“Công tử” Hà Thành
Đầu năm 1972, đơn vị đang đóng quân ở Côn Sơn thì được nhận một đợt quân cuối cùng. Nghe nói là lính Hà Nội, nhập ngũ tháng 12/1971. Vui đây, toàn đồng hương mà.
Tiểu đội tôi thêm ba lính mới. Một là Thạch “Đen”, da hắn như thợ mỏ mới ra lò, đã thế bộ ria kẽm càng tăng thêm vẻ dữ dằn cho bộ mặt nhọ nồi rất “anh chị” của hắn. Mà anh chị thật cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Hắn phải đến gần ba chục tuổi, nghe nói đã có một vài tiền sự. Hắn về hôm trước, hôm sau đại đội được một phen náo loạn. Sáng ra, giờ thể dục, thấy hắn bị chỉ huy đại đội triệu lên, kèm theo cái xẻng vác trên vai. Thì ra buổi sớm, hắn chọn ngay bãi đất bằng phẳng gần nhà bạt của ban chỉ huy giải quyết nỗi buồn. Báo hại, bãi đất ấy lại là nơi tập thể dục sáng của toàn đại đội. Cậu liên lạc bắt được quả tang...
Ở tiểu đội, hắn quậy cũng không kém. A trưởng Thành hô nghiêm thì hắn nghỉ, mà hô nghỉ thì hắn lại đứng thẳng tưng. Yêu cầu ra khỏi hàng, hắn bảo : “ Làm gì mà ghê thế, đồng chí min mũi” ( Chả là anh Thành có cái sẹo nhỏ trên sống mũi). Cả tiểu đội vừa bực vừa buồn cười. Vài hôm sau, hắn ra đường quốc lộ số 18, chặn một chiếc xe tải. Lái xe thò đầu ra không hiểu chuyện gì. Hắn nói: “ Yêu cầu đồng chí cho quân nhân đi nhờ, mà nói trươc đ ... cho đ... được đâu”. Từ đấy, hắn lặn một hơi không sủi tăm. Khỏi phải nói, chỉ huy đại đội “sung sướng” đến nhường nào.
Chiến sĩ thứ hai tên là Tân biệt danh “Vịt”. Hiền lành, chất phác, đại diện cho tầng lớp lao động lương thiện thủ đô. Hắn thấp lùn, dáng hơi lạch bạch. Gọi là Vịt nhưng không biết bơi, sau này vào chiến trường, mỗi lần vượt sông tôi rất khốn khổ với hắn.
Và, lính thứ ba rất đẹp trai, Phạm Vũ Hồng, trắng trẻo, thư sinh, có một cái răng khểnh trên khóe miệng, lúc nào cũng như đang chực sẵn một nụ cười. Nhà ở con ngõ nhỏ phố Khâm Thiên, nó đang gõ đầu trẻ ở trường tiểu học Phương Liên, tổ quốc bảo tạm gác cái thước lại, khoác balo lên chỗ chúng tôi. Nó cũng tuổi thìn năm nhâm, nói chuyện với tôi rất hợp cạ. Chẳng hiểu sao, nó rất tự hào về dòng họ Phạm Vũ hay Vũ Phạm đều được của nó, nhiều đời khoa bảng và quan trường. Tôi bán tin, bán nghi. (Sau này, đạo diễn Vũ Phạm Từ , một người bà con của nó, cho công chúng xem bộ quan phục độc nhất vô nhị, đủ cả mũ áo, khăn khố, của các cụ để lại, tôi mới tin là nó không nói phét). Nhưng có điều chắc chắn, không nghi ngờ, nó là một thằng tinh quái và nghịch ngợm. Hình như những thằng tuổi thìn năm nhâm đều thế cả.
Một lần, chúng tôi đi nhận vũ khí mới. Viên sĩ quan quân khí là một chuẩn úy cũng tên Thìn. Anh ta có một con dao găm to bản thật đẹp. Lưỡi dao sáng bóng. Cán được ghép khéo léo bằng hai mảnh kim loại màu rất chắc chắn. Chúng tôi nhìn con dao thèm nhỏ rãi. Lính chiến không có dao như cụt tay. Lấy gì để phát cây mắc võng, chặt củi hay lấy gỗ làm hầm. Thằng Hồng bảo tôi : “ Tao phải lấy con dao của thằng cha này, nó làm quân khí, không có con này thì có con khác, anh em mình mùng thất mới được phát”. Nói xong, nó vòng ra phiá sau viên chuẩn úy đang hí hoáy ghi ghi, chép chép, hai ba thằng bộ binh vây quanh, khéo léo bật cái khuy cài, rút nhẹ con dao rồi lủi mất. Một lúc sau, tay chuẩn úy mới biết mất dao, kêu trời. “ Đứa nào đùa cho xin lại” . Đùa là đùa thế nào, tôi nghĩ vậy.
Mà tay Thìn Quân khí này tinh quái cũng không kém. Hồi đánh nhau ở Quảng Trị, một lần ở chốt ra lấy đạn, tôi lại gặp hắn. Có lẽ vừa tắm xong, hắn ăn mặc sạch sẽ, sáng sủa chẳng khác gì tân binh, một trời một vực so với chúng tôi như vừa móc dưới cống lên. Lại gần một thằng lính đeo mấy quả US M26 quanh người, hắn cất giọng rất lễ phép:
- Em chào anh ạ
Thằng lính bộ binh ngớ người, tự dưng có thằng gọi mình bằng anh. Thìn quân khí, chỉ vào mấy quả lựu đạn, giả bộ ngây ngô hỏi:
- Thưa anh quả này là quả gì ạ.
Tay lính bộ binh thực thà trả lời :
- Lựu đạn Mỹ
- Từ bé em chưa được thấy bao giờ, anh cho em một quả.
Thìn quân khí tiếp lời.
Ôi trời, ở đây xin lương khô hay cái gì chén được thì khó chứ lựu đạn thì vô thiên ủng. Tay bộ binh vui vẻ rút ngay một trái. Thìn quân khí xoay người, rút luôn chốt quả US ném ngay xuống con mương bên cạnh. Kèm theo tiếng nổ là mấy con cá trắng bụng nổi lên. Hắn quay lại tay lính bộ binh cười nói:
- Cám ơn nhé.
Rồi xắn quần lội xuống vớt cá. Tay bộ binh tức điên người.
Quay lại chuyện thằng Hồng. Sau khi vượt qua giới tuyến vào Quảng Trị, điểm tập kết đầu tiên của đơn vị là Ái Tử. Chiều hôm ấy chúng tôi được nếm một trân B52 thật kinh hoàng. Có lẽ, đến chết cũng không thể nào quên. Tiểu đội được lệnh chuyển quân đến gần sân bay làm công sự, sẵn sàng đánh địch đổ bộ bằng trực thăng. Bốc những bao cát đắp hầm pháo, thằng Hồng vớ được một lon bia gi sùi cả vỏ. Có lẽ lon bia này nhận sổ hưu đến mấy năm rồi. Nó khoái trí nói:
- Tao với mày làm một ngụm cho đỡ nhớ Hà Nội.
Nó bật nắp rót ra một cái ca, tợp luôn một ngụm rồi chìa cho tôi. Tôi nghi ngại nếm thử cái thứ nước vàng vàng mà nó gọi là bia ấy, thực không khác gì nước tiểu, nhổ vội ra. Nó mắng tôi, đài các rởm. Danh gia vọng tộc như nó còn chẳng chê nữa là. Mà thằng này cứ hay đùa. Mẹ tôi bán chuối ở chợ Hàng Bè, còn mẹ nó bán kem 5 xu một que cho trẻ con đường phố, kẻ tám lạng người nửa cân hơn quái gì nhau... Nhưng nó tu hết ca bia quá date ấy thật. Thế nào mày cũng ngộ độc thôi, tôi nghĩ vậy. Ấy thế mà cái răng khểnh với bộ mặt đẹp trai vẫn nhơn nhơn cho đến tận sáng hôm sau.
Sáng hôm sau, nó rủ tôi đi khám phá Ái Tử. Thực ra chỉ loanh quanh một góc thôi chứ căn cứ quân sự khổng lồ này, nếu đi hết có nhẽ mất vài ngày. Xung quanh, ngổn ngang quân trang, đạn dược. Những dãy nhà tôn sàn gỗ cao ráo, có cả lưới chống muỗi, tan hoang. San sát là những chiếc hầm trú ẩn tôn vòm chắc chắn. Đến một chiếc hầm to cỡ tòa nhà hai tầng xây toàn bằng bao cát, tôi và nó chui vào. Sâu hun hút. Được một đoạn, đành chui ra vì sợ lạc đường, thằng Hồng vớ được một quả mỏ vịt màu tím đẹp mắt. Nó bảo tôi: “Tao tống đại vào hầm này, biết đâu vẫn còn vài thằng biệt kích đang ẩn náu”. Nói rồi nó rút chốt, chỉ nghe thấy một tiếng nổ nhẹ, chúng tôi quay đi. Chỉ vài phút sau, một chiếc máy bay A6 sà xuống cắt bom. Nhanh đến mức không hề nghe thấy tiếng động cơ. Chúng tôi thất kinh cắm đầu chạy. Ngoảnh lại, chiếc hầm vừa khám phá đã tan hoang. Trong đống đổ nát, một cột khói tím vẫn đang bốc lên. Chết thật, quả mỏ vịt lúc nãy chính là lựu đạn chỉ mục tiêu. Hú hồn, may không sao...
Nhưng những trò nghịch ngợm của nó rồi cũng có ngày mang họa... Mà ngày ấy cũng chẳng bao xa. Bên công sự pháo 12,7 ly, những quả cối 61 của địch vứt rải rác. Có quả còn nguyên trong thùng. Vũ khí Mỹ, ngoài công năng giết người, kiểu dáng công nghiệp cũng rất bắt mắt. Nhặt một hạt nổ bằng ngón tay sáng loáng với một chấm sơn đỏ, thằng Hống nghiên cứu. Nó tìm cách tháo xem sao. Tôi bảo nó: “Nguy hiểm đấy”, nó không nghe. Tôi ngồi xoay người đi, nhỡ nó nổ thật thì gay. Mà nó nổ thật. Ngón tay thằng Hồng nhoe nhoét máu, may chưa bay mất ngón nào. Băng cho nó xong, tôi thấy nhói ở mông. Thỉ ra một mảnh nhỏ đã khoan vào cái mông không đầy đặn của tôi một lỗ bằng đầu đũa. Cái lỗ ấy mãi không lành, mươi ngày sau nằm trong chốt An Tiêm, tôi phải lấy mũi dao, bẩy ra một mảnh bằng hạt ngô mới câm miệng.
Ngày 23 tháng 8 năm 1972, tiểu đội được lệnh đêm nay sẽ phối thuộc với bộ binh tấn công một ví trí của địch. Chiều hôm ấy, Thằng Hồng vớ đâu được đôi thùng. Lấy một đoạn tre làm đòn, nó gánh nước tắm. Trông nó gánh thật buồn cười, khúc tre cứ quay ngang, chẳng khác gì chúa Gie Su đang vác cây thánh giá. Thay bộ quần áo Tô Châu mới tinh, bảnh bao và chải chuốt, nó nhe chiếc răng khểnh cười nói: “ Đêm nay nhỡ có làm sao cũng không hổ danh “công tử” đất Hà Thành”. Tôi phục nó thật. Lần đầu tiên vào trận, tôi lo lắng đến cơm còn chẳng buồn ăn nói gì đến tắm giặt.
Trận đánh diễn ra hết sức bất lợi. Khi khẩu 12,7 ly rung lên bần bật thu hút hỏa lực cho anh em rút lui. Thằng Hồng cầm khẩu AK của trung đội trưởng Châu đã hy sinh, bò sang phải trận địa chia lửa cho tôi và trúng đạn. Một vài giây hiếm hoi cuối cùng rời khỏi trận địa, tôi còn kịp thấy, chiếc áo Tô Châu của nó nhuộm đỏ một màu cờ.
Đầu năm 1973, cùng một số anh em, tôi được cử ra Bắc học tại trường Sĩ Quân Lục Quân. Trở về Hà Nội, tôi tìm đến nhà Hồng. Tới phố Khâm Thiên, thật ngỡ ngàng, một đoạn phố dài dường như bị xóa sổ vì trận B52 mùa giáng sinh kinh hoàng năm 1972. Nhà Phạm Vũ Hồng cũng không ngoại lệ. Nghe hàng xóm nói, bà mẹ thì không sao, nhưng có một chị và một đứa cháu hình như cũng là bộ đội hôm ấy rẽ qua nhà nên thiệt mạng. Mang tâm trạng nặng nề, tôi trở lại trường Lục Quân...
Mãi năm 2006, gia đình Hồng mới đưa được di hài của nó về, cho dù chỉ còn là một nắm đất. Mộ nó cùng với mộ của ba đồng đội khác bị bom đánh bay mất, có khi trùng thời điểm với ngôi nhà bị phá hủy ở ngõ phố Khâm Thiên chăng ?
Hôm đón nó, ông trời cũng phải nhỏ lệ thương cho thằng đồng hương đẹp trai, có cái răng khểnh, hay cười của tôi. Nó không quên ăn diện thật bảnh bao, trước khi phải đối mặt với quân thù. Thật, không hổ danh “công tử” đất Hà Thành.
Tháng 11 năm 2011
Như Thìn
Dưới đây là chân dung thằng bạn tôi và ngày đón nó về HN, thay mặt anh em E101 tôi có phát biểu đôi lời .


P/S
Việc đưa di hài của Hồng về cũng lắm công phu.
Như tôi đã kể, đầu năm 1973, quay lại trường SQLQ, tôi bị quật ngã vì một trận sốt rét. Khi gượng dậy được, viên sĩ quan quân lực tuyên bố tôi không còn đủ sức khỏe tiếp tục học tập. Nhưng đủ sức khỏe để trở lại chiến trường. Thằng cha ấy thánh thật. Không những tôi đủ sức quay lại chiến trường mà còn thừa sức chỉ huy tiểu đội chiến đấu cho đến tận ngày toàn thắng. Tháng 9 năm 1975 tôi được ra quân. Trở lại Hà Nội, tôi lại đến nhà Hồng. Lần này thì gặp được cả nhà. Hồng có một cậu em cũng đã trưởng thành tên là Quân. Quân có đến nhà tôi một lần. Tôi đọc cho nó đoạn nhật ký ghi lại trận 23 ngày 24/8/72, nó rất xúc động. Bẵng đi một thời gian dài, tôi quay lại, thì gia đình đã chuyển đi đâu không rõ nữa. Sau này nghe kể lại, chẳng hiểu sao Quân cũng quên mất cả địa chỉ nhà tôi. Gia đình có lúc nhờ cả đài truyền hình Hà Nội đăng tìm tôi như trẻ lạc. Rất tiếc chẳng bao giờ tôi xem THHN. Tháng 11/2005, sau khi dự cầu truyền hình “Một Thời Hoa Lửa” ở QT về, canh cánh trách nhiệm trước các đồng đội đã hy sinh, tôi cho đăng truyện “Bây giờ chị ở đâu”, trên báo QĐND hy vọng tìm được chị Châu. Đồng thời, tôi lại đến địa chỉ cũ nhà Hồng, cho hàng xóm số điện thoại, hy vọng gia đình Hồng có người ghé qua. Hai tháng sau, tôi đang nằm bẹp dí tại BV Bạch Mai vì căn bệnh quái ác, thì nhận được một cú điện thoại của chị Hương, chị của Hồng, nhờ hàng xóm cho số di động của tôi. Đành hẹn chị ra viện sẽ nối lại liên lạc.
Chừng một tháng sau, chị cả của Hồng tên là Nga từ Binh Thuận ra gặp tôi. Chị Nga là người rất tin ở tâm linh. Chị kể, gia đình có xem một ông thày nào đó. Ông ta nói vài hôm nữa sẽ có tin của Hồng, sẽ có người giúp đỡ. Bốn hôm sau thì có được số điện thoại của tôi. Lúc này sức khỏe của tôi quá tệ. Ngồi còn chẳng vững, làm sao giúp được chị đây. Tôi nghĩ đến LXT, nối máy nói chuyện luôn với LXT và cho chị số điện thoại của T. Nhờ sự tận tâm của LXT và các CCB QT, gia đình đã tìm được sơ đồ mộ chí. Nó nằm ngủ dưới đáy tủ tài liệu của huyện đội hơn 30 năm. Chị Nga kể, hôm bốc một nắm đất ở QT, chỗ Hồng cùng mấy đồng đội nằm, gia đình có làm một lễ nhỏ, khi bài điếu văn do tôi viết khóc bạn, bằng nước mắt, đọc lên, trời bỗng nổi giông. Anh Châu hy sinh vào đêm rằm tháng bẩy. Hồng mất ngày 16, thật trăng. Sau này, mỗi lần thắp hương cho em trai, chị lại khấn cho gần nửa tiểu đội của tôi, mà chị thuộc cả họ tên đến nằm lòng. Cám ơn chị rất nhiều...Năm ngoái chị đưa vong linh tất cả vào một ngôi chùa. Chị bảo đồng đội đi đâu cũng phải có nhau. Chị nói mà tôi chỉ muốn khóc. Chị làm thế cũng phải. Nắm đất chị đem về đã trộn chung xương máu của anh em. Trộn cả nước mắt của người còn đang sống hôm nay.
NT