nhuthin
Thành viên

Bài viết: 80
|
 |
« Trả lời #573 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2013, 03:57:43 am » |
|
THÁNG NĂM, NGÀY ẤY (TIẾP)
Con tầu già nua không chỉ lười biếng mà còn tùy tiện, đi nghỉ thất thường. Ngồi trên tầu, trên đường thiên lý xuyên màn đêm, vẩn vơ tôi nghĩ đến ông cha từ thủa mang gươm đi mở cõi, nghĩ đến chúa Trịnh bao phen chinh Nam, nghĩ đến thế hệ cha anh trên con tàu Nam tiến giúp Nam Bộ kháng chiến chống Pháp, thủa quốc gia độc lập còn trứng nước. Nghĩ đến thế hệ chúng ta, không biết bao nhiêu đoàn tầu chở thanh niên trai tráng ra tiền tuyến, quyết tâm thống nhất đất nước? Vẩn vơ nhớ đến đồng đội, gia đình, cha mẹ, anh em. Đầu óc chẳng phút thảnh thơi. Thỉnh thoảng tôi lại lấy một nắm biscot, bỏ từng miếng vào miệng nhai chậm rãi rồi tợp một ngụm nước. Hết nước thì ra chỗ vòi nước trên tàu lấy đầy bi đông. Với lính chiến, nước đun sôi là một khái niệm rất xa lạ. Kinh nghiệm trận mạc dạy tôi cách ăn lương khô. Không ăn thành bữa, rất khó nuốt. Ăn thế này, không lúc nào cảm thấy đói, lại không mất thì giờ vì bữa ăn.
Gần trưa hôm sau, tầu mới đến Vinh, tôi vội vã hỏi đường ra bến ô tô. Bến xe khách đông nghịt. Nhìn cửa bán vé đi Hà Tĩnh mà buồn. Một cái bảng viết cẩu thả bằng phấn hai chữ :“Hết vé” như trêu ngươi. Những chuyến tiếp đều đã bán hết vé, thôi đành chờ đến mai vậy. Tôi ném ịch chiếc balo sau hàng dài mũ, nón, gạch để xếp hàng chờ mua vé. Có hai lính quân phục cáu bẩn, ngực đeo chiếc huy hiệu thương binh lại gần, hỏi tôi có muốn đi ngay không? Họ còn thừa một vé. Tôi vội nhỏm đậy, đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh. May thế! Nhưng họ bảo, cho họ thêm mấy đồng gọi là tiền thuốc nước. Thì ra, họ lợi dụng cái huy hiệu trên ngực, ưu tiên mua vé để kiếm lời. Chẳng biết chúng có phải thương binh thật không? Nhìn mặt rất bất lương, tôi lắc đầu buông sõng một câu: Không có tiền. Họ thất vọng quay đi, nhưng vẫn lảng vảng quanh chỗ tôi ngồi. Thỉnh thoảng lại đưa cặp mắt, nhìn chiếc balo căng phồng của tôi. Bọn này mà “đá” chiếc balo thì gay. Mà có một mình làm sao căng mắt suốt đêm được. Chiếc balo đầy cứng biscot, chắc chúng tưởng nhiều của lắm. Tốt nhất để chúng xem trong có gì. Tôi mở balo, động tác dềnh dang, lấy một nắm bánh khô, chậm rãi bỏ vào miệng một miếng. Hai tên mắt đảo như lạc rang, nhìn chiếc balo đầy nghi hoặc. Chắc chúng không tin toàn chứa đồ ít giá trị như thế. Cần phải thay đổi chiến thuật. Tôi rút con dao găm sáng loáng ra, thỉnh thoảng lại quyệt vào đế dép như chùi bụi. Trò diễn này tỏ ra khá hiệu nghiệm, hai tên liếc con dao một lúc rồi lảng đi. Có lẽ chúng nghĩ, cũng không dễ sơi lắm đâu.
Tuy vậy, đêm tôi vẫn phải gối đầu lên chiếc balo, ngủ ngay tại chỗ. Nửa đêm bật dậy vì có động trên đầu. Hóa ra mấy chú chuột cống tấn công. Chúng đã khoét một lỗ trên nắp balo. Chết tiệt! Từ đấy cứ chập chờn cho đến sáng. Cuối cùng, sau một hồi tả xung hữu đột, tôi cũng có một chiếc vé đi Hà Tĩnh trong tay.
Qua phà Bến Thủy, hành khách xuống xe, bên kia sông, dãy Hồng Lĩnh đứng sừng sững như chắn đường vô Nam. Sườn núi, một khẩu hiệu khổng lồ “ Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, có lẽ được ghép bằng đá, đứng xa vài ba cây số vẫn đọc rõ. Những ai qua đây đều khắc cốt, ghi xương câu này.
Xe chạy được chừng một tiếng, tôi bảo tay phụ xe, khi nào đến Kỳ Anh cho xuống nhờ. Anh ta nhìn tôi như từ trên trời rơi xuống nói:
- Xe chỉ đến Hà Tĩnh thôi, không vào Kỳ Anh.
Tôi phát hoảng, thì ra mình học môn địa lý không cẩn thận. Cứ nghĩ phải qua Kỳ Anh, mới đến Hà Tĩnh, ai dè còn hơn 50 km nữa thì mới tới được cái thị trấn bé nhỏ nghèo nàn kia. Thôi thế là lại một chặng xe khách tiếp. Rủa thầm sự dốt nát đã tự làm khó mình, chán không tưởng tượng nổi.
Đến Hà Tĩnh, bến xe lại đông nghịt. Thôi không xếp hàng mua vé nữa, tôi quyết định vẫy xe tải. Cứ lững thững trên đường một, thỉnh thoảng tôi lại vẫy một chiếc xe đang vượt qua. Chỉ hứng bụi mù trên đường, chẳng kết quả gì. Hầu hết ca bin đã chật người. Lái xe chẳng dại gì mà không bắt vài “nghĩa quân”, kiếm chút tiền tiêu xài. Hy vọng còn chỗ cho mình quá mỏng manh.
Trời nắng như đổ lửa, không khí đăc quánh vì bụi đường. Hai bên, nhan nhản những hố bom to như những chiếc giếng đầu làng. Những chiếc xe tải cháy trơ khung còn sót lại rải rác, dấu tích sau những trận oanh kích của không lực Mỹ vào vùng cán xoong miền Bắc, chặn đường tiếp viện cho tiền phương.
Sức khỏe chưa hồi phục hẳn, cộng thêm dinh dưỡng không đầy đủ, thời tiết khắc nghiệt, tôi không còn bước thêm được nữa, đành dừng lại, nhìn con đường hun hút phía trước, như có khói vì sức nóng của mặt trời mà nản lòng.
Đằng sau có tiếng động cơ, một chiếc Com măng ca đang tiến lại. Tôi vẫy tay hú họa. Chiếc xe biển đỏ tạt bên lề đường. Trên xe có ba người, một lái xe, còn lại hai người lính ngồi sau, một già, một trẻ. Tôi xin đi nhờ. Người lái xe nhanh nhẹn mở cửa cho tôi lên.
Người lính già, tóc đã bạc, khuôn mặt cương nghị, cặp mắt sáng, giọng trầm ấm hỏi tôi về đâu?
- Thủ trưởng cho em về Kỳ Anh ạ.
Tôi trả lời. Tôi cứ gọi bừa thủ trưởng vì, người như ông chắc phải giữ một cương vị quan trọng nào đó trong quân đội. Ông gật đầu.
Ông hỏi tôi ở đơn vị nào, là lính của sư 325, tôi trả lời. Ông hỏi thăm sư trưởng của tôi. Tôi thú thực với ông chỉ nghe tên thôi chưa bao giờ gặp mặt. Tôi nói:
- Lính chiến chúng em, cấp tiểu đoàn còn chẳng biết mặt nữa là trung với cả sư đoàn . Ông cười, hỏi tôi vì sao đi một mình thế này.
Tôi chẳng giấu chuyện gì, kể với ông từ trường SQLQ tìm đường về đơn vị cũ. Ông hỏi tôi chuyện trận mạc. Ôi! Chuyện gì chứ trận mạc thì tôi sẵn lắm. Ông chăm chú nghe, gật gù. Tay lính trẻ, tôi đoán là cần vụ cứ há hốc mồn ra. Không biết có phải tôi có năng khiếu kể chuyện, hay chuyện tôi kể quá dị thường, mà cậu ta cứ như bị thôi miên. Chẳng mấy chốc xe đã tới Kỳ Anh.
Mắt chợt buồn, người lính già nói:
- Ta rất muốn có một người lính dưới quyền như con, nhưng thôi, ta chia tay.
Quay sang tay lính trẻ ông nói gì đó, anh ta mở balo lấy ra hai hộp thịt, hai gói lương khô đưa cho tôi. Ông nói :
- Con cầm lấy mà ăn đường, chúc con may mắn, ta đi đây.
Chiếc xe nổ máy lao vút đi, tôi ngẩn ngơ nhìn , cuộn bụi cuốn theo, chiếc biển đỏ mờ dần rồi mất hút. Người lính già là ai, cấp bậc gì? Tôi tự trách mình đã không kịp hỏi tên ông. Già vậy rồi mà ông vẫn dấn thân vào miền cát bụi, nóng bỏng lửa đạn này. Ông đã tiếp cho tôi nhiều sinh lực, chân nhẹ tênh tôi rẽ vào đường đi Kỳ Sơn.
Cần phải tranh thủ đi một hai tiếng trước khi trời tối, mai lại đi tiếp, những hơn hai chục cây số chứ có ít đâu?
Đường rừng chiều không một bóng người, tiếng chim cũng thưa dần, lác đác đâu đó tiếng lá rơi sào sạc. Không gian thật yên tĩnh. Mặt trời cũng đã rúc sau rặng núi xanh xanh phía xa xa. Có tiếng suối reo reo róc rách khá gần. Cần tìm chỗ nghỉ đêm. Cũng tầm này năm ngoái, ở Hà Tĩnh, nghe cánh lái xe nói, đường này còn nhiều thú dữ. Có khi hổ nhảy cả lên thùng xe, chẳng hiểu có đúng không hay họ chỉ dọa vậy, nhưng tốt nhất vẫn mắc võng thật cao để đề phòng bất trắc. Lần theo tiếng nước chảy tôi tìm thấy một dòng suối nhỏ, rất lý tưởng để nghỉ lại. Cần phải kiếm một chút rau rừng. Mấy hôm nay chẳng được ăn chút rau nào, xót ruột quá. Dọc hai bên ven bờ suối, không thấy một ngọn môn thục nào. Ra gần bìa rừng cũng không tìm được một nhánh rau tầu bay. Đang thất vọng, may sao tôi tìm được một cây chút ngút. Tốt, lá nấu canh chua với thịt hộp thì tuyệt. Con dao găm thật đắc dụng. Loáng một cái tôi đã phát xong đám cây lúp xúp, tạo một khoảng trống, dưới hai thân cây vừa tầm mắc võng. Chặt hai chạc cây cỡ cổ tay, đóng xuống đất, gác một cành tươi ngang qua, treo ăng go lên tôi nhóm lửa.
Nửa tiếng sau thì nghiệm thu thành quả lao động, tôi húp từng thìa canh sao mà tuyệt vời thế. Chúng nhanh chóng ngấm vào thành ruột, trộn vào máu, đến từng ngóc ngách, từng tế bào trong cơ thể. Cảm nhận rất rõ ràng, canh tới đâu, tỉnh người tới đó.
Bố lính già tốt bụng chẳng khác gì ông bụt, bất thần xuất hiện, giúp tôi thật đúng lúc. Chắc ông cũng có con trai tầm tuổi mình. Biết đâu cũng đang cầm súng ở phương trời nào đó? Không ngẫu nhiên ông gọi mình là con trìu mến đến vậy.
Từ hôm rời Hà Nội, nay mới được một bữa nóng, lại có chất, sức khỏe được cải thiện rõ rệt. Ăn uống xong, trèo lên võng buông màn tôi ngủ ngay. Mai phải đi sớm, trước lúc mặt trời mọc, tránh nắng thiêu đốt giữa mùa hè vùng gió Lào cát trắng này. Một phần vì đi bộ quá mệt, lại ấm bụng tôi đánh một giấc ngon lành.
Tảng sáng, tiếng con chim “bắt tép kho cà” xé toang màn đêm, mở lối cho vừng sáng yếu ớt gượng dậy trên nền trời. Bản nhạc rừng tinh khôi bắt đầu. Tiếng chim ríu rít mọi cung bậc. Muôn loài thi nhau cùng hòa tấu. Tiếng nước chảy róc rách như làm nền cho bản nhạc càng thêm êm ái. Khung cảnh thật thanh bình. Dường như chiến tranh chỉ là chuyện của ngày xửa, ngày xưa.
Một đôi chim gáy vỗ cánh đậu trên một nhánh cây rất gần. Hơi dung tục, tôi nghĩ giá có khẩu AK M ở đây thì thể nào cũng được một bữa tươi. Nhanh chóng thu xếp đồ đạc, ăn nốt nửa hộp thịt hôm qua với chút biscot, cần nạp kỹ trước khi lên đường, lấy đầy bi đông nước, luyến tiếc nhìn con suối thơ mộng, tôi cất bước, dấn thân vào con đường hun hút còn mờ hơi sương. Được vài tiếng, trời mỗi lúc một nóng. Mặt trời dọi xuống con đường bụi đỏ. Con đường trước kia vốn được rải đá cấp phối, nay chỉ còn vết tích. Thỉnh thoảng gặp một vài người đi ngược chiều. Dân địa phương mang sản vật rừng núi ra thị trấn trao đổi hàng hóa. Có lẽ còn dăm, bẩy cây số nữa là đến kỳ Sơn. Nghỉ một chút đã.
Đang dốc ngược bi đông, uống từng ngụm nước nhỏ, chợt tôi thấy phía trước có một chiến sĩ khoác balo đi ngược trở ra. Biết đâu anh ta là lính của hậu cứ sư đoàn? Đầy hy vọng, tôi chờ anh đến gần cất tiếng chào. Anh ta đáp lại. Tôi hỏi anh có biết hậu cứ sư đoàn 325 ở đâu không? Liệu sắp đến chưa?
Không vội trả lời, anh ta nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hỏi:
- Ông tìm cứ sư 325 có việc gì?
- Tôi là lính 101, tìm đường về đơn vị cũ.
Tôi trả lời. - Thế thì ông quay lại đi, tôi vừa ở đấy ra, chẳng có ma nào cả.
Rồi hắn tự giới thiệu tên là Tố, lính trung đoàn 18, vì không đủ sức khỏe nên trường SQLQ trả về đơn vị cũ. Ôi! Một thằng có hoàn cảnh y hệt mình. May gặp nó ở đây, nếu không cuốc dăm, bẩy cây nữa vào Kỳ Sơn thật vô ích.
Cũng thú vị thật, vậy là có bạn đường.
Hắn kể một tuần nay rồi, một mình từ Vĩnh Phúc vào đây, tiền sắp hết. Đơn vị thì chẳng biết giờ ở đâu? Tôi nói, ông là lính chiến không biết lo xa, bảo nhà chuẩn bị cho một ít lương khô đi đường. Cầm vài chục đồng rải từ ngoài ấy vào đến đây mà còn thì cũng tài. Hắn tần ngần nói:
- Nhưng chẳng ai lo cho tao cả. Bố tao mất năm ngoái, nhà tao trúng bom, còn mẹ già em dại. Trước khi đi, tao còn phải bớt chút tiền cho mẹ tao.
Tôi nghe nó nói, thương quá chỉ muốn khóc. Thằng này số còn “ khốn nạn” bằng mấy mình. Tôi bảo nó, thôi ông cứ đi với tôi, có gì ăn nấy đừng lo. Nó bảo : - Không, tao sẽ quay ra bắc, về nhà, thương mẹ tao quá. - Tùy ông thôi.
Nói vậy, nhưng trước mắt, tôi với nó vẫn thành đôi bạn đường lý tưởng, nhanh chóng trở nên thân tình. Ngược ra Kỳ Anh, hắn nói nhiều quá, đúng là cả tuần nay chẳng được nói chuyện với ai.
Hắn chìa đôi quân hàm hạ sĩ ra khoe với tôi:
- Hồi ra Bắc tao tranh thủ chụp một kiểu ảnh, trông oai ra phết, về làng các em chạy theo cả đám. Mê tít thò lò. Có đứa hỏi một sao một gạch là thiếu úy à. Ngu thế. Tao bảo ba năm nữa. Mà nhiều em quá tao chẳng biết chọn đứa nào. Mẹ tao giục lấy đại một đứa đỡ đần mẹ tao lúc neo đơn. Nhưng mày tính, lấy vợ chứ có phải đánh nhau đâu mà ngắm bừa một đứa rồi bóp cò. Mà chúng nó bạo quá tao đâm sợ. Ngồi gần, mùi bồ kết thoang thoảng từ tóc bay ra, tim tao đập thình thịch, hơn cả giáp mặt với bọn Thủy Quân Lục Chiến.
Tôi bảo nó:
- Mày kiếm đâu được đôi quân hàm thế. Khi ra bắc, tao cũng được phong hạ sĩ nhưng chỉ trên giấy thôi. Lúc nào ra Kỳ Anh, mày cho tao mượn tranh thủ chụp một kiểu ảnh làm kỷ niệm.
Hắn vui vẻ đưa ngay. Ngược đến đoạn có con suối, nơi tôi nghỉ lại đêm qua, trời cũng về chiều, tôi bảo nó, đêm nay hai đưa nghỉ lại đây, mai đi tiếp. Nó gật đầu.
Lần này nhiều thời gian hơn, chúng tôi kiếm được một mớ rau tầu bay, lập tức nhóm lửa nấu ăn. Tôi mở nốt hộp thịt, bố lính gìa cho hôm qua, hai đứa liên hoan mừng hội ngộ.
Đêm, hắn kể chuyện đánh nhau của đơn vị hắn, chẳng khác gì chúng tôi, đủ cung bậc, vui ít buồn nhiều.
Sáng hôm sau, hai đứa ra Kỳ Anh. Tôi sẻ cho nó ít biscot nói:
- Tiền tao còn một ít để đi đường, mày cầm chút này phòng khi đói.
Nó cám ơn, vẫy xe ngược ra Bắc.
Hắn đi rồi, tôi giật mình quên chưa trả đôi quân hàm hạ sĩ.
Cho đến giờ tôi vẫn còn giữ đôi quân hàm ấy, sau này có thoáng gặp lại hắn một lần nữa rồi bặt tin. Chẳng biết nó có vượt qua được trận chiến năm 1975 không? Tôi muốn gửi trả nó đôi quân hàm mà chẳng biết tìm nó ở phương trời nào…. Tháng năm, 2013 NT Mấy tuần trước có gặp TTNL ở 19 Ngọc Hà, tôi hỏi Tháng năm, ngày ấy, ông già ông có qua Hà Tĩnh không? Minh nói không rõ. Sau năm 1975, trở về trường học tiếp, một lần qua nhà M chơi, thấy ông già nó, cứ ngờ ngợ như đã gặp ở đâu? Tôi thấy khẩu Cac bin M2 dựng góc nhà, mê tít. Cứ thấy súng lại ngứa ngáy hết cả ng
|