nhuthin
Thành viên

Bài viết: 80
|
 |
« Trả lời #560 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2013, 08:19:18 am » |
|
THÁNG NĂM, NGÀY ẤY
Tìm nhà liệt sĩ Phạm Vũ Hồng không được, cả một đoạn phố Khâm Thiên bị xóa sổ trong mùa giáng sinh kinh hoàng năm ngoái, mang tâm trạng nặng nề, tôi trở lại trường Lục Quân Trường Sĩ Quan Lục Quân, còn gọi tắt là trường 200, ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 50 km về hướng tây. Trường nằm trong một khuôn viên rất rộng, cây cối um tùm. Có những cây cổ thụ tuổi đời chắc hơn cả tuổi của trường. Đa phần là những dẫy nhà một tầng nhưng được qui hoạch rất đẹp, xung quanh rất nhiều vườn hoa, cây xanh. Căng tin của trường bán nhiều dứa hộp, rất ngon, hơn hẳn những hộp hoa quả hỗn hợp, hàng quân tiếp vụ của lính Việt Nam Cộng Hòa, chiến lợi phẩm, thỉnh thoảng chúng tôi thu được ở chiến trường. Sau vài ngày nghỉ ngơi, chúng tôi được khám sức khỏe và biên chế vào lớp học viên sĩ quan khóa dài hạn ba năm, đào tạo cán bộ đại đội. Tốt ! Chí ít ba năm mình cũng tránh xa được hòn tên, mũi đạn. Tôi thầm nghĩ vậy. Những cán bộ cấp trung đội, cùng ra đợt này với chúng tôi thì học một khóa ngắn hạn chừng tám, chín tháng gì đấy, rồi được phong quân hàm. Một lần đang đứng trong hàng quân, nghe cán bộ phổ biến một vài nội qui của nhà trường, tôi sa sẩm mặt mày, người ớn lạnh không chịu nổi. Rồi lại nóng và sốt hầm hập. Anh em trong đơn vị vội đưa tôi đến bệnh xá của trường. Một bác sĩ đến khám bệnh cho tôi. Anh ta đo nhiệt độ, bắt tôi thè lưỡi, vạch mắt, nắn bụng rất kỹ càng. Sau đó anh kết luận, tôi bị sốt rét tái phát. Lấy một tờ bệnh án, anh ta viết lia lịa những ký tự lằng nhằng chỉ riêng của ngành y mới hiểu nổi. Hết sức ngỡ ngàng vì chưa bao giờ bị sốt rét cả, rụt rè tôi nói : - Thưa bác sĩ tôi chưa bao giờ bị số rét cả, sao lại tái phát ạ? Chẳng buồn nhìn lại, anh ta đưa mắt ngắm hai con thạch sùng đang đuổi nhau trên trần nhà giây lát, rồi lại cắm cúi viết lia lịa. Khi nét bút cuối cùng kết thúc cái tờ sớ nhằng nhịt ấy, anh ta quay lại hỏi: - Tôi là bác sĩ, hay đồng chí là bác sĩ? Tôi ú ớ… Ngày ngày, sáng, chiều, tôi được cô y tá cho uống mấy viên Quinint, vài viên thuốc vitamint. Nhưng khoái nhất được tợp một chén rượu bổ tăng lực A.P.C. Cùng buồng tôi nằm có một tay, nguyên là lính của trung đoàn 95, cũng là học viên sĩ quan đang điều trị bệnh mất ngủ. Đêm đêm, anh ta đi lại như ma, thỉnh thoảng lại lẩm bẩm gì đấy, rất khó chịu. Anh ta bảo, ở chiến trường gác suốt đêm thành quen, đêm cứ chong chong, không sao chợp được mắt. Trông anh lúc nào cũng bơ phờ thật tội nghiệp. Nhưng có một lần anh ta kể: “ Hồi ở Quảng Trị, một đêm gác, mệt quá anh ngủ thiếp lúc nào không hay. Thám báo bò lên tống lựu đạn vào hầm, ba đồng đội của anh hy sinh rất thương tâm. Ôm xác các bạn khóc vật vã. Từ đấy bệnh mất ngủ phát sinh”. Tôi cho rằng, anh bị sang chấn tâm thần sau cú sốc ấy. Bệnh xá 200 hồi ấy không hiểu sao rất lắm muỗi. Đêm giắt màn kỹ thế mà sáng ra thế nào cũng có dăm con mọng máu ngủ chung màn. Tay lính cũ của trung đoàn 95 ấy có một thú tiêu khiển rất kỳ lạ. Vì hắn không ngủ được, đêm đêm chui ra, chui vào màn hàng chục lần, thành thử số muỗi mọng máu ngự trong màn của hắn cũng tăng theo tỷ thuận với số lần trở dậy. Hắn bắt sống những con muỗi mọng máu ấy miết vào tường. Vết muỗi máu đen bầm, dần hình thành một cái bàn cờ vuông vuông. Thỉnh thoảng tôi lại thấy hắn nhìn trân trân vào cái bàn cờ ấy hàng giờ, mặt ngây ngây, dài dại như đang nghiên cứu một thế cờ. Không khéo tay này bị điên mất. Mà mất ngủ cũng là triệu chứng của bệnh tâm thần …rất rõ ràng. Một hôm thằng Tâm, nguyên sinh viên trường Đại Học Nông Nghiệp, tiểu đội trưởng tiểu đội DKZ 82 và Hùng “Điếc” cùng đại đội hỏa lực cũ, cũng ra học khóa sĩ quan đợt này ghé thăm tôi ở bệnh xá. Thằng Tâm quê Bình Định rất giỏi võ và cũng là một cầu thủ bóng đá có hạng của đơn vị tôi. Chúng mang cho tôi 9 quả trứng vịt làm quà và nói: “ Chúng tao chỉ đủ tiền mua thế thôi”. Tôi mượn cái xoong chuyên luộc xi lanh và kim tiêm của cô y tá, bỏ tất cả trứng vào bắc lên bếp. Trứng chín, tôi kéo hai đứa ra bụi cây sau bệnh xá, không quên nhón luôn cả chai rượu thuốc . Sức khỏe quả là kém thật, mới tu được ba bốn ngụm, có nhiều nhặn gì đâu mà tôi đã chóng hết cả mặt, chân nam đá chân chiêu, mò về giường nằm thẳng cẳng, bữa trưa chẳng buồn đụng đến thìa cháo nào. Đến chiều, giờ uống thuốc, cô y tá hỏi tôi có biết chai rượu bổ A.P.C đâu không? Tôi gãi đầu. Cái mặt đỏ của tôi đã tố cáo tất cả. Cô ấy giận lắm nói: - Vô kỷ luật, tôi sẽ báo cáo việc này cho viện trưởng Nghiệm. Bệnh xá trưởng tên là Nghiệm, chắc là phải nghiêm lắm. Tôi thấp thỏm chờ phán quyết. Nhưng mãi chẳng thấy gì. Có lẽ cô y tá chỉ dọa thế thôi. Có điều, mỗi lần uống thuốc, không còn được tợp một chén rượu đầy hưng phấn ấy nữa, tôi cứ thấy thiêu thiếu…thế nào. Khoảng hơn hai tuần sau, dứt cơn sốt, tôi ra viện. Chia tay với tay lính cựu trung đoàn 95, bệnh hắn không hề thuyên giảm. Hắn chỉ vào cái bàn cờ lúc này thêm rất nhiều những họa tiết nhằng nhịt, nom như cái triện của vua chúa ngày xưa, bảo : - Thành Cổ đấy, chỗ kia là chốt của tao. Tôi ngớ người, thì ra hắn không hề “điên” tí nào. Bắt chặt tay hắn, mắt rưng rưng, tôi thì thầm, có lẽ cho cả nó lẫn cho tôi: - Cần quên bớt đi ông ạ. Nói vậy thôi chứ quên làm sao được, tôi ái ngại nhìn hắn đứng bên bức tranh Thành Cổ bằng máu đen sì. Trở lại lớp sĩ quan dài hạn, anh em đang trên lớp, doanh trại vắng tanh. Tay trợ lý đại đội bất ngờ báo tôi lên gặp Ban Cán bộ. Sau một hồi vòng vo Tam quốc, hỏi thăm tôi đủ thứ, sức khỏe, gia đình, vv…viên sĩ quan quân lực tuyên bố, tôi không đủ điều kiện sức khỏe tiếp tục học tập. Anh chỉ lên dãy núi xanh xanh, ngay sau trường nói: Liệu bây giờ đồng chí có thể khoác 30 kg, ngày hai lần leo lên, leo xuống không? Chúng tôi sẽ gửi trả đồng chí về đơn vị cũ. Tôi choáng váng. Lúc này, khoác 30 kg lên núi và quay lại chiến trường đối với tôi đều quá sức. Cũng chẳng thiết tha gì quân hàm thiếu úy sau ba năm, nhưng biết nói thế nào với mẹ tôi đây. Hôm ở Quảng Trị ra, lại biết tôi được cử đi học lớp sĩ quan, bà mừng quýnh quáng. Thỉnh thoảng lại từ chợ Hàng Bè về, tay cầm, lúc thì cái bánh chưng, khi thì bánh dầy giò, bắt tôi bóc ra, ăn luôn. Bà ngắm tôi ăn, nét mặt rạng rỡ, ngon lành như chính bà đang thưởng thức bánh vậy. Bà cứ ngồi thế canh tôi ăn, như thể sợ tôi bay ngay đi mất. Cả chợ đều biết con bà từ chiến trường trở về và sắp làm sĩ quan đến tướng tá chứ không ít. Cha tôi là một người đàn ông nghiêm khắc và kiệm lời. Lúc từ cõi chết trở về, tôi chào ông. Ông nói : - Tốt.
Thấy ông thay đổi nhiều quá, tóc bạc hết. Tôi hỏi vì sao bạc nhanh thế. Ông nói: - Khi nào con có hai con trai đang cầm súng ngoài mặt trận con sẽ hiểu vì sao. Tôi chào ông lên trường SQLQ, ông nói :
- Tốt. Có lẽ tạm giấu cả nhà về chuyện phải trở lại chiến trường. Tệ hơn, trong lúc tâm trạng còn rối bời, tay trợ lý yêu cầu tôi thu xếp ba lô, chuyển ra nhà khách ngay, chờ lấy giấy tờ và một ít tiền trợ cấp rồi lên đường. Nhà khách nằm ngoài khuôn viên của trường. Đó là một dãy nhà cấp bốn đơn sơ, nằm phía bên trái cổng ra vào, vật liệu đa phần là cót. Gian bên cạnh, có một người vợ lính lên thăm chồng. Hết giờ hành chính, anh chồng mới được ra với vợ. Họ tiếc từng giây bên nhau, chẳng ý tứ gì, tình cảm biểu lộ thật mãnh liệt. Cái bức vách mỏng manh chẳng thể nào ngăn nổi tiếng thở gấp gáp, tiếng giừơng ọp ẹp kêu than. Đêm họ dậy bật đèn, pha sữa lạch cạch, rồi những âm thanh ma quái lại tiếp diễn. Mặc dù tâm trạng đang ngổn ngang trăm mối, lại vừa cắt cơn sốt rét, lượng hồng cầu trong tôi có lẽ dưới mức tối thiểu, nhưng những âm thanh“chết người” ấy vẫn làm tôi nóng bừng cả người, cứ như bị sốt tái phát thật. Không thể chịu nổi, tôi ra đầu hồi dội mấy gáo nước, mệt quá gần sáng ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Sáng ra gặp chị vợ bên giếng nước, cô ta đỏ mặt nói lí nhí:
- Chồng em mới ở chiến trường ra. Khổ quá, nào tôi có hỏi han, hay trách móc gì đâu…Nhìn con chim bồ câu đang bị chị ta xử lý để nấu cháo, tôi thất kinh…lại một đêm trắng là cái chắc. Hôm sau, tôi sang Ban Hậu cần nhận giấy tờ và phụ cấp đi đường. Ba khoản rành mạch: Phụ cấp hạ sĩ quan-12 đ, tiền ăn tháng 5-18 đ + 18 kg tem lương thực, 10 đ tiền tầu xe. Tôi hỏi viên sĩ quân hậu cần có biết đơn vị tôi giờ đóng quân ở đâu không? Anh ta nói không rõ. Tôi lại hỏi, thế sao anh lại biết tính tiền tầu xe 10 đồng cho tôi. Liệu có đủ cho chuyến đi không? Anh ta bảo, đấy là trợ cấp thôi. Đồng chí có biết hàng sư đoàn đi bộ dọc Trường Sơn vào chiến trường mà có nhận đồng nào đâu? Anh ta nói rất có lý, tôi chịu thua. Bọn thằng Tâm, Hùng “điếc” buổi trưa nghỉ, tranh thủ ra chia tay. Tôi cho chúng 10 đồng và nói: -Giờ tao giầu rồi. Về nhà ăn chực cơm của ông bà già vài bữa, chúng mày cứ yên tâm. Ngay chiều hôm ấy tôi mua vé ô tô ngược về Hà Nội, nói dối cả nhà được về phép. Mẹ tôi mừng khôn xiết, ruột gan tôi càng thêm rối. Bố tôi bảo : - Tốt. Thế bao giờ con phải trả phép. - Độ tuần sau bố ạ. Tôi trả lời. Hà Nội đang trong không khí lễ hội, dân chúng háo hức chờ đến ngày 1/5 xem duyệt binh mừng chiến thắng sau Hiệp định Hòa bình Pa-ri. Mọi người trong gia đình tôi hết sức vui vẻ, lâu lắm mới đông đủ cả nhà. Dĩ nhiên vẫn còn thiếu anh trai cả của tôi, chẳng biết ở nơi nào ngoài mặt trận, bặt tin đến sáu năm rồi. Thỉnh thoảng mẹ tôi nhắc đến anh, lại khóc. Duyệt binh năm ấy hơi khác so với những năm trước. Sau khi các khối qua Quảng trường Ba Đình, sẽ diễu hành qua các tuyến phố chính ở Hà Nội. Đúng ngày lễ, tôi đi xuôi phố Lý Thái Tổ, qua ngân Hàng Nhà Nước, đến phố Tràng Tiền đón đoàn duyệt binh từ Tràng Thi đi lên. Hai bên đường, đông nghịt dân chúng, có nhiều người từ những tỉnh lân cận đổ về Thủ Đô xem duyệt binh, họ đứng chờ cả tiếng đồng hồ. Kia rồi, từng làn sóng mũ Kêpi tăm tắp, nhịp nhàng lên xuống theo nhịp khúc quân hành: Vừng đông hửng sáng Núi non xanh ngàn trùng xa Tổ quốc bao la hiền hòa Tô thắm bóng cờ…. Các khối của các trường sĩ quan, Pháo binh, Hậu cần, Công binh, Lục quân, …lần lượt diễu qua. Đẹp quá, những người lính kiêu hãnh hiên ngang ngẩng cao đầu. Họ đón nhận những tràng vỗ tay không ngớt hai bên đường. Những bước chân rầm rập, đều đặn, oai hùng. Nhìn những bộ quân phục mới tinh của họ, chạnh lòng tôi lại nhớ đến bộ quân phục vàng khè, cứng như mo nang của mình từ chốt trở về. Anh em đặt cho tôi biệt danh “Công an” từ đó. Nhìn những người lính đang hiên ngang, đều bước, chạnh lòng tôi lại nhớ đến những đồng đội chui rúc trong những căn hầm ngập nước, dưới làn pháo kích của đối phương. Nhìn những người lính “bọc đường” kia tôi dám chắc, nhiều người chưa từng phải khom lưng chạy dưới làn đạn của quân thù. Tự dưng ứa nước mắt, tôi khóc. Khóc thương cho chính mình, sắp quay trở lại nơi hòn tên mũi đạn. Khóc thương cho những đồng đội đã chết và còn sống, đang ngày đêm giữ gìn từng tấc đất nhỏ nhoi, đánh đổi cả bằng núi xương, sông máu mới có được. Cho những người lính kia bước lên bục vinh quang. Hàng quân nhòe đi trong nước mắt. Qua lăng kính bằng tinh thể lệ, tôi thấy thấp thoáng bóng anh Châu, anh Tẹo, thằng Hồng, Định “Xịt”, Khánh “Voi”, thằng Đợi..những bóng ma xiêu vẹo cuối hàng quân.
- Cháu làm sao thế? Tôi nghe có tiếng quen, quen bên tai. Giật mình quay lại, bà thím của tôi đã đứng cạnh bên từ lúc nào. Chùi vội những giọt nước mắt, tôi nói: - Cháu hơi bị xúc động. Quay sang mấy bà bạn đi cùng, thím chỉ tôi nói: - Cháu tôi mới ở Quảng Trị ra. Một bà, mắt vụt sáng đầy hy vọng, hỏi tôi: - Cháu có gặp thằng Thụy nhà cô không? Nó vào trong ấy gần năm nay chẳng thấy tin tức gì. Cô lo lắm. Tôi xin lỗi bà, rất tiếc không gặp Thụy. Thụy ơi mày ở đâu? Liệu mày có sống sót sau những trận bom B52 kinh hoàng? Liệu mày có qua được những trận pháo kích như đổ lửa? Liệu mày có vượt qua được những trận đánh trực diện với Thủy Quân Lục Chiến, với Biệt Động Quân, hay Lính Dù? Liệu mày có may mắn như tao?... Gần năm nay chẳng có tin tức gì. Lành ít dữ nhiều. Vội xin phép mấy bà, quay đi, tôi lẩn tránh cặp mắt đau đáu của người mẹ đang ngóng tin con ngoài mặt trận. Dường như trách móc, tôi có lỗi một phần vì không gặp con bà… Trở về nhà, âm thầm chuẩn bị cho chuyến đi vào chiến trường, quan trọng nhất là lương thực, tôi đưa 5 kg tem, nhờ chị tôi mua hộ 5 kg biscot( bánh mì sấy khô), dự trù ăn trong 10 ngày. Chị kêu trời, “ Cậu có biết 5 kg gần nửa bao tải không”. “Vậy thì, bốn cân vậy, để em ăn sáng”, tôi nói quấy quá. Trong đầu, phác thảo kế hoạch cho chuyến đi. Đi tầu vào Vinh, đi ô tô khách vào Hà Tĩnh, đến Kỳ Anh, đi bộ theo đường 22 vào Kỳ Sơn, khoảng 20 km đường rừng, tìm hậu cứ của sư đoàn. Chắc họ biết nơi đóng quân đích xác của đơn vị, sau đó sẽ đi tiếp, phương tiện tùy cơ ứng biến. Vào một chiều hạ, tháng năm, ngày ấy, tôi đeo bộ đồ trận, khoác balo nhét đầy lương thực, chào bố mẹ lên đường “trả phép”. Mẹ tôi lo lắng, nhìn chòng chọc vào con dao găm, hỏi :“Bao giờ con lại về”. Tôi cố nén lòng khỏi bật khóc, trả lời: “Chưa biết ạ. Nhưng con sẽ về”. Nhìn nét mặt tội nghiệp của bà, tôi chỉ muốn quẳng tất cả đi, lao vào lòng bà như thủa còn ấu thơ. Cha tôi, gắt khẽ, “Đừng làm con bịn rịn…Tốt, con đi đi”. Tôi biết đằng sau câu “ tốt” nhẹ bẫng của ông là cả một gánh nặng tâm tư. Tôi đi như chạy, chạy khỏi ngôi nhà đầy ắp những kỷ niệm tuổi thơ, chạy khỏi những đôi mắt đã sinh ra tôi, nuôi dưỡng tôi, dõi theo từng bước tôi đi. Chẳng ai đưa tiễn, chỉ có nắng quái chiều hôm đuổi theo tôi đến tận sân ga. Một tiếng sau, con tầu già nua, lười nhác, cựa mình, miễn cưỡng rời ga, đưa một thằng lính vừa qua cơn sốt rét, 21 tuổi, có 21 đồng trong túi, về phương Nam. Hà nội, tháng 5 / 1973-2013 Như Thìn
P/S Năm 1975, trở về, tôi được biết nhà bà bạn của thím tôi mới nhận một bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Thụy LS Thụy có họ với Dũng “Bạc” lính C1, sinh viên trường ĐHXD, Thụy gọi Dũng là chú thì phải. NT
|