nằm dưới sự cai trị của Pháp. Năm 1974, tranh chấp này đã dẫn đến đụng độ quân sự giữa Trung Quốc và chính quyền miền Nam Việt Nam ở Hoàng Sa. Kể từ đó, dù Trung Quốc đã khẳng định Hoàng Sa nằm trong sự toàn vẹn lãnh thổ của nước này, nhưng những tranh cãi liên quan đến quần đảo này và Trường Sa chưa bao giờ lắng dịu hoàn toàn.

Những yêu cầu địa chính trị của Trung Quốc và cuộc cạnh tranh có thể xảy ra

Những yêu cầu địa chính trị của Trung Quốc cũng tương tự như của Việt Nam. Giống Hà Nội, Bắc Kinh phải kiểm soát các vùng đệm của mình, bao gồm Nội Mông, Mãn Châu lý, Tây Tạng và Tân Cương, cao nguyên Vân Nam-Quảng Tây, Hải Nam và khu vực Đài Loan-Phúc Kiến và bán đảo Đông Dương. Một yêu cầu nữa của Trung Quốc là bảo vệ bờ biển của mình. Điều này không mấy xuất phát từ những lo ngại về sự xâm lược, mà xuất phát từ việc bảo vệ các lợi ích kinh tế của nước này.

Tuy nhiên, việc ở gần kề nhau của Trung Quốc và Việt Nam tạo ra một vấn đề không thể tránh khỏi: các vùng đệm chiến lược hai nước cạnh tranh chồng lấn lên nhau. Và chính việc tiếp tục theo đuổi các vùng chồng lấn này đã dẫn đến việc hai quốc gia này rơi vào cuộc cạnh tranh với nhau, đặc biệt là khi tình hình kinh tế và chính trị cho phép họ theo đuổi các yêu cầu về địa chính trị của mình.

Đó chính là trường hợp của Trung Quốc và Việt Nam hiện nay. Trong khi sức mạnh kinh tế của Trung Quốc đã được chứng minh rõ, nhiều quốc gia Đông Nam Á đang có sự thịnh vượng kinh tế, sự hội nhập khu vực và quốc tế mới, như Malaixia, Xinhgapo và Việt Nam. Trong năm 2010, Việt Nam là nước tăng trưởng cao thứ 3 trong số tất cả các nền kinh tế châu Á, phần lớn nhờ cải cách và cơ cấu lại kinh tế cho phép quốc gia này mở cửa nền kinh tế của mình để khuyến khích ngoại thương và thu hút đầu tư nước ngoài.

Vì Trung Quốc xác định Việt Nam là bên tham gia có năng lực nhất ở Đông Dương, Bắc Kinh đã tìm cách kiềm chế Việt Nam trong việc mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chính trị vào Lào và Campuchia, đồng thời cố gắng tạo ra vùng đệm của riêng mình. Điều này giúp giải thích cho các mối quan hệ chính trị đang phát triển nhanh của Trung Quốc với giới lãnh đạo của Lào và Campuchia, cũng như sự quan tâm về kinh tế của Trung Quốc đối với các nước này đang được mở rộng rất nhanh. Tóm lại, Trung Quốc đang tìm cách tăng cường sự hiện diện của mình ở Đông Dương và Đông Nam Á để đối trọng với Việt Nam và để làm vùng đệm cho mình. Điều này đã được thể hiện ở việc trong năm 2010, Trung Quốc đầu tư khoảng 344 tỷ USD, lớn hơn tất cả các nước khác, vào các lĩnh vực khai khoáng, thuỷ điện và các dự án nông nghiệp của Lào.

Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng thể hiện rằng nước này có thể sử dụng vũ lực cho những đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông. Ví dụ như năm 1988, những đụng độ đã nổ ra giữa Trung Quốc và Philíppin trong vùng biển này. Gần đây hơn, khi Trung Quốc tìm cách trở thành một cường quốc hải quân, Bắc Kinh đã duy trì quan điểm quyết đoán, gây hấn trong việc khẳng định lãnh thổ và Biển Đông đã được đưa lên hàng đầu trong chương trình an ninh khu vực của nước này. Trung Quốc đã phản đối các cuộc đàm phán song phương về vấn đề Biển Đông mà không bao gồm nước này và ngăn chặn sự can dự của bên thứ ba, đặc biệt là Mỹ.

Mặc dù kinh tế Việt Nam đang cải thiện, nhưng nước này cũng có nhiều vấn đề khó khăn như lạm phát cao, đồng tiền yếu và những vấn đề này đang gây thiệt hại cho dân chúng Việt Nam . Sự hội nhập toàn cầu tăng lên, nhờ chính sách "làm bạn với tất cả" của Việt Nam đã cho phép Việt Nam quan hệ với rất nhiều nước khác nhau. Thực tế, Hà Nội là bên tích cực nhất trong số các nước láng giềng của mình trong việc theo đuổi các quan hệ đối tác chiến lược, điều được chứng minh bằng việc nước này mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga. Hà Nội cũng tích cực theo đuổi quan hệ chiến lược với các cường quốc khác, bao gồm cả Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông. Điều này bị Bắc Kinh coi là một mối đe dọa đối với việc khẳng định chủ quyền biển của nước này.

Hiện nay là một thời điểm tương đối đặc biệt trong lịch sử của Việt Nam . Quốc gia này đang thống nhất và có tiềm lực kinh tế và chính trị để đối phó với Trung Quốc trong khu vực. Tuy nhiên, việc nước này có thành công hay không thì vẫn cần phải quan sát. Những yêu cầu địa chính trị của Hà Nội không thay đổi dù tình hình kinh tế của nước này có thay đổi. Tuy nhiên, vì những yêu cầu này cũng trùng với những yêu cầu của Trung Quốc, nên căng thẳng giữa hai quốc gia sẽ tiếp tục và có thể xấu đi trong tương lai.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/2134-2134
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Mười, 2011, 09:38:57 am gửi bởi Mig21Bis_1 » Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #296 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2011, 12:13:29 am »

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng


Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bừi viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.


Thời gian gần đây, mọi người đều vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng, đã bao nhiêu năm nay, song song với sự trỗi dậy của Trung Quốc là chuỗi "liên hoàn bại trận" của chính nước này trong các vấn đề về Biển. Đặc biệt bắt đầu từ năm ngoái, xu hướng này ngày càng hiện ra rõ ràng hơn.

Trung Quốc đã nỗ lực theo đuổi chiến lược "Trỗi dậy hòa bình" (Phát triển hòa bình) ngay sau công cuộc cải cách mở cửa. Trên rất nhiều phương diện, Trung Quốc đã từ bỏ chính sách chủ nghĩa đơn phương vốn đã tuân thủ từ rất lâu trước đó, đồng thời phát triển quan hệ hữu nghị đa phương với các nước ASEAN. Khu vực tự do thương mại Trung Quốc-ASEAN cũng đã bắt đầu có hiệu lực. Trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã đề xuất chủ trương "Gác tranh chấp chủ quyền, cùng khai thác chung". Những biện pháp này xét từ góc độ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng đã hình thành nên sách lược và kim chỉ nam ngoại giao "Giấu mình chờ thời" của Trung Quốc suốt từ thời Đặng Tiểu Bình đến nay. Thế nhưng rất nhiều người đã cảm nhận ra rằng, trên rất nhiều vấn đề có liên quan, nếu như Trung Quốc không thể trực diện đối mặt thì sẽ góp phần đẩy chính sách của họ đi theo hướng ngược hẳn lại.

Sự quan tâm chú ý của toàn bộ khu vực Châu Á và cộng đồng quốc tế cho tới thời điểm này đều tập trung vào vấn đề Biển Đông, Biển Đông đột nhiên lại thêm một lần nữa trở thành điểm nóng của thế giới. Chính quyền Trung Quốc dường như lại không hiểu rõ tình trạng hiện nay. Đối với Trung Quốc mà nói, chính sách Biển Đông về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, chỉ là các nước có liên quan tiến hành một loạt các hành động không có lợi cho Trung Quốc, và phản ứng của Trung Quốc theo đó cũng chỉ tương đương với hình thức "cứu hỏa" mà thôi.

Trên thực tế, từ rất nhiều năm trở lại đây, chính bởi vì nguyên do Trung Quốc luôn áp dụng các biện pháp bị động đối phó lại khiến cho vấn đề Biển Đông ngày một tích tụ chồng chất lại, và rồi dẫn đến cục diện như ngày hôm nay. Không quan tâm Trung Quốc có muốn hay không, có nắm rõ tình hình hay không, thì Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức chưa từng có trong vấn đề Biển Đông này.

Thứ nhất, Trung Quốc sớm đã hoàn toàn thất bại tại cuộc chiến công luận quốc tế.

Trong nhiều năm qua, khi Trung Quốc vẫn còn đắm chìm trong thuyết "Trỗi dậy hòa bình" do chính họ tạo dựng nên, thì các quốc gia có liên quan đã nỗ lực với tinh thần cao nhất và chuẩn bị đầy đủ trên trường quốc tế để chờ đợi vấn đề Biển Đông sẽ nổi lên như trong dự tính đã có sẵn. Xét trên hệ thống kiến thức (luật pháp), Trung Quốc hiện nay thật khó khăn để tìm ra được bất kỳ một lực lượng hỗ trợ có hiệu quả nào cho họ. Về xu hướng các giới truyền thông báo chí không đứng về phía Trung Quốc đã hình thành như hiện nay thì Trung Quốc cũng không có quyền phát biểu tại đây. Các nhà bình luận cho rằng dùng "Chính sách cứng rắn" để mô tả thái độ của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông là chưa đầy đủ, chính xác phải gọi đó là "mang tính chất tranh cướp" mới đúng. Trên thực tế, cách nhận thức tương tự như vậy của Trung Quốc đã trở nên khá phổ biến trong cộng đồng quốc tế. Bản thân Trung Quốc lại quả quyết cho rằng họ không làm gì mà lại bị đối xử "oan uổng" như vậy, đây chính là căn nguyên khiến Trung Quốc bị mất quyền phát biểu trong cuộc chiến công luận quốc tế này.

Thứ hai, Trung Quốc cũng thua trận trong cuộc chiến chiến lược.

Các nước liên quan đều có những chiến lược khá rõ ràng trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, cụ thể bao gồm các chiến lược như chủ nghĩa đa phương tại khu vực, quốc tế hóa, chính trị hóa đại quốc. Thế nhưng chiến lược của Trung Quốc nếu không dám đối mặt với sự thực thì sẽ là nhập nhằng không rõ ràng. Trung Quốc từ chối chi tiết hóa vấn đề, sử dụng khái niệm "phản đối quốc tế hóa" vô cùng vĩ mô này nhằm che lấp vấn đề cụ thể. Trên thực tế, tranh chấp Biển Đông đã được đa phương hóa, quốc tế hóa từ rất lâu rồi, hơn nữa sẽ rất nhanh tiến đến giai đoạn "chính trị hóa đại quốc" trong thời gian tới. Trung Quốc chỉ là không dám thừa nhận sự thực hiển hiện ra trước mắt này mà thôi.

Thứ ba, nếu tình hình vẫn tiếp diễn như vậy, Trung Quốc sẽ bị ràng buộc để cuối cùng rơi vào tình trạng mất chủ quyền trong cuộc chiến.

Như đã đề cập ở phần trên, từ năm ngoái cho đến năm nay, chính sách Biển Đông của Trung Quốc về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, mà chủ yếu chỉ là một số hành động mang tính chất phản ứng lại. Thế nhưng cho đến thời điểm này, bất cứ nước nào cũng đều cho rằng Trung Quốc chính là nguyên nhân phát sinh của mọi vấn đề. Tình hình thực tế là, các nước khác có liên quan vẫn đang xúc tiến các hoạt động và hành động trong khu vực tranh chấp Biển Đông, đặc biệt là trong việc phát triển nguồn năng lượng.

Trung Quốc chìm đắm trong "giấc mộng".

Đã nhiều năm nay, trong vấn đề tranh chấp Biển Đông (cũng như trong nhiều vấn đề khác), Trung Quốc dường như luôn sống trong "giấc mộng" mà chính bản thân họ tự vạch ra. Nhìn từ góc độ chiến lược, Trung Quốc không phải là không có cơ hội để chiếm ưu thế trong vấn đề Biển Đông này, mà thay vào đó lại tự động vứt bỏ những ưu thế đáng lẽ họ chiếm được ... Điều đáng tiếc là, những hành động của TQ không những không chiếm được sự đồng cảm của các nước liên quan đến tranh chấp mà cuối cùng dẫn đến kết quả hoàn toàn ngược lại, gây tổn hại cho chính lợi ích quốc gia của mình.

Vậy thì, kết quả cuối cùng sẽ như thế nào đây? Trung Quốc liệu sẽ từ bỏ chăng? Trong giới báo chí truyền thông vô cùng phát triển như ngày hôm nay, phạm vi xu hướng thỏa hiệp mà các nhà cầm quyền có thể áp dụng được ngày một nhỏ,càng không cần nói đến chuyện từ bỏ. Nếu tình hình này vẫn cứ tiếp diễn thì cuối cùng chắc chắn sẽ dẫn đến các cuộc xung đột xảy ra.Tuy nhiên xung đột trong thời gian này sẽ vô cùng bất lợi đối với Trung Quốc.

Vấn đề đã xuất hiện rồi, thì phái có cách đối phó lại. Nhiệm vụ đầu tiên cần phải làm là tìm hiểu rõ tại sao lại xuất hiện tình trạng như vậy? Ngoài các vấn đề xuất phát từ chính bản thân Trung Quốc thì còn có một số nguyên nhân quan trọng khác nữa. Đối với các nước có liên quan mà nói thì đây là sản phẩm phát sinh từ "môi trường quốc tế" và "môi trường nội bộ".

Đầu tiên đề cập đến môi trường quốc tế. Đối với các quốc gia có liên quan thì nhân tố quan trọng nhất trong môi trường quốc tế không thể không nhắc đến sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc và kéo théo sau đó là hiện đại hóa nền quốc phòng, quân sự cũng như từ đó tác động đến cục diện địa chính trị của toàn bộ khu vực Châu Á. Các quốc gia có liên quan đã bắt đầu cảm thấy rằng thời gian không còn đứng về phía họ nữa. Mặc dù Trung Quốc luôn nhấn mạnh về sự "trỗi dậy hòa bình" của mình, thế nhưng họ lại bị coi là đã áp dụng chính sách chậm trễ kéo dài thời gian trong vấn đề Biển Đông nhằm chờ thời cơ cho đến khi tình hình quốc tế thuận lợi sẽ ra tay giải quyết tranh chấp. Do vậy, đối với các quốc gia có liên quan thì vấn đề Biển Đông bắt buộc phải được giải quyết theo hướng có lợi cho họ trước khi Trung Quốc thực sự trỗi dậy, nếu không, đợi cho đến khi Trung Quốc đã trỗi dậy rồi, tia hy vọng sẽ trở nên vô cùng mong manh. Cũng chính vì thế, bắt buộc phải thông qua bất cứ biện pháp nào để đẩy mạnh hành động, hối thúc phát triển theo khuynh hướng có lợi cho bản thân họ.

Đối với Trung Quốc mà nói, môi trường các nước lớn chủ yếu đề cập đến những biến đổi chính trị trong phạm vi giữa các nước này, đặc biệt là biến đổi trong mối quan hệ với các nước lớn như Mỹ. Trong vấn đề Biển Đông, không quản có muốn hay không thì Trung Quốc chắc chắn vẫn phải đối mặt với Mỹ. Thế nhưng trong quan hệ hai nước Trung-Mỹ thì dù Trung Quốc đã hao tâm tổn trí rất nhiều nhưng vẫn không biết nên làm như thế nào để có thể hòa nhập được cùng Mỹ, đặc biệt là mối quan hệ với Mỹ trong khu vực Châu Á. Rất nhiều người đã từng nghĩ rằng mục tiêu chủ yếu của Mỹ trong sự hiện diện tại Châu Á này là nhằm đối phó với Trung Quốc, thế nhưng trên thực tế lại không hề đơn giản như vậy. Lý do Mỹ tồn tại ở khu vực Châu Á không chỉ để đối phó với riêng một Trung Quốc, mà còn liên quan đến vấn đề địa chính trị khác. Ví dụ, nếu không có nhân tố Trung Quốc thì Mỹ vẫn đương nhiên tìm ra được lý do để tạo ra không gian sinh tồn tại Châu Á. Bất luận là khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á hay Nam Á, mối quan hệ phức tạp đan xen giữa các nước đều cần có sự hỗ trợ sức mạnh của Mỹ để cân bằng lực lượng.

(Còn nữa)

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2141-2141
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #297 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2011, 12:15:04 am »

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng (Tiếp theo)


Trung Quốc không tạo dựng không gian cho Mỹ.

Rất nhiều các quốc gia Châu Á đều cần sự hiện diện của Mỹ chính là do kết quả không hành động của Trung Quốc. Ví dụ, trong vấn đề Triều Tiên thì ngoài Triều Tiên ra, hầu hết tất cả các nước Châu Á đều bất mãn với cách hành xử của Trung Quốc. Tất nhiên là cũng có những điểm khó xử riêng nhưng không thể vì thế mà chứng minh rằng cách hành xử của Trung Quốc là hợp lý được. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản thường xuyên liệt vào trạng thái căng thẳng. Hiện nay cùng với sự trỗi dậy của Ấn Độ thì mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng hàm chứa rất nhiều những nhân tố không xác định. Mặc dù Trung Quốc và các nước khu vực Châu Á luôn có các lĩnh vực hợp tác chung, thế nhưng những cuộc xung đột dường như phát sinh ngày một phức tạp hơn. Dù thế nào đi chăng nữa, trong việc giải quyết các vấn đề khu vực Châu Á thì Mỹ vẫn là quốc gia duy nhất đã từng nhiều lần thông qua các cuộc trải nghiệm, hơn nữa, tính quan trọng của nhân tố Trung Quốc mặc dù ngày một tăng lên nhưng chưa hề thông qua bất kỳ một cuộc trải nghiệm nào cả. Trong bối cảnh như vậy, Mỹ vẫn chính là môt quốc gia đạt mức độ tin tưởng và được dựa dẫm cao nhất. Điều này cũng được thể hiện trong vấn đề Biển Đông, những nước có liên quan hy vọng có sự can thiệp của Mỹ tại khu vực xảy ra tranh chấp này, nhằm nâng cao tính chắc chắn của họ trong vấn đề Biển Đông. Chính vì thế mà dẫn tới xu thế "chính trị hóa đại quốc"...

Ở đây còn có môi trường nội bộ của chính bản thân Trung Quốc. Phiên họp Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ mười tám sẽ được tổ chức vào năm sau. Trong thời gian này, nhiệm vụ chính của chính quyền Trung Quốc là giải quyết công việc nội bộ, sự ổn định sẽ trấn áp tất cả mọi vấn đề khác. Có một số quốc gia phán đoán rằng trong thời kỳ này thì Trung Quốc sẽ không thể đưa ra những điều chỉnh lớn nào về chính sách đối ngoại được cả. Điều này cũng có nghĩa rằng, trước khi một thế hệ lãnh đạo mới được thành lập, Trung Quốc sẽ không thể có chính sách mới và quan trọng nào trong lĩnh vực ngoại giao, hay nói rằng phần lớn các chính sách đối ngoại được đưa ra tất nhiên đều mang tính chất phản ứng là chủ yếu. Cách phán đoán này khiến cho các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ nhận thấy rằng đây là cơ hội để tiến hành áp dụng những phương pháp triệt để hơn cho họ.

Trung Quốc sẽ làm gì khi đối mặt với tình thế hiện tại này? Được coi là một quốc gia lớn đang trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc chắc chắn sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các vấn đề về khu vực. Tình thế tại Biển Đông đối với Trung Quốc mà nói, mặc dù "ngày thế giới tận thế" vẫn còn cách xa vô cùng, nhưng họ bắt buộc phải thay đổi tính bị động đã tồn tại cho đến thời điểm hiện tại này để chuyển sang tính chủ động hơn. Điều đặc biệt quan trọng phải nói đến rằng, vấn đề hiện nay của Trung Quốc không phải là vấn đề về nguồn tài nguyên, mà là chiến lược, chính sách và cách huy động nguồn lực. Đơn giản mà nói chính là vấn đề về đường lối tư duy của Trung Quốc. Trong tranh chấp “Nam Hải” (Biển Đông), Trung Quốc phải có một đường lối tư duy rõ ràng, minh bạch.

Cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc.

Khi đề cập đến đường lối tư duy mới thì cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc. Vấn đề cốt lõi trong đường lối tư duy truyền thống của Trung Quốc chính là phản đối "quốc tế hóa" trong trannh chấp Biển Đông. Xét trên cơ sở lý thuyết, điều này đương nhiên là không sai. Nhưng vấn đề phát sinh nằm ở chỗ khái niệm đưa ra này không những không miêu tả được tình huống khách quan của quá trình tranh chấp Biển Đông mà lại càng khó khăn hơn khi áp dụng đường lối tư duy này để có thể tìm ra được biện pháp giải quyết. Điều này liên quan đến nhiều cấp độ bên trong các vấn đề chính.

Thứ nhất là chủ nghĩa song phương. Trung Quốc yêu sách gác tranh chấp chủ quyền cùng khai thác chung. Thế nhưng cho đến nay chính sách này vẫn chỉ dừng lại ở trạng thái khẩu hiệu, lý thuyết suông. Để có được mối quan hệ với các nước ASEAN, bản thân Trung Quốc không hề có kế hoạch khai thác Biển Đông nào cả, mà ngược lại chính là các nước có liên quan trong những năm gần đây tiến hành tăng cường khai thác. Thế nhưng Trung Quốc không phải đề xuất ra chủ trương cùng khai thác chung, mà chính xác phải nói là chủ trương khai thác đơn phương. Trong vấn đề cùng khai thác chung, các quốc gia có liên quan hoặc là không tự nguyện hoặc là tinh thần tự nguyện không cao. Hay nói toạc ra thì Trung Quốc không có đủ sức mạnh cũng như cơ chế quyền lực để thúc đẩy các quốc gia có liên quan công nhận và đi đến chấp nhận yêu sách cùng khai thác chung mà Trung Quốc đã đề xuất.

Thứ hai là chủ nghĩa đa phương, chính là mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ASAEN. Vấn đề tranh chấp Biển Đông chủ yếu biểu hiện trong "Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông” mà Trung Quốc cũng đã ký kết. Thế nhưng văn bản này lại không mang bất cứ tính chất ràng buộc pháp lý nào. Văn bản tuy đã được ký kết rất nhiều năm qua nhưng không có bất cứ một quốc gia nào đạt hiệu quả trong việc thúc đẩy cho văn bản trở thành một tài liệu mang tính ràng buộc pháp lý được. Nên nói rằng chính bản thân Trung Quốc cũng không nỗ lực thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình trong đó. Điều quan trọng của vấn đề nằm ở chỗ Trung Quốc vẫn tuân thủ chủ nghĩa song phương và phản đối đa phương hóa trong tranh chấp Biển Đông. Thế nhưng bản chất thực sự của rất nhiều vấn đề trong tranh chấp Biển Đông lại là đa phương, cho nên việc phản đối chính sách đa phương hóa đã thể hiện rõ thái độ của Trung Quốc không dám đối mặt với sự thực này.

Thứ ba là quốc tế hóa. Các quốc gia có liên quan đã đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông giao phó cho Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế. Trung Quốc tỏ ý không chấp nhận cho lắm, bởi vì nếu cầu cứu đến Liên Hợp Quốc hoặc các tổ chức quốc tế thì khả năng bại trận của Trung Quốc sẽ lớn hơn cơ hội chiến thắng rất rất nhiều lần. Như đã thảo luận trong phần trên, Trung Quốc đã thua trận trong cuộc chiến công luận quốc tế rồi, sẽ không còn bao nhiêu người có thể thông cảm cho lập trường của Trung Quốc được nữa.

Thứ tư là chính trị hóa đại quốc. Các quốc gia có liên quan trong khu vực Đông Nam Á hy vọng sẽ có sự can thiệp của Mỹ tại đây, điều này là dễ hiểu. Thế nhưng mức độ can thiệp của Mỹ sẽ sâu nông như thế nào thì còn phải xem lợi ích quốc gia của chính họ trong vấn đề này. Nhân tố Mỹ trong khu vực Đông Nam Á đã luôn tồn tại từ trước tới nay, hay nói cách khác Mỹ đã luôn là một bộ phận cấu thành trong cấu trúc khu vực này. Trên thực tế, lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á này còn thâm căn cố đế hơn nhiều so với lợi ích của Trung Quốc. Ngay từ thời kỳ khi mới bắt đầu chiến tranh lạnh thì Mỹ đã không ngừng thiết lập mối quan hệ với các nước trong khối ASEAN, còn Trung Quốc chỉ mãi cho đến sau thời kỳ cải cách giải phóng đất nước mới bắt đầu xây dựng mối quan hệ mang tính thực chất với các nước này. Mối quan hệ giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á là toàn diện trên các lĩnh vực còn Trung Quốc thì chủ yếu chỉ dựa trên lĩnh vực kinh tế, còn những lĩnh vực khác mới đang thuộc thời kỳ sơ khai. Do vậy, việc chính quyền Trung Quốc phản đối "chính trị hóa đại quốc" cũng chính là nguyên do khiến cho nước này không nhận ra bản chất thật của vấn đề tranh chấp.

Khi suy ngẫm đến các nhân tố đã được nêu ở phần trên, mọi người sẽ thật dễ dàng để trả lời câu hỏi rằng "Trung Quốc nên đi những bước tiếp theo như thế nào đây?", cũng có thể xem xét đánh giá từ nhiều góc độ như sau.

Trước tiên, Trung Quốc cần đặt mình đứng từ góc độ của các quốc gia láng giềng hoặc các nước có liên quan đến tranh chấp trong vấn đề Biển Đông để suy xét vấn đề. Trong suốt thời gian dài đến nay, chính quyền Trung Quốc luôn tuyên truyền lập trường với những nguyện vọng tốt đẹp của họ ra thế giới trong và ngoài nước, ví dụ như những khái niệm gọi là "trỗi dậy hòa bình", "phát triển hòa bình" và "láng giềng tốt", v.v... Những điều này rất quan trọng nhưng không bao giờ có thể coi là đủ được cả, bởi vì chính Trung Quốc đã coi nhẹ cách nhìn nhận của các nước xung quanh đối với sự trỗi dậy của họ như thế nào, hay mối quan tâm của các nước đó ra sao trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ cho đến khi thấu hiểu được mối lo lắng của các nước láng giềng này rồi, thì Trung Quốc mới hoạch định ra những chính sách thiết thực có hiệu quả được. Nếu không, không quan tâm nguyện vọng của Trung Quốc có như thế nào đi chăng nữa, hay đại loại giống như những khái niệm gọi tương tự như là "sự trỗi dậy hòa bình" v.v... thì cuối cùng vẫn biến thành những lời Trung Quốc tự nói và tự nghe.

Thứ hai, Trung Quốc bắt buộc phải phân định rõ ràng giữa vấn đề an ninh hàng hải và tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Mối quan tâm của cộng đồng quốc tế đặc biệt là Mỹ nói riêng chính là vấn đề an ninh hàng hải, việc Mỹ can thiệp vào vấn đề Biển Đông cũng chính xuất phát từ căn nguyên này ra. Đối với vấn đề này, Trung Quốc cần căn cứ vào tình hình thực tế, thừa nhận và nhấn mạnh rằng an ninh hàng hải là mối quan tâm của tất cả các bên tham gia, đồng thời cũng là trách nhiệm của tất cả các bên. Trung Quốc phải tình nguyện gánh vác trách nhiệm này cùng với các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ hay các quốc gia ASEAN. Trên thực tế, vấn đề an ninh hàng hải quốc tế vẫn luôn do Mỹ đảm nhiệm từ trước tới nay. Mặc dù Trung Quốc đã bắt đầu có năng lực và sức mạnh trong vấn đề này, thế nhưng khả năng gánh vác được trách nhiệm thì vẫn còn quá là xa vời đối với chính họ, cho dù chỉ là vấn đề liên quan đến an ninh hàng hải trong khu vực mà thôi. Trong lĩnh vực này, hai nước Trung, Mỹ có không gian để có thể hợp tác cùng với nhau rất lớn, mà sự hợp tác như vậy cũng phù hợp với lợi ích quốc gia của chính bản thân Trung Quốc. (Đương nhiên ở đây đề cập đến một vấn đề còn cơ bản hơn, đó là việc Trung-Mỹ sẽ hợp tác như thế nào để xây dựng nên hệ thống an ninh trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Mà điều này đòi hỏi thể hiện trong một bài lập luận khác biệt nữa).

Quản lý và kiểm soát sẽ chính là các lựa chọn.

Thứ ba, một cấp bậc tiếp theo nữa là mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể khối ASEAN. Việt Nam, Philippin, Malaysia và Bruney là những nước thành viên ASEAN có tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ đối với một số đảo trên Biển Đông. Điều này quyết định đến sự cân nhắc của Trung Quốc về lợi ích tổng thể của khối ASEAN cũng như mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể ASEAN. Mặc dù cho tới thời điểm hiện tại, Trung Quốc không sẵn sàng chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thế nhưng cuối cùng thì họ bất đắc dĩ cũng phải thừa nhận, hơn nữa sự chấp nhận này càng sớm bao nhiêu thì sẽ càng có lợi cho Trung Quốc bấy nhiêu. Hãy giả thiết một chút rằng, nếu như "Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông" ngay từ những năm trước đã có tính ràng buộc pháp lý rồi thì cục diện Biển Đông sẽ không đến nỗi phát triển như thời điểm hiện tại thế này. Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu Trung Quốc chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thì "Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông" sẽ vẫn là một lối vào đầy thuận tiện.

Thứ tư, một cấp bậc cuối cùng là nên đối diện với vấn đề tranh chấp chủ quyền như thế nào. Đây là vấn đề vô cùng thiết yếu, Trung Quốc nên từ bỏ chủ nghĩa song phương truyền thống và chấp nhận chủ nghĩa song phương mới, cũng có nghĩa là một chủ nghĩa song phương mới nằm trong cấu trúc của chủ nghĩa đa phương. Điều này nói lên rằng, Trung Quốc và các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ có thể tiến hành các cuộc họp thảo luận song phương dưới hình thức cấu trúc đa phương giữa Trung Quốc và ASEAN khi bàn bạc nghiên cứu về vấn đề Biển Đông. Dưới hình thức cấu trúc đa phương như vậy, các quốc gia không liên quan đến tranh chấp Biển Đông sẽ không tỏ rõ thái độ ủng hộ đối với bất cứ một bên nào, lập trường trung lập sẽ là lợi ích lớn nhất của tất cả các bên. Đồng thời khuôn khổ này cũng tạo động lực lớn giúp cho các nước có liên quan đến tranh chấp có thể tiến hành thương lượng thảo luận với Trung Quốc.

Vấn đề Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp gay gắt. Muốn một bước giải quyết nhanh gọn vấn đề này là không điều không thể xảy ra được. Nếu không giải quyết được vấn đề tồn tại, thì phương án quản lý và kiểm soát sẽ trở thành những cách lựa chọn hợp lý. Nhưng muốn quản lý và kiểm soát được vấn đề tranh chấp Biển Đông thì cần bắt buộc phát triển một loạt các cơ chế pháp lý. Mặc dù Trung Quốc hiện nay đang nằm trong tình thế bị động, thế nhưng không gian mà Trung Quốc có thể hoạt động được lại vô cùng lớn. Là một quốc gia lớn có trách nhiệm thì Trung Quốc cũng nên tìm kiếm các giải pháp để quản lý và kiểm soát vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bắt đầu ngay từ trong bối cảnh khu vực thậm chí mở rộng ra quốc tế. Nếu Trung Quốc không thể thay đổi đường lối tư duy truyền thống một cách có hiệu quả thì không gian hoạt động của Trung Quốc trong vấn đề này sẽ ngày càng bị thu hẹp nhỏ lại.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/2141-2141
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Một, 2011, 12:22:47 am gửi bởi Mig21Bis_1 » Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #298 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2011, 10:59:45 am »

Ngoại giao thương mại và đối đầu Mỹ - Trung tại Biển Đông

Trong lúc có những bài báo lên gân đe doạ dùng vũ lực, thì báo chí Trung Quốc cũng xuất hiện những bài báo điềm tĩnh khuyên nên tỉnh táo, kiên nhẫn và hoà hoãn về vấn đề Biển Đông…

Thời báo Hoàn Cầu, một ấn phẩm của Nhân dân Nhật báo (Trung Quốc) số ra mới đây đăng bài “Kiên nhẫn và hòa hoãn sẽ tiếp tục phục vụ chiến lược của chúng ta”. Tác giả, một giám đốc tại Viện Nghiên cứu Phát triển Liên Vân Cảng ở Giang Tô, cũng có thể là một yếu nhân khác trong chính quyền Trung Quốc. Bài viết này mang nội dung hết sức hòa hoãn, nhận định rằng Mỹ hoàn toàn có năng lực hình thành một liên minh chống Bắc Kinh giữa các nước láng giềng của Trung Quốc mà quyền lợi bị tranh chấp chủ quyền đe dọa. Tác giả cho rằng các ý kiến đe doạ dùng vũ lực về vấn đề Biển Đông chỉ có lợi cho Mỹ mà thôi. Theo tác giả bài báo, các lãnh đạo Trung Quốc nên hiểu rằng ảnh hưởng trên nước khác “không thể đạt được nhờ xâm lược, mà là thông qua sự thận trọng và khôn ngoan”.

Tranh chấp Biển Đông không ảnh hưởng ngoại giao thương mại

Mạng Tin tức Trung Quốc đăng bài viết về quan hệ ASEAN – Trung Quốc với tựa đề “Tranh chấp Biển Đông không ảnh hưởng tới quan hệ hợp tác mậu dịch song phương”.

Bài báo cho rằng Hội chợ Triển lãm ASEAN - TQ (CAEXPO) lần thứ 8, diễn đàn hợp tác quan trọng giữa Trung Quốc và ASEAN bắt đầu diễn ra từ ngày 21-26/10 tại Nam Ninh, Quảng Tây. Trong tình hình cục diện Biển Đông diễn biến ngày một phức tạp, quan hệ hợp tác mậu dịch giữa Trung Quốc và ASEAN liệu có tiếp tục phát triển theo chiều hướng tốt đẹp là điều đang được các nước bên ngoài hết sức quan tâm.

 

Trung Quốc đẩy mạnh thăm dò khai thác độ sâu Biển Đông

Theo cựu Đại sứ Trung Quốc tại Philippines Quan Đăng Minh, Trung Quốc và các nước láng giềng ASEAN đang duy trì quan hệ song phương và đa phương ổn định, trong đó lợi ích từ việc hợp tác kinh tế mậu dịch lớn hơn rất nhiều so với tranh chấp trên biển. Bởi vậy không nên quá lo lắng về việc đại cục quan hệ hợp tác sẽ bị “nhiễu” hoặc chịu tác động mạnh.

Ông này cho rằng, tính phức tạp của vấn đề Biển Đông chủ yếu là ở chỗ có sự can dự của Mỹ, thêm vào đó là việc một vài nước khác đang có ý đồ lợi dụng sự chia rẽ trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN để thừa cơ trục lợi.

Kim ngạch mậu dịch ASEAN – Trung Quốc đã tăng gần 4 lần trong thời gian 8 năm qua, từ 78,2 tỷ USD năm 2003 lên 292,8 tỷ USD vào cuối năm 2010.

Đối đầu Mỹ-Trung tại Biển Đông?

Trang mạng BBC mới đây đã đăng bài phân tích của tác giả Abraham Zamorano, liên quan đến thỏa thuận vừa qua giữa Việt Nam và Trung Quốc về Biển Đông. Bài báo viết Bắc Kinh và Hà Nội vừa cam kết đảm bảo hòa bình tại Biển Đông, với những lời lẽ tốt đẹp nhưng rất khó trở thành hiện thực trong một khu vực hội đủ các yếu tố có thể châm ngòi kho thuốc nổ địa chính trị thế giới nay mai. Và đây sẽ là nơi diễn ra sự đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ.

Theo nhà phân tích Robert D. Kaplan, thế kỷ XXI có thể sẽ đánh dấu sự đụng độ về quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ tại khu vực Biển Đông. Nếu đó không phải là một cuộc chiến với qui mô lớn, thì cũng sẽ là một loạt cuộc chiến tranh lạnh. Cuộc chiến giành vị thế trong khu vực không nhất thiết phải sử dụng giao tranh. Phương ngôn Trung Quốc có câu: “Người chinh phục vĩ đại nhất chính là người chiến thắng kẻ thù không cần một quả đấm”. Bắc Kinh là như vậy, tạm thời, họ áp dụng cái gọi là ngoại giao thương mại, tức là thắt chặt mối quan hệ kinh tế và luôn miệng tuyên bố rằng “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”. Thỏa thuận vừa ký với Việt Nam là nằm trong định hướng đó.

Mặt khác, Trung Quốc đang khẩn trương cho một cuộc chạy đua hiện đại hóa công nghệ-vũ khí. Việc hạ thủy tàu sân bay đầu tiên, các cuộc bay thử của chiếc máy bay tàng hình là một vài ví dụ. Đồng nhất với quan điểm trên, giám đốc cơ quan Giám sát về Chính sách Trung Quốc của Tây Ban Nha, ông Xulio Rios cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc với tư cách một bên tham gia quốc tế là một vấn đề thách thức đối với Mỹ, bởi điều này có thể dẫn đến tranh chấp quyền lực bá chủ của họ trên phạm vi toàn cầu. Trong khi đó, Mỹ, mặc dù có lần tuyên bố rõ Biển Đông là khu vực “lợi ích quốc gia”, vẫn kêu gọi bất kỳ cuộc tranh chấp nào cũng cần được giải quyết bằng con đường đối thoại

Philippines và Mỹ tiến hành tập trận tăng cường phối hợp tác chiến trên Biển Đông.

Bắc Kinh luôn khẳng định sẽ giải quyết bằng con đường hòa bình các mối quan hệ quốc tế. Song, việc ráo riết đầu tư cho kho vũ khí của họ không ngoài mục đích đang nhắm tới ý nghĩa sâu xa trong câu thành ngữ Latinh nổi tiếng “Si vis pacem, para bellum” (Nếu ngươi muốn hòa bình, thì hãy chuẩn bị chiến tranh). Một ví dụ mà ông Kaplan đưa ra là việc Trung Quốc đầu tư khá lớn cho tàu ngầm kể cả loại chạy bằng diezel và tàu ngầm hạt nhân. “Đây là một dấu hiệu cho thấy họ không chỉ nhằm bảo vệ các bờ biển của họ, mà còn muốn bành trướng ảnh hưởng xa hơn nữa trong khu vực Thái Bình Dương”.

Theo giới phân tích, khởi chiến với Trung Quốc là điều khá dễ và có trăm nghìn lý do để châm ngòi thùng thuốc nổ, không chỉ vấn đề liên quan đến Đài Loan. Song, vấn đề đặt ra là sẽ kết thúc cuộc chiến đó như thế nào với cường quốc có trên 1,3 tỉ dân này? Mặt khác, Trung Quốc có nhiều lý do để không muốn bùng nổ một cuộc đụng độ vũ trang với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Dù nguồn lợi về buôn bán có lớn đến đâu, nếu các cuộc tranh chấp hải đảo giữa Trung Quốc và Việt Nam tăng lên tới mức độ nguy hiểm, thì Mỹ sẽ không thể tránh khỏi rơi vào một tình huống hết sức phức tạp. Và không ai nghĩ rằng sau những biến cố có tính nhạy cảm trong quan hệ hai nước, giờ đây Trung Quốc và Việt Nam đang bắt tay nhau để cùng chia sẻ nguồn dầu khí trong khu vực. Thỏa thuận song phương vừa ký kết có thể là một điểm xuất phát đầy hứa hẹn./.

Nguồn: http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/O-Cua-Chau-A/Ngoai-Giao-Thuong-Mai-Va-Doi-Dau-My-Trung-Tai-Bien-Dong.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #299 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2011, 09:38:20 am »

Ngư dân phải được đối xử trên biển với tinh thần nhân đạo


Đó là một trong những quan điểm của Trung tướng Phạm Đức Lĩnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát biển VN, đưa ra tại Hội nghị những người đứng đầu cảnh sát biển các nước châu Á lần thứ 7 (HACGAM 7) diễn ra ngày 27-10 ở Hà Nội. Hội nghị có sự tham dự của 18 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Á.

Trung tướng Phạm Đức Lĩnh cho rằng về nguyên tắc, không những ngư dân mà công dân VN hoạt động trên biển có thể vô ý hoặc cố ý vi phạm thì sẽ xử lý theo pháp luật. Tuy nhiên, dựa trên tinh thần thương lượng hòa bình và trên luật pháp quốc tế về biển, các nước thống nhất không nên dùng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực đối với ngư dân và công dân vi phạm pháp luật trên biển. Đồng thời, các nước phải đối xử với ngư dân trên tinh thần nhân đạo.

Nguồn: http://phapluattp.vn/20111028122626446p0c1013/ngu-dan-phai-duoc-doi-xu-tren-bien-voi-tinh-than-nhan-dao.htm
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM