nhuthin
Thành viên

Bài viết: 80
|
 |
« Trả lời #193 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2012, 09:26:27 am » |
|
Rất cám ơn anh, chị, em đã quan tâm và sẽ ủng hộ cuốn sách của tôi. Xin chia sẻ cùng anh em một bài nữa
CHỮ ...ĐÓI
Phàm là lính chiến, đa phần, có lúc đều trải qua cái đói.
Không kể các bác thời chống Pháp, anh em ở chiến trường chống Mỹ những năm 60 của thế kỷ trước, khi mà đường mòn Hồ Chí Minh chỉ có gùi và xe thồ, thì càng xa hậu phương càng hay đói. Thế hệ lính chúng tôi đầu những năm 70, khi con đường huyền thoại được mở rộng, hàng sư đoàn vận tải cơ giới vào chiến trường, vậy mà đôi khi vẫn đứt bữa. Đường ta mở rộng một, thì bom đạn kẻ thù mở rộng gấp mười. Vẫn cam go lắm.
Ngay chiến trường Quảng Trị năm 1972, nhiều lúc đói hoa cả mắt. Cầm khẩu súng đầu ruồi cứ nhảy bên này, qua bên kia, tiêu diệt được một tên địch cứ ngỡ là hai .
Hồi giữ chốt Tám Cát, Thanh Hội ven biển, những ngày biển động, gió mùa đông bắc thổi qua vịnh Bắc Bộ, trời mù, hải quân thả từng bè gạo xuống biển. Gạo được đóng trong hai bao nilon xanh của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, ngoài bọc bao tải đay dạt vào bờ, chúng tôi ra lấy về. Có những hôm trời quang, từng đàn trực thăng của Hạm đội 7 và không lực VNCH, bay rợp biển xả súng vào các bè gạo. Gạo đến tay chúng tôi đã nhão nhoét. Kiểu tiếp tế đổ xuống sông, xuống biển, mười phần được một như vậy, không biết có quân đội nào áp dụng không?
Đã kể đến đói, phải nói đến khát. Những ngày nằm trong chốt An Tiêm, Chợ Sải, đêm đêm anh nuôi đem vào cho một bi đông nước dùng cả ngày. Không đánh đấm gì còn được, nhưng khi phải đấu súng thì dốc ngược bi đông mấy lần là cạn. Có những trận đánh chỉ xoay quanh cái giếng, nguồn nước của cả đôi bên. Máu chảy cũng nhiều như nước vậy.
Chiến dịch Xuân Hè năm 1975, ngày 25/4, đại quân ém trong rừng cao su ven Long Thành. Đã hai ngày, không một giọt nước. Khát khô, khổ. Một lính pháo cao xạ 37 ly, đem một bi đông nước đi qua. Thàng M quỳ xuống lạy một lạy, mủi lòng anh ta chìa bi đông ra cho một ngụm. Nhưng thằng M cứ giữ chặt lấy chiếc bi đông không rời. Anh ta đấm đá giằng lại khóc. Cả khẩu đội 37 ly đang chờ anh về. Nhưng anh không kịp về. Một loạt bom bất ngờ dội xuống. Những quả bom quái ác nổ ngay trên thân cây cao su, chụp xuống. Anh tựa lưng vào gốc cao su, toang ngực, mắt trừng trừng . Bạn anh bị một mảnh to bằng ba ngón tay cắm phập vào mông kêu oai oái. Chúng tôi lôi anh ta vào hầm pháo, loay hoay không biết xử trí ra sao. Nhổ mảnh bom như cái sừng tê giác ra không được, mà kỳ lạ, chưa thấy giọt máu nào tuôn ra chẳng biết có nên băng bó hay không nữa? Người lính của trung đoàn pháo phòng không 367 ấy giờ ra sao? Tiểu đoàn 2, E 101 F 325 hôm ấy thiệt hại rất nặng nề.
Năm giờ chiều, pháo binh của ta bắt đầu nã, mở màn chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Tiểu đoàn vận động qua một trảng cỏ lấp sấp nước. Anh em vục mặt xuống, uống cả cỏ lẫn bùn. Vào ven thị trấn Long Thành, một con mương nước “sạch” hơn sông Tô Lịch một chút. Tiểu đoàn lại tranh thủ giải khát thêm một lần.
Lúc ấy ai mà nghĩ đến hậu quả của chất độc màu da cam, da quit, da mít, da gì?
Kể sơ qua cái đói và khát thế, với anh em ở Tây Nguyên hay sâu hơn nữa thì có lẽ cũng chỉ là muỗi.
Hồi còn cầm bút, chúng tôi có thói quen đọc sách. Thói quen lâu ngày ngấm vào người thành nghiện. Vào chiến trường, lại thêm một nỗi khổ: đói chữ.
Những lúc trước hòn tên mũi đạn, chẳng nói làm gì. Khi ngưng tiếng súng một chút là cơn nghiện lại kéo về. Tôi thường sục sạo vào những ngôi nhà hoang. Thứ nhất là xem có gì ăn được và thứ nhì có gì đọc được. Tất thẩy, từ chưởng Kim Dung, đến tạp chí, sách giáo khoa, vở học trò vv đều khuân về.
Vớ được cuốn sách dạy tiếng Anh của Lê Bá Kông tập năm với những bài dịch sang tiếng Việt của các học giả rất hay như” Người Hoa Kỳ với xe hơi” hay “Sự tương đồng và dị biệt giữa tiếng Anh và tiếng Mỹ”. Rồi tạp chí Sử Địa với nhiều thông tin lý thú, hay tạp chí Sóng Thần, sách tâm lý chiến của QLVNCH, không phải toàn bài bỏ đi. Một vài phóng sự của các phóng viên chiến trường cũng rất khá. Với tôi, đó là liều thuốc an thần hữu hiệu sau mỗi trận đánh.
Huế giải phóng ngày 25/3 năm 1975, trong một ngôi nhà vô chủ bên An Cựu, trên giá sách tôi sáng mắt khi thấy bốn tập thơ “Thơ, thơ”, “Gửi hương cho gió” của Xuân Diệu, “ Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính và “Lửa Thiêng” của Huy Cận, biết là hơi phạm luật nhưng vội cất biến vào balo. Trận Phan Rang, bốn tập thơ ấy bị cháy xém một góc, giờ tôi vẫn giữ làm kỷ niệm.
Ngày 30/4/1975, Sài Gòn giải phóng, đơn vị đóng quân bên quận Chín. Sau mấy ngày thăm thú “Hòn ngọc viễn đông”, tôi và Phùng nằm bẹp ở nhà. Chủ nhà, không biết trước đây làm gì nhưng có một tủ sách rất phong phú. Chúng tôi vùi đầu vào cho thỏa cơn đói chữ.
Chỉ trong hai tuần nhưng tôi cũng đọc được kha khá. Tiểu thuyết “ Anh em nhà Ka-ra-ma-zop” của Đôt-tôi-ep-xky. “Phía Tây không có gì lạ”, của E. Remarque. Hồi còn đi học, chúng tôi được dạy về Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa hiện thực, Chủ nghĩa hiện thực XHCN vv, nhưng qua những tác phẩm của Remarque, tôi thấy nó chẳng thuộc chủ nghĩa gì, bao trùm lên cả là chủ nghĩa nhân văn cao cả khiến con người trở nên tinh khiết hơn, cao thượng hơn.
Tôi còn đọc cả “Dịch hạch” của A Camus, và “ Hóa thân” của F Kafkaz, nhưng thú thực chẳng hiểu gì cả. Chỉ thấy nỗi lo lắng mơ hồ.
Hai năm sau, ngồi trên giảng đường khoa Ngữ Văn của trường ĐHTH Hà Nội, chúng tôi được học Văn học Phương Tây, với chuyên đề “Trào lưu văn học hiện sinh”. Giáo sư Đỗ Đức Hiểu hỏi: Ai đã đọc tác phẩm của A Camus. Chỉ có sáu sinh viên Văn Khoa Sài Gòn được gửi ra Bắc và một vài sinh viên hiếm hoi giơ tay. Nhờ có bài giảng khúc triết của vị giáo sư uyên bác, tôi đã dần hiểu được phần nào về hoàn cảnh và sức lan tỏa của trào lưu vang bóng một thời ấy. Nhân loại trải qua hai cuộc đại chiến. Thân phận con người trở nên nhỏ bé, sự bất an và cái tôi trong sâu thẳm của mỗi cá nhân được đào sâu đến tận cùng. Con người cảm giác bơ vơ trước sự đổ vỡ của trật tự cũ, nhưng cái mới vẫn còn đang manh nha. Như lời của một nhân vật trong truyện “Anh em nhà Ka-ra-ma-zop”: “Chúa đã chết ai muốn làm gì thì làm”. Hay : “Ta không là gì cả , hoàn toàn không là gì cả”, của Kafka.
Mạn đàm quanh chữ đói, có vẻ hơi lạc đề, nhưng chữ đói mở rộng không chỉ là nhu cầu của cái dạ dày bé nhỏ mà còn là nhu cầu tinh thần của mỗi con người.
Thậm chí bây giờ vẫn thấy đói.
Một lần, khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ trước, tôi có gặp nhà thơ Huy Cận ở tòa soạn báo Nhân Dân, khi ông đang ký nhận nhuận bút. Thay cho lời chào, tôi đọc một câu trong tập “Lửa thiêng” của ông : “ Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”
Ông ngước mắt nhìn tôi và đáp lại :“ Bây giờ vẫn còn sầu”
Một con người với đường thơ và quan lộ, khó ai sánh nổi mà vẫn còn sầu. Thế mới biết nhu cầu cho tinh thần quả là không giới hạn.
Còn ta, một người bình thường, trải qua một mùa “đại chiến”, vẫn còn thấy đói, âu cũng là lẽ thường tình.
Tháng Tư, năm 2012 Như ThÌn
|