MiG-15 trong chiến tranh Triều Tiên
vndefence.infoLần đầu tiên MiG-15 được sử dụng vào chiến tranh là đầu năm 1950. Những chiếc mig-15 của Trung Quốc bảo vệ khu vực Thượng Hải trước máy bay Quốc Dân Đảng. Các cuộc trạm chán với đối phương hiếm khi xảy ra. Phi công MiG-15 chỉ bắn rơi được 1 máy bay đối phương - dường như là chiếc P-38.
Ngày 25-6-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Không quân Bắc Triều Tiên vào lúc đó có khoảng 150 máy bay các loại và đã cũ: Yak-9, IL-2 và Tu-2. Sau ít tháng, lực lượng non yếu của họ bị Mỹ và liên quân tàn phá hoàn toàn. Cho đến giữa mùa thu 1950, không lực Mỹ đã hoàn toàn làm chủ bầu trời Triều Tiên.
Chiến tranh Triều Tiên trở thành “những giờ phút vinh quang” của lịch sử MiG-15. Đó cũng là cuộc không chiến đầu tiên lịch sử của máy bay phản lực. Để bảo vệ lãnh thổ, Trung Quốc đã tham gia vào chiến tranh và nhờ Liên Xô hỗ trợ. Còn Liên Xô thì cũng có nhiều nguyên cớ để không thể bỏ qua. Đợt đầu, Trung Quốc đã nhận được 64 chiếc mig-15.
Ngày 1-11-1950, trận đánh đầu tiên với của Nga không lực Mỹ xảy ra và Mỹ đã bị bất ngờ. Họ không liệu trước là phải đối đầu với những chiếc máy bay chiến đấu mới nhất của Xô Viết. Máy bay F-80 bị yếu thế về tốc độ so với MiG-15 bởi cánh thẳng. Để chống lại MiG, Mỹ đã phải điều động cấp tốc F-86 Sabre đến tham chiến. Kể từ cuối tháng 12-1950 cho đến hết chiến tranh tháng 7-1953, MiG-15 và F-86 là hai đối thủ chủ yếu trên bầu trời Triều Tiên.
MiG và Sabre có nhiều đặc điểm tương tự nhau. Nhưng cũng có một số khác biệt, MiG trội hơn về tốc độ leo cao và vũ khí, kém Sabre về điện tử và khả năng cơ động theo phương ngang. Bối cảnh hoạt động trên chiến trường Triều Tiên cũng đóng một vai trò quan trọng. Phi công Liên Xô bị nghiêm cấm đuổi theo đối phương vào lãnh thổ và vùng biển phía nam giới tuyến 38. Bên cạnh đó, mục tiêu chủ yếu của MiG không phải là tấn công F-86 mà là ngăn chặn các đợt ném bom của không lực Mỹ. Mặt khác, MiG hoạt động trong lãnh thổ thường xuyên bị máy bay và phòng không của lực lượng Liên Hiệp Quốc đe doạ. Thuận lợi quan trọng của MiG là họ có sân bay trong lãnh thổ Trung Quốc. Không lực Mỹ không dám tấn công MiG trên mặt đất cũng như bên trong lãnh thổ Trung Quốc. Chỉ huy một đội bay MiG, người đã hạ 13 máy bay đối phương, ông Sergey M. Kramarenko mô tả chiến thuật của họ:
“MiG vượt trội về tốc độ leo cao, trong khi Sabre vận động ngang tốt hơn, đặc biệt tại độ cao thấp… Kết quả thường thấy của các cuộc đối đầu là (MiG) giải quyết đối thủ bằng cú đánh đầu tiên. Sau đòn phủ đầu, MiG nhanh chóng kéo lên cao, Sabre ngược lại, trong trường hợp thoát cú đánh đầu tiên chúi xuống thấp. Mỗi phía đều tận dụng khả năng tốt nhất của mình để chiến đấu, vì thế cuộc chiến sau một đợt tấn công thường giới hạn bởi MiG ở trên cao và Sabre dưới thấp.”
MiG-15 đã chứng tỏ khả năng tuyệt vời khi tham gia đánh chặn máy bay ném bom B-29. Hai trận đánh điển hình diễn ra hồi tháng 3, 4-1951, MiG đã gây ra tổn thất nặng nề cho B-29 ở gần biên giới Trung Quốc-Triều Tiên. Cho đến tháng 10-1951, sau khi chịu một loạt các tổn thất vì hoạt động của mig, không lực Mỹ đã phải ngừng sử dụng B-29 vào ban ngày; từ đó cho đến hết chiến tranh, B-29 chỉ hoạt động về đêm.
Số lượng máy bay đối phương bị MiG bắn hạ cũng như tổn thất của MiG là vấn đề khó khăn để xác định và cho đến nay còn gây tranh cãi. Theo những nguồn số liệu công khai, số lượng máy bay Mỹ bị không quân Liên Xô, Trung Quốc và Triều Tiên bắn rơi là 1368 chiếc các loại và họ mất 566 máy bay. Đa số trong đó là do MiG-15 hạ. Nhiều phi công mig-15 xuất sắc đã hạ rất nhiều máy bay đối phương. Ông Evgenie Pepeljaev đã hạ 23 máy bay đối phương và viết cuốn hồi ký về không chiến Triều Tiên «Миги» против «Сейбров». Sẽ giới thiệu với bạn đọc nếu có dịp.
Nguồn số liệu Mỹ công bố ngay sau chiến tranh nói họ bắn rơi 792 chiếc mig-25 và mất 78 chiếc F-86 Sabre, tuy nhiên một số nguồn tin đã chỉ ra rằng số liệu này phải xem xét lại, còn bây giờ Lầu Năm Góc chính thức công nhận họ bắn rơi 379 MiG-15 tại Triều Tiên.
Sự xuất hiện của MiG-15 tại chiến trường Triều Tiên gây tiếng vang lớn trên báo chí phương Tây. Họ gọi xuất hiện của MiG là “Bất ngờ Triều Tiên”. Các phi công Mỹ gọi khu vực giáp biên giới phía bắc CHDCND Triều Tiên, nơi MiG thường hoạt động là “Hành lang MiG”. Kết quả các cuộc giao chiến trên bầu trời Triều Tiên với phần thắng thường xuyên thuộc về MiG-15 đã làm cho MiG nổi tiếng cả ở phương Tây. Cho đến ngày nay, cái tên MiG đã trở thành thông dụng.
Những tổn thất lớn mà Không lực Mỹ phải hứng chịu đã làm họ phải cố gắng để bắt được 1 chiếc MiG-15 còn nguyên vẹn. Tháng 4-1953, lúc chiến tranh đã gần như kết thúc, Mỹ công khai tuyên bố tặng thưởng 100 ngàn đô la cho bất cứ phi công nào đưa được 1 chiếc MiG-15 đến cho Không quân Mỹ. Trong suốt 3 năm chiến tranh, Mỹ đã không thể chiếm được 1 chiếc MiG nào còn nguyên vẹn. Ngày 21-9-1953, phi công Bắc Triều Tiên Ro Kum Suk (No Kum Sok) đã giúp Mỹ toại nguyện. Anh ta đánh cắp 1 chiếc MiG-15b số hiệu 2057 và chạy trốn sang căn cứ Kimpo. Dù sau đó anh ta nói không biết gì về số tiền thưởng này thì Mỹ cũng vẫn trao số tiền 100 ngàn cho kẻ đào tẩu. Chiếc MiG-15b được C-124 chở về căn cứ Okinawa tháo ra nghiên cứu. Số hiệu 2057 bị xoá đi và thay bằng số hiệu Mỹ. Kế hoạch Zeta bắt đầu, người Mỹ nghiên cứu và thử nghiệm MiG-15b kỹ càng còn hơn cả Liên Xô. Ngày nay, chiếc MiG-15b 2057 này nằm trong Bảo tàng quốc gia Không lực Mỹ.