Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:39:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trên các bờ sông Mê kông - hồi ức của đại tướng F.F.Krivda.  (Đọc 62912 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #30 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2012, 03:27:57 am »

(tiếp)

Nhưng các phong tục đó chúng tôi đã gặp sau này khi chúng tôi lái xe lên tuyến trước. Chẳng bao lâu chúng tôi dừng lại và tiếp tục đi bộ. Theo con đường mòn nhỏ chúng tôi trèo lên một cao điểm nhỏ và bắt đầu quan sát. Đến tuyến chiến hào của quân Trung Quốc còn khoảng 300-400 mét và phải cẩn thận. Phía trước chiến hào của chúng tôi vào quãng 100-200 mét có một ngôi nhà đã bị phá hủy. Người dân Việt Nam đã sống ở đây trước cuộc xâm lược năm 1979. Trên một cao điểm nhỏ ở bên phải của ngôi nhà là một cây xanh nhiều cành lớn. Tướng Đàm Quang Trung giải thích với tôi rằng một trong những chị gái ruột của ông được chôn dưới gốc cây này, chị là người biết chữ đầu tiên và làm công việc của một nữ giáo viên trong bản này. Trước cuộc cách mạng năm 1945 không phụ nữ Việt Nam nào được học chữ. Điều đó bị cấm.


Sau khi xem xét các vị trí của đối phương và đánh giá địa hình khu vực, chúng tôi đi trở lại, vào trong xe và lái xe trở về. Qua một đoạn quãng 600-800 mét chúng tôi dừng lại tại một ngã rẽ nhỏ trên đường, bên phải nó, cách 200-300 mét có một bản nhỏ. Chúng tôi ra khỏi xe. Trung tướng Đàm Quang Trung giải thích với tôi rằng chính tại bản này, ông được sinh ra, lớn lên, và bây giờ vẫn còn ngôi nhà mà trong đó người thân của ông không ai sống ở đấy nữa. Đó là một ngôi nhà bình thường với một đầu hồi tường trình đất sét, sơn màu nhạt. Tôi xin phép được chụp ảnh trên nền bản làng này, yêu cầu đã được thực hiện. Bên lối rẽ của con đường có một di tích đổ nát. Tôi được giải thích rằng đó là một pháo đài của Pháp, do một trung úy Pháp chỉ huy. Khi những người Pháp muốn bắn Đàm Quang Trung vì tội làm liên lạc cho cách mạng, ông khi ấy đã là một thanh niên mới lớn, phải trốn trong một hang động bên kia sông. Ông chỉ cho tôi cái hang đó. Tiện thể nói thêm, các hang động như vậy trong khu vực này rất nhiều, cũng như ở khắp các vùng núi miền Bắc Việt Nam. Thực tế là các vùng núi miền Bắc Việt Nam được cấu tạo từ đá vôi yếu và hình dạng của nó rất kỳ lạ. Hiếm có nơi nào bạn có thể quan sát một hiện tượng tự nhiên như thế. Hãy tưởng tượng một khu vực địa hình bằng phẳng như mặt bàn, rồi hàng trăm những vách đá cao chót vót nhô lên như những lâu đài tráng lệ, thảm thực vật và cây cối phát triển rậm rì. Những ghềnh đá nằm rải rác trên một bề mặt phẳng rộng lớn, mỗi khối đá nằm riêng biệt. Các bức tranh tương tự có thể quan sát được không chỉ trên địa hình bằng phẳng gần Hà Nội, nhưng còn thể hiện tuyệt vời hơn nữa ở bờ biển phía Bắc của Việt Nam. Người ta nói rằng có hơn 300 các hòn đảo-đá như vậy. Bạn có thể sẽ nghĩ rằng ai đó bằng cánh tay hùng mạnh đã rải chúng trong miền biển cận bờ để làm cho con người phải ngạc nhiên và thán phục.

Nhìn chung, thiên nhiên Việt Nam là cực kỳ xinh đẹp và đa dạng. Nhiều con sông và suối hàng ngàn năm tự xoi theo cách của chúng tạo ra con đường xuyên qua những ngọn núi, hình thành nên dọc theo bờ những vách đá dựng đứng màu trắng. Đặc biệt là ở phần phía bắc của Việt Nam. Ở vùng núi trung tâm phía Tây Bắc Việt Nam, núi ít cao hơn và thoải hơn và dể tiếp cận hơn cho con người (ý tác giả nói đến vùng trung du Tây Bắc). Trên đường quay trở lại, chúng tôi nhìn thấy một con sông nước trong vắt đến độ kinh ngạc, chảy thẳng ra từ dưới những ghềnh đá. Đừng nghĩ rằng đó là một mạch nước. Không. Đây chính là nơi khởi đầu của một con sông rộng 30-40 m và có dòng chảy rất xiết. Trên con sông này là rất nhiều các thiết bị tuốt lúa. Ai còn nhớ chiếc cối đá của chúng tôi, người đó sẽ dễ dàng hình dung ra thiết bị này, nhưng nó không hoạt động bằng đôi chân của con người, mà bằng dòng chảy của nước thông qua đòn bẩy mà cối đá lúc được nâng lên, lúc lại hạ xuống (một miếng gỗ tròn 60-80 cm), nện vào lòng một âu bê tông và từ từ dần bay vỏ thóc để thành gạo. Họ nói rằng nó là thiết bị cổ truyền lâu đời nhất để làm sạch gạo (giã gạo).

Sau 20 phút chúng tôi đã ở tại một điểm dân cư huyện, nơi chúng tôi được Đàm Quang Trung mời tới. Tiếp chúng tôi là bí thư huyện ủy và chủ tịch ủy ban nhân dân. Họ mời chúng tôi một bữa ăn trưa mà trong đó chúng tôi phải tuân theo phong tục dân tộc Tày. Tôi rất bối rối bởi nhận thức rằng tôi phải nâng cốc rượu đặt kề môi một cô gái, còn cô ấy nâng cốc kề vào miệng tôi. Nhưng cô gái đã không nhấn mạnh vào việc thực hiện theo phong tục, và khi tôi đỡ lấy cốc rượu từ tay cô ấy, cô bèn đi tiếp. Tướng Kaverin đã quá quen với phong tục này và ông ấy có thể dễ dàng thực hiện. Những người khác cũng làm như vậy. Điều làm tôi ngạc nhiên, đó là một phụ nữ trẻ như vậy có thể uống đến từng ấy rượu mà vẫn cảm thấy tỉnh táo khỏe mạnh. Chẳng mấy chốc chúng tôi ăn trưa xong và được mời sang uống trà.

Quay trở lại Cao Bằng vào buổi tối, người ta bố trí chúng tôi nghỉ không phải tại bộ tham mưu quân đoàn, mà là tại căn cứ của một trung đoàn địa phương. Chúng tôi có một bữa ăn tối, được sắp xếp bởi Bí thư Tỉnh Đảng bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Tại bữa ăn, họ nâng cốc chúc mừng đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta, chúc cho tình hữu nghị của chúng ta và sức khỏe của tất cả những người có mặt. Sau khi ăn tối, chúng tôi được xem một buổi biểu diễn ca múa nhạc của đoàn văn công tỉnh. Buổi hòa nhạc rất hay. Người Việt Nam, tôi phải nói thế này, họ là một dân tộc rất có khiếu âm nhạc và có tài ca hát. Họ ca và múa những bài ca và điệu múa rất tuyệt vời.

Ngày 6 tháng 10 chúng tôi đã lên kế hoạch bay đến đơn vị bên cánh phải lúc 07:00 h, nhưng sương mù đã làm lỡ việc. Bay đến các rặng núi trong sương mù – điều đó là vô cùng nguy hiểm. Chúng tôi đã phải chờ cho đến 10:00 h khi sương mù bắt đầu tan. Nói lời tạm biệt với lãnh đạo địa phương và các sỹ quan của quân đoàn xong, chúng tôi bay tới chỗ sư đoàn bộ binh.

Chẳng bao lâu chúng tôi đã có mặt trên cao điểm 511 m, tại đó đã thiết bị một sân đáp cho hai máy bay trực thăng. Máy bay hạ cánh an toàn, rồi chúng tôi lắng nghe sư đoàn trưởng báo cáo và theo kế hoạch thì chúng tôi phải trở về Hà Nội, nhưng bạn có thể làm gì được. Cần phải tôn trọng mọi người.

Chẳng bao lâu chúng tôi cũng nói lời tạm biệt và lấy hướng bay về Hà Nội. Lúc 14,00 h chúng tôi đã ở Hà Nội. Không có ai ra đón chúng tôi, bởi điện tín, mà các đồng chí Việt Nam chuyển đi, người ta không thông báo cho người của chúng tôi, và các đồng chí Việt Nam cũng không ai ra đón. Hóa ra sau này mới biết, thủ phạm là trực ban tác chiến BTTM QĐNDVN.

......
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Giêng, 2012, 10:05:02 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #31 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2012, 02:15:54 pm »

(tiếp)

Lúc 7:00 h ngày 07 Tháng Mười chúng tôi bay đến Quân khu 2. Thời tiết không ổn định, nhưng chúng tôi vẫn quyết định bay. Bằng cách nào đó chúng tôi đã đến được Nhân Tràng, nơi có một sân bay và có thể hạ cánh được. Chúng tôi đi xe từ sân bay đến bộ tham mưu quân khu mất cả một giờ đồng hồ. Mưa xối xả. Trong thời gian hai giờ chúng tôi nghe báo cáo của Quyền Tư lệnh quân khu tướng Đỗ Trình. Ông ấy tạm thời thực hiện chức trách này vì trung tướng tư lệnh Vũ Lập đang ở Moskva học một khóa học sáu tháng.

Tướng Đỗ Trình từng tốt nghiệp hai học viện quân sự ở Liên Xô, ông biết tiếng Nga rất giỏi, mặc dù giọng ông có hơi lơ lớ. Tất cả các báo cáo ông đều dùng tiếng Việt, bởi vì ông làm báo cáo bằng tiếng mẹ đẻ của mình thì rất dễ dàng, và nhiều người trong số những người có mặt không biết tiếng Nga. Qua báo cáo ta thấy rõ rằng Tham mưu trưởng quân khu nắm tình hình rất chắc và diễn giải thành công tất cả các vấn đề trong bản báo cáo. Chúng tôi đều hài lòng với báo cáo. Chúng tôi tiếp tục chuyển sang thảo luận các vấn đề nảy sinh nêu trong báo cáo. Trước hết về tuyến đảm bảo và vai trò của bộ đội địa phương trong việc bảo vệ tuyến hành lang đảm bảo này. Thực tế là các tiểu đoàn địa phương chia ra bảo vệ tuyến đảm bảo không có liên lạc với nhau và cũng không có liên lạc với quân chủ lực. Họ tham gia một cách biệt lập và không có ai để cầu cứu trong trường hợp đối phương đột phá vào các hướng xa xôi tách biệt so với dải phòng thủ của sư đoàn này hay sư đoàn nọ.

Một vấn đề quan trọng là việc sử dụng pháo binh. Các đồng chí Việt Nam không hiểu thế nào lại bố trí các vị trí pháo binh khá xa tuyến trước. Bệnh này mắc phải trên mọi hướng. Tôi đã phải đưa ra ngay lời khuyên về vấn đề này. Đã có một cuộc tranh luận nảy sinh khi bàn về việc sử dụng tuyến thứ 2 của các trung đoàn, sư đoàn và thê đội 2 của quân đoàn. Trong quá trình thảo luận, rồi mọi người cũng thống nhất một ý.

Trong khi thảo luận những vấn đề trên, chúng tôi được thông báo rằng thời tiết ở khu vực hạ cánh là tốt và người ta có thể đón tiếp chúng tôi. Chúng tôi lái xe đến sân bay. Gần tới sân bay mà trời vẫn mưa, nhưng trong khu vực sân bay mưa đã tạnh. Chúng tôi cất cánh bay dọc theo sông Hồng đi về phía tây bắc. Sau 25 phút chúng tôi đã ở Sở chỉ huy quân đoàn, nơi tư lệnh quân đoàn tướng Nam Đin (? генерал Нам Дин) đón chúng tôi. Gần ba ngày liền chúng tôi xem xét và nghiên cứu sự phòng thủ của quân đoàn. Nó được tổ chức hợp lý hơn so với các hướng khác. Chúng tôi cảm nhận thấy sự cố gắng của các đồng chí Việt Nam và kỹ năng của tướng Evgheny Suvalov Arkhipovitch - cố vấn của chúng tôi bên cạnh tư lệnh Quân khu 2. Tướng Suvalov thì tôi đã biết ở Tiệp Khắc hồi ông là trung đoàn trưởng, và sau đó cùng phục vụ tại quân khu Trung Á, nơi ông làm tư lệnh một sư đoàn bộ binh cơ giới. Đó là một vị tướng rất giỏi có ý thức trách nhiệm cao khi thực hiện nhiệm vụ của mình trước Tổ quốc.

Trong ba ngày chúng tôi đến thăm hầu như tất cả các đơn vị trên hướng Lào Cai, kể cả ở một vài nơi tuyến đầu. Lào Cai gần như hoàn toàn bị phá hủy, và trên bờ sông đối diện, nửa thành phố bên Trung Quốc ở trong tình trạng tốt một cách cố tình, phô bày sự tươi mát của nó. Qua ống nhòm nhìn thấy tất cả rất rõ ràng. Người dân di chuyển tự do trên các đường phố. Việc bắn phá của các vị trí trên tuyến Việt Nam trong khu vực này không được người ta cho phép, bởi họ sợ pháo kích vào thành phố. Pháo binh của Việt Nam cũng không bắn phá vào khu vực thành phố của họ. Tôi thích hệ thống phòng thủ, do các đơn vị và các lực lượng Việt Nam xây dựng nên trong khu vực này.

Nói chung Lào Cai là hướng dễ tiếp cận hơn đối với các hoạt động của quân đội so với Lạng Sơn, đặc biệt khi khắc phục được độ sâu ăn vào nội địa nhỏ của các dãy núi gần biên giới. Không phải ngẫu nhiên người Trung Quốc đã tập trung đến 2 quân đoàn trên hướng này trong thời gian xâm lược Việt Nam. Dọc theo thung lũng sông Hồng có một cây cầu đường sắt qua sông đã bị phá hủy nay mới được dựng lên dẫn đến mỏ Appatit, cũng bị phá hủy trong lúc bị chiếm đóng. Nghiên cứu hướng Lào Cai với chúng tôi là rất hữu ích. Đúng ra phải nói rằng trăm nghe không bằng một thấy.

.......
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Giêng, 2012, 02:55:21 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #32 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2012, 12:13:52 pm »

(tiếp)

Hôm nay, ngày 10 tháng 10 - ngày sinh nhật của con trai. Tôi và Alevtina Vasilyevna cố gắng gọi về Kiev, nhưng không được. Điện thoại gắn trong căn hộ không ai trả lời. Có lẽ buổi sáng nó đã đi đến chỗ Gennady Sergheevitch, mà cũng có thể đi cắm trại dã ngoại trong rừng.

Hôm thứ Hai tôi tập hợp tài liệu làm báo cáo tổng hợp cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng CHXHCNVN và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô về kết quả nghiên cứu công tác phòng thủ trên hướng chiến lược phía Bắc, nhưng công việc hàng ngày tích lại thời gian tôi đi lên phía Bắc, không cho tôi được hoàn toàn tập trung vào việc này. Ở đây, cũng như tại trung đoàn - tất cả phải xem xét, quyết định, cho câu trả lời, nhưng vẫn phải làm kế hoạch tập trận tiếp theo, mà với nó cần đưa vào một loạt thay đổi. Jansen Kereev, như thường lệ, phản đối, nhưng để làm gì. Cấp trên bao giờ chẳng đúng và ta phải chấp hành thôi. Như vậy đấy và cũng nên như vậy. Logic – thuộc về kẻ mạnh, đi ngược lại khó đấy. Vẫn còn một số thứ và ngày làm việc đã kết thúc. Tôi cố gắng hoàn thành báo cáo vào buổi tối, nhưng đầu óc không chịu suy nghĩ nữa. Tôi đọc như cái máy một lúc và đi ngủ.

Sáng ngày 13,10 tôi hoàn thành việc chuẩn bị báo cáo. Dường như tôi đã tìm thấy hình thức chính xác và xác định được những vấn đề quan trọng nhất. Việc còn lại chỉ là soạn thảo. Hãy xem phản ứng thế nào. Sau khi ăn trưa, tôi đến chỗ thiếu tướng G.K.Filonenko, trung tướng P.M.Nedzelyuk, đại tá V.A.Odegov, bàn bạc công việc Hải Phòng, tiếp nhận các cố vấn mới Pavlov và Strelnikov và ngày làm việc kết thúc.

Ngày mai có một cuộc họp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng CHXHCNVN đại tướng Văn Tiến Dũng. Đã lâu tôi không gặp ông. Tôi không muốn bận tâm những vấn đề nhỏ. Ngày mai sẽ là một vấn đề khác. Sẽ có gì đó để nói chuyện, tham khảo ý kiến và tư vấn. Chúng ta sẽ xem mọ việc diễn ra thế nào. Tối nay xem phim "Yaroslav anh minh". Thật là một cuộc đấu tranh giữa các ông hoàng. Bạn hãy nhớ đến cuốn sách "Thế kỷ tàn khốc" và bạn hãy nghĩ xem có gì khác biệt trong cuộc đấu tranh phe phái ở ây và ở đó. Sự tàn khốc cũng như nhau. Rõ ràng, tất cả các dân tộc đều phải đi qua giai đoạn này của sự phát triển.

Nhận được thư của Batrakov Aleksandr. Anh ta lãnh đạo các đội xây dựng trên công trường trụ sở Bộ tham mưu bộ đội Viễn Đông. Tôi có những tình cảm trái ngược lẫn lộn với con người này. Một mặt đó là sự giản dị, hết lòng vì công việc, sẵn sàng giúp đỡ người khác, nhưng mặt khác – sự láo xược, quậy phá, mong muốn leo lên đầu bạn ngoài ý muốn của bạn. Đó là kết quả của sự nuôi dưỡng giáo dục tồi thời thơ ấu, mà cũng có lẽ về sau này. Bởi chính anh ta từng nói rằng chỉ trong sự tiếp xúc trên công trường xây dựng tổ hợp trụ sở bộ tham mưu Ulan-Ude trên quảng trường T-80 anh ta mới tin rằng có sự trung thực, có gì đó gọi là lý tưởng trong cuộc sống, mà không chỉ là tiền bạc, rượu vang và phụ nữ. Nhưng, rõ ràng, gánh nặng của quá khứ vẫn in đậm trong tính cách, nếu không có ý thức, nó sẽ luôn bùng nổ. Tôi nghĩ rằng tôi hiểu đúng bản chất tính cách của anh ta, chân dung tinh thần của anh ta. Nhưng anh ta có khả năng, thậm chí phần nào đó còn là người tài năng. Anh ta có thể tìm thấy một cách sống, cao thượng và cần thiết cho mọi người. Không Anh ta chưa tìm được nó. Anh ta quá hư hỏng vì tiền bạc và tự do vô độ. Mặc kệ tất cả cho anh ta là không thể. Anh ta sẽ vẫn đi con đường ấy và sẽ còn lún sâu nữa. Hay ho gì nếu cứ sai lầm mãi. Thời gian sẽ chứng tỏ.


Tôi ngồi đọc "Đại cương lịch sử Việt Nam", nhà xuất bản Hà Nội năm 1977 và tìm thấy một điều tuyệt vời. Trong chương "Nho giáo và các nhà nho" có nói: Nho giáo ở Việt Nam từ thế kỷ XV chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi của triết học Trung Quốc thời nhà Tống. Sách Nho giáo chính tắc với lời bình của Chu Hi là đối tượng để học tập của xã hội học giả thời bấy giờ, nó được dùng để ra đề thi trong các kỳ thi tuyển long trọng tổ chức ba năm một lần. Việc xác lập quyền thống trị về tinh thần của Nho giáo, qua việc rao giảng các quy tắc đạo đức cao cả và đảm bảo sự hưng thịnh của toàn xã hội đều trung thành vô điều kiện với vương triều, sự lệ thuộc của cấp dưới với cấp trên, việc chấp hành các hệ thống phân cấp xã hội và nghi thức, tất cả vì lợi ích của việc tăng cường nhà nước tập trung thời phong kiến. Học thuyết Khổng giáo đã phục vụ với tư cách một công cụ tư tưởng duy trì sức mạnh của chế độ quân chủ và quan liêu phong kiến, nhưng vì đây chính là một bước tiến so với sự thống trị của tầng lớp quý tộc trong thời đại nhà Trần, sự phổ biến các tín điều Nho giáo, trong một giai đoạn nhất định cũng là một hiện tượng tiến bộ. Mặc dù Nho giáo về nguyên tắc công nhận nhân dân có quyền nổi dậy chống lại kẻ cai trị không xứng đáng, những cuộc nổi dậy như vậy được các nhà nho coi như một tội ác không thể tưởng tượng được, đó là cái chết của trật tự xã hội và thậm chí cả vũ trụ.

Và còn nữa. Nhà hoạt động xuất sắc nhất của văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XV là Nguyễn Trãi (1380-1442), một học giả Nho giáo nhưng trí tuệ, tư tưởng và sự nghiệp sáng tạo đã vượt ra ngoài các giới hạn Nho giáo. Nguyễn Trãi là một trong những người cổ vũ và tổ chức chiến tranh nhân dân chống quân xâm lược nhà Minh. Một nhà chiến lược, ngoại giao và chính khách xuất sắc. Ông để lại những tác phẩm thi ca tuyệt vời, cũng như công trình lao động về phong trào khởi nghĩa Lam Sơn, đại cương địa lý của đất nước. Bằng hoạt động nhiều mặt của ông, có quy mô hoành tráng, bằng tính cách cá nhân của ông, Nguyễn Trãi có sự tương đồng đáng kinh ngạc với các nhà nhân văn chủ nghĩa đương thời của thời đại Phục Hưng Châu Âu. Ông đã thuyết phục nhà lãnh đạo cuộc đấu tranh chống quân Minh là Lê Lợi và các chiến sĩ dẹp lòng khao khát trả thù xuống và tha cho 10 vạn quân Minh về nhà.

.......
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #33 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2012, 12:06:29 am »

(tiếp)

Nguyễn Trãi hiểu sâu sắc vai trò của nhân dân trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và xây dựng quốc gia, thể hiện mối quan tâm thường xuyên với cuộc sống của những người dân bình thường. "Ăn quả đừng quên kẻ cấy cày", - ông răn dạy các đại thần trong cung. Ngay trước khi Lê Lợi qua đời, Nguyễn Trãi đã viết cho vua "Chiếu răn dạy thái tử" tuyệt vời, một đoạn trích ta có được như sau: "Phàm những phép giữ nước cầm quân, những phương giữ mình trị nước, thi hành nên cố sức, chăm chỉ chớ ham vui. Hoà thuận tôn thân, nhớ giữ một lòng hữu ái, thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân. Chớ thưởng bậy vì tư ân, chớ phạt bừa vì tư nộ. Đừng thích của tiền mà buông tuồng xa xỉ, đừng gần thanh sắc mà bừa bãi hoang dâm. Cho đến những việc dùng nhân tài, nghe can gián; ra một chính sách, một mệnh lệnh, phát một lời nói, một việc làm, điều giữ chính trung, đúng theo thường điển, ngỏ hầu trên có thể đáp thiện tâm, dưới có thể thỏa nhân vọng, thì quốc gia mới được yên vững lâu dài...”.”Vả lại, mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”.  "Đại cáo bình Ngô" được Nguyễn Trãi viết thay mặt vua Lê Lợi nhân dịp quét sạch quân xâm lược nhà Minh năm 1448 xét theo tính sâu sắc và sự cao thượng trong nội dung tư tưởng cũng như sự hoàn thiện về hình thức, xứng đáng là một trong những kiệt tác của văn học Việt Nam. Tuyển tập các bài thơ của ông có 254 bài thơ.

Ngày 15 tháng 10 tôi báo cáo Bộ trưởng Quốc phòng CHXHCNVN về chuyến đi thị sát phía Bắc. Báo cáo kéo dài khoảng 2 giờ. Mọi việc diễn ra tốt đẹp. Rõ ràng, các đại tá Trần Đô và đại tá Luân đã thông tin rõ ràng cho Bộ trưởng Quốc phòng về công việc đã hoàn thành. Tất cả các đề xuất và khuyến nghị đã được chấp nhận mà không có thắc mắc và chân thành. Điều này rất tốt. Tôi tin vào tính thực tế của cách tiếp cận cho các vấn đề của các đồng chí Việt Nam. Tất cả phụ thuộc vào cái gì được đề xuất, đề xuất như thế nào, và ai là người đề xuất. Có thể nói rằng lao động của chúng tôi không vô ích, chúng tôi đã đạt được những thành công. Sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng với các kết luận và kiến nghị về tình hình phòng thủ trên hướng chiến lược phía Bắc một lần nữa nhấn mạnh khả năng của ông ấy đánh giá chính xác tình hình và sẵn sàng tiếp thu những lời khuyến cáo nếu chúng hợp lý.

Trong những ngày sau đó tôi bận rộn chuẩn bị cho tập trận tham mưu-chỉ huy. Đây là một công việc rất quan trọng. Cần phải xem xét thấu đáo, cân nhắc, báo cáo một cách thuyết phục với các đồng chí Văn Tiến Dũng và Lê Trọng Tấn ý đồ và kế hoạch tiến hành cuộc tập trận.

Vào một ngày tôi liên lạc trao đổi được với tướng Zotov N.A. về nghị định thư về các cố vấn tại Kampuchia và Lào, về đoàn cố vấn bổ sung, đã thỏa thuận với Bộ trưởng Quốc phòng Văn Tiến Dũng. Mọi việc cứ kéo dài mãi, mà trong khi đó cần phải sớm quyết định. Lúc họ kéo đi, lúc chúng tôi kéo lại. Cứ như vậy có thể kéo đến vô cùng.

Từ 19 tháng Mười tôi bắt tay chuẩn bị cho chuyến bay về Moskva họp với Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô để tổng kết năm và các nhiệm vụ của năm 1983. Đó là một công việc lao động không dễ dàng, vả lại nó còn rất mới về bản chất. Ở đâu đó trong quân đội điều này có thể đơn giản hơn, nhưng ở đây cần phải cân nhắc hàng chục lần. Вuổi chiều họp đảng bộ. Cần phải phát biểu nhưng thế thì lại mất thời gian. Trong chương trình nghị sự có vấn đề chuẩn bị và tiến hành tập trận tham mưu-chỉ huy, mà nếu trưởng cố vấn quân sự không phát biểu về vấn đề này thì thật vô nghĩa và tôi phải phát biểu.

Ngày 21 tháng 10 năm 1982 một lần nữa tôi gặp BTQP CHXHCNVN Văn Tiến Dũng. Nói chung ông ấy là một người dễ chịu có quan điểm và niềm tin riêng của mình về các vấn đề chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Mọi người đều có quyền có quan điểm và niềm tin của họ. Chúng tôi đánh giá việc đó thế nào, chúng tôi tiếp cận nó từ phía nào đó là việc khác. Nhiều ngàn năm lịch sử đau khổ của nhân dân Việt Nam, cuộc đấu tranh chống lại đối phương có lực lượng áp đảo hàng chục lần đã phát triển một phương pháp nhất định đối phó với kẻ thù đó. Phương pháp này luôn luôn dựa trên một cuộc đấu tranh nhân dân của toàn thể dân tộc. Những kẻ áp bức Trung Quốc, chúng đã và vẫn đang là những kẻ thù truyền kiếp của nhân dân Việt Nam, chúng đã đến, đã xâm chiếm một phần hoặc toàn bộ đất nước, khi mà nhân dân chưa đứng lên chiến đấu, khi mà chưa sử dụng các chiến thuật đặc trưng để tiêu diệt kẻ địch từng phần, và cuối cùng đập tan các lực lượng chính của kẻ thù và đuổi chúng ra khỏi lãnh thổ và biên giới quốc gia của mình. Mọi việc đã diễn ra như thế trong thời kỳ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống lại người Trung Quốc từ 1418-1428.

............
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Giêng, 2012, 04:50:15 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #34 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2012, 03:29:09 am »

(tiếp)

Lê Lợi (1385-1434) - Một địa chủ giàu có ở vùng núi Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa, nuôi ý đồ khởi nghĩa yêu nước, bí mật tập hợp người cùng chí hướng. Tháng 2 năm 1418, khi ông đã có hơn một nghìn nghĩa quân, ông tuyên bố mình là người thủ lĩnh với tên gọi Bình Định Vương và kêu gọi nhân dân đứng lên chiến đấu đánh đuổi bọn xâm lược Trung Quốc. Lời hiệu triệu của Lê Lợi đã dấy nên một sự hưởng ứng nhiệt liệt trong các tầng lớp khác nhau của xã hội Việt Nam. Từ khắp nơi trên đất nước mọi người dân, khắc phục những trở ngại và nguy hiểm, về tụ tập Lam Sơn gia nhập nghĩa quân. Trong số đó có nhà tư tưởng chiến lược xuất sắc Nguyễn Trãi, sớm trở thành trợ thủ thân cận của Lê Lợi.


Trước năm 1423 lực lượng còn nhỏ của nghĩa quân chủ yếu tiến hành cuộc chiến tranh du kích trong các vùng miền núi của tỉnh Thanh Hóa, anh dũng đẩy lùi các cuộc tấn công của quân Trung Quốc, và tăng cường lực lượng của mình. Ý chí vững vàng và tài năng quân sự của các thủ lĩnh nghĩa quân,  chủ nghĩa anh hùng và đức hy sinh quên mình của nghĩa quân đã giúp phong trào khởi nghĩa Lam Sơn khắc phục những khó khăn to lớn, tìm được cách thoát khỏi những tình huống gian nan nhất, nhiều lần gặp phải trong những năm đầu của cuộc đấu tranh, để tranh thủ thời gian củng cố hàng ngũ của mình, Lê Lợi vào tháng 5 năm 1423 từng đề xuất với chính quyền chiếm đóng Trung Quốc ký kết một hòa ước. Quân Minh (Trung Quốc) chấp nhận đề nghị ấy và trong khoảng thời gian gần một năm rưỡi cố gắng thuyết phục Lê Lợi quy thuận, hứa hẹn sự giàu có và danh dự, nhưng các thủ lãnh cuộc khởi nghĩa nhân dân đã gạt bỏ sự dụ dỗ ấy.

Đến cuối năm 1424, quân  Trung Quốc nối lại các cuộc tấn công vào Lam Sơn. Lê Lợi theo lời khuyên của Nguyễn Trãi đã đưa nghĩa quân sang tỉnh Nghệ An lân cận và cùng với sự hỗ trợ của người dân nổi dậy, nghĩa quân nhanh chóng chiếm được các đồn lũy quân sự của đối phương tại tỉnh đó. Từ Nghệ An nghĩa quân phát động cuộc tấn công vào các tỉnh phía nam là Tân Bình và Thuận Hóa, và tới tháng 6 năm 1425 đã phát động một cuộc tấn công lên phía bắc. Ở khắp mọi nơi có các đội nghĩa quân xuất hiện, đông đảo quần chúng đã nhiệt thành hỗ trợ cho họ và cung cấp thực phẩm, gia nhập hàng ngũ của họ, vũ trang để cùng chiến đấu. "Người dân làm lễ chào đón chúng tôi, lũ lượt theo chúng tôi, chật đường chật lối", - Nguyễn Trãi sau này nhớ lại. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nhanh chóng phát triển thành một cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng. Đến cuối năm 1425 toàn bộ một khu vực rộng lớn của đất nước từ Thanh Hóa đến biên giới phía Nam, ngoại trừ thành Tây Đô đã quét sạch bọn xâm lược. Nhà Minh vội vã gửi đội quân tiếp viện 50 nghìn người của mình sang Việt Nam, dưới sự chỉ huy của Vương Thông. Quyết không để lãng phí thời gian, vào tháng 9 năm 1426 Lê Lợi đã cho nghĩa quân giải phóng đồng bằng sông Hồng. Sức ép của nghĩa quân và người dân đlồng lòng với họ lớn đến nỗi quân Minh phải bỏ lại rất nhiều tỉnh thành để trốn vào trong các pháo đài quân sự.


Tháng 11 năm 1426 quân Vương Thông đã vào thành Thăng Long. Giờ đây tại khu vực này quân Minh đã có  100 000 người và chúng quyết định tấn công. Tuy nhiên, trong trận Tốt Động (phía tây ngoại thành Thăng Long) chúng đã bị thất bại nặng nề, bị giết và bị thương 60 ngàn quân, buộc phải một lần nữa cố thủ trong thành. Lê Lợi kéo quân từ các tỉnh phía Nam về bổ sung cho quân đang vây Thăng Long, đồng thời chuẩn bị tấn công chiếm thành. Khi đó, Vương Thông xin hòa hoãn, hy vọng quân tiếp viện mới sẽ đến. Tháng 10 năm 1427 các đạo quân do hoàng đế nhà Minh phái sang giúp Vương Thông, vượt qua biên giới Đại Việt. Một đạo quân đến 100.000 lính dưới sự chỉ huy của Liễu Thăng tiến vào từ tỉnh Quảng Tây, một đạo binh khác gồm 50 000 người. dẫn đầu bởi Mộc Thạnh theo đường Vân Nam tiến vào. Không bỏ vòng vây quanh Thăng Long và các thành lũy khác đối phương, bộ chỉ huy quân đội Việt Nam cử một bộ phận quân đội đi chặn cánh quân Mộc Thạnh, trong khi đó lực lượng chủ yếu được họ quyết định tập trung vào hướng đông bắc nhằm tiêu diệt đạo quân của Liễu Thăng. Đòn tấn công mạnh mẽ đầu tiên được giáng vào đạo quân đối phương ngày 10 tháng 10 trong vùng lòng chảo Chi Lăng (tỉnh Lạng Sơn). Đạo quân địch, tự tin vào ưu thế quân sự của mình, rơi vào bẫy phục kích, mà người Việt Nam đã khéo léo sắp xếp và bị tổn thất nặng. Bản thâ Liễu Thăng bị chặt đầu trong cận chiến. Tàn quân của cánh quân này chạy thoát về hướng Thăng Long ngày 3 tháng 11 năm 1427, đã bị bao vây và bị tiêu diệt nốt tại trấn Xương Giang (ngày nay thuộc tỉnh Hà Bắc). Khi biết tin này, đạo quân Mộc Thạnh, đang dừng lại gần biên giới Trung Quốc-Việt Nam, quay đầu chạy trốn, chúng bị mất trong trận chiến với các đơn vị Việt Nam truy kích khoảng 20 nghìn người. Vương Thông, mất hết mọi hỗ trợ từ bên ngoài, không còn gì để làm ngoài việc hạ vũ khí đầu hàng và xin thề với Lê Lợi rút toàn bộ quân đội của mình về nước. Ngày 03 tháng 1 năm 1428 những tên lính nhà Minh cuối cùng đã rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Sau thảm bại năm 1427, triều Minh không bao giờ còn âm mưu bắt Đại Việt làm phiên thuộc nữa.

Tôi viết về điều đó một cách chi tiết như vậy bởi vì Lê Lợi và Nguyễn Trãi là các vị tướng nổi tiếng nhất trong lịch sử của Việt Nam, còn chiến lược và chiến thuật của họ là cơ sở hình thành cho lý luận của chiến tranh nhân dân. Sự tồn tại học thuyết của Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm lịch sử của các cuộc chiến tranh nhân dân với những kẻ áp bức nước ngoài, mà trong đó đóng vai trò quan trọng là các lực lượng địa phương, lực lượng dân binh và tự vệ, tôi đã được Obaturov G.I. cho biết. Cỏ thể đồng ý với học thuyết tiến hành chiến tranh nhân dân này, nếu đằng sau học thuyết đó không ẩn chứa sự đánh giá thấp rất rõ ràng vai trò của quân đội chính quy hiện đại, mà nếu không có vai trò xác định của nó sẽ không thể đánh bại đối phương trong bối cảnh của chiến tranh trong thời đại ngày nay. Sự phức tạp trong tình thế của tôi, cũng như của Ghennady Ivanovich, là lý thuyết về chiến tranh nhân dân được sự ủng hộ của ban lãnh đạo đất nước, và trên hết, đồng chí Lê Duẩn. Điều ấy có thể được hiểu theo nghĩa là cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam chống lại quân xâm lược nước ngoài ở các giai đoạn khác nhau của Nhà nước Việt Nam luôn luôn được thực hiện thành công, với tư cách một cuộc chiến tranh nhân dân sử dụng các lực lượng địa phương, dân binh và tự vệ. Trong lịch sử tồn tại của nhà nước Việt Nam, quân xâm lược nước ngoài đã hơn mười hai lần nô dịch Việt Nam, nhưng mỗi lần người dân Việt Nam anh hùng, dù dân số nhỏ hơn nhiều, vẫn tạo ra cho kẻ thù những điều kiện không thể chịu nổi. Lúc đầu, họ đánh tan từng bộ phận, rồi cuối cùng giáng cho quân thù đòn quyết định thất bại bằng các nỗ lực hợp nhất của quân đội Việt Nam. Luôn luôn là như vậy.

Chống quân Hán là hai chị em Bà Trưng, chống quân Tống - Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, chống quân Nguyên - Trần Hưng Đạo, chống quân Minh - Lê Lợi. Cũng như vậy, khi loại bỏ ách thống trị của người Pháp, khi bằng những nỗ lực thống nhất của các đơn vị quân đội Việt Nam và Lào, cuối cùng vào tháng 5 năm 1954 họ đã đánh bại quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Hoạt động chiến đấu trong thời kỳ giải phóng miền Nam Việt Nam có đặc điểm khác. Trong chiến dịch được lập kế hoạch một cách xuất sắc và thực hiện thành công, chiến dịch "HỒ CHÍ MINH", đóng vai trò quyết định là các đạo quân binh chủng hợp thành và các đơn vị thuộc lực lượng quân đội thường trực chính quy của QĐNDVN kết hợp với các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.

...........
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Giêng, 2012, 10:38:37 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #35 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2012, 09:00:35 pm »

(tiếp)

Điều thú vị là không có sự kiện nào trong số các sự kiện mô tả trên của các cuộc chiến tranh trong nhiều thế kỷ phủ nhận vai trò quan trọng của quân đội trong việc đánh bại kẻ thù. Tôi đã được biết đến các chỉ huy quân sự của thời đại mới từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến ngày nay. Họ gồm có Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng và những người khác. Tất cả những điều này được tôi dẫn ra đây để người đọc hiểu rằng tư tưởng mang ra để thảo luận của học thuyết quân sự đã được ban lãnh đạo Việt Nam chấp nhận, nền tảng của nó là lý thuyết về chiến tranh nhân dân với sự đề cao vai trò của lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, và vai trò bị hạ thấp của quân đội thường trực, quân đội chính quy, chúng ta không thể không biết ít nhất các sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến việc bảo vệ đất nước, với sự đập tan quân xâm lược nước ngoài, không thể không biết các khả năng, hình thức và phương pháp đã sử dụng trong đấu tranh vũ trang, vai trò và vị trí của quân đội, của lực lượng dân quân tự vệ. Chỉ bằng cách dựa vào tất cả những điều này và sử dụng các bài học của chủ nghĩa Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội, những kinh nghiệm to lớn của đất nước ta, tích lũy trong lịch sử xây dựng nhà nước của mình, và đặc biệt là trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại và kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới có thể tổ chức một cuộc thảo luận với một nhà lý luận quân sự tầm cỡ như vậy, có kinh nghiệm sâu rộng về tiến hành chiến tranh trong điều kiện hiện đại, như đồng chí Văn Tiến Dũng. Ngay cả trước cuộc họp với Văn Tiến Dũng, nhiều điểm trong học thuyết quân sự Việt Nam tôi không thể đồng ý. Từ học thuyết này ta có thể ngửi thấy mùi gì đó của Trung Quốc. Rõ ràng, đó không phải là điều ngẫu nhiên. Trong thời gian còn quan hệ tốt đẹp giữa Trung Quốc và Việt Nam, mà thời kỳ này đã đến sau chiến thắng của Cách mạng tháng Tám, nhiều sĩ quan và tướng lĩnh Việt Nam đã học tập trong các trường trung cấp và cao cấp quân sự Trung Quốc, và tất nhiên, vô tình hấp thụ học thuyết quân sự, lý thuyết và thực hành đào tạo và bồi dưỡng của quân đội Trung Quốc. Lý thuyết về chiến tranh nhân dân cũng là nền tảng cơ sở của học thuyết quân sự của CHND Trung Hoa. Mặc dù có sự chiến thắng của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và có quá trình chuyển đổi sang xây dựng xã hội chủ nghĩa, lý thuyết hiện tại của chiến tranh nhân dân không thay đổi. Từ cuốn sách tuyệt vời của nhà nghiên cứu người Đức Ernst von Hesse Wartegg "Trung Hoa và người Trung hoa" cũng đủ căn cứ thảo luận về nền tảng mà trên đó xây dựng nền quốc phòng của đất nước, cơ cấu biên chế-tổ chức của quân đội, các vấn đề huy động lực lượng và sẵn sàng chiến đấu, các khái niệm lý thuyết, các hình thức và phương pháp đào tạo và giáo dục của quân đội. Một cách dễ dàng ta có thể hình dung tất cả sự chưa hoàn thiện của cái sinh thể quân đội mà không có hệ thống thần kinh và tuần hoàn, không có một phương pháp tiếp cận khoa học nhằm xây dựng các hệ thống vũ khí và trang thiết bị kỹ thuật, không trang bị cho quân đội các phương tiện chiến tranh hiện đại. Trong quân đội thời cuối thế kỷ XIX, việc chỉ huy quản lý tập trung như một sinh thể quân đội duy nhất còn chưa tồn tại.

Việc chuẩn bị cho sự nghiệp bảo vệ quốc gia đã được trao cho các tổng đốc tỉnh, những người có nghĩa vụ xây dựng nuôi dưỡng một số lượng nhất định các dân quân và đào tạo họ. Trong trường hợp có các mối đe dọa quân sự với đất nước, họ phải đưa những người lính trên vào hoàn thiện biên chế quân đội thống nhất và quân đội đó sẽ dùng những người lính này để bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, do mọi tổng đốc không muốn chi tiền để duy trì  và đào tạo lực lượng dân quân, trang bị cho nó vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại, nó vẫn chỉ là một lực lượng dân quân, nhập vào biên chế tổng thể của quân đội nó đã không thể tác chiến và đấu tranh với quân đội của các nước tư bản chủ nghĩa, mà trong thời cuối thế kỷ XIX, quân đội đó gần như không bị trừng phạt khi xâm chiếm những mảng lớn dọc vùng lãnh thổ duyên hải Trung Quốc. Trong vụ ăn cướp này nổi bật là nước Nga Sa hoàng xâm chiếm Mãn Châu, Port Arthur, Đại Liên và toàn bán đảo Liêu Đông. Chính quyền Trung Quốc đã buộc phải chấp nhận các điều kiện áp đặt do các cường quốc đế quốc quyết định bởi vì chẳng có ai để bảo vệ đất nước.

Trong thời gian lưu trú và làm nhiệm vụ của trưởng cố vấn quân sự cho QĐNDVN đại tướng G.I.Obaturov và thậm chí cả khi tôi giữ cương vị trên, đã phổ biến vô cùng rộng rãi ý kiến cho rằng đối với Việt Nam một quân đội thường trực mạnh mẽ là không cần thiết và tại các tỉnh chúng ta nên có một số lượng vừa đủ bộ đội địa phương, dân quân và các đơn vị tự vệ, bằng cách cung cấp cho họ các vũ khí bộ binh nhẹ, lựu đạn, mìn và theo khẳng định của những tác giả quan điểm đó thế là đủ tin cậy đối với việc bảo vệ đất nước. Quan điểm này được sự ủng hộ rộng rãi của một số Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, muốn độc lập với nhà nước, với trung ương, và ở mức độ nào đó giống các lãnh chúa phong kiến một chút. Trong lịch sử, hầu như luôn luôn xảy ra điều này khi chính quyền trung ương suy yếu.

.......
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Giêng, 2012, 04:53:54 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #36 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2012, 10:35:08 pm »

(tiếp)

Phải chăng ngay chúng ta giờ đây không có xu hướng của một số các nước cộng hòa liên bang xô viết cũ và các nước cộng hòa tự trị muốn độc lập hoàn toàn về cả quân đội của mình và các thuộc tính quyền lực khác. Họ không muốn hiểu rằng họ đang tạo ra những miếng mồi ngon không được bảo vệ để các kẻ thù của nước ta thoải mái nuốt chửng, đối với họ điều quan trọng nhất là thỏa mãn tham vọng của mình, điều gì sẽ xảy ra cho người dân, với họ là chuyện nhỏ. Họ thuyết phục nhân dân rằng bằng các biện pháp ngoại giao là có thể bảo vệ đất nước trong thời đại tư duy chính trị mới, rằng quân đội không còn cần thiết, nhưng đó là câu chuyện cổ tích về con cá bống trắng của ngài Shevardnadze và những kẻ xu nịnh ông ta. Chưa ai kịp làm cho con sói biến thành cừu non, và biến  nhà tư bản thành người bạn của chính quyền Xô Viết.

Nhưng tôi đã quá bị lôi cuốn bởi tính hiện đại của điều này mà lạc khỏi việc thảo luận các vấn đề chính trong những ngày đó - học thuyết quân sự của CHXHCN Việt Nam, được thông qua tại Đại hội Đảng lãnh đạo, của chính phủ, các bí thư tỉnh ủy và đảng đoàn, đảng bộ, các Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, và ban lãnh đạo lực lượng vũ trang CHXHCN Việt Nam, được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh.

Trong mỗi người Việt Nam, và thậm chí còn nhiều hơn nữa với các nhà chỉ huy quân đội, những bài học của lịch sử đã ăn sâu trong tâm trí họ và họ sẵn sàng làm theo nó ngay cả trong thời đại chúng ta – thời đại của cuộc cách mạng kỹ thuật, thời đại đạt đến sự bão hòa trong việc trang bị cho quân đội các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, kéo theo nó là các hình thức mới, các kỹ thuật và phương thức chiến tranh mới.

Văn Tiến Dũng cho rằng các phương pháp mới tiến hành chiến tranh khi quân đội trang bị đến mức bão hòa các phương tiện chiến đấu hiện đại nhất là chấp nhận được, theo ông quan niệm, chỉ đối với các không gian chiến trường văn minh, còn ở Đông Nam Á và Việt Nam nói riêng, chúng không thích hợp. Ông tin rằng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, phải đóng một vai trò quyết định trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù có lực lượng áp đảo. Tôi cho phép mình có ý tưởng rằng đồng chí Văn Tiến Dũng, được chuẩn bị tốt về quân sự, có thể tuân theo các quan điểm của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và các đồng chí lãnh đạo khác, mà các quan điểm của các đồng chí này ông buộc phải tính đến.

Ở mỗi tỉnh, huyện, xã, đều có những lực lượng này, do các ủy ban nhân dân tỉnh và huyện lãnh đạo. Các chỉ huy bộ đội địa phương có các cơ quan tham mưu và chính trị của mình. Mỗi bí thư tỉnh ủy có lực lượng "vũ trang" của mình. Trong một số trường hợp nhất định ông ta có thể thực hiện chính sách của mình, đường lối độc lập của mình, dựa vào lực lượng quân sự của mình. Họ được tuyển chọn ngay trong tỉnh không ít, số lượng lên đến 50-60 ngàn người. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người trong số các bí thư tỉnh uỷ tiến hành chính sách riêng gần như độc lập của họ. Đôi khi sự việc dẫn đến những điều vô lý. Bộ Tổng tham mưu ra lệnh gọi, ví dụ 1.000 người nhập ngũ vào quân đội thường trực chính quy, còn theo nghị quyết, theo quyết định của đảng ủy quân sự lại bổ sung đến 150-200 phần trăm hạn ngạch nhập ngũ tốt nhất. Nhà nước trong Nhà nước - có thể xác định bản chất tổng thể của hệ thống hiện hành như vậy. Tất nhiên, Bộ trưởng Quốc phòng nước CHXHCNVN không nói về điều đó. Ông chỉ nói rằng họ sẽ đóng một vai trò quan trọng quyết định trong chiến tranh dựa vào kinh nghiệm lịch sử trong nhiều thế kỷ của đất nước.

Cuộc đối thoại với BTQP CHXHCNVN phát sinh liên quan đến quyết định của ông ấy thay đổi chủ đề của diễn tập. "... Chúng tôi đã lâu không thao luyện cho bộ đội địa phương, cần phải dạy họ, và vì vậy chúng tôi sẽ tiến hành tập trận về chủ đề phòng thủ", - ông nói. Sau đó ông bắt đầu trình bày bản chất của lý thuyết về chiến tranh nhân dân, mà nhà tư tưởng của nó là đồng chí Lê Duẩn. Ông giảng giải quan điểm của mình khoảng 40 phút. Tôi lắng nghe chăm chú và chờ đợi sự kết thúc cuộc giải trình lý thuyết này, sẵn sàng trả lời. Tôi có thể chuyển cuộc trò chuyện này sang một thời điểm khác, do ông không sẵn sàng cho cuộc thảo luận này. Nhưng tôi không thể làm điều đó vì lý do hoàn toàn tâm lý. Ông có thể nghĩ rằng tôi đã không chuẩn bị cho cuộc tranh luận này, bởi vì chúng tôi không có cơ sở, không có đủ lập luận. Có thể để gây ấn tượng, tôi nên tham khảo ý kiến, tích lũy một số tài liệu nào đó để thảo luận về lý thuyết này. Tôi không thể để điều này xảy ra. Nhiều năm tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, các tác phẩm của Marx, Engels, Lenin, cũng như có hiểu biết về các quan điểm cơ bản về các vấn đề chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, hãy để tôi đưa ra câu trả lời ngay lập tức sau khi ông ấy trình bày quan điểm của mình .

Khi ông còn đang nói, tôi đã tập trung những suy nghĩ, nhắc lại trong tâm trí tất cả những điều tôi đã chuẩn bị cho đề tài này.

......
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Giêng, 2012, 11:58:09 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #37 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2012, 02:12:57 am »

(tiếp)

Tôi điểm lại trong trí một lần nữa lịch sử chiến tranh của nhân dân Việt Nam chống lại những kẻ áp bức nước ngoài. Thông tin này với tôi vẫn còn rất tươi mới. Khi nghe xong lý thuyết về chiến tranh nhân dân, chúng tôi tạm nghỉ. Thế là tốt. Tôi đã có thêm thời gian tập hợp suy nghĩ của mình. Sau giờ nghỉ, chúng tôi ngồi xuống tiếp tục cuộc trao đổi công việc. Sau khi xin phép, tôi bắt đầu bằng cách nói rằng tôi sẽ không thể là một người cộng sản, một nhà hoạt động theo chủ nghĩa quốc tế, một người bạn của nhân dân Việt Nam, nếu tôi không nói chuyện thẳng thắn về vấn đề này. "Đồng chí hãy thẳng thắn," - Văn Tiến Dũng tuyên bố. "Vâng, vậy tôi sẽ hoàn toàn thẳng thắn". "Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng CHXHCNVN. Lý thuyết tiến hành chiến tranh không dùng quân đội, và sử dụng lực lượng nhân dân không phải là mới. Điều này đã được nêu trong tác phẩm của V.I.Lenin, "Cảng Lữ Thuận thất thủ". Chính trong tác phẩm đó Lenin nói: "... Đã vĩnh viến biến mất thời các cuộc chiến tranh được dẫn dắt bởi những lính đánh thuê hoặc những đại diện của tầng lớp đã thoát ly một nửa khỏi nhân dân. Cuộc chiến tranh hiện nay được dẫn dắt bởi nhân dân". (V.I.Lenin, Toàn tập tác phẩm, tập 9, trang 154, 156).

Khi bắt đầu cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống lại quân xâm lược Đức quốc xã, bài hát đầu tiên của nhân dân tôi là: "Hãy đứng lên, đất nước bao la, hãy đứng lên vào trận đánh sinh tử, cuộc chiến tranh nhân dân chống lại bè lũ phát xít". Và cuộc chiến tranh ấy đã thực sự là chiến tranh nhân dân. Nhân dân theo nghĩa là tất cả nhân dân đứng lên theo tiếng gọi của Đảng Cộng sản để bảo vệ quê hương đất nước. Mặt trận và hậu phương trở thành một thể thống nhất. Hồng quân anh dũng tấn công bè lũ phát xít, trong hậu phương của kẻ thù diễn ra phong trào du kích dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ bí mật và Ủy ban Trung ương ĐCSLX. Đứng đầu ban lãnh đạo phong trào du kích là Kliment Efremovitch Voroshilov. Đã thành lập các tiểu đoàn và trung đoàn dân quân tự vệ, dân chúng nước tôi đã xây dựng các công trình phòng thủ xung quanh các thành phố bị đe dọa bởi kẻ thù, tại hậu phương ngày cũng như đêm mọi người làm việc nhằm đảm bảo cung cấp cho mặt trận tất cả những thứ cần thiết. Đó là chủ nghĩa anh hùng tập thể của con người ở cả mặt trận và hậu phương nhân danh chiến thắng. Trên bình diện này, cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại là cuộc chiến tranh toàn dân. Tuy nhiên, ĐCSLX, chính phủ Liên Xô không bao giờ cho phép đánh giá thấp vai trò của quân đội thường trực chính quy. Họ đã làm mọi thứ để đảm bảo Hồng quân có được các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, chăm lo phát triển các chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật tiên tiến nhất, họ theo dõi rất sâu sắc việc chuẩn bị đội ngũ chỉ huy của Hồng quân và đào tạo kỹ năng cho bộ đội. Đảng chúng tôi không bao giờ quên luận điểm của Lenin dạy rằng quân đội cách mạng nhất, quân đội trung thành nhất sẽ bị tiêu diệt nếu nó được vũ trang và huấn luyện kém. Vì vậy, chúng tôi, những người Cộng sản Liên Xô hiểu được vai trò của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa phát xít, nhưng không bao giờ quên vai trò quyết định của Hồng quân trong cuộc chiến đấu đó. Những kinh nghiệm của cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại đã chỉ ra rằng khi nào chúng tôi chưa đạt sự vượt trội về số lượng và chất lượng của Hồng quân so với đối phương, khi nào chúng tôi chưa học được cách đánh bại kẻ thù thực sự, dù với tất cả chủ nghĩa anh hùng của toàn thể nhân dân, chúng tôi vẫn phải rút lui đến sông Volga và các chân dãy núi Kavkaz. Chỉ sau khi tạo được sự vượt trội về số lượng và chất lượng, làm chủ được nghệ thuật đánh bại kẻ thù, chúng tôi mới chặn được kẻ thù, và sau đó đánh bại chúng, không chỉ giải phóng đất nước chúng tôi khỏi đám cặn bã phát xít, mà còn giải phóng cho các dân tộc châu Âu khỏi ách nô lệ của Đức Quốc xã. Kết liễu xong chủ nghĩa phát xít ở phương Tây, trung thành với các cam kết đồng minh, chúng tôi đã bước vào cuộc chiến tranh chống lại Nhật Bản, đánh bại đạo quân Quan Đông giải phóng phần phía bắc của Trung Quốc và Triều Tiên.

Cuộc cách mạng tháng Tám ở nước đồng chí đã có cơ hội đạt thắng lợi chính là nhờ kết quả chiến thắng này. Điều đó các đồng chí biết rõ và đánh giá đúng. Trong thời đại ngày nay, đang diễn ra cuộc chiến tranh nhân dân ở El Salvador, nhân dân Lebanon và Palestine đang anh dũng chiến đấu cho tự do và độc lập dân tộc, nhưng họ không thể chống lại quân đội Israel và quân đội chính phủ El Salvador được vũ trang đến tận răng các phương tiện chiến tranh hiện đại, được hỗ trợ bởi tất cả các lực lượng và phương tiện của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Phải chăng đó không phải là một bằng chứng rõ ràng về sự cần thiết phải có một quân đội hiện đại mạnh, được trang bị và huấn luyện đào tạo tốt. Vâng, chính nó, chính quân đội này mới có khả năng chống lại quân đội của đối phương.

Về không gian chiến trường Đông Nam Á, về đặc điểm của nó, ở đây chúng ta phải ghi nhớ phát biểu của Friedrich Engels - chuyên gia lớn về các vấn đề quân sự trong cuốn sách tuyệt vời của mình, cuốn “Chống Đuy rinh” ("Anti-Dühring"). Trong tác phẩm này, ông nói rằng kinh nghiệm chiến tranh đã chỉ ra rằng vùng núi không mang lại ưu thế cho một bên tham chiến nào, nghĩa là, cả bên tấn công lẫn bên phòng thủ. Tất nhiên, núi non, rừng rậm nhiệt đới, tạo ra các đặc điểm trong quá trình chiến đấu, nhưng các đặc điểm này ở trong mức độ cân bằng cho cả bên tấn công và bên phòng thủ. Chúng tôi không phủ nhận vai trò của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ.

.........
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Giêng, 2012, 08:22:07 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #38 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2012, 07:52:25 pm »

(tiếp)

Trong khi soạn thảo và phát triển "Các nguyên tắc của việc chuẩn bị và tiến hành tập trận của QĐNDVN", chúng tôi đưa vào thành phần Lực lượng Vũ trang của quân đội Việt Nam cả bộ đội địa phương, bằng cách đó thiết lập quyền tồn tại của nó. Nhưng chúng tôi chống lại việc quá đề cao vai trò của họ, cũng như của các hình thái khác làm tổn hại vai trò của quân đội chính quy. Súng tự động, súng trường hoặc cạc bin không tiêu diệt được máy bay, trực thăng, hệ thống pháo binh, khí tài phòng không, tên lửa, tàu ngầm hay tàu mặt nước hiện đại. Chúng ta cần phương tiện chiến đấu hiện đại, cần một quân đội hiện đại. Đồng chí nói về kinh nghiệm lịch sử của các cuộc đấu tranh của dân tộc các đồng chí chống lại kẻ thù có lực lượng áp đảo, tôn sùng các hình thức và các phương pháp được sử dụng trong nhiều thế kỷ để đánh bại kẻ thù. Đương nhiên, kinh nghiệm nên được tính đến, đây là một tài sản khổng lồ của nhân dân và quân đội. Nhưng đối với kinh nghiệm phải có cách tiếp cận có tính chất phê bình. Đồng chí hãy nhớ rằng, trong 30-40 năm qua, nhân loại đã đạt được trong tiến trình phát triển của mình, một bước nhảy khổng lồ, dẫn đến cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ, tạo ra những phương tiện chiến tranh chưa từng có. Vũ khí hạt nhân, tên lửa, máy bay phản lực siêu âm, vũ khí laser, vũ khí sinh học và hóa học và không có gì mà không có trong kho vũ khí hủy diệt không chỉ con người mà còn hủy diệt cả tự nhiên. Vì vậy, dựa vào những phương pháp và hình thức cũ đã sử dụng trong nhiều thế kỷ để tiến hành cuộc chiến tranh hiện đại là một sai lầm. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng không có cuộc chiến tranh tương lai nào được tiến hành theo cách thức và phương tiện của cuộc chiến tranh trước đây. Chúng tôi, các quân nhân Liên Xô cũng từng cho phép đề cao quá mức kinh nghiệm quá khứ. Chúng tôi quá say sưa nghiên cứu và áp dụng các kinh nghiệm cuộc nội chiến và chiến tranh với các nước khối Tâm Thành (l’Entente cordiale -«сердечное согласие» gồm nước Nga Sa Hoàng-Anh-Pháp trước thế chiến 1). Trong những điều kiện ấy, các đơn vị kỵ binh có ý nghĩa quan trọng như một phương tiện cơ động chiến đấu. Chúng tôi đã xây dựng nhiều đơn vị kỵ binh cấp sư đoàn, mà lúc bắt đầu chiến tranh (Vệ quốc Vĩ đại) đã cho thấy sự bất lực của nó khi đối phó với các cụm quân cơ giới của đối phương, chúng tôi đã không đánh giá đúng kinh nghiệm cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha, đã không học được đúng cách từ cuộc xung đột Phần Lan- Liên Xô. Vì chỉ dựa trên kinh nghiệm này, vào đêm trước của cuộc chiến tranh, chúng tôi bắt đầu giải thể các quân đoàn cơ giới, lữ đoàn xe tăng, v.v... Tất cả những điều này đã dẫn đến việc trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, chúng tôi không có gì để chống lại xe tăng và các cụm quân cơ giới hóa của đối phương và trong quá trình chiến tranh chúng tôi phải xây dựng lại tất cả những gì đã phá bỏ một lần nữa, nghĩa là, các quân đoàn xe tăng, quân đoàn cơ giới hóa, các lữ đoàn, và sau đó là tập đoàn quân xe tăng và cơ giới hóa. Đó là cái giá của sai lầm, thái độ tiếp cận không phê phán đối với kinh nghiệm. Điều này có thể gây ra những thiệt hại không thể nào khắc phục.


Liên minh Tâm Thành 3  đế quốc trước Thế Chiến 1: Pháp, Nga, Anh từ trái sang phải.


Bản đồ các Liên minh ở châu Âu năm 1914.

Đồng chí cho rằng kinh nghiệm của chúng tôi về chiến tranh trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại chỉ thích hợp cho không gian chiến trường châu Âu, mà như đồng chí nói, cho các không gian chiến trường các nước có trình độ văn minh cao, nhưng ở họ cũng có núi và rừng rậm, rằng bởi vậy nó không thích hợp với Việt Nam. Nhưng quân đội Liên Xô có nhiều kinh nghiệm chiến tranh không chỉ ở đồng bằng, mà còn ở vùng núi Caucasus, vùng núi Carpathians, trong khu vực miền núi phía bắc Tiệp Khắc, ở vùng núi Bolsoy Khingan và ở các vùng núi khác. Cá nhân tôi đã từng phải tham gia vào chiến dịch Moravian-Ostrava, ở đó cũng là rừng núi. Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm chiến tranh trong địa hình rừng núi và vùng rừng-đầm lầy. Vì vậy, kinh nghiệm chiến tranh của chúng tôi là đa dạng và từ đó chúng ta có thể rút ra rất nhiều điều hữu ích cho Quân đội nhân dân Việt Nam.

.........
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Giêng, 2012, 08:25:15 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #39 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2012, 10:29:06 pm »

(tiếp)

Và vì vậy chúng tôi làm tất cả để xây dựng một đội quân chính quy thường trực, được trang bị các phương tiện chiến đấu hiện đại nhất, sở hữu và làm chủ một cách thuần thục các vũ khí và trang bị kỹ thuật hiện đại, áp dụng các thành tựu của khoa học hiện đại trong lĩnh vực nghệ thuật tác chiến chiến dịch và chiến thuật, có vai trò quyết định trong cuộc chiến tranh tương lai, quan tâm tối đa đến sự hình thành và phát triển của nó, còn các lực lượng bộ đội địa phương, các lực lượng dân quân tự vệ cần phải bổ sung, tăng cường cho cố quân đội chính quy. Chúng ta không được quên các chỉ dẫn của V.I.Lenin trong tác phẩm của mình "Nhà nước và Cách mạng" rằng, một trong những chức năng chính của chức năng nhà nước là tự bảo vệ nó, tức là tạo ra một quân đội hiện đại, giáo dục và đào tạo quân đội đó.

Quân đội luôn luôn đã và sẽ là chỗ dựa của chế độ hiện hành, lá chắn của quốc gia. Cần phải đảm bảo cho nó tất cả những gì cần thiết, kể cả đảm bảo vật chất cho đội ngũ sỹ quan của nó. Các đồng chí có đội ngũ sỹ quan sống nghèo nàn hơn cả nhân viên bán hàng, các thợ thủ công, nông dân. Điều này là không thể chấp nhận. Chúng ta phải làm mọi thứ để đảm bảo cho người sỹ quan sống tốt hơn trong tất cả các tầng lớp công dân khác, nếu chúng ta muốn nó là chỗ dựa đáng tin cậy cho mình. Đảng Cộng sản và chính phủ Liên Xô đã làm như vậy, Đảng và Chính phủ của các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng làm như thế. Thái độ đối với quân đội được quyết định không chỉ bởi vai trò của nó trong việc bảo vệ nhà nước, mà còn bởi những gian nan của đời phục vụ quân đội, ngày càng căng thẳng và phải nỗ lực đặc biệt trong mối liên quan đến sự phát triển như vũ bão của vũ khí và trang thiết bị kỹ thuật, của tất cả các phương tiện chiến đấu. Trước kia các hạ sĩ và trung sĩ có thể dạy cho người lính, bởi vì quân đội lúc đó được trang bị súng trường, carabin, đại bác kiểu cổ, gươm, và ngựa. Bây giờ họ không thể làm được điều đó nữa. Việc làm chủ các phương tiện chiến tranh hiện đại, vốn dựa trên các thiết bị điện tử và các thành tựu khác của khoa học hiện đại, chỉ có thể dưới chỉ đạo của một sĩ quan có một nền tảng giáo dục đại học. Đó là lý do tại sao đời phục vụ của sỹ quan trở nên rất nặng nề và gian khổ. Anh ta phải tự mình làm mọi việc - đào tạo cấp dưới, quản lý phương tiện chiến đấu hiện đại, trực ban tác chiến với các phương tiện đó và v.v.

Tại đó tôi muốn kết thúc cuộc tranh luận về vai trò của quân đội chính quy, nhưng tôi vẫn luôn luôn lo lắng về những suy nghĩ mà tôi muốn bày tỏ với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng CHXHCNVN. "Cho phép tôi, thưa đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được cởi mở cho đến cùng". "Vâng, tất nhiên! Đồng chí hãy cởi mở và thẳng thắn cho đến cùng". "Vâng, tôi sẽ thẳng thắn đến cùng". "Đất nước của các đồng chí, thưa đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, hiện đang trải qua những khó khăn to lớn gây ra bởi sự rối loạn của nền kinh tế là kết quả của cuộc chiến tranh Ba mươi năm chống hết thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ và chế độ Sài Gòn để giải phóng và thống nhất Tổ quốc mình, rồi sự cần thiết phải trợ giúp cho Campuchia lật đổ bè lũ Pol Pot và giải phóng đất nước này, duy trì một đội quân đồn trú khá lớn tại Kampuchia và đảm bảo nhu cầu tổ chức lại đời sống kinh tế cho đất nước mình bị Trung Quốc xâm lược năm 1979 rồi cần phải có một đội quân lớn để bảo vệ mình cũng như bảo vệ lợi ích của Campuchia và Lào. Có nhiều yếu tố khác tạo ra khó khăn trong nền kinh tế, trong việc cung cấp lương thực và các hàng hóa công nghiệp cho nhân dân và đặc biệt là tầng lớp lao động làm công ăn lương, đội ngũ trí thức và quân đội, các sai sót trong quản lý kinh tế, bản năng chống phá vô tổ chức của nền sản xuất tư nhân, v.v. Tất cả những điều này tạo ra một tình hình quân sự và chính trị khó khăn ở trong nước. Không phải tất cả mọi người dân đều hiểu đúng những khó khăn này. Ở miền Bắc, nơi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có đến 37 năm, người dân được giáo dục những tư tưởng của chủ nghĩa xã hội và họ đứng vững trên vị trí của mình. Nhưng ở miền Nam thì khác. Những khó khăn của các kế hoạch kinh tế, bị những kẻ thù của chủ nghĩa xã hội sử dụng phục vụ hoạt động phản cách mạng. Chính phủ của các đồng chí đã pahir đấu tranh chống lại các hoạt động phản cách mạng riêng rẽ. Ở miền Nam, cũng như ở miền Bắc, có bộ đội địa phương và các lực lượng vũ trang khác trong từng tỉnh và huyện. Cũng có thể các lực lượng ấy, trong những tình thế nhất định, trở thành lực lượng vũ trang của bọn phản cách mạng. Ai có thể đảm bảo độ tin cậy chắc chắn của họ? Tôi không thể đưa ra một đảm bảo kiểu như vậy. Những hình thái vũ trang ấy tồn tại làm gì trong thời bình? Trong họ ẩn chứa nhu cầu gì? Tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải cân nhắc tất cả những điều này thật kỹ và ra quyết định đúng. Đó là tất cả. Xin lỗi vì sự giải trình dài dòng quan điểm của mình".

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng không bình luận về quan điểm mà tôi bày tỏ về vấn đề được thảo luận. Trong quá trình tranh luận của tôi, ông ấy cư xử chăm chú và nhẹ nhàng.

Vào ngày thứ hai tôi gặp các đại tướng Chu Huy Mân, Hoàng Văn Thái và rất ngạc nhiên là họ đã biết về cuộc trò chuyện của tôi với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng để thảo luận về học thuyết chiến tranh nhân dân của Việt Nam. Theo vẻ mặt và nụ cười của họ tôi thấy sự thiện chí, tôi nhận ra họ đồng ý với các quan điểm của tôi. Thật thú vị, ý kiến bày tỏ của tôi khi tôi lặp đi lặp lại lúc phát biểu trước các thính giả các học viện và nhà trường quân đội, mà không bao giờ gặp phải sự không thiện chí hay phản bác từ phía các chỉ huy quân đội Việt Nam. Thực tế là tôi luôn luôn tránh việc so sánh với học thuyết đã được chấp nhận chính thức. Đó sẽ là sự thiếu tôn trọng (nếu có) của tôi đối với những người phát triển học thuyết đó và chính thức chấp nhận đưa nó vào trang bị trong hàng ngũ quân đội. Tôi nghĩ rằng mình làm như vậy là chính xác. Các bạn Việt Nam có lẽ từ đó sẽ phải có các cuộc tranh luận về quan điểm, để trong tiến trình này tìm ra chân lý.

Ngày 29 tháng 10 chuyến bay về Moskva được dự kiến lúc 17:30 h. Tại sân bay, đi tiễn tôi có Thứ trưởng Quốc phòng CHXHCNVN Trần Văn Quang, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật tướng Lê Văn Tri, trưởng văn phòng sứ quán, tùy viên quân sự đại tá Davydov V.A., và người cấp phó của tôi. Máy bay bị trế giờ do vấn đề tiếp nhiên liệu. Chúng tôi ngồi trong phòng chờ, uống trà và nói chuyện về các chủ đề khác nhau. Thời gian trôi qua chậm chạp, và đó thật là bất tiện cho các đồng chí của tôi. Họ buộc phải chờ chuyến bay, mà thực tế hôm nay là ngày thứ bảy.

.......
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM