Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:10:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nó và tôi  (Đọc 305694 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #580 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2013, 06:14:35 pm »

Không phải là ấp chiến lược đâu bạn ạ, đó là trận tiến công chi khu Long Thành . Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ánh Dương hy sinh ngay trên đường phố của Long Thành .

@HH: Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ánh Dương ở tiểu đoàn 1 của mình, ông đã lăn lộn với chúng mình những ngày tháng khốc liệt ở ven TX-Thành cổ Quảng Trị mùa hè 1972.


Mộ phần của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ánh Dương tại NTLS Long Thành.
Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #581 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2013, 11:23:16 pm »

Không phải là ấp chiến lược đâu bạn ạ, đó là trận tiến công chi khu Long Thành . Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ánh Dương hy sinh ngay trên đường phố của Long Thành .

@HH: Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ánh Dương ở tiểu đoàn 1 của mình, ông đã lăn lộn với chúng mình những ngày tháng khốc liệt ở ven TX-Thành cổ Quảng Trị mùa hè 1972.


Mộ phần của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ánh Dương tại NTLS Long Thành.

Về trận mà bác Nguyễn Ánh Dương hy sinh thì có một nguồn như thế này:
http://www.baomoi.com/Chuyen-ke-o-Long-Thanh-noi-mo-man-Chien-dich-Ho-Chi-Minh/121/4189786.epi

Chuyện kể ở Long Thành, nơi mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh

ND - Đã 35 năm, miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, nhưng ký ức và cảm xúc của những người trực tiếp tham gia trận Long Thành vào 17 giờ ngày 26-4-1975, mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn như mới.

Đồng chí Vũ Trọng Hóa , nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn 18, Sư đoàn 325 cho biết: Đúng 17 giờ ngày 26-4-1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch phát lệnh nổ súng. Pháo, xe tăng của Sư đoàn 325 đặt tại cánh đồng Sở Hoàng, xã Long An đồng loạt bắn vào Chi khu quân sự Long Thành. Đây là trận hiệp đồng tác chiến giữa binh chủng pháo binh, xe tăng và bộ binh.

Trong nửa giờ, gần 700 trái pháo dập xuống, Chi khu Long Thành chìm trong bão lửa. Loạt đạn đầu nổ tại khu Cầu Xéo. Loạt đạn thứ hai nổ trúng trận địa pháo 105 ly của địch. Nhà lầu của quận trưởng cũng bị trúng đạn. Trung đoàn 46 nhanh chóng chiếm được cầu Đông Hữu rồi vận động ra đánh chiếm Phước Thiềng. Trung đoàn 18 bao vây, tiêu diệt hai đại đội và sở chỉ huy tiểu đoàn địch, chiếm Bình Sơn. Trung đoàn 101, cùng với xe tăng tiêu diệt hai đại đội lính thủy đánh bộ, chiếm trận địa pháo của địch, chiếm ngã ba đường 10 và đường 15, tạo bàn đạp quan trọng đánh chiếm chi khu Long Thành.

Bị trúng đạn, địch phản ứng gọi pháo từ Bến Sắn, Phước Hòa bắn chặn đường 25 hướng từ Lộc An lên nhằm cản bước tiến của Quân giải phóng. Lập tức, pháo của Sư đoàn 325 điều chỉnh hướng bắn và chỉ trong khoảng 45 phút, đã nã dồn dập khoảng 2.000 trái pháo, diệt hai trận địa pháo của địch.

18 giờ ngày 26-4-1975, xe tăng của Lữ đoàn 203, Sư đoàn 325 tiến đến ngã ba đường Nguyễn An Ninh. Càng tiến sâu vào quận lỵ, địch chống cự càng điên cuồng. Bọn chúng đánh chia cắt mũi thọc sâu của ta ở phía trước, đồng thời luồn theo các ngõ hẻm đánh lén phía sau ta. Khi xe tăng đến trước cửa hiệu Châu Hải, đạn từ trên tháp nước do một ổ đề kháng của địch bắn xuống khiến bộ binh của ta không tiến lên được. Xe tăng của ta bắn hai quả đạn pháo, tháp nước thủng một lỗ lớn (nay vẫn còn), ba xác lính cùng cây đại liên rơi xuống. Xe tăng, bộ binh ta tràn vào bao vây dinh quận lỵ.

Lúc 18 giờ 55 phút, bộ đội ta bắn cháy hai xe quân sự, chiếm trận địa pháo 105 ly của địch ở gần chợ. Lúc 22 giờ, quân ta làm chủ những đồn chung quanh như: Cầu Quản Thủ, ngã ba Cầu Xéo, Liên Kim Sơn, chốt Cầu Đen, chốt Bàu Cá. Quân địch rút chạy vào trong quận, co cụm lại, cố thủ chống trả. Hệ thống điện bị cắt. Chi khu Long Thành chìm trong bóng tối. Chốc chốc lóe lên vầng lửa từ các loạt đạn tiểu liên và đạn pháo.

Lâm vào thế bị bao vây, địch chống trả quyết liệt, 22 giờ 30 phút, một xe tăng của ta bị địch bắn cháy ngay trước cổng dinh quận lỵ, năm chiến sĩ anh dũng hy sinh. Khoảng 23 giờ, lại một xe tăng của bộ đội ta bị trúng đạn, bốc cháy ngay trước trận địa pháo 105 ly của địch. Mặc dù bị cháy hai xe tăng, các chiến sĩ ta quyết tâm tiến công áp đảo địch. Đến 16 giờ 30 phút ngày 27-4-1975, Sư đoàn 325 đã làm chủ hoàn toàn khu vực Long Thành. Tuyến phòng thủ đông-nam Sài Gòn và đường 15 của địch đã bị cắt đứt.

Lợi dụng lúc trời tối, tên quận trưởng Long Thành, Hà Văn Sáu đã bỏ trốn. Chỉ huy đào thoát, binh lính trong quận như rắn mất đầu, gần một trung đội địch mang súng ra hàng, nhiều tên ngoan cố chạy vào ấp Thái Lạc lẩn trốn.

Ấp Thái Lạc vốn là "ấp chiến lược" đặc biệt, trực thuộc Phủ Tổng thống ngụy, chung quanh có hàng rào tre gai dày đặc, giao thông hào, hàng rào dây kẽm gai, nhà dân bao bọc, chỉ có con đường độc đạo chạy thẳng từ đường 15 vào cửa nhà thờ.

Trước địa hình phức tạp, xen cài như vậy, các toán lính thất trận ở chi khu Long Thành và khu vực lân cận chạy về trú nấp khá đông. Chúng kết hợp với bọn dân vệ địa phương, trà trộn trong nhà dân cố thủ. Gọi hàng thì bọn này ngoan cố chống lại. Cho pháo dập thì sợ ảnh hưởng đến tính mạng dân thường. Vì vậy, quân ta tiếp tục bao vây, đồng thời tăng cường lực lượng, khẩn trương giải phóng xã Phước Long.

Tại xã Phước Thái, ngày 28-4-1975, bộ đội chủ lực phối hợp du kích bao vây và phát loa cho địch biết quận lỵ Long Thành đã được giải phóng. Buông súng trở về sẽ được chính quyền cách mạng khoan hồng. Tên đồn phó cùng 50 lính bảo an đem súng ra hàng. Xã Phước Thái hoàn toàn giải phóng vào lúc 10 giờ kém 15 phút.

Đồng chí Nguyễn An Gang, nguyên Chính ủy Trung đoàn 18, Sư đoàn 325 kể lại, giải phóng xong Phước Thái, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 101 quay về giải quyết dứt điểm số tàn quân đang cố thủ tại ấp Thái Lạc. Tàn quân ở đây được trang bị khá tốt, lại dựa vào địa hình phức tạp nên ngoan cố chống trả. Sau hai ngày kiên trì bao vây, kêu gọi, thuyết phục không thành, lực lượng cách mạng mới quyết định tiến công. Địch nấp trong nhà hầm bắn ra khiến ba đợt tiến công của quân ta đều không tiến vào được, hàng chục chiến sĩ hy sinh ngay trước nhà thờ ấp Thái Lạc, trong đó có Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ánh Dương.

Để giải quyết dứt điểm, Trung đoàn 101 điều thêm một đại đội dự bị, kết hợp với lực lượng tại chỗ quyết tâm tiêu diệt số tàn quân tại đây. Lực lượng ta chia làm hai cánh: một cánh từ quốc lộ 15 dùng cối 82 ly bắn cấp tập vào nơi tàn quân ẩn nấp; một cánh đánh từ cánh đồng Bưng Cơ lên, tạo điều kiện cho bộ binh tràn vào đánh trực diện với nhóm tàn quân. Bọn lính trong ấp chống cự không nổi phải mở đường máu tháo chạy ra khu Gò Mả thuộc ấp Hàng Gòn, một số trốn vào rừng cao-su. Ấp Thái Lạc là địa bàn cuối cùng của huyện Long Thành được giải phóng.

Đến 14 giờ ngày 28-4-1975, Sư đoàn 325 thông báo cho đồng bào trở về thị trấn, sau đó phối hợp lực lượng địa phương đánh chiếm quận lỵ Nhơn Trạch.

Sáng 28-4-1975, Trung đoàn 46, do Quân khu 3 tăng cường cho Sư đoàn 325 hành quân theo tỉnh lộ 25 tiêu diệt trận địa pháo 155 ly của địch ở ấp Bến Sắn, xã Phước Thiềng, Nhơn Trạch. Sau khi tiêu diệt xong trận địa pháo của địch, quân ta đánh chiếm chi khu Nhơn Trạch. Trung đoàn 46 áp sát, đánh chiếm thành Tuy Hạ.

Đúng 4 giờ 30 phút sáng 29-4-1975, pháo 130 ly của Sư đoàn 325 bắn hơn 300 quả đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Nhiều tiếng nổ dồn dập làm rung chuyển thành phố Sài Gòn. Sân bay Tân Sơn Nhất hoàn toàn tê liệt. Các khẩu pháo này đồng thời bắn phá kho đạn của địch tại thành Tuy Hạ, gây nhiều đám cháy, nổ lớn nhưng địch vẫn cố thủ không chịu đầu hàng. Trung đoàn 46 được lệnh tăng cường xe tăng tiến công thành Tuy Hạ.

Sau sáu giờ chiến đấu quyết liệt, đến 18 giờ ngày 29-4-1975 quân ta đã tiêu diệt và bắt sống phần lớn quân địch tại thành Tuy Hạ. Số tàn quân tháo chạy về hướng Sài Gòn, lột bỏ cả quân trang, quân dụng đầy trên đường dẫn xuống bến phà Cát Lái. Khoảng 40 phút sau, sư đoàn đã chiếm mố bắc phà Cát Lái. Bên bờ nam vẫn còn hàng nghìn tên địch, hàng trăm tàu thuyền neo đậu ở Tân Cảng và sông Nhà Bè.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn 325 nêu quyết tâm vượt sông Đồng Nai, tiến vào Sài Gòn. Đồng chí Trịnh Phẩm Hạnh, nguyên Trợ lý trinh sát Sư đoàn 325 nhớ lại, từng tổ trinh sát vượt sông trên chiếc xuồng nhỏ của dân chài địa phương vượt sông Đồng Nai để nắm tình hình địch. Cán bộ, chiến sĩ Su đoàn 325 phải vượt sông rộng hơn 800m dưới sự ngăn chặn bằng hỏa lực rất mạnh của địch. Hàng chục khẩu pháo lớn của ta đã chiếm trận địa ở sát mép nước. Xe tăng, pháo 85 cũng được điều đến để yểm trợ cho công binh chở lực lượng của sư đoàn qua sông.

Đúng 4 giờ 30 phút sáng 30-4-1975, cuộc tiến công vượt sông Đồng Nai của Sư đoàn 325 bắt đầu.

Khoảng 6 giờ ngày 30-4-1975, tàu chiến của hải quân ngụy và hàng chục tàu khác chở đầy binh lính theo sông Nhà Bè tiến ra phản kích, bắn loạn xạ vào quân ta. Những khẩu pháo của ta lập tức nhả đạn làm năm tàu của địch chìm tại chỗ, hàng chục chiếc khác bốc cháy. Sư đoàn 325 lệnh cho Trung đoàn 101 khẩn trương vượt sông, nhanh chóng đánh chiếm căn cứ Cát Lái, bắt và thu hơn 100 tàu, xuồng quân sự của địch, sau đó tiến vào đánh chiếm Bộ tư lệnh hải quân địch. Trung đoàn 18 được lệnh hành quân đến Tân Cảng, làm lực lượng dự bị của Sư đoàn 325, Quân đoàn 2, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Chiến tranh đã lùi xa, chiến trường xưa giờ là những vùng đất thay da đổi thịt, xanh mướt một mầu xanh hòa bình. Những con đường đất đỏ của Long Thành nay được thay bằng đường nhựa. Ngã ba Lộc An, nơi tập kết đại pháo, xe tăng chuẩn bị tiến vào giải phóng Long Thành, nay là trung tâm hành chính, nhà văn hóa xã. Máu của các liệt sĩ anh dũng hy sinh trong trận Suối Mơ, Thái Lạc, Bình Sơn, Cát Lái..., như tô thắm thêm những ngôi nhà ngói đỏ thấp thoáng sau vườn sầu riêng, chôm chôm đang độ ra hoa, kết trái.

Nói chuyện với chúng tôi, đồng chí Lê Văn Ý, Chủ tịch UBND huyện Long Thành nói, Long Thành hiện nay như chàng trai đang kỳ "trổ mã". Tổng sản lượng của huyện tăng bình quân 12%/năm. Năm 2009, tổng thu ngân sách nhà nước 650 tỷ đồng, đứng thứ nhì tỉnh Đồng Nai, sau thành phố Biên Hòa. Lợi thế của Long Thành là có gần 40 km đường 51, tuyến huyết mạch đi Vũng Tàu- Biên Hòa - Sài Gòn. Tới đây, đường cao tốc Long Thành - Dầu Giây - TP Hồ Chí Minh; Nhơn Trạch - Bến Lức (Long An) và sân bay quốc tế Long Thành... xây dựng xong thì thành phố Long Thành sẽ là trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía nam.

Huyện Long Thành đang chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ, với tám khu công nghiệp, diện tích 2.400ha và khu công nghệ cao 500 ha đã thu hút 1.291 doanh nghiệp trong nước, đầu tư 7.402 tỷ đồng và 182 dự án đầu tư nước ngoài, với 3.124 triệu USD. Huyện khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các ngành sản xuất mới, công nghệ cao như: cáp quang, nhựa dẻo, nam châm, linh kiện điện tử. Công nghiệp hóa đã thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, giải quyết việc làm, thu nhập ổn định cho gần 35.000 lao động. Năm 2009, thu nhập bình quân đầu người đạt 20,457 triệu đồng/năm.

Cùng với phát triển công nghiệp, huyện quan tâm phát triển nông nghiệp, hướng dẫn, hỗ trợ nông dân áp dụng tiến bộ khoa học vào trồng trọt, xây dựng trang trại cây ăn trái chất lượng cao; hệ thống tưới nước tiết kiệm; bón phân qua đường ống, tạo ra các sản phẩm hàng hóa 150-200 triệu/ha/năm.

Đến nay, 19/19 xã, thị trấn phổ cập bậc THCS và có bác sĩ phục vụ lâu dài. Toàn huyện không còn hộ đói, còn 1.740 hộ theo chuẩn nghèo mới. Phấn đấu đến cuối năm 2010, giảm còn 1,95% hộ nghèo, so với 3,12% hộ nghèo của năm 2009. Thị trấn Long Thành ngày càng khang trang, to đẹp; cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đã mang vóc dáng của một đô thị trẻ. Hàng trăm con đường ngang, dọc trong thị trấn được tráng nhựa. Huyện chi hơn 20 tỷ đồng xây dựng trung tâm thương mại, nhà thi đấu, nhà văn hóa đa năng và gần 42 tỷ đồng nâng cấp bệnh viện huyện từ 170 giường lên 350 giường, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân...

Không chỉ phát triển kinh tế, Đảng bộ và chính quyền huyện Long Thành luôn quan tâm chính sách xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Những năm qua, huyện xây dựng 2.600 nhà tình thương, 400 nhà đại đoàn kết và sửa chữa, nâng cấp hàng nghìn căn nhà cho các gia đình chính sách, có công với cách mạng, người nghèo, gia đình neo đơn.

Đồng chí Trịnh Phẩm Hạnh, sĩ quan duy nhất của Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 trụ lại mảnh đất này từ năm 1975, là người thường xuyên đến "thăm đồng đội" nằm lại tại nghĩa trang Long Thành. Đồng chí cho biết, năm 2008, huyện đã dành năm tỷ đồng, đồng thời vận động các doanh nghiệp, nhà hảo tâm hơn 15 tỷ đồng, lát đá hoa cương toàn bộ hơn 2.000 ngôi mộ. Riêng gia đình ông Lê Văn Kiểm, Công ty Cổ phần đầu tư và kinh doanh golf Long Thành, góp hơn bảy tỷ đồng tôn tạo, xây mới lầu chuông, gác trống. Hằng năm, vào những ngày lễ, Tết, các doanh nhân, cựu chiến binh trên đất Long Thành đều về đây long trọng dâng hương cảm tạ các liệt sĩ anh dũng hy sinh để họ có điều kiện khai sinh cơ nghiệp.

Cũng tại nhà thờ Nghĩa trang Long Thành, suốt 26 năm qua, không kể mưa nắng, ngày hai bữa, vợ chồng người quản trang Nguyễn Văn Dũng và Phan Thị Em đều đặn "sửa" mâm cơm cúng vong hồn các liệt sĩ. Thân nhân các liệt sĩ ở các tỉnh xa đến thăm được huyện giúp đỡ nơi ăn, ở.

Nhìn những bông osaca đang kỳ nở rộ, vàng óng rủ xuống, hoa hoàng cung đỏ thắm, hoa trang đủ các mầu sắc bên những phần mộ như thay lời cảm ơn các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh, mang lại mùa xuân cho quê hương, đất nước.
Logged
quanghung1951
Thành viên
*
Bài viết: 117



« Trả lời #582 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2013, 12:34:58 am »

. E 101 chịu trách nhiệm hướng này. 
Cháu cũng nghĩ là bác ấy đùa,cho cháu hỏi thêm co phải e101 sau khi đánh Long thành thì phải quay lại diệt một ấp chiến lược mà bọn địch rút về tử thủ.Trận này ta thương vong nặng có cả môt tiểu đoàn trưởng hy sinh phải không ạ
Trận đánh chi khu quân sự Long Thành vào đúng chiều và cả đêm ngày  26/4/1975 trung đoàn 101 chúng tôi tiến đánh vào thị trấn từ những cánh rừng cao su trong tiếng gào của pháo phản lực và các loại pháo lớn ,đại đội 5 chúng tôi bị trinh sát dẫn lạc đường cứ chạy gằn hàng mấy tiếng trong những cánh rừng cao su ,khát và rất khát vì  có bao nhiêu nước đã uống hết trong khi vận động ,chúng tôi chính thức tiến vào thị trấn lúc trời đã nhá nhem ,đây đó tiếng súng vẫn vang lên ,từng tốp nhỏ chúng tôi men theo bờ tường ,súng mở nấc liên thanh sẵn sàng nhả đạn ,phía xa xa ,tiếng đại liên của địch xả từng tràng từng tràng,trên trời tiếng máy bay địch ầm ì rồi lảng mất .Một loạt đạn của súng cực nhanh từ căn nhà phía trước kéo đánh roẹt một cái ,tôi lăn một vòng và bắn hú họa về nơi phát ra tiếng súng,các đồng đội tôi cũng vậy và tôi có cảm giác tiếng AK trong thành phố nổ to hơn ,đanh hơn .chúng tôi ở chỗ sáng còn bọn tàn binh luôn nấp trong bóng tối nên anh em cũng hoang mang không biết chúng sẽ bắn ra từ đâu .Cũng may là có lệnh tản vào nhà 2 bên phố để chuẩn bị bữa tối ,người dân chạy hết ra đồng hoặc vào rừng cao su nên chúng tôi sử dụng luôn những thực phẩm có sẵn ,vừa nấu xong nồi cơm bằng cái loại gạo miền nam thơm phức thì tiếng súng ,tiếng lựu đạn nổ vang tất cả lao vào lấy súng và bao xe ,trời tối không có đèn đóm gì tôi chạy lao vào một cậu và cả hai ngã quay vừa đúng lúc một quầng lửa bùng lên ngay tại  ngôi nhà chúng tôi vừa nấu cơm ,đất cát ,mảnh vỡ các loại bay rào rào ,khói khét lẹt xông vào mũi họng nhưng cũng may không ai bị thương ,tôi lúc ấy khi thì lom khom ,lúc phải bò trườn ra mặt phố nhưng cũng chẳng phát hiện được điều gì ,chuẩn bị quay về thì súng lại nổ ,cứ thế địch chơi ú tim với chúng tôi,trên C truyền đạt là ăn uống xong phải bố trí gác cẩn thận đêm nay địch có thể tập kích .Nhưng nồi cơm thì không ăn được nữa và ai cũng mệt nên cũng chẳng buồn nấu nướng gì ,cái khát thì đã được giải quyết ngay khi vào thị trấn ,tôi cầm AK lần mò sang tiểu đội bạn ,chúng nó đang ăn ,phải nói là đang chén thì đúng hơn vì ngoài cơm ra chúng nó còn kiếm được cả thịt gà dễ đến vài con ấy vì tôi thấy có tận mấy cái đầu,còn có cả bia nữa chứ ,cái loại bia vỏ chai màu vàng nâu mà sau này lính tráng bắt chước anh hai Sài gòn gọi là Lade..e.không đợi mời tôi nhập hội  luôn sau khi tu một hơi Lazde ,trong cái tranh tối tranh sáng của mẩu nến chúng tôi ăn như chưa bao giờ được ăn và đến tận bây giờ sau mấy chục năm tôi vẫn có cảm giác rằng món thịt gà luộc trong cái đêm Long Thành ấy là bữa thịt gà ngon nhất ...
Logged
ninhgianghn
Thành viên

Bài viết: 3


« Trả lời #583 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2013, 10:57:16 pm »

Cháu chào chú Thìn và các cô chú.

Cháu thỉnh thoảng vào trang VMH để đọc bài, nhất là chuyên mục Lính Tây nguyên của chú Luân. Mấy hôm nay cháu vào đây, đã đọc hết từ trang đầu đến trang cuối. Cháu xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ học vấn, tình cảm và sự hiểu biết của chú Thìn và các cô chú tham gia topic này.
Nhân dịp đến chơi nhà, cháu xin tặng chú Thìn vài đóa sen dịu mát. Chúc chú mạnh khỏe luôn để xây dựng phần 2, phần 3 ....của chuyên mục "Nó và tôi"



Cháu xin chào tạm biệt ạ.
Cháu Ninh Giang.
Logged
nhuthin
Thành viên
*
Bài viết: 80


« Trả lời #584 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2013, 06:45:23 pm »

 Cám ơn ban ninhgianghn. Tôi đang tập thiền chữa bệnh thấy bông hoa sen lại nhẹ lòng. Xin gửi tiếp các bạn bài :

                                                                            THÁNG NĂM, NGÀY ÁY(PHẦN CUỐI)

 

 

      Còn lại một mình, chẳng bụng dạ nào mà chụp ảnh, tôi lững thững đi dọc thị trấn. Ở đây họ bán nhiều nem rán mà dân địa phương gọi là ram. Tôi nhớ đến món nem hôm về nhà mẹ cho ăn lại rất thèm. Tôi quyết định mua hai chiếc giá 3 hào. Ôi sao dai thế, vỏ không phải là bánh đa nem mỏng tang như mẹ tôi mua ở chợ Hàng Bè, mà là thứ bánh đa nướng dầy cộp, lại nguội nên rất dai. Nhưng, đây là Kỳ Anh chứ không phải là chợ Hàng Bè, quận Hoàn Kiếm. Lúc này còn kén cá chọn canh gì. Tôi nhai rất ngon lành, mặc dù nhân họ làm bằng những nguyên liệu gì ăn rất lạ.

    Ăn xong , tôi lên đường, biết đâu lại gặp một ông bụt khác. Lại điệp khúc, vẫy tay phải, mỏi, đổi tay trái, các  lái xe chẳng đếm xỉa gì đến thằng lính quần áo bê bết mồ hôi lẫn bụi đường.

   Đi chừng 3 cây số, mệt quá nghỉ một chút. Có một chiếc xe Giải Phóng đỗ bên đường, hình như trục trặc máy móc gì đó. Lái và phụ xe  đang loay hoay sửa chữa, mồ hôi mướt mải. Sau một hồi nỗ lực, xe cũng nổ được máy. Tôi đến gần đánh bạo hỏi họ về đâu? Có đi Đông Hà không, cho quá giang? Dường như chưa hết bực vì xe gặp sự cố, lái xe xua tay, buông một câu: Không đi.

    -  Vậy các anh về đâu, cứ cho tôi đi nhờ, được đoạn nào hay đoạn đó.

    Tôi nói.

    Lái xe nhìn tôi vẻ ngao ngán, nói :

     -   Vào Hồ Xá thôi.

   Hồ Xá cách Đông Hà chỉ  30 km, quá tốt. Tôi cố năn nỉ .

   Vậy các anh làm ơn cho tôi theo, Hồ Xá cách Đông Hà cũng không xa.

    -    Được thôi, thế ông có tiền không đấy?

    Lái xe hỏi, có vẻ như muốn đánh đố. Tôi moi trong túi ra còn tất cả 15 đồng và một chút tiền lẻ đưa tất cho hắn nói:

   Tất cả chỉ có thế, anh cho tôi đến được đến đâu thì tùy.

    Hắn đút tọt 15 đồng vào túi lẩm bẩm: “ Gần hai trăm cây, không ít đâu”.

    Tôi thở phào nhẹ nhõm. Tới được Hồ Xá coi như tới Quảng Trị, vài cây số nữa là đến cầu Hiền Lương thôi.

    Xe lăn bánh. Trái với vẻ khó gần ban đầu, lái xe là một tay vui tính, hay chuyện. Hắn bảo:

 
    Mẹ kiếp, thấy ông nhếch nhác quá thương tình cho đi thôi chứ, lính tráng  các ông móc bẩy ngày chẳng thấy vị. Bắt khứa là mấy chị buôn đường dài là sướng nhất, vừa có tiền, được ăn có khi còn được “ấy”.

    Hắn khoe, có lần vớ được một ả trắng trẻo, thôi rồi Lượm ơi. Hắn hành cho suốt đêm, mong cho thị mệt quá ngủ mê đi mà quên túi tiền dầy như cái bánh chưng, lúc nào cũng kè kè bên nách. Nhưng ả quả là cao thủ, dạn dĩ, tình thì cho chứ tiền thì không thể. Mẹ kiếp, không làm sao moi thêm được đồng nào. Hắn luôn mồn văng tục chửi thề…

   Cũng đã nghe nhiều về  nhân cách của đám lái xe, giờ mới mục thị sở tại, vẫn không sao tránh nổi ngạc nhiên, ngỡ ngàng.

   Buổi trưa xe tạt vào một quán ven đường. Chủ quán là một cô bé dễ thương đang ngồi bán những nẹp cá nướng dở. Lái xe bước xuống hỏi mua cá và nhờ nấu bữa cơm trưa. Hắn buông giọng bỡn cợt:

   Xinh nhỉ, bao nhiêu tuổi rồi, yêu chưa, yêu anh nhé.

   Cô bé bẽn lẽn nói:

  -  Cháu mới mười sáu thôi.
  -  Không sao, anh chờ.

  Lái xe nhanh nhẩu bật lại luôn, hắn vui vẻ trêu chọc cô bé.

  Thông thường những người đi nhờ  xe, phải lo ăn cho lái, phụ xe, tôi chẳng còn đồng nào, biết điều lảng ra một góc, lấy biscot trong balo ra nhai chậm rãi.

   Khi cơm chín, hắn gọi tôi lại nói:

 
   - Thôi vứt mẹ nó mấy miếng bánh mì khô của ông đi, lại đây ăn với chúng tôi, đừng ngại.

Trộm nghĩ, mình giờ trên răng dưới cát tút, mất gì của bọ, tôi xoa chân ngồi vào mâm chén tì tì.

    Lái xe hỏi tôi, đã mấy ngày không ăn cơm? Tôi trả lời:

  - Mới có ba ngày thôi, còn toàn biscot.
  -  Tôi chịu ông.

Hắn nói vậy. Cuối cùng thì hắn cũng hỏi vì sao tôi lang thang một mình thế này. Tôi kể vắn tắt vì sao. Hắn trợn tròn mắt nói:

 Tôi như ông về mẹ nó nhà, chẳng đơn vị đơn viếc gì hết. Yếu sức không học được thì về nhà, sao lại vào chiến trường, thật không hiểu nổi.

Đến chiều thì tới Hồ Xá, xe dừng lại. Tôi xuống xe. Lái xe bảo tôi:

 
 - Chắc ông coi thường tụi tôi lắm phải không?

 
  Tôi chưa kịp nói gì, hắn móc trong túi ra 15 đồng của tôi. Nói tiếp:

 
 -   Lấy ông 5 đồng tượng trưng, kính biếu ônng 10 đồng, chúc ông thượng lộ bình an.

    Hắn nhét vào tay tôi 10 đồng, đóng sập cửa lại nổ máy đi luôn.

    Tôi sững sờ, hóa ra lái xe cũng không quá tệ như tôi nghĩ.

    Thị trấn Hồ Xá thực ra chỉ  là hai dãy nhà cao tầng, trước kia, khá kiên cố. Nay chỉ  còn trơ lại những khối bê tông, đổ nát, tất cả đều bị phá hủy. Rất nhiều hàng quán tạm bợ, nhanh chóng mọc lên sau Hiệp định hòa bình năm 1973. Cảnh quan mau chóng thay đổi kể từ hai tháng trước, khi tôi mới ra Bắc. Giờ đây, là nơi trung chuyển ra Bắc vào Nam, nườm nượp, người, xe. Bên kia sông Hiền Lương, là tỉnh  Quảng  Trị mới được giải phóng năm 1972.

   Tôi tạt vào một ngôi nhà đổ nát tránh nắng, bên cạnh là một hàng bán dưa hấu. Cánh lái xe và khách qua đường xúm vào ăn. Họ đưa những miếng dưa đỏ mọng nước lên miệng cắn, những dòng nước hồng hồng chảy xuống cằm, xuống áo cũng không buồn chùi. Vẻ mặt đầy mãn nguyện.

    Khát cháy cổ, vừa nhấp mấy ngụm nước trong bi đông xong vẫn không đỡ, tôi cảm thấy xấu hổ vì bị ám ảnh mấy lát dưa, không giấu nổi sự thèm thuồng, như trẻ con thấy bạn ăn quà vậy.

    Cũng muốn ăn một lát dưa, nhưng họ không bán lẻ. Làm sao ăn hết cả quả được. Mà mình cũng chẳng khá giả gì mà mua cả một quả dưa như thế. Nếu tay lái xe không tỏ ra hào hiệp thì trong túi mình cũng chỉ còn mấy hào . Phía trước đường còn dài. Cần phải tìm một chiếc xe nào đó xin đi tiếp.

 
    Lại gần một lái xe có vẻ mặt khá dễ chịu, tôi hỏi anh có đi Đông Hà không, làm ơn cho đi nhờ? Tôi sẽ gửi tiền bồi dưỡng. Anh ta nói đang chờ đóng hàng, sáng mai mới đi. Mai cũng được, anh cho tôi đi nhé, tôi nói tiếp. Anh gật đầu, nói:

 
    Vậy tý nữa ông đi đóng hàng cùng tôi.

    Lại một đêm vạ vật dưới gầm xe tải. Tôi không sao chợp được mắt. Ban chiều trót uống một bát chè tươi đặc, giờ lĩnh đủ.

 
   Nằm ngửa, ngắm bầu trời đầy sao, tôi tìm chùm Con Gấu, Cái Gầu, lại bật cười nhớ những đêm gác năm ngoái. Không có đồng hồ, anh em toàn dựa vị trí sao mà đổi gác. Làm sao mà chính xác được, tôi thường phải phân xử những vụ đôi co gác ít, gác nhiều. Chỉ mong ra Bắc, được ngủ một đêm cho trọn giấc.

   Nhìn ngôi sao phương Bắc, tôi lại nhớ  nhà da diết. Giờ này mẹ có ngủ được không, hay trằn trọc thương hai đứa con còn tại ngũ? Chí ít bà cũng an tâm có một thằng đang “học” sĩ quan. Con có lỗi với mẹ. Con đã nói dối mẹ, mong mẹ tha lỗi cho con. Nhưng liệu mình có trở về để bà tha lỗi cho không? Cũng khó nói trước lắm. Đất nước vẫn chưa về một mối…

   Sáng hôm sau, mãi 10 h xe mới chuyển bánh. Tay lái xe dùng dằng mãi mới chia tay được với cô bạn ở Hồ Xá. Hắn bảo nhiều bạn gái lắm, nhưng cô này hắn quí nhất. Không biết có nên tin không?

   Một tiếng sau, tôi đã có  mặt ở Đông Hà. Một trưa tháng năm, ngày  ấy, Đông Hà như chảo lửa, tôi loanh quanh thị  trấn. Những ngôi nhà mệt mỏi đứng tựa nhau, cửa khép hờ bên hàng hiên nham nhở vì bom đạn.

    Rẽ qua chợ, tầm này vẫn đông nghịt người mua kẻ bán. Sự sống hồi sinh thật mãnh liệt. Nửa năm trước đây, thị trấn chết chóc này nồng nặc mùi xú khí, mùi bom đạn, gạch vữa ngổn ngang. Vậy mà, nó nhanh chóng trở thành “thủ đô” của vùng mới giải phóng.

 
   Gần cổng chợ, có một quán nước chanh. Chủ quán là một cô gái xinh đẹp, nước da trắng mịn, luôn tay pha nước cho khách ghé quán. Tôi mạnh dạn bước vào. Có lẽ cũng nên tự thưởng một cốc nước mát, sau một hành trình dài coi như tới đích. Cô chủ quán không chỉ xinh đẹp mà còn dịu dàng, giọng nói nhẹ như sương buổi sớm. Tôi nhấp từng ngụm nước ngọt, mát lạnh thơm lừng. Cô ta đã khéo léo cắt thêm chút vỏ chanh vào cốc nước. Cô gái xinh đẹp, dáng đi uyển chuyển, cất tiếng như chim đã hớp hồn thằng lính trẻ, mệt mỏi, còn vương bụi sau một chặng đường dài. Sau này, máu thi sĩ nổi lên, tôi mạnh dạn phóng bút:

………………
Đông Hà, một trưa tháng năm nắng nằm chen hè phố.
Có một chỗ mưa, quán bán nước chanh.

 
  Dù sao cũng không thể gắn keo mãi  ở quán nước được, tôi quay ra chợ. Cần phải hỏi thăm nơi đóng quân của đơn vị. Nhưng hỏi ai bây giờ. Nếu có biết, chưa chắc họ đã nói vì bí mật quân sự. Mà ai biết đây? Chợ có nhiều bóng quân phục, tìm một người hỏi hú họa vậy. Đang kiếm mục tiêu để hỏi đường, bỗng nghe thấy có tiếng gọi. Ngoảnh lại, là một thằng nhóc chừng lên mười.

       Tôi nhớ ra rồi, hồi tháng 12 năm ngoái tôi đi an dưỡng ở Lại An, Gio Linh, gia đình nó tản cư từ Hải Lăng ra. Nó bảo đang theo mẹ đi chợ. Nó hỏi tôi đi đâu? Chú đang tìm đường về đơn vị, chẳng biết giờ ở đâu? Tôi trả lời. Không ngờ thằng bé thông minh thế, nó bảo tôi:

    Chú thử hỏi chú tiếp phẩm đang mua rau kia xem.

    Ừ nhỉ, sao tôi không nghĩ ra, tiếp phẩm chắc chắn cho đơn vị nào đó, mà biết đâu đúng đơn vị mình.

    Quả là gặp may, tay tiếp phẩm của sư đoàn bộ sư 325, không chút lăn tăn vui vẻ nhận lời dẫn tôi về đơn vị. Anh ta bảo, đang lo sốt vó khoản thực phẩm phục vụ hội nghị. Nhiều thực khách lắm.

    Tôi lên quân lực sư đoàn đưa giấy tờ đi đường và hỏi đường về trung đoàn.

    Một viên sĩ quan quân lực nói, đơn vị tôi vẫn đóng quanh vùng Cửa Việt. Vài hôm nữa sẽ gửi tôi về đơn vị cũ, còn bây giờ tạm trưng dụng đồng chí phục vụ Hội nghị tổng kết của sư đoàn. Được thôi. “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”, lời thề người lính mà.

   Tôi trở thành lính loong toong, sai vặt cho mấy chiến sĩ, vốn là sinh viên trường Mỹ Thuật Yết Kiêu. Dán khẩu hiệu, treo băng rôn, tôi trổ tài leo trèo như khỉ, trang trí hội trường. Mấy “họa sĩ đẻ non” thiếu tháng, cứ trố mắt nhìn. Một gã hơi kênh kiệu, chiếu cố hỏi tôi quê ở đồng rừng nào. Tôi bảo, đẻ rơi trên đường nhựa gần Bờ Hồ. Hắn lắc đầu không tin.

    Hôm sau, ngày khai mạc hội nghị, tôi được điều xuống phục vụ tổ cấp dưỡng. Thỉnh thoảng rỗi, tôi lại tạt qua hội trường nghe các gương điển hình của sư đoàn báo cáo thành tích chiến đấu. Rất nhiều gương dũng cảm, thật đáng khâm phục. Cũng là lính chiến, mà sao tôi không bao giờ mất cảm giác lo sợ, hồi hộp trước giờ nổ súng. Đến khi súng nổ rồi, thì người cứ mê đi, hành động thật bản năng, như đã được lập trình. Chẳng có ý thức, lòng căm thù trút lên nòng súng gì cả.

   Báo cáo tiếp theo là của một xạ thủ DKZ, một mình bắn cháy hai xe tăng trận Cửa Việt. Ai thế nhỉ? Ồ hóa ra là thằng T, cùng đơn vị. Nghe anh em nói, hắn cũng thường thôi. Sáng 28/1, trận Cửa Việt, lệnh ngừng bắn có hiệu lực, hắn đánh dấu hai chiếc xe tăng cháy gần trận địa của chúng tôi tuyên bố, chính hắn tiêu diệt bằng hai phát đạn. Trong cái đêm mịt mù lửa đạn ấy. Có giời mới biết đúng hắn bắn hay của lính xe tăng? Nhưng từ đấy hắn bay lên như diều gặp gió. Được cái hắn to con, nói năng khá lưu loát. Nhưng nghe hắn kể thì tôi không sao chịu nổi. Một mình hắn tả xung hữu đột, chẳng khác gì Triệu Tử Long phò A Đẩu, trong truyện Tam Quốc của Tầu vậy. Cả hội trường vỗ tay rào rào.

 Đến bữa trưa, trông thấy tôi, hắn gật đầu, gõ xuống bàn ra hiệu, mâm này còn thiếu đĩa thịt. Tôi đang bưng mấy đĩa thịt, thú thật chỉ muốn ụp vào cái mặt đầy tự đắc của hắn.

  Từ đấy không bao giờ  tôi gặp  lại hắn nữa, nghe đâu hắn còn ra Bắc đi báo cáo thành tích, rồi  được bổ nhiệm làm chỉ huy một đơn vị hỏa lực nào đấy.

    Ngay chiều hôm hội nghị, tôi gặp  tay cán bộ quân lực nằng nặc đòi về đơn vị.

 
    Anh ta bảo, thôi được, mai tôi gửi  đồng chí theo xuồng vận tải về Cửa Việt.

     Sáng hôm sau, tôi lên một chiếc xuồng, máy nổ giòn tan, lướt êm ru xuôi dòng Thạch Hãn. Trời nước mênh mông, phong cảnh tuyệt vời. Tôi cố căng mắt tìm xem chỗ nào là bến Vượt, nơi đơn vị tôi qua sông, dưới làn pháo kích, thỉnh  thoảng bầu trời lại sáng rực dưới ánh  hỏa châu ma quái của đối phương.

   Tôi cố căng mắt tìm nơi khẩu đội giá súng bắn bộ binh và được nghe thằng Định “Xịt” kể chuyện tình đẹp như mơ của nó.

    Tôi cố căng mắt tìm nơi tôi và thằng Tâm DKZ, đêm rằm tháng tám năm ngoái, bơi qua sông sang bờ bắc. Ban ngày chúng tôi phát hiện ra một vườn thuốc lá, đêm qua lấy cho anh em hút. Tý nữa, cả hai thằng bị lính E18 bên bờ bắc bắn chết khi cập bờ.

   Một chiếc xuồng ngược chiều ngang xuồng tôi. Nghe có tiếng gọi tên mình. Quay sang, hóa ra thằng Tố. Nó vẫy tay rối rít. Tôi không tin ở mắt mình nữa. Tưởng nó ra Bắc rồi, ai dè lại vào đây. Vẫy tay chào nhau, người xuôi kẻ ngược. Bạn về trung đoàn 18, tôi xuôi về 101, từ đấy bặt tin nhau.

   Thò tay, vốc nước xoa lên mặt, vị tanh tanh.
.............................................
  Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
  Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
 


    Nước sông hay nước mắt, mằn mặn bên khóe miệng.

   Chiều hôm ấy tôi về đến đại đội. Sáng hôm sau ra chốt giáp ranh, nhận lại tiểu đội. Tay tiểu đội trưởng mới, lạ hoắc lập tức được điều đi đơn vị khác. Mấy lính Hải Phòng nhìn thấy tôi mắt sáng ngời.

   Tôi nhảy vào công sự pháo, quay khẩu 12.7 đúng nửa vòng, đưa mắt ngắm mặt biển, bầu trời, mặt đất, đồng đội, tất cả đều như rất lạ, lại rất quen…

 

                                                                                                                      Tháng năm, năm 2013

                                                                                                                                                 Như Thìn

« Sửa lần cuối: 04 Tháng Sáu, 2013, 06:52:27 pm gửi bởi nhuthin » Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #585 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2013, 12:25:32 am »

.
     TTNLệ xin giải thích đường đi của bác Thìn một chút kẻo anh em hiểu nhầm.

     Bác Thìn từ Sư Đoàn Bộ, nơi tổ chức "Hội Nghị Chiến Sỹ Thi Đua", bằng thuyền, theo sông Vĩnh Phước. Sông Vĩnh Phước đổ vào Thạch Hãn ở ngã ba sát thôn Vĩnh Phước và thôn Đại Lộc. Sông Thạch Hãn nhập với sông Hiếu tại ngã ba Gia Độ rồi đổ ra Cửa Việt.



     Bến vượt mà bác Thìn nói là bến vượt khi bác ấy từ Gio Linh vượt qua đoạn sông từ Gia độ đến Cửa Việt (không biết chỗ nào), chứ không phải bến vượt Nhan Biều sang Thành Cổ hay bến vượt Thượng Phước sang Như Lệ.

     Bác ấy có đi trên một đoạn sông Thạch Hãn nên mới nhớ đến

               "Đò lên Thạch Hãn ơi, chèo nhẹ !
                Đáy sông còn đó bạn tôi nằm."       (Lê Bá Dương)

     Tôi "su poóc te" như vậy có đúng không bác Thìn hè ?
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Sáu, 2013, 12:44:54 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #586 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2013, 02:10:36 pm »

Bác Thìn ơi, "soi mói" một tý: Ngày ấy, Hàng Bè thuộc Khu Hoàn Kiếm, chứ không phải Quận Hoàn Kiếm.

Mà hình như TTNL và tôi tình cờ cũng được điều động để điếu đóm cho cái vụ "Hội nghị chiến sỹ thu đua" ấy. Có đúng không TTNL hè? Cái vụ bọn mình phải phóng cái bản đồ rộng 16 tờ Tờ-rô-ky ấy. Cả chục ngày ở Sư bộ, thế mà sao không gặp nhau, nhỉ.
Logged

Nhật ký Viết lại
quân y 103
Thành viên
*
Bài viết: 277


« Trả lời #587 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2013, 11:15:47 pm »

Nhân 1 chuyến đi thăm bạn bè cùng các bạn của Phong Quảng chúng tôi đi qua Đà lạt có đến thăm anh Như Thìn bác ấy vào Đà lạt  ở tại chùa để thiền ,nghĩa là ăn chay hoặc nhịn ăn ở đấy kỷ luật như quân đội ,chúng tôi gặp nhau nói chuyện được 1 lúc thì bác ấy phải về thiền tiếp ca tối mặc dù câu chuyện với mọi người tưởng như không dứt nhưng bác Thìn vẫn còn tác phong quân đội nên chấp hành về sớm.
Tôi cũng chụp vội được tấm hình bác với độc giả và cùng phu nhân của bác ấy







Logged
nhuthin
Thành viên
*
Bài viết: 80


« Trả lời #588 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2013, 10:42:56 am »

                                                            TRĂNG KHUYẾT
 

    
     Hắn ngồi thế, ngày nào cũng vậy, tay cầm con rựa mài sáng loáng, chẻ lạt, chuốt nan, đan rổ, rá. Tre cũng chẳng còn nhiều, bom đạn cày hết, chặt được cây tre bánh tẻ để đan không phải dễ. Vậy mà hễ đan được cái nào, hàng xóm thích, hắn cho luôn. Họa hoằn còn vài chiếc vợ hắn đem ra chợ bán thêm chút tiền. Mà lúc nông nhàn vậy thôi, chứ vào vụ, mấy công đất, hai vợ chồng đầu tắt mặt tối không hết việc. Chiến tranh hay hòa bình cũng thế thôi, vẫn phải sống, phải gieo trồng gặt hái. Trừ lúc ác liệt quá thì đành chịu chứ hơi yên một chút là sự sống lại nảy nở như thường.
    Ngồi đan, chăm chút từng thanh nan, hắn vẫn đưa cặp mắt sắc chẳng kém gì lưỡi dao đang cầm tay canh chừng mấy lính Giải Phóng đang đóng quân nhờ nhà hắn đã mấy tháng ni. Không canh chừng răng được. Con Sen nhà hắn 16 tuổi rồi chứ có ít đâu. Phổng phao, khuôn mặt đầy đặn, nước da trắng thừa hưởng của mạ nó. Mái tóc óng mượt chấm ngang lưng, đôi mắt như biết nói. Lính Giải Phóng nào gặp cũng phải sững lại mấy giây. Tuổi này là lớ ngớ lắm. Nhỡ xẩy ra chuyện gì thì khốn. Lính tráng thì vẫn cứ là lính tráng. Bên nào cũng vậy, thấy gái đẹp là mê tít, buông lời tán tỉnh ngay.
    Mà mấy chú lính Giải Phóng ni cũng kỳ. Trẻ măng, gặp vợ chồng hắn là chào ba, mạ rối rít như con cháu trong nhà vậy. Họ có vẻ lành quá, không bặm trợn như mấy lính Cộng Hòa, xăm trổ đầy người, nói tục, chửi thề luôn miệng. Nghe nói có đứa còn là sinh viên đại học. Sinh viên vào lính trơn kể cũng lạ. Bên Quốc Gia là đi học sĩ quan Đà Lạt ngay. Sớm muộn gì rồi cũng ra chỉ huy.
   Hắn nghĩ, những  chú lính trẻ này có khi cầm bút còn thạo hơn cầm súng. Làm sao họ đấu được với đám lính Thủy Quân Lục Chiến, Trâu Điên với Thần Điểu vv, suốt năm 1972 được nhỉ. Không biết lúc xung trận nom họ ra sao? Chứ thấy họ tập tành cũng thường, nhưng làm báo tường với văn nghệ lại rất giỏi.
   Thằng Nam, cái thằng trẻ  nhất tiểu đội, chữ đẹp thật. Tờ báo tường nó trang trí và viết đẹp như tranh. Chữ đều tăm tắp, nghe nói nó học năm thứ nhất hay thứ hai đại học gì đó. Giờ cầm súng, thế có hoài không?
    Thằng ấy tính tình như con gái vậy, mỗi lần gặp con Sen là mặt lại đỏ như vụng trộm cái gì, lúng ta lúng túng như gà mắc tóc. Mà con Sen nhà hắn thì tinh quái, biết vậy càng trêu tợn làm cu cậu mất tự nhiên. Đồng đội lại xúm vào thêm khiến nó chỉ còn nước chui xuống đất.
    Nghe chừng con Sen nhà hắn cũng có cảm tình với thằng Nam. Không được. Cần phải ngăn chặn ngay từ đầu. Không thể để nó yêu thằng ni được. Rồi lại cực thôi. Lính tráng nay đây mai đó. Chiến sự tạm lắng vậy chứ nhiều nơi nào đã yên tiếng súng. Cả hai bên Giải Phóng và Quốc Gia vẫn tranh thủ giành đất, kiểm soát những vị trí then chốt.
    Người ngoài trận đối mặt với sống chết đã đành, người ở hậu phương khốn khổ, không lúc nào hết nơm nớp lo âu. Hắn không muốn con Sen lại rơi vào cảnh ấy. Kinh nghiệm cho hắn biết, hòa bình năm 1973-74 chỉ là tạm thời, rồi chiến sự sẽ lại xảy ra chẳng kém gì năm Mậu Thân hay 1972 vậy. Vả lại, lính tráng vui đâu chầu đấy, tình cảm biết có thực lòng không? Tốt nhất là không để chuyện gì xảy ra. Có lần hắn dằn mặt con Sen:
  - Tau cấm mi đó. Không thương yêu chi hết.
  - Cha kỳ vậy, con mần chi mô.
    Con Sen nhấm nhẳn trả lời.
  -  Là tau cứ nói rứa.
     Xem chừng mấy lính Giải Phóng thấy hắn không cởi mở cũng ngại. Thằng Nam liếc con rựa trên tay hắn bần thần. Hắn cứ lầm lầm như thế chẳng ai dám lại gần.
    Phức tạp lắm, cái cô thợ  may xóm trên nghe nói có thai với một anh lính Giải Phóng nào đó. Chồng o thì đang đi lính Cộng Hòa. Đơn vị kỷ luật anh lính Giải Phóng kia rồi chuyển đi đâu không rõ, o thợ may khóc hết nước mắt.
    Chẳng nói đâu xa ngay thôn ni. Nhà cô Táo, năm nay cũng gần 40 tuổi chứ có ít đâu? Chồng chết trận, được cái, mặt mũi coi vẫn còn sáng sủa, hay mắt. Có chú lính đóng quân trong nhà mê tít, viết ngay lá thư tỏ tình. Chết nỗi, cô Táo không biết chữ nhờ một chú trong nhà đọc hộ, chuyện vỡ lở. Cô ấy bảo: “Khổ lắm, thấy các chú ấy cực chăm sóc vậy thôi chứ có chi mô, mà chú ấy cũng chỉ hơn đứa con đầu tui mấy tuổi chứ bộ…”
    Nghe nói chú lính Giải Phóng ấy mồ côi từ nhỏ, chưa được bàn tay phụ nữ chăm sóc bao giờ, nên tình cảm phức tạp nảy sinh. Kể cũng tội. Nhưng mấy chú lính nhất quỉ nhì ma lại không tha. Thỉnh thoảng có chú lại gào lên: “Táo em thương!”. Chả là đầu lá thư tỏ tình tai hại trên mở đầu như vậy. Cả hội lại cười nghiêng ngả. Hắn cũng không nín được cười. Nhưng cười thì cười thế thôi chứ chuyện con Sen không đùa được.
    Nhưng con Sen lại nghĩ khác. Eng hiền quá, đẹp trai, tốt bụng lại có học. Âu cũng là duyên số. Không có chiến tranh, mần răng eng đến cái làng nghèo khổ nhất Quảng Trị ni, để mỗi lần gặp eng là con tim của nó lại đập xốn xang. Cái tuổi trăng tròn của nó không sao giấu được tình cảm. Thấy eng ấy tập tành vất vả nó thương lắm. Có quả chuối củ khoai, nó cũng giấu cha để dành cho eng.
 
    Có lần eng bạo dạn cầm  tay nó nói:
   -  Sao em tốt với anh thế. Làm vợ anh nhé?
   -  Không được mô. Nghén cha chém chết.
    Nó giẫy nẩy. Eng vội vã thanh minh, là anh nói sau này kia chứ không phải bây giờ.
    Nó đỏ mặt, xấu hổ chạy vụt đi, nói với lại:
  - Cha không cho mô.
    Trước mặt nó chỉ toàn là  màu hồng. Nó chưa biết thế nào là chia ly, là chờ đợi chứ đừng nói gì đến mất mát, đau thương.
     Nhưng mạ nó thì quá hiểu nỗi khổ của vợ lính. Chiến sự bao nhiêu năm là bấy nhiêu năm bà khắc khoải trông chờ tin chồng nơi trận tuyến. Nhất là năm 1972, dân Quảng Trị người chạy ra Bắc kẻ lánh vô Nam, giữa hai làn đạn, thiệt mạng biết bao nhiêu. Quê bà thành vùng oanh kích tự do của đồng minh Hoa Kỳ và quân lực VNCH. Bà chẳng chạy ra cũng không chạy vô. Bà còn ngóng tin chồng đang đồn trú tại Cam Lộ. Truớc sức tấn công như vũ bão của quân Giải Phóng, bà chỉ biết cầu trời khấn phật cho chồng bà tai qua nạn khỏi. May mắn ông vẫn an lành.
    Mấy ngày liền, căn cứ Tân Lâm chìm trong lửa đạn của pháo binh Giải Phóng. Thương vong rất nhiều. Tiểu đội của hắn tử trận hai, bị thương bốn. Những cứ điểm vòng ngoài như 241, Đầu Mầu, Ba Hồ, Động Toàn lần lượt bị triệt hạ. Căn cứ Tân Lâm, hay còn gọi là Caroll, nơi trung đoàn 56 của hắn chốt giữ trơ trọi một mình, bị cô lập khỏi sư 3 BB. Sư đoàn mệnh danh “Trừng Giới” rất nhiều lính ô hợp, đào binh, vô kỷ luật vv, được thành lập vội vàng đã mất tinh thần chiến đấu ngay từ những ngày đầu xảy ra chiến sự.
     Hắn là lính cựu, các chiến hữu khá nể trọng. Chả gì cũng là thượng sĩ nhất, được giao khẩu M60, lính tráng quen gọi là đại liên 3. Súng khá nặng, khi khai hỏa dễ bị lộ. Không tinh ranh cơ động là ăn B40, 41 như bỡn.
     Những lính quê Quảng Trị  chẳng ngu gì mà đâm đầu vào cái sư đoàn tân lập, lại trấn giữ nơi đầu sóng ngọn gió ở vùng I chiến thuật này. Chẳng qua hắn muốn gần vợ con, vậy thôi.
     Vùi đầu dưới đống bao cát, gần sáng hắn nghe thấy pháo chuyển làn bắn cầm chừng, kiểu này là sắp hứng chịu một biển lính Giải Phóng tràn lên căn cứ đây.
     Nhưng lạ thật, không thấy động tĩnh gì, pháo cũng ngưng hẳn. Hôm sau thì hắn mới biết, tay trung tá trung đoàn trưởng trẻ tuổi đã khôn ngoan kéo cờ trắng đầu hàng. Anh ta đã hy sinh danh dự của một quân nhân, cứu 1500 binh sĩ thuộc cấp khỏi cái chết vô ích. Một ngàn năm trăm gia đình đã thoát cảnh tang tóc trong gang tấc. Hầu hết các chiến hữu và hắn đều cám ơn viên thượng cấp mới tròn ba chục tuổi, đã có một quyết định sáng suốt.
     Mà bên Giải Phóng họ cũng khá tử tế. Đã hứa ngưng pháo kích là ngưng. Khi hai chiếc trực thăng tới cắp hai viên cố vấn Mỹ đi, họ cũng để cho bay thoát. Nếu họ trút lửa vào căn cứ lúc ấy thì chắc chắn hai sĩ quan Mỹ thiệt mạng kéo theo cả mạng của hàng chục lính VNCH đã xin ngưng chiến, chết oan uổng.
    Nhưng ngược đời, chừ con Sen lại yêu chú lính Giải Phóng. Chưa biết sau này trận mạc sống chết ra răng? Nhưng hắn thấy cứ kỳ kỳ. Cha đi lính Cộng Hòa tý chết vì đạn của bên kia. Mà biết đâu chính đơn vị của cái chú lính Giải Phóng nom như học trò trói gà không chặt kia lại tấn công vào đơn vị của cha nó cũng nên.
     Cái chú lính Giải Phóng kia có khi cũng chưa biết cha con Sen là lính Cộng Hòa, nếu biết chắc chi nó đã thương con hắn. Thật phức tạp quá.
     Mạ con Sen trông đôi trẻ, lúc nào mắt cũng ngời sáng, chúng đang tắm trong hào quang của hạnh phúc, bà chẳng nỡ can ngăn.
     Của đáng tội, con Sen lấy được chồng như thằng Nam thì cũng quá tốt. Ngặt nỗi quê thằng Nam quá xa. Nghe nói tận Nghệ An chi đó, xa lắm, sau này nếu có nên vợ nên chồng răng bà thăm con được. Là nghĩ mọi chuyện tốt đẹp chứ chiến tranh nào đã hết mô. Ai mà nói trước được. Những người lính trông hiền lành thế kia khi ra trận, họ không giết bên kia thì bên kia cũng chẳng tha cho họ. Con Sen lại thấp thỏm như bà trước kia thôi. Cha nó cũng có lý. Không muốn cho nó yêu chú Giải Phóng kia cũng chỉ vì thương nó . Nó còn trẻ quá nào đã biết gì. Nhưng bà không làm được như ông, thấy cứ nhẫn tâm thế nào ấy.
     Thằng Nam đâu phải không biết cha con Sen từng là lính Cộng Hòa. Nhưng đấy là việc của ông ấy, đâu phải việc của con Sen. Nó chỉ thấy một tâm hồn trong trắng như thiên thần. Một cô gái đẹp đến mê hồn, bé bỏng như em gái nó ở mãi tận quê nhà. Hết thảy mọi thứ ngự trên người cô gái ấy đều hết sức tuyệt vời. Đôi bàn tay nhỏ nhắn, dịu dàng chăm chút cho nó.
   “ Dù eng đi mô, em cũng chờ. Dù eng có sao em cũng yêu. Dù eng ở chân trời góc biển nào em cũng tìm cho bằng được, nếu eng không về với em …”Nghe con Sen nói thế, nó không đành. “ Về chứ, nhất định anh sẽ về mà”. Nó hứa.
   - Thế em không sợ cha sao?
Thằng Nam hỏi con Sen.
-  Cha thương em lắm, ông chỉ lo cho em thôi. Ông lo eng không thực lòng, lo eng phải ra trận. Lo em chờ đợi, lo âu….
      Nói đến đấy con Sen không cầm nổi nước mắt, sụt sùi…
     Mấy hôm nay con Sen cứ thẫn thờ, bỏ ăn, đêm ôm gối khóc. Có chuyện chi, mạ nó gặng hỏi cũng không kêu. Mãi mới tức tưởi vừa nói vừa khóc: “Eng sắp đi rồi”.
     Cha nó vẫn ngồi đan rổ ngoài hiên nhưng ruột rối như tơ vò. Biết mà, rồi khổ thôi con ơi. Thảo nào hắn thấy lính Giải Phóng có biểu hiện rất lạ. Từng là quân nhân, hắn biết, cho dù họ rất bí mật. Lại sắp có bão rồi. Chừ là cuối năm 1974, Cộng Sản thường đánh lớn vào dịp xuân hè. Bên Quốc Gia sớm muộn gì cũng thua thôi. Mỹ rút quân rồi, viện trợ cắt giảm, tinh thần lính Cộng Hòa xuống quá trời. Ấy là chuyện quốc gia đại sự, còn nhà hắn, nom con Sen ủ rũ hắn không đành lòng. Cần phải nói chuyện với thằng Nam.
     Khuya, hắn ngoắc thằng Nam vô buồng nói:
   - Thiệt tình ta không muốn cho con Sen thương mi, nhưng không ngăn được. Nếu mi thực lòng thì chớ có phụ nó. Ta chỉ có mụn con, bao năm chinh chiến không chăm nom được nó. Mi không cần nói, ta biết mi lại sắp ra trận. Nói thiệt, nếu mi thiệt mạng thì đành, nhưng nếu mi còn sống mà không về với nó ta sẽ tìm mi bằng được cho dù mi trốn nơi mô.
    Thằng Nam lặng thinh không nói gì. Kỷ luật quân đội không cho phép nó hé răng. Còn tình cảm của nó với con Sen thì chẳng cần nói thêm điều chi.
    Thấy thằng Nam không nói gì, hắn lại tiếp lời:
- Chẳng giấu chi mi, ta nguyên là lính của trung đoàn 56 sư đoàn 3 bộ binh quân lực  Việt Nam Cộng Hòa. May nhờ có trung tá Đính đầu hàng quân Giải Phóng nên ta mới thoát chết năm 1972. Năm ngoái trao trả tù binh theo Hiệp định Hòa Bình, ta xin hồi hương.
    Chừ ta thấy mi thương con Sen không đành lòng, sắp vào trận, cần kêu mi mấy vụ. Khi quân Cộng Hòa tấn công, thiết xa thường dừng ngoài tầm B 40- 41 kích pháo, đa phần lính Giải Phóng chạy vô hầm Triều Tiên. Chỉ chờ có vậy, thiết xa rồ máy chèn lên làm sập hầm, bộ binh ùa theo. Mi không được vô hầm, phải nằm dưới hào. Nếu xe có chèn qua cũng không sao. Ta đã thấy một lính Giải Phóng thoát chết như vậy, anh ta đứng dậy bắn B41 vào sau xe tăng và quay lại cản lính Cộng Hòa rất dũng cảm.
    Khi bên Giải Phóng tấn công, lính Cộng Hòa thất thủ rút lui thường vứt lại những quả M26 nổ tức thì. Đó là một cái bẫy. Nhiều lính Giải Phóng thiếu kinh nghiệm dùng luôn lựu đạn ấy tấn công nên thiệt mạng.
 
  Còn nhiều tình huống bất ngờ cần tỉnh táo, ta không nói mi cũng biết vì mi cũng đã trải qua trận chiến năm 72 rồi.
      Thằng Nam quá ngỡ ngàng, một người lính Cộng Hòa lại phổ biến kinh nghiệm chiến đấu cho một lính Giải Phóng. Thật kỳ!
     Hôm sau, đơn vị thằng Nam chuyển quân,  đúng đêm trăng khuyết. Con Sen khóc tức tưởi, nó ngóng theo người lính cuối cùng khuất bóng sau rặng tre đầu làng. Gió lay nhè nhẹ, những chiếc lá tre lóng lánh dưới ánh trăng thượng tuần.
      Đại đội thằng Nam đã vào vị trí chờ giờ G. Khi pháo chuyển làn, xung kích phá hàng rào, đại đội chủ công của nó sẽ xung phong lên cao điểm 301 trên dãy núi hình yên ngựa này. Đêm nay là đêm 22 tháng 3 năm 1975, đúng đêm mùng 10 tháng 2 âm lịch, mãi nó mới thấy bóng trăng khuyết lấp ló dưới kẽ tán lá rừng già.
      Sẽ có nhiều người phải nằm lại ở cửa mở. Thằng Nam hy vọng, trong số đó không có nó. Nhìn trăng khuyết, nó lại nhớ đến Sen. Chia tay với em đã ba tuần trăng.
       Vầng trăng ai xẻ làm đôi.
      Nó chợt nhớ đến câu Kiều , thật hợp người, hợp cảnh.
     Cho đến lúc ánh chớp lóe lên, giờ G đã điểm. Nó không còn nhớ gì nữa, trước mặt chỉ thấy toàn lửa. Lửa đỏ rực một góc trời.
                                                                    
                                                                             Tháng 6, năm 2013
                                                                                                       NT
 

 
Logged
Linh Quany
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2483


Kỷ niệm một thời !


« Trả lời #589 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2013, 11:46:06 am »

  Chú Như Thìn ơi ! chú viết tiếp đi ạ, đọc chuyện của các chú viết về người lính giải phóng rất giản dị, bình thường nhưng sao lại thấy hay quá, như có chút gì đó tiềm ẩn bên trong tâm hồn ( cháu không có cách nào diễn đạt được cho đúng ý ) . Mong tiếp phần sau của chú  !
Logged

Sắp ngừng chơi mạng.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM