nhuthin
Thành viên

Bài viết: 80
|
 |
« Trả lời #512 vào lúc: 28 Tháng Mười Hai, 2012, 02:22:21 pm » |
|
Cám ơn ChiếnC3 đã cho số điện thoại của "Ma xó vùng cao". 40 năm rồi anh em mới liên lạc được với nhau, nhưng hắn không chịu về HN đãi tôi một chầu bia trả ơn tôi đã cứu mạng, mà mời tôi về Ý Yên Nam Định, nơi hắn thả neo có lẽ đến cuối đời.
- Nhân dịp sắp bước sang năm mới và kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định hòa bình Pa-ri (1/1973-1/2013 ), xin gửi anh em một bài:
NGƯỜI CẮM CỜ TRÊN CHỐT LONG QUANG
Gần 40 năm rồi, ông Lễ mới có dịp trở lại chiến trường Quảng Trị năm xưa. Nhiều lần ông cũng định về thăm lại nơi mà ông và bao đồng đội đã đổ xương máu giành giật, giữ gìn từng tấc đất. Nhưng ngặt nỗi, đường sá xa xôi, chi phí cho một chuyến đi cũng không phải ít. Đành chờ, đành đợi vậy. Từ khi ra quân rồi xây dựng gia đình riêng, ông cũng chẳng khá giả gì. Nuôi hai đứa con ăn học tử tế cũng là một cố gắng tột bậc của ông. Giờ hai đứa đã khôn lớn, có công ăn việc làm đàng hoàng. Thôi thì, trông lên cũng chẳng bằng ai, nếu có ngó xuống còn hơn khối người. Tự hài lòng với cuộc sống hiện tại, vậy là tốt lắm rồi.
May sao lần này, hội cựu chiến binh phường tổ chức cho anh em cựu chiến binh thăm lại chiến trường, kinh phí 50/50. Có nghĩa, chỉ phải bỏ ra có một nửa. Không chần chừ gì nữa, ông khoác ba lô lên đường. Vẫn cái ba lô bạc màu ấy, ông cất vào tủ đã lâu, nay mới có dịp dùng lại. Trông nó cũ kỹ và nhàu nát làm sao, nhưng ông quí lắm. Nhiều lần vợ ông bảo bỏ đi cho rộng chỗ, song ông không chịu. Mỗi lần giở ra, ông như được xem lại một đoạn phim tài liệu quay chậm, ngược thời gian. Đây Đông Hà, Bích La, Chợ Sải, Tri Bưu. Kia An Tiêm, Linh Chiểu, Long Quang vv, những địa danh mà trung đoàn 64, sư 320 của ông từng tham chiến.
Ông nhớ nhất cái lần thay chốt cho đơn vị bạn. Mấy thằng lính Thủy Quân Lục Chiến Cộng Hòa tưởng vẫn đánh nhau với đơn vị toàn lính mới, chúng thổi còi dậm chân, rung cây dọa khỉ, hô xung phong bắt sống “Bắc Bình”. Đúng là trò mèo, nhưng non gan nổ súng trước là dễ ăn ngay cối cá nhân M79. Ông cùng anh em bình tĩnh chờ chúng đến gần, chừng 20 thước mới xiết cò. Cứ hai viên một đều đặn, thỉnh thoảng lại bồi một phát B40, 41 như pháo đùng. Cái anh đạn lõm chống tăng ấy, anh em chơi cả bộ binh. Có thế chúng mới khiếp, lũ “Trâu điên” mới hết điên. Chúng kéo xác đồng bọn chạy tháo lui. Đêm, đại đội phó Hưng kéo ông mò sang chốt địch. Cũng sợ thật. Anh Hưng gan dạ có tiếng. Bò xuống hầm, sờ thấy mấy đôi giày cao cổ của lính Cộng Hòa xong anh mới leo lên thả liền hai quả US, rồi rút lẹ.
Nhưng những người lính dạn dày như ông cũng rụng dần. Đại đội có lúc chỉ còn hơn chục tay súng. Đại đội phó Hưng cũng bị thương nặng, đành phải chuyển ra phẫu trung đoàn. Đen cho anh Hưng quá. Nhưng cũng may cho ông. Anh ấy mà kéo ông đi tập kích vài lần nữa thì ông cũng dính đạn mất. Bom đạn ác liệt thật. Vòng ngoài thì máy bay cường kích và bom B52 rải không theo một qui luật nào. Vô phúc trúng phải một quệt bom, có khi mất sức chiến đấu cả một tiểu đoàn. Sát chốt thì pháo bầy, pháo khoan, cối 106,7, đào xới đất tơi như xi măng. Thương vong quá nhiều, biết bao nhiêu sư đoàn cho đủ. Mà đánh nhau kiểu gì lạ thế. Cứ phơi lưng giữa ban ngày ban mặt cho hỏa lực Mỹ phát huy hết tác dụng. Chẳng cần tìm và diệt. Mang tiếng ông ở sư đoàn Đồng Bằng nhưng mấy khi đánh nhau ở đồng bằng. Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù. Rồi màn đêm vốn là đồng minh với quân Giải Phóng. Giờ những lợi thế ấy không còn nữa. Cứ kéo dài hàng tháng thế này thì sức mấy mà trụ nổi. Tám mốt ngày đêm, Thành Cổ đành thất thủ. Tiếp đến là những ngày dai dẳng giữ chốt. Tổn thất rất nặng nề. May đầu năm 1973 Hiệp Định hòa bình Pa- ri có hiệu lực, lính tráng thờ phào, thế là sống.
Thỉnh thoảng vào những năm chẵn, người ta lại tổ chức kỷ niệm chiến thắng Quảng Trị thật rầm rộ. Ngồi nhà, ông Lễ xem truyền hình trực tiếp lễ kỷ niệm lại thấy ngứa ngáy hết cả người. Năm nào cũng vậy, mấy khuôn mặt quen thuộc xuất hiện. Họ kể chuyện trên trời, dưới đất mà sao nghe chẳng thấy giống chuyện của đơn vị ông chút nào. Có ông nói ngân nga như ca vọng cổ, rõ chán. Lính tráng gì mà nói năng dấm dớ thế. Lắm lúc tức như bị con bò kéo gạch của lão Hinh đầu ngõ đá trộm vậy. Bực thì tắt ti vi đi chứ làm sao mà cãi nhau được với đài. Vợ ông cằn nhằn, đang hay thì lại tắt. Ông gọi điện thoại cho mấy đồng đội cũ trút giận.
Dứt khoát phải vào trong ấy một chuyến. Lần này thì ông vào thật. Cũng là để thắp mấy nén hương cho các đồng đội xấu số. Chúng nó chết cho ông sống mà, quên ơn làm sao được. Lịch trình cho chuyến đi kín mít. Sáng thăm nghĩa trang Trường Sơn và nghĩa trang Đường Chín. Chiều thăm bảo tàng Thành Cổ.
Hai cái nghĩa trang bạt ngàn là mộ. Thông và mộ nhiều chẳng kém gì nhau. Tiếng thông reo rì rầm trong gió, như có cả binh đoàn Giải phóng đang tập hợp đội ngũ trước giờ xung trận. Thật bi tráng, khắp các tỉnh phía Bắc đều có mặt các liệt sĩ ở đây. Thôi các anh nằm đây cũng mát mẻ. Nườm nượp các đoàn đến viếng thăm. Một góc rừng miền tây Quảng Trị không mấy lúc ngớt khói hương. Chiều về, ông chen vai thích cánh vào bảo tàng chiến tích Thành Cổ xem hiện vật và nghe cô thuyết minh xinh đẹp trong bộ áo dài may khéo, phô những đường cong hút hồn đang ru khán giả bằng chất giọng miền Trung êm ái, nhẹ nhàng. Thả hồn theo những dòng ký ức trận mạc, ông Lễ bỗng giật mình, nghe thấy cô nhắc đến Chốt thép Long Quang và một trong 34 lá cờ cắm vào sáng ngày 28/1/1973 lịch sử. Ông còn lạ gì trận ấy. Chính ông là người cắm lá cờ đầu tiên. Mọi người vây quanh, cô thuyết minh trình bày diễn biến của trận đánh. Nhưng không hẳn như thế. Ông còn nhớ như in mà:
Từ tháng 12 năm 1972, đơn vị ông được giao nhiệm vụ giữ chốt Long Quang, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Tiểu đội ông cắm trên một doi cát nhỏ nhô ra rất gần địch. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, địch pháo kích bất thường và mở nhiều đợt tấn công vào chốt của ông. Nhưng tiểu đội ông vẫn đứng vững và gây nhiều tổn thất cho đối phương. Trận đánh kéo dài suốt đêm tới sáng ngày 28, bên kia chiến tuyến, ông thấy chúng phất rất nhiều cờ vàng. Có chuyện gì thế nhỉ? Quay lại phía sau ông báo cáo với Chính trị viên đại đội Nguyễn Văn Nguyên. Anh Nguyên cũng không hiểu chuyện gì, đành quay về gặp tiểu đoàn trưởng Cù Hoàng Liêu. Hóa ra, đúng 8 giờ sáng ngừng bắn, Hiệp định hòa bình Pa-ri có hiệu lực, hai bên cắm cờ khẳng định quyền kiểm soát lãnh thổ. Chết thật, vậy mà đại đội ông không hề hay biết. Cũng may, huyện đội trưởng Triệu Phong có mặt khi đó, vội đi kiếm một lá cờ giải phóng giao cho C viên Nguyên mang ra chốt. Ông cầm cờ, hai chiến sĩ trong tiểu đội, Nguyễn Văn Khà và Lê Văn Thu đều quê Nghệ An cắp hai khẩu AK yểm trợ cho ông tiến lên. Chỉ một rẻo cát chừng hai chục thước mà ông thấy dài thế. Cát và dốc dưới chân mới khó bước và mệt làm sao. Bỗng bên kia, lính Cộng Hòa hô to: “ Không được mang vũ khí”. Khà và Thu đành dừng lại, còn mình ông vẫn bước tiếp. Ông biết, hàng chục cặp mắt đang dõi theo ông, kèm theo là những họng súng đen ngòm của cả hai phía. Chỉ một cái nháy cò..thôi không dám nghĩ thêm nữa. Tim ông đập thình thịch. Hãy bình tĩnh, bình tĩnh, ông tự nhủ. Khoảnh khắc ấy, ông cảm thấy như cả không gian lẫn thời gian đều chết lặng. Nhấc bước chân nặng nề cuối cùng, ông cắm phập lá cờ giải phóng bên cạnh lá cờ vàng bé tẹo mà đối phương đã cắm từ bao giờ. Tất cả như vỡ òa trong tiếng reo vui của cả hai bên. Quân ta ào lên, quân địch ùa xuống. Hai kiểu quân phục. Hai giọng nói Bắc, Nam, nhưng chung một tiếng mẹ Việt Nam. Cảm xúc thật khó tả trào dâng trong lòng. Một viên sĩ quan Cộng Hòa, bên cạnh là mấy lính truyền tin, tự giới thiệu, thiếu tá Quang Hải người Cần Thơ. Để tỏ lòng thân thiện, ông ta nói, trước giờ ngừng bắn đã không nỡ cho nổ súng vào ba chiến sĩ Giải phóng đang cố tiếp cận tiêu diệt xe tăng. “Tôi cắm cờ cho vui thôi…” ông ta nói thế. Nhưng với ông thì khác. Mỗi tấc đất là xương máu của anh em. Kể cũng lạ, khi đối mặt trước trận tuyến thì một mất, một còn. Vậy mà, hòa bình rồi chúng cũng không quá tệ, ông nghĩ vậy. Cần phải tắm một cái và ăn một bát cơm nóng, đó là món quà đầu tiên ông muốn đựơc hưởng trong hòa bình. Đến tầm trưa, một hàng khoảng ba chục lá cờ giải phóng đã phần phật tung bay trong gió trước chốt Long Quang. Chuyện như vậy. Nhưng, những người đang vây quanh cô thuyết minh xinh đẹp kia làm sao mà biết được là như vậy?
Trở về nhà, ông Lễ cứ day dứt mãi. Ông quyết định phải viết một bức thư gửi bảo tàng Thành Cổ Quảng Trị, kể rõ ngọn ngành. Ông đánh vật với từng câu chữ, viết rồi lại xóa. Viết rồi lại chữa, sao mà khó thế. Mãi cũng chỉ đươc mấy chữ: “Tôi Nguyễn Công Lễ, cựu chiến binh đại đội 3, tiểu đoàn 7, trung đoàn 64, F320, hiện đang ở phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam…”
Nhưng rồi ông cũng hoàn thành xong bức thư, vội vàng gửi đi và thấp thỏm chờ hồi âm. Một tuần, hai tuần. Một tháng rồi hai tháng. Ba tháng rồi nửa năm, ông chẳng thấy thư trả lời. Hay là họ chưa nhận được thư của ông. Vô lý, nếu không có người nhận thì bưu điện sẽ trả lại người gửi. Ông còn ghi rõ cả số điện thoại đàng hoàng mà. Hay họ bận phải tiếp đón nhiều đoàn. Hay chuyện của ông cũng không quá quan trọng. Chẳng phải như cái xe tăng A hay xe tăng B húc đổ cổng Dinh Độc lập năm nào. Bây giờ sửa lại cũng phức tạp lắm. Mà chắc gì họ đã tin ông ngay. Còn phải kiểm chứng chứ. Nhưng ai kiểm, kiểm ai. Cũng khó thật. Với lại chuyện của ông kể, chắc gì với họ đã là hay. Nhất là cái tay thiếu tá Hải ấy. Không khéo sai phạm quan điểm chính trị ấy chứ. Viết và kể lịch sử cho đúng đường lối cũng không phải dễ. Chính ông đã xé bỏ đến chục tờ giấy chứ có ít đâu. Có khi lịch sử cũng phải nghệ thuật hóa. Có nghĩa là cũng phải ngân nga như ca vọng cổ tý chút. Ông là một người lính bình thường, nhìn ở góc độ bình thường, không ngân nga được. Mà đã ngân nga thì cũng dễ xa nguyên mẫu. Thế thôi. Chẳng nói đâu xa, ngay ở nhà, chẳng bao la, bát ngát gì, ông kể cho con bao nhiêu lần về cái chốt Long Quang ấy, thế mà chúng vẫn cứ gọi là Long Giang. .. . buồn cười thật! Buồn cười thật!
Tự dưng ông lại thấy hài hài, ngồ ngộ, hết cả băn khoăn day dứt. Ngẫu hứng, ông ca một đoạn hát văn đặc sản Nam Hà với lời vừa tự chế: “Triệu Phong, Triệu Trạch, Long Quang,…Quê hương Quảng Trị í.. i..ì..i”.
Từ đấy không thấy ông Lễ ngóng thư hồi âm từ Thành Cổ nữa.
Tháng 11, năm 2012 Như Thìn
|