Biển Đông: Lá bài chiến lược của Ấn Độ
Về mặt an ninh và năng lượng, Biển Đông không phải là ưu tiên hàng đầu đối với Ấn Độ, nhưng khi gắn kết về sự thay đổi về môi trường quốc tế hiện tại (Mỹ suy yếu tương đối, Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, châu Âu khủng hoảng…) kết hợp với ý định mở rộng ảnh hưởng tại Ấn Độ Dương, Nam Á để kiềm chế Ấn Độ thì Biển Đông sẽ là con bài chiến lược quan trọng đối với Ấn Độ trong cuộc chơi quyền lực với Trung Quốc.
Sự thay đổi trong cách tiếp cận Biển Đông của Ấn Độ gần đây không hoàn toàn đến từ những lời khuyến khích hoa mỹ và to tát nhất của Hoa Kỳ đại loại như Ấn Độ là đối trọng với Trung Quốc, hay như lãnh đạo chính trị và có vai trò mạnh mẽ hơn ở châu Á – Thái Bình Dương…Nguyên nhân chủ yếu chính là hành động kiềm chế mà Trung Quốc đang thực hiện đối với Ấn Độ.
Là hai quốc gia lớn tại khu vực cũng như trên thế giới, và cũng là hai quốc gia có mối quan hệ phức tạp kéo dài đến tận ngày nay. Trung Quốc với chính sách bành trướng, thậm chí là ngạo mạn luôn thực hiện chính sách kìm chế Ấn Độ bằng nhiều phương thức, chính sách khác nhau, và chúng được thực hiện xuyên suốt trong quá trình lịch sử.
Cuộc chiến chớp nhoáng năm 1962 Trung Quốc tiến hành đối với Ấn Độ với khẩu hiệu “Dạy cho một bài học” về khía cạnh nào đó đã thực sự tác động, hay đúng hơn là Trung Quốc đã dạy cho Ấn Độ một bài học đúng như khẩu hiệu. Thứ nhất, trong cuộc xung đột này, gần như mọi ngóc ngách, sự bố trí cũng như đường đi nước bước của quân đội Ấn Độ đã bị Trung Quốc nắm rõ như lòng bàn tay. Thất bại này là nỗi tủi hổ đối với Ấn Độ, thậm chí là nó tạo ra thái độ e dè đối với Trung Quốc cho đến tận ngày nay. Ấn Độ trong con mắt của Trung Quốc chỉ là một cái nhìn coi thường, là kẻ chiếu dưới. Điều này càng khiến cho Ấn Độ bức bối và thậm chí là nuôi hận. Bức bối và hận thù đã khiến cho Trung Quốc trở thành nỗi ám ảnh, là căn bệnh kinh niên đối với Ấn Độ. Thứ hai, qua cuộc chiến này Ấn Độ rõ ràng đã rút ra bài học xương máu cho mình, đó là phải phát triển mạnh về quân sự đủ sức răn đe, luôn luôn đề phòng ông bạn láng giềng, mở rộng các mối quan hệ tạo tư thế răn đe.
Hiện nay, các mối đe dọa chủ yếu về an ninh đối với Ấn Độ là sự xói mòn ảnh hưởng chính trị tại khu vực; ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng gia tăng ở khu vực. Bởi vậy những cách tiếp cận của Trung Quốc gần đây đối với khu vực này đã khiến cho Ấn Độ đang hết sức lo ngại : những ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại các nước láng giềng như Bangladesh và Myanmar, mối quan hệ tiếp tục gần gũi với Pakistan, cũng như việc Trung Quốc xây dựng thiết bị nhạy cảm tại Ấn Độ Dương (căn cứ và cảng quân sự tại Myanmar và Pakistan). Đặc biệt liên quan đến Pakistan, việc Trung Quốc đã giúp đỡ xây dựng cho Pakistan hai lò phản ứng plutonium từ những năm 70, điều này tạo điều kiện thu nhỏ các đầu đạn hạt nhân và việc triển khai các vũ khí hạt nhân chiến thuật, những loại vũ khí được quân đội Pakistan sử dụng trên chiến trường mà sẽ đặt ra cho Ấn Độ nhiều vấn đề nghiêm trọng trong việc trả đũa nếu Delhi sở hữu những vũ khí nguy hiểm nhưng không cân xứng với Pakistan. Sự lo lắng ngày một tăng khi mối quan hệ giữa Trung Quốc và Pakistan đang ngày càng phát triển, trở thành những đồng minh “trong mọi thời tiết” của nhau. Trung Quốc đang trong quá trình cung cấp 4 tàu hộ tống F-22 và hàng chục máy bay chiến đấu hiện đại JF-17 cho Ixlamabát. PLA hiện cũng đã triển khai khoảng 1.000 quân ở vùng Kashmir do Pakixtan kiểm soát để nâng cấp hệ thống đường Karakoram và mở rộng tuyến đường này tới các cảng ở Thành phố Karachi, Gwadar và Bin Qassim của Pakixtan. Một khi được hoàn thành, dự án này không những cho phép Trung Quốc có được chiều sâu chiến lược tại Pakixtan, mà còn tạo điều kiện cho PLA kiếm soát được Vịnh Pécxích. Bên cạnh đó, Trung Quốc không ngừng gia tăng đầu tư về kinh tế bao vây Ấn Độ, hay như việc chưa đồng ý với nguyện vọng của Ấn Độ muốn trở thành thành viên thường trực HĐBA - một địa vị ngang bằng với Trung Quốc cho thấy chính sách kiềm chế, bao vây Ấn Độ trên mọi mặt trận
Trung Quốc là quốc gia có đường biên giới trên bộ tiếp giáp với nhiều quốc gia, Trung Quốc đã giải quyết những tranh chấp với tất cả ngoại trừ Ấn Độ. Những va chạm, xích mích, phô trương dọc biên giới hai bên vẫn thường xuyên xảy ra. Thời gian gần đây, quan chức chính phủ, báo chí Ấn Độ không ngớt phàn nàn về những vụ xâm phạm biên giới ngày càng leo thang từ phía Trung Quốc. Về những vụ xâm phạm biên giới, quân đội Ấn Độ đã ghi lại được 270 vụ xâm phạm biên giới và gần 2.300 trường hợp “tuần tra biên giới mang tính gây hấn” do Trung Quốc thực hiện năm 2008. Vào tháng 5/2011, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K Antony, Cố vấn An ninh Quốc gia Menon, đã cảnh báo đến Thủ tướng Manmohan Singh về nguy cơ đối với đất nước, trong bản báo cáo, Bộ trưởng A.K Antony cho rằng Trung Quốc hiện có khả năng triển khai hơn nửa triệu quân dọc Tuyến kiểm soát thực tế (LAC) trong một tháng khi có mối nguy cơ đe dọa cao từ Ấn Độ, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) hiện đã có khả năng triển khai 34 sư đoàn (mỗi sư đoàn có 23.000 lính) dọc LAC bằng cách điều quân đội từ các quân khu Chengdu và Lanzhou. Trong khi đó, quân đội Ấn Độ chỉ triển khai 9 sư đoàn dọc biên giới phía Bắc.
Không thể phủ nhận những chính sách hành động trên đang gây ra những mối lo ngại không những giới cầm quyền Ấn Độ, mà nó đã tác động đến cả những học giả và người dân. Năm 2009, Bharat Verma, một lãnh đạo trong quân đội và biên tập viên của tờ báo danh tiếng Indian Defense Review, đã tuyên bố rằng “Trung Quốc sẽ tấn công Ấn Độ trước năm 2012… để dạy cho Ấn Độ bài học cuối cùng, từ đó khẳng định uy thế của Trung Quốc ở châu Á trong thế kỷ này.”. Theo điều tra độc lập của Trung tâm Nghiên cứu Pew (Mỹ) năm 2010 chỉ ra rằng chỉ có 34% người Ấn Độ có quan điểm tốt về Trung Quốc (giảm so với 46% năm 2009), và 4 trong số 10 người được hỏi coi Trung Quốc như “một mối đe doạ rất nghiêm trọng”.
Với những hành động như trên của Trung Quốc, chẳng có lý do gì buộc Ấn Độ phải “đứng im chịu trận”. Rõ ràng họ cần phải hành động trước khi quá muộn.
Ấn Độ hành độngChính sách kiềm chế của Trung Quốc đối với Ấn Độ tập trung vào các quốc gia láng giềng và những quốc gia có những xích mích với Ấn Độ. Đáp lại, Ấn Độ cũng sẽ có những hành động tương tự đối với Trung Quốc. Những tranh chấp giữa Trung Quốc với các quốc gia láng giềng tại Biển Đông và Hoa Đông sẽ được Ấn Độ tận dụng, điều này là động lực thôi thúc Ấn Độ đẩy mạnh chính sách “Hướng Đông” của mình.
Bharat Karnad, hiện ở Trung Tâm Nghiên cứu Chính sách, là cựu thành viên của Ban Tham vấn An ninh Quốc gia Ấn Độ (India’s National Security Advisory Board) và tham gia vào việc viết dự thảo đầu tiên của học thuyết hạt nhân Ấn Độ đã kêu gọi “giúp đỡ Việt Nam gia tăng các lực lượng chiến lược của nước này, hợp tác với Đài Loan trong việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích “hòa bình”, và thăm dò các biện pháp chiến lược với Nhật Bản để bóp nghẹt tham vọng bành trướng của Trung Quốc, như sự trả đũa cho việc Trung Quốc giúp đỡ Pakistan”. Trong bối cảnh văn hoá kiềm chế chiến lược của Ấn Độ, chính sách “Hướng Đông” của Ấn Độ mang tính cứng rắn này thể hiện tầm nhìn rộng mở và khá quả quyết trong chính sách Trung Quốc của Ấn Độ. Trong nhiều năm, Ấn Độ và các cường quốc khu vực khác đã kiềm chế tránh công khai đối đầu với Trung Quốc vì sợ rằng sẽ kích động Bắc Kinh. Nhưng tính toán đó đã thay đổi khi Trung Quốc, bằng việc thể hiện sự sẵn sàng chấp nhận nguy cơ leo thang bằng những tuyên bố công khai cứng rắn về đòi hỏi những lợi ích, thậm chí không ngại đối đầu va chạm với Mỹ và các nước khác. Và điều này đã ra hiệu cho công chúng và giới chiến lược Ấn Độ rằng cần phải hành động ngay nếu không sẽ phải trả giá rất nhiều trong tương lai. Và năm 2010 đánh dấu những sự thay đổi lớn về thái độ ở mực công khai của Ấn Độ đối với Trung Quốc.
Bình luận trên tờ Thời báo Ấn Độ (Times of Indian) ngày 7/9/2010, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh nói rằng “người Trung Quốc có sự quyết đoán mới … vì vậy, chúng ta cần thiết phải chuẩn bị,”. Điều này đánh dấu một sự xa rời đáng kể khỏi sự trầm lặng mà đã ngự trị trong các phát ngôn của chính quyền ông về Trung Quốc. Trong Thông cáo cuối cùng về chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tới Ấn Độ vào tháng 12/2010 đã không đề cập đến cụm từ “Một Trung Quốc” (One China) – một sự công nhận và ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Tạng và Đài Loan như các Thông cáo trước vẫn thường nhắc đến. Cột mốc thể hiện bước chuyển trong chính sách can dự Biển Đông là quyết định hợp tác trong lĩnh vực khai thác dầu khí tại Biển Đông giữa Công ty dầu khí quốc doanh Ấn Độ (ONGC) với Việt Nam bất chấp sự phản đối từ phía Trung Quốc. Trong cuộc họp báo của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ nhân chuyến thăm của Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ sang Việt Nam, ông Vishnu Prakash trả lời báo chí về sự phản đối của Trung Quốc đối với dự án khai thác dầu giữa hai nước rằng “Đây là chương trình hợp tác thương mại và kinh tế thiết thực với Việt Nam. Một trong những mặt hợp tác đó là về lĩnh vực năng lượng, hydrocarbons, cũng như năng lượng tái chế. Công ty ONGC Videsh Ltd đã phối hợp với Việt Nam thăm dò dầu khí ngoài khơi trong một thời gian và họ (Việt Nam) đang trong quá trình mở rộng hợp tác và một công ty khác là Essar Oil Ltd cũng đã được cấp phép thăm dò một lô khí đốt tại Việt Nam. Đây (năng lượng) là lĩnh vực hợp tác quan trọng và chúng tôi muốn phát triển việc này. Hợp tác giữa chúng tôi với Việt Nam hay với bất cứ nước nào khác trên thế giới đều tuân thủ luật pháp, quy tắc và công ước quốc tế". Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ nhấn mạnh quan điểm của Ấn Độ về việc "ủng hộ tự do hàng hải tại Biển Đông. Phát biểu của ông Vishnu Prakashn mặc dù không trực tiếp phản đối sự phi lý về yêu sách của Trung Quốc, nhưng rõ ràng nó đã gián tiếp phản đối yêu sách Đường chữ U (Đường lưỡi bò) và ủng hộ yêu sách của Việt Nam khi ông cho rằng “Hợp tác giữa chúng tôi với Việt Nam hay với bất cứ nước nào khác trên thế giới đều tuân thủ luật pháp, quy tắc và công ước quốc tế". Chủ tịch ONGC ông A.K. Hazarika nói rằng “Chúng tôi có kế hoạch khởi động lại việc khoan dầu tại đó [Biển Đông]. Bộ Ngoại giao [Ấn Độ] đã thông tin cho chúng tôi biết rằng lô dầu khí đó hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Việt Nam và vì vậy sẽ không có vấn đề gì trong vấn đề khai thác dầu khí tại đây”. Tuyên bố này của ông A.K. Hazarika mặc dù không thuộc về phát ngôn của chính phủ, nhưng cũng có thể hiểu rằng dự án này đã được chính phủ Ấn Độ hậu thuẫn.
(Còn nữa)Nguồn:
http://nghiencuubiendong.vn/quan-h-quc-t/2174-bin-ong-la-bai-chin-lc-ca-n-