Trăng mười bẩy
Nửa đêm chợt tỉnh, ánh trăng vỡ òa trên mảng rừng thủng đẹp tuyệt vời, chị bồi hồi ngồi dậy, bất giác nhẩm câu đồng dao quen thuộc:
“...Mười sáu thật trăng, mười bẩy xẩy giường chiếu, mười tám rám chấu ...”, đêm nay trăng mười bẩy. Nhìn lại nơi anh chị nằm, lá khô làm giường, manh võng làm chiếu, chị thương anh vô cùng. Khuôn mặt thân thuộc, anh đang thanh thản chìm sâu vào giấc ngủ, sau một ngày hành quân vất vả, sau tất cả sinh lực của người đàn ông anh đã trút hết cho chị, hy vọng một mần sống nẩy sinh.
Đêm nay, đêm thứ ba, một phép mầu đã cho chị được ở bên anh trong đội hình hành quân của tiểu đoàn. Ngày mai chị phải về thôi, phải về thôi, cho dù chị có muốn biến thành con sam để theo anh đến tận cùng trời, cuối đất.
Cưới nhau được mươi ngày, chia tay người vợ trẻ, khoác balo, anh lên đường. Đơn vị của anh đóng quân tận Hà Bắc, một tỉnh trung du miền Bắc xa xôi, với những quả đồi xanh ngăn ngắt bóng bạch đàn.
Thư anh viết, thường kể nhiều về đồng đội. Trung đội anh phụ trách, toàn lính mới trẻ măng. Chúng thông minh và nghịch ngợm vô chừng. Anh coi chúng như lũ em, tận tụy dậy bảo chúng những bài học vỡ lòng đời quân ngũ.
Cha chồng thường giục chị ra thăm anh. Khỏi phải nói, ông mong có một thằng cháu đích tôn đến nhường nào. Đôi mắt nhăn nheo vì tuổi tác và sự từng trải của ông, không giấu nổi nỗi bất an. Ai mà dám nói trước được điều gì, “Trai thời loạn, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi...”Mà, ông cũng sắp sáu chục tuổi rồi, nhìn nhà người ta con đàn, cháu đống lại chạnh lòng.
Nhưng chị vẫn nấn ná mãi chưa đi, chẳng phải ngại đường xá xa xôi, bom đạn ác liệt, mà vì trung đội dân quân pháo phòng không, khó vắng chị nổi một ngày. Từ khi giặc Mỹ ném bom hạn chế miền Bắc, mảnh đất hình cán xoong quê chị không mấy phút bình yên. Đâu phải chị không muốn có một đứa con, một giọt máu của anh mà chị khát khao đến cháy bỏng trong lòng.
Rồi, bỗng chị nhận được thư anh. Lá thư viết vội trên đường hành quân qua quê nhà. Nét chữ như vừa ráo mực. Đơn vị anh đang tiến về phương ấy, phương Nam. Nhẩm tính thời gian, có lẽ anh chưa thể đi xa. Giữa tuần trăng, độ chín trong cơ thể của người phụ nữ khỏe mạnh đang hối thúc chị được làm mẹ. Dừơng như, chị cảm nhận, từng tế bào trong cơ thể, đang nhận chung một thông điệp từ dòng máu nóng chảy tràn đầy trong huyết quản. Cơ hội hiếm hoi được gần anh, không thể để buông trôi. Nếu anh vào phương ấy, biết khi nào.
Tạm gác lại tất cả, chị lên đường. Thân gái dặm trường, với chiếc xe đạp cà tàng, chị cày nát mọi nẻo đường. Anh ở đâu ? Ở đâu?
Đơn vị hành quân bí mật, toàn đường ngang rừng tắt, thời gian thay đổi từng ngày. Lần theo anh như tìm chim giữa đại ngàn.
Nhưng, trời cũng không nỡ phụ lòng người chinh phụ tìm chồng. Đến ngày thứ hai, chị đẫ bắt kịp đội hình hành quân. Nhìn thấy cái dáng cao lớn nổi bật của anh giữa một rừng áo lính, tim chị như thắt lại. Chị muốn hét thật to, thật to gọi tên anh. Nhưng, chỉ có những giọt nước mắt hờn tủi cứ ứa ra không sao kìm lại được. Tai chị ù đi trong tiếng reo hò của đoàn quân. Chiếc áo gụ ướt đẫm mồ hôi lẫn bụi đường, dính chặt vào tấm thân đầy đặn của người phụ nữ trẻ, khiến chị đẹp lạ lùng . Cả đơn vị ngắm chị như ngắm một thiên thần, vừa được thượng đế ban tặng xuống trần gian.
Ngày đầu tiên chị xuất hiện, anh là đề tài của lũ lính tinh quái trêu chọc. Có thằng còn vỗ vào chân anh cười, nói “ Thủ trưởng giữ hai gối cho cẩn thận, đêm còn tiếp tục....hành quân ...Thủ trưởng có thuê gác đêm nay không... một gói lương khô thôi”. Anh chỉ đỏ mặt chẳng nói gì. Mà nói làm sao lại với tụi lính nhất quỉ nhì ma .
Nhưng đến ngày thứ hai, chẳng đứa nào dám trêu anh nữa. Khó nhọc, gắng gượng anh dẫn đầu trung đội. Mồ hôi như chan trên mặt, hơi thở như đua tranh với bễ lò rèn. Ái ngại cho anh, có đứa muốn mang đỡ anh khẩu Ak . Anh từ chối, bởi anh biết, ngoài tư trang gần 30 kg trên vai, hai thằng lính trẻ còn bị hành hạ bởi chiếc đòn khiêng với súng nặng như cùm. Giữa mùa hè, cái nắng thiêu đốt miền gió Lào cát trắng thật khủng khiếp. Hai bên đường, những bụi sim, mua cằn cỗi như có khói vây quanh. Thỉnh thoảng máy bay cường kích và pháo biển tầm xa của Mỹ lại khuấy đảo mặt đất và bầu trời . Mặt trận đã rất gần . Hơi thở hầm hập của nó vượt qua giới tuyến, lan tỏa đến tận mảnh đất này. Sức mạnh hủy diệt của nó đang đe dọa đến sự sống của mọi sinh linh, đến từng lá cây ngọn cỏ. Vậy mà, hy vọng một mầm sống vẫn nẩy sinh.
Ngày hành quân thứ ba, không thể gắng gượng được nữa, anh vấp ngã. Đến nước ấy anh đành để mặc cho đồng đội dìu đi.
Hôm sau, dáng điệu của người có lỗi, xin phép đơn vị, chị bịn rịn chia tay anh. Những thằng lính hôm nào còn tếu táo, quay mặt đi giấu vội những giọt nước mắt chia li. Chị uể oải lên xe đạp đi. Bóng chị khuất dần vào con đường đất đỏ ngoằn ngèo, hun hút giữa rừng già.
Đêm 23, ngày 24 tháng 8 năm 1972, anh là người đầu tiên của đại đội, hy sinh ven Thành Cổ Quảng Trị. Khẩu đại liên bên cánh trái của địch như trút cả một dòng sông lửa vào đội hình đại đội bộ binh mà chúng tôi đi phối thuộc. “Để tao trị khẩu đại liên này”. Nói xong, anh xách khẩu AK bò lên... Trận đánh không cân sức, trong tình huống ngặt nghèo, chúng tôi buộc phải để anh lại, rút lui trên mảnh ruộng trống trơn, đạn giặc vây tứ phía.
Đêm sau, dưới ánh trăng treo, bóng mũ sắt của địch loang loáng, chúng phục kích chỗ anh nằm.
Đêm nay đêm thứ ba, chúng tôi mới mang được anh ra. Thương anh vô cùng. Khuôn mặt thân thuộc, anh như đang thanh thản chìm sâu vào giấc ngủ. Chúng tôi sửa soạn chỗ cho anh nằm. Mười bẩy xảy giường chiếu.
Đêm nay, trăng mười bẩy tháng cô hồn. Đêm nay, chị ở đâu đêm nay?
Tháng 10 năm 2011
Như Thìn
Dựa theo truyện Bây giờ chị ở đâu? đăng trên báo QĐND số 16015, ngày 25 tháng 11 năm 2005, của cùng tác giả.
Trung đội trưởng Phạm minh Châu được mai táng tại nghĩa trang xã Triệu Long, huyện Triệu Phong tỉnh Quảng trị, ngôi mộ số 104
Rất tiếc mộ anh cùng ba ngôi mộ của đồng đội C12 chúng tôi, 105 Phạm Vũ Hồng, 106 Nguyễn Phú Đợi, 107 Lê Trung Khánh(Khánh “Voi”) bị trúng bom. Xương cốt các anh tan vào cát bụi.
Dưới đây là sơ đồ mộ chí và biên bản bàn giao cho địa phương quản lý năm 1973.
Bốn dòng bị gạch ngang, có hoa thị bên lề đánh dấu, là bốn ngôi mộ của các anh tại
Xốm Đồng Chiêm, thôn Đầu Kênh.

