Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:01:21 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thảo luận các trận chiến nổi tiếng nước ngoài  (Đọc 61339 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #60 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2013, 12:14:31 pm »

Quyết định cuối cùng vào mùa hè và thu năm 1943. Đại bản doanh đã vạch ra vào giữa tháng 4: có thể đẩy lùi quân xâm lược Đức khỏi Smolensk – sông Sozh – trung lưu và hạ lưu Dnepr, đánh tan cái gọi là “thành lũy phòng thủ phía đông” của địch, cũng như tiêu diệt các căn cứ điểm của địch ở Kuban. Cuộc tấn công chính trong mùa hè năm 1943 dự kiến tiến hành ở hướng tây-nam, cuộc tấn công thứ hai trên hướng tây. Trên mỏm đất nhô ở Kursk đã quyết định phòng ngự chủ động, đánh tiêu hao và làm suy yếu các cụm tấn công của quân Đức. Sau đó sẽ chuyển sang phản công và đánh bại địch hoàn toàn. Các lực lượng chính tập trung ở bắc và nam Kursk. Các diễn biến trong hai năm đầu chiến tranh đã chỉ ra rằng: việc phòng thủ của quân đội Liên Xô không thường xuyên chặn được các cuộc tấn công quy mô lớn của địch và dẫn đến những hậu quả nặng nề.

Với mục tiêu này, Đại bản doanh đã dự kiến sử dụng một cách tối đa ưu thế trước đó để taọh thành tuyến phòng ngự nhiều lớp, đánh tiêu hao cụm xe tăng chính của địch, làm suy yếu các lực lượng có khả năng chiến đấu chính của chúng, chiến ưu thế chiến lược trên không. Sau đó sẽ tiến hành đòn phản công quyết định, đánh bại cụm quân địch ở khu vực mỏm đất nhô Kursk.

Trong chiến dịch phòng thủ gần Kursk, đã tập trung chủ lực các phương diện quân Trung tâm và Voronhez. Đại bản doanh đã biết rằng việc chuyển sang phòng ngự chủ động sẽ dẫn đến những rủi ro nhất định. Vì thế, ngày 30 tháng 4 đã thành lập phương diện quân Dự bị (sau đó, đổi thành quân khu Step, còn từ mùng 9 tháng 7 – phương diện quân Step). Trong biên chế phương diện quân này có tập đoàn xe tăng dự bị số 2, các tập đoàn xe tăng Cận vệ 24, 53, 66, 47, 46 và 5, các quân đoàn xe tăng Cận vệ số 1, 3 và 4, các quân đoàn tăng 3, 10 và 18, các quân đoàn cơ giới 1 và 5. Tất cả được triển khai ở các khu vực Kastornưi, Voronhez, Bobrovo, Millerovo, Rossoshi và Ostrogozhka. Bộ tư lệnh phương diện quân đóng cách không xa Voronhez. Trong lực lượng dự bị của Đại bản doanh còn có các phương diện quân thuộc thê đội hai. Theo mệnh lệnh của Đại bản doanh, đã tập trung 5 tập đoàn xe tăng, nhiều đơn vị cấp quân đoàn xe tăng và bộ binh cơ giới độc lập, số lượng lớn các quân đoàn và sư đoàn bộ binh. Trong biên chế các phương diện quân Trung tâm và Voronhez từ mùng 10 tháng 4 đến tháng 7 có 10 sư đoàn bộ binh, 10 lữ đoàn pháo chống tăng, 13 trung đoàn pháo chống tăng độc lập, 14 trung đoàn pháo, 8 trung đoàn súng cối cận vệ, 7 trung đoàn pháo tự hành và xe tăng độc lập. Tổng cộng, 2 phương diện quân có 5635 pháo, 3522 súng cối và 1284 máy bay.


Tư lệnh phương diện quân Trung tâm, đại tướng K.K.Rokossovsky và ủy viên Hội đồng quân sự phương diên quân, thiếu tướng K.F.Telegin trên các trận địa tiền tiêu trước khi bắt đầu trận đánh ở vòng cung Kurst. Năm 1943


Đầu trận đánh Kursk, trong biên chế các phương diện quân Trung tâm và Voronhez cũng như quân khu Step có 1 909 000 bộ đội, hơn 26 500 pháo và súng cối, hơn 4900 xe tăng và pháo tự hành, khoảng 2900 xe tăng.

Sau khi đạt được các mục tiêu phòng ngự chiến lược của chiến dịch, quân đội Liên Xô đã chuyển sang phản công. Khi đó, đánh tan cụm quân địch ở Orel (kế hoạch “Kutuzov”) ở cánh trái là các phương diện quân phía Tây (thượng tướng Sokolovsky), phương diện quân Bryansk (thượng tướng Popov) và cánh phải – phương diện quân Trung tâm. Chiến dịch tấn công trên hướng Belgorod-Kharcov (kế hoạch “Thống soái Rumyantsev”) dự kiến sử dụng các lực lượng phương diện quân Voronhez và Step với sự phối hợp từ các đơn vị phương diện quân Tây Nam (đại tướng Malinovsky). Sự phối hợp hoạt động của các đơn vị phương diện quân nằm dưới sự chỉ đạo của các đại diện Đại bản doanh, các Nguyên soái Liên Xô Zhukov và Vasilievsky, thượng tướng pháo binh Voronov, Nguyên soái không quân Novikov.

Các đơn vị thuộc phương diện quân Trung tâm, Voronhez và quân khu Step đã tạo thành tuyến phòng ngự mạnh gồm có 8 tuyến phòng thủ và các dải có chiều sâu tổng cộng 250-300 kilomet. Tuyến phòng ngự được xây dựng theo chiều sâu gồm các lớp chống tăng, chống pháo binh và phòng không cùng các công sự và hệ thống mở rộng các điểm chốt, giao thông hào, tuyến giao thông liên lạc và chướng ngại vật.

Theo bờ trái sông Đông là dải phòng ngự mạnh. Chiều sâu tuyến phòng thủ của phương diện quân Trung tâm dài 190 kilomet, còn phương diện quân Voronhez – 130 kilomet. Mỗi phương diện quân tạo thành 3 dải phòng ngự cấp tập đoàn quân và 3 dải phòng ngự tiền duyên, do lực lượng công binh xây dựng.

Hai phương diện quân có trong biên chế 6 tập đoàn quân. Phương diện quân Trung tâm: các tập đoàn quân hợp thành 48, 13, 70, 65, 60, tập đoàn xe tăng số 2. Phương diện quân Voronhez: các tập đoàn quân Cận vệ số 6, 7, tập đoàn quân hợp thành 38, 40, 69 và tập đoàn xe tăng số 1. Chiều rộng dải phòng ngự phương diện quân Trung tâm là 306 kilomet, phương diện quân Voronhez – 244 kilomet. Trong tuyến phòng ngự đầu tiên của phương diện quân Trung tâm bố trí toàn bộ các tập đoàn quân hợp thành, còn Voronhez – 4 tập đoàn quân hợp thành.

Tư lệnh tập đoàn quân Trung tâm – đại tướng Rokosovsky, khi đánh giá tình hình, đã đưa ra kết luận rằng quân địch sẽ tiến hành mũi tấn công chính vào Olkhovatka trong dải phòng ngự của tập đoàn quân hợp thành số 13. Vì thế, đã ra quyết định giảm chiều rộng dải phòng ngự của tập đoàn quân số 13 từ 56 xuống 32 kilomet và tăng cường thêm 4 quân đoàn bộ binh. Theo đó, biên chế tập đoàn quân tăng lên 12 sư đoàn bộ binh và bố trí đội hình thành hai tuyến.

Tư lệnh phương diện quân Voronhez, tướng Vatutin đã xác định hướng tấn công chính của quân thù phức tạp hơn. Vì thế, dải phòng ngự của tập đoàn quân Cận vệ hợp thành (rõ ràng, đơn vị này phòng thủ trên hướng tấn công chính của tập đoàn xe tăng số 4 quân địch) là 64 kilomet. Khi khi đó, tuyến phòng ngự bố trí 2 quân đoàn và 1 sư đoàn bộ binh, tư lệnh tập đoàn quân bắt buộc phải tổ chức bộ đội thành một tuyến, cắt một sư đoàn bộ binh thành lực lượng dự bị.

Bằng cách này, chiều sâu phòng ngự của tập đoàn quân Cận vệ số 6 lúc đầu ngắn hơn so với dải của tập đoàn quân số 13. Việc tổ chức chiến đấu này đã dẫn đến việc các tư lệnh quân đoàn bộ binh khi cố gắng tạo ra thế trận phòng ngự sâu nhất có thể, đã tổ chức đội hình với hai tuyến.


Pháo tự hành hạng nặng "Ferdinand", được biết đến với tên gọi "Con voi"


Nhiệm vụ quan trọng là tạo thành các cụm pháo binh. Đặc biệt chú ý là tập trung số lượng lớn pháo trên các hướng địch có khả năng tấn công nhất. Dân ủy quốc phòng mùng 10 tháng 4 năm 1943 đã đưa ra mệnh lệnh đặc biệt về sử dụng lực lượng pháo binh dự bị của Đại bản doanh trên chiến trường, củng cố các trung đoàn pháo binh để tăng cường cho các tập đoàn quân và tổ chức cho phương diện quân các lữ đoàn pháo chống tăng và súng cối.

Trong dải phòng ngự của các tập đoàn quân 48, 13 và 70 thuộc phương diện quân Trung tâm trong hướng tấn công chính theo dự kiến của cụm tập đoàn quân “Trung tâm” đã tập trung (với tính toán tuyến thứ hai và lực lượng dự bị của phương diện quân) 70% tổng số pháo và súng cối của phương diện quân và 85% tổng số pháo của lực lượng dự bị thuộc Đại bản doanh. Ngoài ra, trong dải phòng ngự của tập đoàn quân số 13, ở đó, cũng là hướng tấn công mạnh bằng các lực lượng chính của địch, tập trung 44% các trung đoàn pháo dự bị của Đại bản doanh. Tập đoàn quân này, có trong biên chế 752 pháo và súng cối cỡ 76mm trở lên, được tăng cường quân đoàn pháo số 4 có 700 pháo và súng cối cùng 432 pháo phản lực. Số lượng vũ khí tương đương tập đoàn quân pháo binh cho phép tổ chức mật độ 91,6 và súng côi trên 1 kilomet chính diện của phương diện quân (trong đó có 23,7 pháo chống tăng). Mật độ pháo binh này chưa từng có trong bất kỳ chiến dịch phòng thủ nào trước đó.

Theo đó, đã nổi bật lên một cách rõ ràng ý định của Bộ tư lệnh phương diện quân Trung tâm muốn giải quyết vấn đề không khắc phục được việc tổ chức phòng ngự trong khu vực chiến thuật khi ngăn không cho quân địch vượt qua các giới tuyến phòng ngự, tránh làm phức tạp hóa các diễn biến tiếp theo.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #61 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2013, 02:10:49 pm »

Vấn đề sử dụng pháo binh trong dải phòng ngự của phương diện quân Voronhez đã được giải quyết theo cách khác. Bởi vì các đơn vị phương diện quân được tổ chức thành hai tuyến và pháo binh được bố trí giữa các tuyến. Nhưng trên mặt trận này, ở hướng tấn công chính, tập trung 47% toàn bộ dải phòng thủ của phương diện quân, nơi bố trí các tập đoàn quân Cận vệ số 6 và 7, có mật độ tập trung cao – 50,7% pháo và súng cối trên 1 kilomet chính diện. Trong hướng này, tập trung 67% pháo và súng cối của phương diện quân và 66% pháo binh dự bị của Đại bản doanh (87 trong số 130 trung đoàn pháo).

Tư lệnh các phương diện quân trung tâm và Voronhez dành sự chú ý lớn trong việc sử dụng pháo chống tăng. Trong biên chế các phương diện quân này có 10 lữ đoàn pháo chống tăng và 40 trung đoàn độc lập và trung đó, 7 lữ đoàn và 30 trung đoàn có lực lượng vũ khí (pháo) chống tăng mạnh tập trung ở phương diện quân Voronhez. Ở phương diện quân Trung tâm, hơn 1/3 tổng số pháo chống tăng thuộc biên chế lực lượng pháo chống tăng dự bị của phương diện quân. Kết quả là tư lệnh phương diện quân trung tâm Rokosovsky có được khả năng sử dụng lực lượng dự bị của ông để chống lại cụm xe tăng của địch trên các hướng bị đe dọa nhiều nhất. Trong phương diện quân Voronhez, khối lượng pháo chống tăng chủ yếu được tăng cường cho các tập đoàn quân ở tuyến đầu.

Quân đội Liên Xô có ưu thế hơn đối với cụm quân địch ở Kursk, về người, gấp 2,1 lần, pháo binh – 2,5 lần, xe tăng và pháo tự hành – 1,8 lần, máy bay – 1,4 lần.

Sáng mùng 5 tháng 7, cụm các lực lượng tấn công chính của địch, đã bị suy yếu vì pháo bắn chuản bị của Hồng Quân, đã chuyển sang tấn công, ném vào hướng phòng thủ Orel-Kursk tới 500, theo hướng Belgorod-Kursk tới 700 xe tăng và pháo tấn công. Quân Đức đã tấn công toàn bộ dải phòng ngự của tập đoàn quân 13 và tiếp cận các sườn tập đoàn quân 48 và 70 trong dải phòng ngự rộng 45 kilomet. Cuộc tấn công chính do cụm quân phía bắc của địch tiến hành bằng 3 sư đoàn bộ binh và 4 sư đoàn xe tăng vào Olkhovatka vào sườn trái tập đoàn quân số 13 của tướng Pukhov. Bốn sư đoàn bộ binh tấn công sườn phải tập đoàn quân 12 và sườn trái tập đoàn quân 48 (tư lệnh – tướng Romanenko) tới Maloarkhangelsk. Ba sư đoàn bộ binh tấn công vào sườn phải tập đoàn quân 70 của tướng Galanin trên hướng tới Gnilets. Cuộc tấn công của lực lượng trên bộ được yểm trợ bởi không quân. Các trận đánh nặng nề và dai dẳng đã bắt đầu. Chỉ huy tập đoàn quân số 9 của Đức, không ngờ gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ, đã buộc phải chuẩn bị lại lực lượng pháo binh, mất thêm một tiếng đồng hồ. Trong toàn bộ các trận chiến khốc liệt, các chiến sĩ đã chiến đấu một cách anh dũng với toàn bộ các loại vũ khí.


Xe tăng KV-1 của Hồng Quân bị bắn thủng


Nhưng các xe tăng địch, bất chấp tổn thất, vẫn ngoan cố tiến lên trước. Bộ tư lệnh phương diện quân đã tăng cường phòng ngự kịp thời ở hướng Olkhovatka bằng lực lượng xe tăng, pháo tự hành, các đơn vị bộ binh, pháo chống tăng và pháo dã chiến. Quân địch, với sự hoạt động tích cực của không quân, đã lao vào trận chiến cùng các xe tăng hạng nặng. Trong ngày tấn công đầu tiên, quân địch đã chọc thủng dải phòng thủ đầu tiên của Hồng Quân, thọc sâu 6-8 kilomet và tiến tới dải phòng ngự thứ hai ở khu vực phía bắc Olkhovatka. Trên hướng tới Gnilets và Maloarkhangelsk, quân địch có thể đã tiến sâu tổng cộng 5 kilomet.

Khi gặp phải sức kháng cự ngoan cường của Hồng Quân, Bộ chỉ huy quân Đức đã tiến hành huy động gần như toàn bộ lực lượng xung kích của cụm tập đoàn quân “Trung tâm”, nhưng chúng không thể chọc thủng được dải phòng ngự. Trong 7 ngày, quân Đức chỉ tiến được 10-12 kilomet nhưng không thể chọc thủng được khu vực phòng ngự chiến thuật. Đến ngày 12 tháng 7, khả năng tấn công của quân địch vào mặt bắc vòng cung Kursk đã cạn kiệt, quân Đức ngừng tấn công và chuyển sang phòng thủ. Đáng chú ý rằng, trên các hướng khác trong dải phòng ngự của tập đoàn quân Trung tâm, quân địch không có các hoạt động tấn công tích cực.

Sau khi đẩy lùi sự tấn công của địch, bộ đội phương diện quân Trung tâm đã chuẩn bị chuyển sang tấn công.

Ở mặt Nam mỏm đất nhô Kursk, trong dải phòng ngự của phương diện quân Voronhez, cuộc chiến diễn ra đặc biệt ác liệt. Vào mùng 4 tháng 7, các mũi tiên phong của tập đoàn xe tăng Đức số 4 đã cố sức đánh vỡ tuyến phòng ngự của tập đoàn quân Cận vệ số 6 do tướng Chistyakov chỉ huy. Đến cuối ngày, quân địch đã tiến tới một số điểm gần khu vực trước dải phòng ngự của tập đoàn quân. Mùng 5 tháng 7, các cuộc tấn công chính theo hai hướng đã bắt đầu – tới Oboyan và Korocha. Hướng tấn công chính vào tập đoàn quân Cận vệ số 6, còn hướng thứ yếu – vào tập đoàn quân Cận vệ số 7 ở khu vực Belgorod tới Korocha.

Bộ chỉ huy quân Đức có ý đồ phát triển các thành công đã có, đã tiếp tục tăng cường lực lượng dọc theo tuyến đường Belgorod – Oboyan. Quân đoàn xe tăng số 2 thuộc lực lượng SS vào cuối mùng 9 tháng 7 không chỉ chọc thủng dài phòng ngự thứ 3 của tập đoàn quân Cận vệ số 6 mà còn thọc sâu vào đó khoảng 9 kilomet theo hướng tây nam Prokhorovka. Tuy nhiên, quân địch không thể chọc thủng được tuyến phòng ngự.

Mùng 10 tháng 7, Hitler đã ra lệnh cho chỉ huy cụm tập đoàn quân “Nam” phải đạt được bước ngoặt quyết định trong cuộc chiến. Sau khi nhận thức rằng hoàn toàn không có khả năng đánh bại được khả năng chống cự của phương diện quân Voronhez trên hướng Oboyan, thống chế Manstein đã quyết định đổi hướng tấn công chính và sẽ đánh Kursk bằng đường vòng – qua Prokhovrovka. Đồng thời, cụm lực lượng tấn công phụ (phụ công) sẽ đánh vào Prokhorovka từ hướng nam. Trên hướng Prokhorovka, quân Đức đã ném vào quân đoàn xe tăng số 2 của lực lượng SS, trong biên chế của nó có các sư đoàn tinh nhuệ “Reich” (Đế chế), “Đầu lâu”, “Adolf Hitler”, cũng như một bộ phận quân đoàn xe tăng số 3.


Lính Đức và xe tăng "Cọp I" trong biên chế sư đoàn xe tăng SS số 2 "Das Reich" gần Kursk. Tháng 6-7 năm 1943


Khi phát hiện ra sự vận động của địch, tư lệnh phương diện quân – tướng Vatutin đã đưa vào hướng này tập đoàn quân 69, còn sau đó là quân đoàn bộ binh Cận vệ số 35. Ngoài ra, Đại bản doanh đã ra quyết định tăng cường cho phương diện quân Voronhez các lực lượng dự bị chiến lược. Vào mùng 9 tháng 7, Đại bản doanh đã ra lệnh cho tư lệnh phương diện quân Step – tướng Konev đưa tới hướng Kursk-Belgorod các tập đoàn quân Cận vệ số 4, các tập đoàn quân 27 và 53 và trao quyền chỉ huy cho tướng Vatutin tập đoàn xe tăng Cận vệ số 5. Các đơn vị phương diện quân Voronhez đã chặn đứng cuộc tấn công của địch, tổ chức phản công mạnh (5 tập đoàn quân) vào cụm quân của chúng, thọc sâu trên hướng Oboyan. Tuy nhiên, cuộc phản công ngày 11 tháng 7 không thành công. Trong ngày hôm đó, quân địch đã chiến được vị trí dự kiến để triển khai các đơn vị xe tăng. Chỉ khi tung vào trận đánh 4 sư đoàn bộ binh và 2 lữ đoàn xe tăng thuộc tập đoàn xe tăng Cận vệ số 5 của tướng Rotmistrov, Hồng Quân mới cầm chân được quân địch cách Prokhorovka 2 kilomet. Theo đó, các trận tao ngộ chiến giữa các đội quân tiên phong ở khu vực Prokhorovka đã bắt đầu từ 11 tháng 7.

Ngày 12 tháng 7, cả hai bên đều chuyển sang tấn công khi đánh trên hướng Prokhorovka theo hai mặt tuyến đường sắt Belgord-Kursk. Trận chiến khốc liệt đã diễn ra. Các diễn biến chính xảy ra ở tây nam Prokhorovka. Các tập đoàn xe tăng Cận vệ số 6 và tập đoàn xe tăng số 1 đã tấn công từ phía tây bắc tới Yakolevo. Còn trên cùng hướng, tập đoàn xe tăng Cận vệ số 5 với sự tăng cường 2 quân đoàn xe tăng cùng quân đoàn bộ binh Cận vệ 33 thuộc tập đoàn quân Cận vệ hợp thành số 5 cũng tấn công từ phía đông bắc, từ khu vực Prokhorovka. Các đơn vị bộ binh quân đoàn Cận vệ số 7 cũng tấn công đông Belgorod. Sau 15 phút pháo kích chuẩn bị, quân đoàn xe tăng 18 và 29 thuộc tập đoàn xe tăng Cận vệ số 5 được tăng cường quân đoàn xe tăng cận vệ số 2, vào sáng 12 tháng 7, đã chuyển sang tổng tấn công trên hướng Yakovlevo.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #62 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2013, 02:21:06 pm »

Lúc bình minh, sư đoàn xe tăng “Đầu lâu” đã bắt đầu tấn công vào dải phòng ngư của tập đoàn quân Cận vệ số 5 trên sông Psel. Tuy nhiên, các sư đoàn xe tăng SS “Adolf Hitler” và “Reich” – các đơn vị đang trực tiếp đối đấu với tập đoàn xe tăng Cận vệ số 5 đã bị giữ lại ở các khu vực đã chiếm để chuẩn bị phòng thủ vào ban đêm. Trong dải hẹp từ Berezovka (cách Belgorod 30 kilomet về phía tây bắc) tới Olkhovata đã diễn ra trận chiến của 2 cụm xe tăng xung kích. Trận chiến diễn ra rất ác liệt suốt trong ngày. Hai bên đều tổn thất lớn. Tổn thất của các quân đoàn xe tăng Liên Xô tương ứng là 73% và 46%.

Kết quả trận đánh khốc liệt ở khu vực Prokhorovka là không bên nào có thể đạt được nhiệm vụ đặt ra: Với quân Đức – đột phá ở khu vực Kursk, còn tập đoàn xe tăng Cận vệ số 5 – tiến ra khu vực Yakovlevo, đánh tan sự phản kháng của địch. Các sư đoàn cơ giới SS “Adolf Hitler”, “Reich” và “Đầu lâu” đã dừng tấn công và cố thủ trên các khu vực đã chiếm được. Khi tấn công vào Prokhorovka từ phía nam, quân đoàn xe tăng số 3 của Đức đã đẩy lùi các đơn vị tập đoàn quân 69 10-15 kilomet. Hai bên đều chịu tổn thất lớn.

Mặc dù cuộc phản công của phương diện quân Voronhez đã làm chậm bước tiến của địch nhưng không đạt được mục tiêu mà Đại bản doanh đã đề ra.

Trong các trận chiến ngày 12 và 13 tháng 7, cụm tấn công của địch đã bị chặn đứng. Tuy nhiên, Bộ chỉ huy quân Đức không từ bỏ ý đồ vượt qua Kursk, đánh vu hồi Oboyan từ hướng đông. Về phần mình, các đơn vị bộ đội thuộc phương diện quân Voronhez tham gia phản công đã làm tất cả để thực hiện nhiệm vụ được giao. Sự đối đầu của hai cụm quân: quân Đức – tấn công và Liên Xô – phản công, đã tiếp tục cho đến 16 tháng 7, trên các hướng mà họ đang chiếm lĩnh. Trong 5-6 ngày (sau 12 tháng 7), đã diễn ra các trận đánh liên tục với xe tăng và bộ binh địch. Các cuộc tấn công và phản công diễn ra liên túc trong cả ngày và đêm.

Ngày 16 tháng 7, tập đoàn quân Cận vệ số 5 và các đơn vị bạn đã nhận lệnh từ tư lệnh phương diện quân Voronhez chuyển sang phòng ngự chặt. Trong ngày hôm sau, bộ chỉ huy Đức cũng bắt đầu rút quân khỏi các trận địa lúc đầu.

Một trong số các nguyên nhân không thành công là cụm quân Liên Xô mạnh đã tấn công vào cụm quân địch mạnh hơn, nhưng không phải vào sườn, mà vào chính diện (đầu). Bộ chỉ huy Liên Xô không sử dụng lợi thế chiến trường, cho phép tổ chức các cuộc tấn công thọc sâu, bao vây và sau đó tiêu diệt toàn bộ cụm quân Đức đang hoạt động ở phía bắc Yakolevo. Ngoài ra, các chỉ huy, tham mưu cũng như các đơn vị bộ đội Liên Xô không đảm bảo trình độ chiến đấu, còn các chỉ huy cấp cao – nghệ thuật tấn công. Có thiếu sót trong việc phối hợp giữa bộ binh với xe tăng, các lực lượng mặt đất với không quân, giữa các đơn vị với nhau.


Vũ khí và khí tài quân Đức vứt lại sau cuộc tấn công của không quân Liên Xô, hướng Belgorod-Kharcov


Trên cánh đồng Prokhorovka đã diễn ra trận đấu tăng với số lượng chống lại chất lượng. Trong biên chế tập đoàn xe tăng Cận vệ số 5 có 510 xe tăng T-34 với pháp 76mm, 264 tăng hạng nhẹ T-70 với pháo 45mm cùng 35 xe tăng hạng nặng “Churchil III” với pháo 57mm do Anh viện trợ cho Liên Xô. Xe tăng này có tốc độ rất chậm và cơ động kém. Mỗi quân đoàn có một trung đoàn pháo tự hành Su-76, không hề có Su-152. Các xe tăng hạng trung của Liên Xô có đạn xuyên giáp bắn được giáp dày 61mm ở tầm xa 1000 mét và 69 mét - ở 500 mét. Giáp tăng: đầu – 45mm, hông – 45mm, tháp pháo – 52mm. Các xe tăng hạng trung T-IVH(N) của Đức có giáp dày: đầu – 80mm, hông – 30mm, tháp pháo 50mm. Đạn xuyên giáp của pháo 75mm ở tầm xa 1500 mét xuyên được 63mm giáp. Xe tăng hạng nặng T-VIH(N) “Cọp” (Tigr) có pháo 88mm có giáp: đầu – 100mm, hông – 80mm, tháp pháo – 100mm. Xe tăng bắn được đạn xuyên giáp dày 115mm. Chúng có thể xuyên được giáp T-34 ở cự ly 2000 mét.

Quân đoàn xe tăng SS số 2 có 400 xe tăng hiện đại: khoảng 50 xe tăng hạng nặng “Cọp” (pháo 88mm), 10 xe tăng hạng trung “Báo” (Panther) có tốc độ cao (34km/h), các xe tăng nâng cấp T-III và T-IV (pháo 75mm) và các pháo tấn công hạng nặng “Ferdinand” (pháo 88mm). Để tiêu diệt các xe tăng hạng nặng, T-34 sẽ phải tiếp cận chúng ở cự ly 500 mét, bắn từ xa không mấy khi thành công; các xe tăng còn lại của Liên Xô thậm chí còn phải tiếp cận gần hơn. Ngoài ra, quân Đức bố trí một bộ phận xe tăng trong các công sự để đảm bảo ít bị tổn thương từ sườn. Đấu tăng trong các trường hợp này chỉ đạt độ tin cậy cao trong các trận cận chiến. Kết quả là tổn thất tăng lên. Ở Prokhorovka, Hồng Quân tổn thất 60% xe tăng (500 trong số 800), còn Đức – 75% (300 trong số 400); theo tài liệu của Đức: 80-100. Đối với quân Đức, đây là tai họa. Quân đội phát xít bù đắp cho tổn thất này rất khó khăn.


Người dân thành phố Orel đón chào những người giải phóng, mùng 5 tháng 8 năm 1943


Cuộc phản công của quân đội Liên Xô bắt đầu ngày 12 tháng 7 bằng các cuộc công kích từ phía đông bắc và đông do các đơn vị cánh trái phương diện quân phía Tây và bộ đội phương diện quân Bryansk vào lực lượng tập đoạn xe tăng số 2 và tập đoàn quân số 9 thuộc cụm tập đoàn quân “Trung tâm” trên hướng Orel. Ngày 15 tháng 7, phương diện quân trung tâm đã bắt đầu tấn công từ phía nam và đông nam tới Kroma.

Những cuộc tấn công đồng loạt từ các phương diện quân đã chọc thủng tuyến phòng thủ chiều sâu của địch. Quân đội Liên Xô đã giải phòng thành phố Orel mùng 5 tháng 8 sau cuộc tấn công từ nhiều hướng. Khi truy kích quân địch rút chạy, Hồng Quân đã tiến tới tuyến phòng thủ “Hagen” mà trước đó, quân Đức đã xây dựng để tấn công vào Bryansk.

Kết quả của chiến dịch Orel, quân đội Liên Xô đã tiêu diệt cụm quân địch ở Orel (đánh tan 15 sư đoàn) và tiến về phía tây 150 kilomet.

Bộ đội các phương diện quân Voronhez (từ 16 tháng 7) và Step (từ 19 tháng 7) sau khi truy kích địch, đến ngày 23 tháng 7 đã tiến tới giới tuyến lúc bắt đầu chiến dịch phòng ngự và mùng 3 tháng 8 đã bắt đầu chuyển sang phản công trên hướng Belgorod-Kharcov.

Các cuộc công kích dồn dập, liên tục của Hồng Quân đã đánh tan tập đoàn xe tăng số 4 và cụm tác chiến “Kempf”. Mùng 5 tháng 8, Belgorod được giải phóng.


Lần đầu tiên trong lịch sử Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, pháo hoa được bắn lên bầu trời Moskva, mừng giải phóng Orel và Belgorod.


Chiều mùng 5 tháng 8, lần đầu tiên ở Moskva đã bắn pháo hoa chào mừng các đơn vị giải phóng Orel và Belgorod. Sau khi phát triển tấn công và đánh bại các cuộc phản công mạnh của địch ở khi vực Bogodukhov và Akhtưrka, bộ đội phương diện quân Step đã phối hợp với các phương diện quân Voronhez và Tây Nam giải phóng Kharcov ngày 23 tháng 8. Trong vòng 3 tuần, bộ đội các phương diên quân Voronhez và Step đã đánh tan 15 sư đoàn địch, tiến sâu trên hương nam và tây nam tới 140 kilomet và ở rộng chính diện tấn công lên 300-400 kilomet.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #63 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2013, 02:24:12 pm »

Đài kỷ niệm "Bắt đầu trận Kursk ở mỏm phía nam", Belgorod


Trận Kursk là một trong số các trận đánh lớn nhất Chiến tranh Thế giới thứ hai. Hai bên đã tập trung hơn 4 triệu người, hơn 69 000 pháo và súng cối, hơn 13 000 xe tăng và pháo tự hành, gần 12 000 máy bay. Hồng Quân đã đánh tan 30 sư đoàn (trong đó có 7 sư đoàn xe tăng) địch, tiêu diệt hơn 500 000 quân, 3000 pháo và súng cối, hơn 1500 xe tăng và pháo tấn công, hơn 3700 máy bay. Đánh bại chiến dịch “Thành lũy”, chôn vùi huyền thoại truyền bá của Nazi về “mùa vụ” thảm bại của Liên Xô, về rằng, Hồng Quân chỉ có thể tấn công vào mùa đông. Sự sụp đổ thảm hại trong kế hoạch tấn công của quân phát xít một lần nữa chỉ ra chủ nghĩa phiêu lưu mạo hiển của lãnh đạo Đức khi đánh giá quá cao quân đội của họ mà không đánh giá đúng lực lượng Hồng Quân. Trận Kursk đã đẫn đến những thay đổi lớn về tương quan lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho Liên Xô. Hồng Quân đã giữ được thế chủ động chiến lược và tạo ra các điều kiện có lợi để triển khai tổng tấn công trên quy mô lớn (trên diện rộng). Thất bại của địch trong “Vòng cung lửa” là giai đoạn quan trọng, tạo ra bước ngoặt căn bản trong quá trình chiến tranh, trong thắng lợi chung của Liên Xô. Nước Đức và các đồng minh buộc phải chuyển sang phòng ngự trên toàn bộ các mặt trận trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Kết quả tổn thất nặng nề của quân phát xít ở mặt trận Xô – Đức đã tạo ra các điều kiện thuận lợi hơn để triển khai các hoạt động cho quân Anh – Mỹ ở Italia, làm khối phát xít bắt đầu tan vỡ - chế độ Mussolini sụp đổ và Italia rút khỏi chiến tranh trên mặt trận Đức. Tác động từ chiến thắng của Hồng Quân đã tăng thêm quy mô hoạt động khác chiến ở các nước bị Đức chiếm đóng, củng cố uy tín của Liên Xô trong vai trò lực lượng đi đầu liên minh chống Hitler.

Trận Kursk đã nâng cao nghệ thuật tác chiến của quân đội Liên Xô. Trong phạm trù chiến lược, Bổ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã lên kế hoạch chiến dịch hè-thu năm 1943 một cách sáng tạo. Đặc điểm nổi bật là bên có lợi thế chiến lược và hoàn toàn chiếm ưu thế đã chuyển sang phòng ngự, cố ý nhường cho địch vai trò chủ động trong giai đoạn đầu trận chiến. Sau trong quá trình phòng ngự thống nhất, Hồng Quân đã chuyển sang phản công quyết liệt và triển khai tổng tấn công với mục tiêu giải phòng phía đông (bờ trái) Ucraina, Donbass và vượt sông Dnepr. Quân đội Liên Xô đã thành công trong việc giải quyết vấn đề tạo thành tuyến phòng ngự mạnh ở quy mô chiến dịch – chiến lược. Sự chủ động của tuyến phòng ngự này được đảm bảo bằng việc tăng cường cho các phương diện quân số lượng lớn các đơn vị cơ động (3 tập đoàn xe tăng, 7 quân đoàn xe tăng và 3 quân đoàn cơ giới độc lập), các quân đoàn pháo binh và sư đoàn pháo thuộc lực lượng dự bị của Đại bản doanh, các đơn vị pháo chống tăng và pháo phòng không. Đã đạt được khả năng bắn pháo chuẩn bị trên quy mô hai phương diện quân, cơ động mạnh (rộng) các lực lượng dự bị chiến lược để tăng cường cho các phương diện quân, tiến hành tấn công quy mô lớn bằng không quân và các cụm quân chủ công và dự bị của địch. Đại bản doanh có thể xác định được phương án phản công trong mỗi hướng, sáng tạo trong việc chọn các hướng tấn công chính và khả năng đánh bại quân địch. Như trong chiến dịch Orel, Hồng Quân đã sử dụng các cuộc tấn công đồng loạt theo các hướng truy kích để sau đó nghiền nát và tiêu diệt từng phần các cụm quân địch. Trong chiến dịch Belgorod-Kharov, cuộc tấn công chính được tiến hành gần sườn các tập đoàn quân, bảo đảm bẻ gãy nhanh chóng tuyến phòng thủ mạnh và sâu của địch, cắt  cụm quân địch làm đôi và quân đội Liên Xô đã tiến tới sau lưng tuyến phòng thủ Kharcov của quân Đức.

Trận Kursk cũng đã giải quyết được vấn đề tổ chức các lực lượng dự bị chiến lược lớn và sử dụng hiệu quả các đơn vị này, chiếm ưu thế chiến lược rõ ràng trên không, duy trì lợi thế của không quân Liên Xô đến khi kết thúc Chiến tranh Vệ quốc. Đại bản doanh thực hiện được sự phối hợp chiến lược không chỉ giữa các phương diện quân tham gia chiến đấu trực tiếp mà còn cả các phương diện quân đang hoạt động ở hướng khác (các đơn vị phương diện quân Tây Nam và Nam ở khu vực Bắc Donets và Miys đã kìm hãm hoạt động của quân Đức trên diện rộng, gây khó khăn cho quân đội phát xít, không lấy được các đơn vị ở đó để ném vào Kursk).

Cũng trong trận Kursk, lần đầu tiên, nghệ thuật tác chiến của quân đội Liên Xô đã giải quyết vấn đề xây dựng tuyến phòng ngự mạnh, có khả năng chiến đấu cơ động với chiều sâu tới 70 kilomet. Việc bố trí đội hình tác chiến sâu của các phương diện quân cho phép giữ vững các tuyến phòng ngự thứ hai và tung thâm cũng như tiền duyên trong phòng ngự, không cho phép quân địch thọc sâu. Tính tích cực cao và vững chắc trong hệ thống phòng ngư được cũng cố bởi khả năng cơ động của các thê đội hai và lực lượng dự bị, tiến hành bắn pháo chuẩn bị và phản công. Khi tiến hành phản công, đã giải quyết vấn đề đột phá vào chiều sâu phòng thủ của địch bằng cách tập trung quy mô lớn lực lượng và khí tài tham gia đột phá (50 đến 90% tổng số lượng), sử dụng khéo léo các tập đoàn và quân đoàn xe tăng trong vai trò các cụm cơ động thuộc phương diện quân và tập đoàn quân, phối hợp chặt chẽ với không quân, thực hiện tấn công cùng không quân ở quy mô phương diện quân, đảm bảo tốc độ tấn công của lục quân ở mức độ cao. Đã thu được nhiều kinh nghiệm quý về các trận đấu tăng trong phòng ngự (gần Prokhorovka) cũng như trong tấn công khi đánh trả cuộc phản công từ cụm tăng thiết giáp lớn của địch (ở khu vực Bogodukhov và Akhtưka). Vấn đề đảm bảo chỉ huy thông suốt các đơn vị trong các chiến dịch được giải quyết bằng các xây dựng các điểm chỉ huy gần các đơn vị chiến đấu và áp dụng rộng rãi các khí tài thông tin liên lạc vô tuyến trong toàn bộ các cơ quan và các điểm chỉ huy.

Cùng với đó, khi tiến hành trận Kursk cũng có những hạn chế đáng kể, ảnh hưởng tiêu cực trong quá trình chiến đấu và làm tăng tổn thất cho Hồng Quân: hy sinh – 254 470 người; bị thương – 608 833 người. Một phần, trước khi quân địch tấn công, việc lên kế hoạch bắn pháo chuẩn bị trong các phương diện quân đã không được hoàn thành tốt bởi vì lực lượng trinh sát không thể xác định một cách chính xác các vị trí tập trung quân và phân bố mục tiêu trong đêm mùng 5 tháng 7. Pháo bắn chuẩn bị bắt đầu quá sớm, khi quân địch còn chưa chiếm lĩnh hoàn toàn vị trí để tấn công. Hỏa lực trong trường hợp này, bắn loạt theo diện rộng, tạo điều kiện cho quân địch tránh khỏi tổn thất lớn. Sau 2,5-3 tiếng chỉnh đốn lực lượng, quân địch triển khai tấn công và trong ngày đầu tiên, đã chọc vào tuyến phòng ngự của Hồng Quân 3-6 kilomet. Các cuộc phản công của các phương diện quân được chuẩn bị vội vàng và vì vậy, khi tấn công không gây được thiệt hại lớn cho địch. Do đó, Hồng Quân không đạt được mục tiêu cuối cùng và phải chuyển từ phản công sang phòng ngự. Khi tiến hành chiến dịch Orel, do không đánh giá đúng tình hình, đã vội vàng chuyển sang thế tấn công.

Trận Kursk, bộ đội Hồng Quân đã chiến đấu anh dũng, quả cảm và kiên cường. Hơn 100 000 chiến sĩ được tặng các huân chương và huy chương, 231 người được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, 132 đơn vị được tặng danh hiệu Cận vệ, 26 đơn vị được tặng danh hiệu danh dự của Orel, Belgorod, Kharcov và Karachevsk.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Bảy, 2013, 05:21:06 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #64 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2013, 01:39:41 am »

Nguồn: encyclopedia.mil.ru

Tình hình gần Leningrad, tháng 1 năm 1943


Kết quả cuộc phản công của Hồng Quân gần Stalingrad đã dẫn tới thay đổi mang tính quyết định về tình hình chiến lược trên mặt trận Xô – Đức, có lợi cho quân đội Liên Xô. Trong các điều kiện đó, Đại bản doanh đã ra quyết định tiến thành chiến dịch phá vây Leningrad, mang tên gọi “Tia lửa” vào tháng 1 năm 1943. Tham gia chiến dịch có bộ đội các phương diện quân Leningrad, Volkhov, một bộ phận lực lượng hạm đội Baltic và không quân tầm xa. Vào lúc bắt đầu chiến dịch, bộ đội phương diện quân Leningrad là lực lượng chính (các tập đoàn quân 42, 55 và 67) đang phòng thủ Leningrad từ phía nam và đông nam chiến tuyến Uritsk, Pushkin, nam Kolpino và xa hơn theo bờ phải sông Neva tới hồ Ladoga (Koshkino mới), còn một bộ phận lực lượng (tập đoàn quân 23) bảo vệ phía các đường vào từ phía bắc thành phố trên eo đất Karelia. Bộ đội phương diện quân Leningrad cách bộ đội phương diện quân Volkhov theo hành lang 15 kilomet bởi mỏm đất Shlisselburg-Sinyavino, cách biệt với vành đai bao vây Leningrad theo đường bộ. Trên cánh phải phương diện quân Volkhov, đối diện mỏm đất nhô (từ hồ Ladoga tới tuyến đường sắt Kirov) là các tập đoàn quân xung kích số 2 và tập đoàn quân số 8.

Đối đầu với quân đội Liên Xô là tập đoàn quân 18 (tư lệnh, thượng tướng G.Lindeman) thuộc cụm tập đoàn quân “Bắc”, có khoảng 26 sư đoàn, còn trên eo đất Karelia – hơn 4 sư đoàn Phần Lan. Phần lớn, cụm quân địch mạnh và tập trung đông ở mỏm đất Slisselburg-Sinyavino, nơi có 5 sư đoàn trang bị đầy đủ, hơn 700 pháo và súng cối, trong đó có loại pháo phản lực 6 nòng, gần 50 xe tăng và pháo tấn công (Lịch sử Chiến tranh Thế giới thứ hai 1939-1945 – M.Boenzdat, 1976, quyển 6, trang 119). Trong cụm tác chiến dự bị có 4 sư đoàn. Yểm trợ lực lượng trên bộ là không đoàn số 1.

Quân Đức đã biến mỏm đất Slissenburg-Svinyavino thành khu vực phòng thủ dã chiến mạnh với sự triển khai có hệ thống các công trình công binh, các chướng ngại vật chống tăng và chống bộ binh, cũng như các bài mìn dày đặc. Cơ sở hệ thống phòng thủ là các điểm chốt và ổ đề kháng được tạo thành trong khu vực, dùng làm bàn đạp tấn công và chiếm ưu thế gần khu vực Bolotisto-Torfyanovka. Đường tiến quân được án ngữ bằng các hỏa điểm mạnh và các đầm lấy ở Torfyanovka bị chia cắt bằng những hố sâu và che chắn bằng các chiến lũy làm từ đất, gỗ. Quan địch sử dụng các xe tăng Liên Xô bị bắn cháy, tạo thành những hỏa điểm cố định. Chúng bao quanh các điểm cao Sinvyavino – các đường vào, chân đồi và các sườn phía tây, cũng như cánh rừng nhỏ Kruglaia. Giữa các điểm chốt và ổ đề kháng, trên các vùng đất hiểm trở để làm bàn đạp tấn công, quân địch xây dựng 1-2 tuyến giao thông hào.

Toàn bộ không gian nằm dưới tầm hỏa lực từ các điểm chốt và ổ để kháng lân cận. Sâu trong mỏm đất cũng bố trí các điểm chốt và ổ đề kháng, nhiều trong số chúng do quân lính Đức đóng giữ. Dải phòng thủ mạnh nhất, chạy dài theo tuyến Sinyavino, Làng Công nhân số 1 và có 2 tuyến giao thông hào. Một giao thông hào được xây dựng để phòng thủ từ phía tây, tuyến thứ hai – từ phía đông. Trong khu rừng Kruglaia có hai chiến lũy rộng 1-2 mét, cao 1,5 mét, đẫm nước (ẩm ướt), vượt qua rất khó khăn. Các chiến lũy có lỗ châu mai cho súng máy và pháo.

Ngày 18 tháng 11 năm 1942, tư lệnh phương diện quân Leningrad, tướng Govorov đã trình Đại bản doanh báo cáo mà trong đó dự định tiến hành hai chiến dịch ở phía đông và tây Leningrad: Shlisselburg và Uritsk với mục đích “giải vây cho Leningrad, đảm bảo xây dựng tuyến đường sắt dọc theo sông Ladoga và theo đó, bình thường hóa giao thông liên lạc của Leningrad với đất nước, đảm bảo khả năng cơ động của bộ đội” các phương diện quân Leningrad và Volkhov.

Đại bản doanh sau khi nghiên cứu đề xuất này, đã yêu cầu tập trung toàn bộ chú ý vào việc chọc thủng tuyến phòng thủ của địch chỉ trên một hướng – Shlissenburg, tạo thành con đường ngắn nhất để đạt được mục tiêu đã giao.

Ngày 22 tháng 11, tư lệnh phương diện quân Leningrad đã trình Đại bản doanh kế hoạch cụ thể về chiến dịch. Ông dự định sử dụng đòn tấn công phối hợp của các phương diện quân: Leningrad – từ phía tây và Volkhov – từ phía đông trên cùng hướng tới Sinyavino. Mùng 2 tháng 12, Đại bản doanh đã phê chuẩn kế hoạch này. Việc chỉ huy phối hợp hoạt động của hai phương diện quân đã được giao cho Nguyên soái Vorosilov. Thời gian chuẩn bị bắt đầu chiến dịch – mùng 1 tháng 1 năm 1943.

Nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị phương diện quân Lenindrad và Volkhov được xác định trong chỉ thị số 170703 của Đại bản doanh mùng 8 tháng 12 năm 1942. Chỉ thị yêu cầu kết hợp lực lượng của hai phương diện quân để đánh tan cụm quân địch tại khu vực Lipka, Gaitovlovo, Moskovskia Dubrovka, Sliccelburg. Bằng cách này, “sẽ phá tan vòng vây thành phố Leningrad, gần đầu tháng 1, chiến dịch sẽ kết thúc). Sau đó, chuyển sang phòng ngự chặt trên vùng Moika, các làng Mikhailovsky, Tortolovo, đảm bảo đường giao thông liên lạc của phương diện quân Leningrad và cho bộ đội 10 ngày nghỉ ngơi. Trong nửa đầu tháng 2, ấn định chuẩn bị và tiến hành chiến dịch đánh tan quân địch ở khu vực Mgi và giải phóng tuyến đường sắt Kirov, tiến gần tới tuyến Voronovo, Sigolovo, Voitolovo, Voskresenskoe. Sau khi kết thúc chiến dịch Mgi, bộ đội cần phải nghỉ đông (tài liệu Nga: Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại: Đại bản doanh; Tư liệu và tài liệu: 1942 (quyển 16 (5-2) – M: TERRA, 1996, trang 464).

Để tiến hành chiến dịch, đã tổ chức hai cụm xung kích: - phương diện quân Volkhov – tập đoàn quân xung kích số 2 của trung tướng Romanovsky, phương diện quân Leningrad – tập đoàn quân 67 của thiếu tướng Dukhanov. Cụm xung kích của phương diện quân Leningrad sẽ vượt qua sông Neva trên băng, chọc thủng tuyến phòng thủ trên khu vực Moskovskaia Dubrovka, Shlissenburg, đánh tan quân địch cố thủ trong chiến hào ở đây, liên kết với các đơn vị phương diện quân Volkhov và khôi phục đường liên lạc của Leningrad với cùng đất Lớn. Sau đó, các đơn vị tập đoàn quân 67, theo kế hoạch, tiến tới tuyến khu vực Moika. Cụm xung kích phương diện quân Volkhov sẽ chọc thủng tuyến phòng thủ ở Lipka, Gaitolovo (rộng 12 kilomet) và lực lượng chính tấn công Sinvyavino, chiếm lĩnh tuyến Làng Công nhân số 1, Sinvyavino, đánh bại cụm quân địch ở Slissenburg-Sinvyavino và gặp bộ đội phương diện quân Leningrad. Việc đảm bảo sườn trái của tập đoàn quân xung kích số 2 do tập đoàn quân số 8 của tướng Starikov đảm nhận. Tập đoàn quân này sẽ sử dụng các đơn vị ở cánh phải tấn công trên hướng Tortolovo, làng Mikhailovsky. Yểm trợ đường không để che chắn cho bộ đội do các tập đoàn không quân 13 và 14 thuộc các phương diện quân Leningrad và Volkhov, cùng không quân hạm đội Baltic (tổng cộng khoảng 900 máy bay). Tham gia chiến dịch còn có không quân tầm xa, pháo bờ biển và pháo tàu thuộc hải quân (800 khẩu).

Việc tiến hành chiến dịch của cụm xung kích phương diện quân Volkhov, theo quyết định của Đại bản doanh, chỉ thị tập đoàn quân xung kích số 2 nằm dưới sự chỉ huy trực tiếp của phó tư lệnh phương diện quân, trung tướng Fedyuninsky. Cụm xung kích của phương diện quân Leningrad sẽ đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của tư lệnh phương diện quân, trung tướng Govorov.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Bảy, 2013, 03:54:48 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #65 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2013, 04:33:08 pm »

Khi chuẩn bị chiến dịch, các tư lệnh phương diện quân Leningrad và Volkhov, với các lực lượng dự bị và các cụm quân được tổ chức lại từ các hướng khác nhau, đã tăng cường đáng kêt cho các tập đoàn quân xung kích số 2 và tập đoàn quân 67, tập trung quy mô lớn trong các lực lượng tham gia phá vây. Quân đội Liên Xô chiếm ưu thế hơn quân địch ở đây gấp 4,5 lần về bộ binh, pháo binh: 6-7, xe tăng: 10 và máy bay: gấp 2 lần. Trong tập đoàn quân 67, trên 13 kilomet đột phá đã tập trung 1909 pháo và súng cối cỡ 76 trở lên, cho phép tạo ra mật độ pháo lên tới 146 pháo và súng cối trên 1 kilomet chính diện (Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, 1941-1945. Đại cương chiến tranh, Bước ngoặt, trang 200). Đối với phương diện quân Volkhov, trên hướng tấn công đột phá chính có sư đoàn bộ binh 327 (rộng 1,5 kilomet), mật độ pháo và súng cối trên 1 kilomet chính diện là 365 khẩu, trong lực lượng tham gia đột phá của sư đoàn bộ binh 376 (rộng 2 kilomet) – 183, trong hướng thứ yếu – 101 pháo và súng cối trên 1 kilomet chính diện (Cú đánh thứ hai vì Leningrad/Biên soạn: V.A.Kuznetsov – L: Lenzidat, 1983, trang 164).

Việc chuẩn bị pháo binh cho cuộc tấn công được lên kế hoạch kéo dài trong 2 giờ 20 phút, yểm trợ tấn công –  bằng hàng rào lửa sâu 1 kilomet. Sau đó, tập trung hỏa lực bắn cấp tập. Ngoài ra, khi bộ binh tiến công trên băng, sẽ tạo ra hỏa lực bắn chặn trong 200-250 mét cách trận địa đầu tiên của địch. Toàn bộ lực lượng xe tăng (ở phương diện quân Leningrad – 222 xe tăng và 37 xe bọc thép, phương diện quân Volkhov – 217 xe tăng) dự kiến được sử dụng để yểm trợ trực tiếp cho bộ binh. Đối với lực lượng phòng không, tập trung cho các cụm xung kích như sau: phương diện quân Volkhov – 3 sư đoàn pháo phòng khong, 6 tiểu đoàn phòng không độc lập và 2 đại đội phòng không đường sắt; phương diện quân Leningrad – sư đoàn pháo phòng không, trung đoàn phòng không, 6 tiểu đoàn pháo phòng không độc lập, 2 đại đội phòng không đường sắt, cũng như 5 trung đoàn pháo phòng không, 4 trung đoàn không quân tiêm kích thuộc biên chế lực lượng phòng không Leningrad (tập đoàn quân phòng không Leningrad).

Trong toàn tháng 12, các lực lượng tập đoàn quân xung kích số 2 và tập đoàn quân 67 đã chuẩn bị một cách khẩn trương cho chiến dịch. Đoàn bộ các đơn vị được bổ sung quân số, khí tài kỹ thuật và vũ khí. Trong các đơn vị, tích lũy từ 2 đến 5 cơ số đạn, phụ thuộc vào các hệ thống pháo và súng cối. Lực lượng công binh đã xây dựng 20 kilomet đường ở hậu phương, gia cố các cầu, xây mới và tạo thành các đường giao thông trong các bãi mìn (1 đường đi cho một đại đội). Đặc biệt chú ý tập trung và huấn luyện bộ đội, chỉ huy và tham mưu. Dưới sự chỉ huy của các tư lệnh tập đoàn quân, đã tiến hành tập huấn lực lượng chỉ huy và diễn tập chỉ huy – tham mưu. Đối với mỗi sư đoàn ở hậu phương đã được tuyển chọn kỹ lưỡng, giống như các lực lượng phá vây. Ở đây cũng có các bãi tập và khu theo kiểu các điểm chốt của địch. Ở đó, các phân đội và đơn vị đã được học tấn công các trận địa có công sự vững chắc, tiến công chiến đấu trong rừng. Các đợt huấn luyện kết thúc với bắn đạn thật. Bằng sự hỗ trợ của không ảnh, bản đồ được làm rõ thêm chi tiết. Toàn bộ chỉ huy, tới các đại đội bộ binh và pháo binh đã nhận được đồ ảnh và bản đồ mới. Trong các phân đội được sử dụng để đột phá đã tổ chức các đội xung kích và nhóm phá chướng ngại vật để làm đường tiến cũng như tiêu diệt các công sự phòng ngự mạnh nhất của địch.

Việc che giấu ý đồ chiến dịch có tầm quan trọng lớn. Việc tổ chức lại các cụm quân được tiến hành đặc biệt vào ban đêm hoặc thời điểm máy bay khó cất cánh. Để trinh sát trận địa và lùng sục ban đêm chỉ tập trung ở các đơn vị tiếp cận trực tiếp với quân địch. Để che giấu mục tiêu phá vây, các hoạt động trinh sát được tiến hành tích cực trên toàn bộ mặt trận, kéo dài tới Novgorod. Số lượng người tham gia lên kế hoạch chiến dịch được hạn chế. Tất cả các biện pháp này đều đã chứng tỏ vai trò của chúng. Quân địch chỉ biết không lâu trước khi chiến dịch mở màn rằng quân đội Liên Xô đang chuẩn bị tấn công, nhưng không thể xác định cụ thể thời gian và lực lượng. Tư lệnh quân đoàn 26, tướng Leiser, khi nhận ra, đã đề nghị tư lệnh tập đoàn quân 18 Lindeman đẩy lùi quân đội Liên Xô khỏi Shlissenburg (Das Deutsche Reich und der Zweite Weltkrieg, Stuttgard 1990, Bd.6.S.1091). Tuy nhiên, đề nghị này bị bác bỏ.

Tư lệnh các phương diện quân Leningrad và Volkhov sau khi phân tích các công việc đã qua, đã đưa ra kết luận rằng bộ đội sẽ chuẩn bị tấn công đúng thời gian đã ấn định – mùng 1 tháng 1 năm 1943. Mặc dù vậy, ngày 27 tháng 12 năm 1942, đã nhận được chỉ thị của Stalin, lùi kế hoạch tấn công vào giữa 10-12 tháng 1. Nguyên nhân: điều kiện thời tiết rất không thuận lợi, đặc biệt là thời tiết trở ấm kéo dài và liên quan với đó là lớp phủ băng trên sông Neva trở nên không chắc chắn cũng như đường qua các đầm lầy xấu đi.

Đầu tháng 1 năm 1943, đã diễn ra hội nghị Hội đồng quân sự các phương diện quân Leningrad và Volkhov. Trong hội nghị, đã làm rõ các vấn đề liên quan đến bộ đội các phương diện quân trong chiến dịch, đồng thời chiếm lĩnh vị trí xuất phát, bắt đầu chuẩn bị (bắn) pháo và không quân (ném bom), thời gian tấn công của bộ binh và xe tăng, giới tuyến ấn định gặp nhau của bộ đội các phương diện quân – làng Công nhân số 2 và số 6 …. Đồng thời, quy định các tín hiệu nhận biết lẫn nhau, cũng như xác định rằng, nếu bộ đội một trong số các phương diện quân tiến tới giới tuyến dự định mà không gặp bộ đội phương diện quân khác thì sẽ tiếp tục tiến lên cho tới khi chính thức gặp được nhau.

Mùng 6 tháng 1, đại diện của Đại bản doanh, Nguyên soái Vorosilov đã trình Stalin “quân địch hoàn toàn không nhận ra toàn bộ những dấu hiệu của chiến dịch “Tia lửa”” (trích theo: Leninrad đứng vững và chiến thắng – M: 2004, trang 136), đảm bảo sự lạc quan của Tổng tư lệnh. Ông đã gọi điện tới Bộ tham mưu phương diện quân Voronhez, nơi, đại tướng Zhukov đang ở đó và nói rằng: “đại diện Đại bản doanh, Vorosilov đang ở Leningrad. Ủy ban quốc phòng nhà nước cho rằng, đồng chí cần tới đó. Cần tới nơi để giám sát và đảm bảo rằng chiến dịch “Tia lửa” sẽ diễn ra thành công” (trích theo G.K.Zhucov: Nhớ lại và suy nghĩ, M: 1992, quyển 2, trang 197).

Mùng 10 tháng 1, đại tướng Zhucov đã tới Ban tham mưu phương diện quân Volkhov. Sau đó, ông tìm hiểu các vị trí chủ chốt trong các tập đoàn quân xung kích số 2 và tập đoàn quân số 8. Buổi chiều, Georghi Konstantinovich báo cáo với Đại bản doanh: “Hôm nay (tôi) đã ở sở chỉ huy cùng Romanovsky và Starikov, cùng với các đồng chí phân tích cặn kẽ tình hình và đưa ra các giải pháp. (Tôi) cũng thảo luận tình hình với tư lệnh sư đoàn bộ binh 128 và quyết định cho đơn vị vào chiến đấu.

Các khó khăn chủ yếu trong các vấn đề đảm bảo chiến dịch

1. Các sư đoàn tham gia tấn công trên hướng chính, đi vòng qua các ổ đề kháng ở Sinyavino, tới làng Công nhân số 8, không có xe tăng và không đủ khí tài hỏa lực bắn tập trung vào mỗi điểm chốt ở làng Công nhân số 8. Không có xe tăng và không đủ số lượng khí tài hỏa lực đảm bảo đột phá.

2. Sử lý liên kết (liên lạc) trên các tuyến tập đoàn quân, lữ đoàn và các đơn vị yếu.

3. Sự bố trí các sư đoàn dự bị trong đội hình chiến đấu quá gần và theo thực tế, lực lượng dự bị đã trở thành thê đội 2, đặc biệt bởi mệnh lệnh của đồng chí. Khoảng cách của các đơn vị này so với thê đội 1 là 1-1,5 kilomet, có thể dẫn đến tổn thất lớn.

4. Ngoài ra, đã phát hiện được nhiều vấn đề tiểu tiết trong chiến thuật và kỹ thuật.

5. Các chỉ thị cụ thể cho Afanasiev (bí danh của Meretskov) và các tư lệnh đã nêu ra toàn bộ các khuyết điểm đã nhận thấy (trích theo Leningrad đứng vững và chiến thắng; trang 136).

Đại tướng Zhucov đã yêu cầu bổ sung khẩn cấp cho mặt trận đội khinh khí cầu, 1-2 phi đội máy bay trinh sát chỉ thị mục tiêu, cho phép bổ sung cơ số đạn như sau: lựu pháo 122mm – 20 000; lựu pháo 152mm – 15 000; súng cối 120mm – 60 000; đạn lựu pháo M-30 – 1500, đạn M-20 – 3000; M-13 – 3500.

Theo mệnh lệnh của Stalin, tư lệnh các tập đoàn quân nhanh chóng bắt đầu vào việc khắc phục các khiếm khuyết được Zhucov đã vạch ra, lên kế hoạch chi tiết một lần nữa cho chiến dịch sắp tới. Tuy nhiên, không thể khắc phục hoàn toàn mọi thiếu sót.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #66 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2013, 05:13:51 pm »

Bức tranh mô tả lại thời điểm lịch sử của Leningrad trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại - Phá vây

Trước khi bắt đầu tấn công, thời tiết trở xấu. Mây thấp treo gần mặt đất, tuyết rơi dày. Đêm 12 tháng 1, cụm máy bay ném bom bay đêm hỗn hợp đã hoàn thành cuộc không kích quy mô lớn và các trận địa pháo và ban tham mưu quân địch trong dải đột phá. 9 giờ 30 phút, pháo bắn chuẩn bị khai hỏa. Khoảng 40 phút trước khi bắt đầu tấn công, không quân cường kích theo các cụm 6-8 máy bay đã công kích và các điểm chốt và đại đội pháo binh địch. Pháo bắn chuẩn bị xong, bộ binh dưới sự yểm trợ của hỏa lực bắn chặn trên hướng tấn công chính và hỏa lực bắn cấp tập trên hướng phụ đã xung phong tấn công các trận địa địch. Mặc dù pháo bắn chuẩn bị mạnh, quân địch vẫn duy trì được không ít khí tài hỏa lực và sinh lực. Kết quả là quân địch đã chống trả quyết liệt.

Không quân các phương diện quân Leningrad và Volkhov cũng như hạm đội Cờ đỏ Baltic mặc dù mây thấp, vẫn tấn công liên tục vào nơi địch tập trung đông. Trong dải tấn công của tập đoàn quân số 67, tích cực nhất là sư đoàn bộ binh 136 của tướng Simonyak, tấn công vào vùng Marino. Các đơn vị của sư đoàn khi vượt qua lớp băng trên sông Neva, đã chiếm tuyến chiến hào đầu tiên và tiến sâu vào dải phòng thủ của địch. Sư đoàn bộ binh 268 của đại tá Borsev cũng đạt được kết quả khi vượt sang bờ trái sông Neva và đánh bật quân địch khỏi Thành phố nhỏ số 2 (Vtoroi Gorodok). Tuy nhiên, trên cánh phải tập đoàn quân 67, quân Đức đã chặn đứng sư đoàn bộ binh Cận vệ 45 bằng mật độ hỏa lực pháo – súng cối dày đặc. Tình hình sườn trái tập đoàn quân phức tạp hơn, nơi sư đoàn bộ binh 86 đang tấn công. Một trong số các trung đoàn của sư đoàn đã vượt sông Neva, 2 trung đoàn khác nằm dưới hỏa lực địch trên lớp băng của sông. Một bộ phận của sư đoàn, bị tổn thất lớn. Đến nửa sau ngày 12 mới vượt qua được sông Neva tới khu vực lân cận sư đoàn bộ binh 136 và phát triển tấn công tới làng Công nhân số 2. Đến cuối ngày, bộ đội tập đoàn quân 67 mới chọc sâu vào tuyến phòng thủ của địch 3 kilomet.

Ở phương diện quân Volkhov, tập đoàn quân xung kích số 2 tiến chậm và không đều (không nhịp nhàng). Đồng thời, các đơn vị ở sườn phải tập đoàn quân số 8 cũng đã chuyển sang tấn công. Đến cuối ngày, bộ đội tập đoàn quân xung kích số 2 đã tiến được 2 kilomet, ở một số nơi – 3 kilomet khi chọc thủng trận địa đầu tiên của địch ở phía bắc và nam làng Công nhân số 8. Bộ phận sư đoàn bộ binh 327 sau trận đánh quyết liệt đã chiếm được nhiều ổ đề kháng mạnh – cánh rừng Kruglaia. Sư đoàn bộ binh 256 tấn công chếch về bên phải sư đoàn bộ binh 327 giữa rừng Kruglaia và làng Công nhân số 8. Sư đoàn bộ binh 372, sau khi chiếm được 3 tuyến giao thông hào, đã tiến công thẳng vào làng Công nhân số 8.

Quân địch trong nỗ lực phòng thủ, đã sử dụng các biện pháp tăng cường lực lượng để không cho Hồng Quân đột phá. Ở khu vực phía bắc Sinyavino, quân Đức đã ném vào bộ phận các sư đoàn bộ binh 61, 69 và 5. Trên vùng Moskovskaia Dubrovka, chỉ huy quân Đức đã tiến hành một số cuộc phản công với ý đồ chọc thẳng đến sông Neva, cắt cụm tấn công của tập đoàn quân 67. Trong cả ngày, trong dải tấn công của tập đoàn quân đã diễn ra các trận đánh ác liệt. Kết quả là sau khi bị tổn thất lớn, sư đoàn bộ binh 268 buộc phải rút lui 1,5-2 kilomet.

Trong dải tấn công của tập đoàn quân xung kích số 2, sáng 13 tháng 1, tướng Romanovsky tung các sư đoàn bộ binh 18 và 71 cũng lữ đoàn xe tăng 98 thuộc thê đội 2 vào chiến trường. Bộ phận lữ đoàn này đã đột phá tới ven phía nam làng Công nhân số 5 nhưng bị tổn thất nặng vì đơn vị đã tấn công gần khu vực phòng thủ của địch.

Sáng 14 tháng 1, tư lệnh tập đoàn quân 57, tướng Dukhanov đã đưa thê đội 2 tham chiến và nhận lệnh tăng cường lực lượng tấn công để hợp nhất với bộ đội phương diện quân Volkhov - ở các làng Công nhân số 1 và 5. Các trận đánh nặng nề nhất đã diễn ra ở vùng Slissenburg, nơi bộ phận sư đoàn bộ binh 86 của đại tá Trubachev và các phân đội lữ đoàn trượt tuyết độc lập sô 34 của trung tá Potekhin. Lữ đoàn này đã chiếm lĩnh phía đông thành phố, tiến hới sống Staro-Ladoga và cắt đường rút lui của địch khỏi Slissenburg. Các đơn vị tập đoàn quân xung kích số 2 đã hoàn toàn bao vây quân địch ở làng Công nhân số 8, tiến tới ranh giới các làng Công nhân số 4 và 5, chiếm nhà ga Podgornaia và tiếp tục tấn công theo hướng tây nam rừng Kruglaia. Cuối ngày 14 tháng 1, bộ đội các phương diện quân Leningrad và Volkhov còn cách nhau tổng cộng 2 kilomet. Một bộ phận quân địch, đang phòng thủ ở Lipka và Slissenburg, trên thực tế, đã bị cô lập, đang ở các khu vực Gorodok số 1 và 2, Sinyavino và khu rừng phía đông nam.


Phá vây Leningrad, bộ đội phương diện quân Volkhov, tháng 1 năm 1943


Theo quyết định của tư lệnh tập đoàn quân xung kích số 2, tướng Romanosky, đã mở rộng tuyến đột phá theo hướng sườn. Sư đoàn bộ binh 128 và lữ đoàn trượt tuyến 12, sau khi cơ động vòng qua hồ Ladoga vào sau lưng địch phòng thủ Lipka, đã bao vây và sau đó, tiêu diệt chúng. Sư đoàn bộ binh 372 có sự yểm trợ của lữ đoàn tăng 122, ngày 15 tháng 1 đã chiếm làng Công nhân số 8 và 17 tháng 1, sau đó tiến tới làng Công nhân số 1. Vào thời điểm này, nhà ga Sinyavino đã được giải phóng, hoàn cảnh quân địch ở khu vực làng Công nhân số 5 trở nên tồi tệ hơn. Sư đoàn bộ binh số 18 được lữ đoàn tăng 16 yểm trợ đã tiến tới khu vực gần làng vào cuối ngày.

Quân địch, trong nỗ lực ngăn chặn các đơn vị tập đoàn quân 67 và tập đoàn quân xung kích số 2, đã vội vàng ném từ phía nam sư đoàn bộ binh 21 và sư đoàn 22 “Polizei” để tham chiến. Tuy nhiên, quân thù không thể ngăn chặn được bước tiến của Hồng Quân. Sáng 18 tháng 1, sư đoàn bộ binh 136 và lữ đoàn tăng 61 thuộc phương diện quân Leningrad đã ập vào làng Công nhân số 5 từ hướng tây, gặp bộ đội sư đoàn bộ binh 18 thuộc tập đoàn quân xung kích số 2. Ở vùng làng Công nhân số 1, bộ đội lữ đoàn bộ binh 123 phương diện quân Leningrad và bộ đội sư đoàn bộ binh phương diện quân Volkhov đã gặp nhau. Cũng trong ngày này, bộ đội sư đoàn bộ binh 86 và lữ đoàn trượt tuyết độc lập 34 đã giải phóng Slissenburg và quét sạch quân địch khỏi bờ nam hồ Ladoga.

Hành lang bị chọc thủng dọc bờ sông Neva rộng 8-11 kilomet đã khôi phục tuyến liên lạc đường bộ trực tiếp của Leningrad với đất nước. Nguyên soái Zhucov đã nhớ lại: “Tôi đã nhìn thấy, những người lính các phương diện quân tham gia phá vây đã vui sướng như thế nào. Bất chấp pháo địch bắn từ phía điểm cao Sinyavinsk, những người lính đã ôm chặt lấy nhau như những người anh em thân thiết. Đây thực sự là niềm vui sau những ngày vất vả và đau khổ (trích từ Zhucov, Nhớ lại và suy nghĩ, tập 2, trang 196).

Ngày 18 tháng 1, Ủy ban Quốc phòng Nhà nước đã ra quyết định xây dựng tuyến đường sắt ở phía nam hồ Ladoga. Tổng cộng trong 18 ngày đêm từ nhà ga Polyana Oktyabrskaia tới Slissenburg, đoạn đường sắt đã được nối dài 33 kilomet. Ở thành phố, trong điều kiện hứng chịu các cuộc không kích thường xuyên của không quân địch, bộ đội đường sắt và các lực lượng thông tin liên lạc đã xây dựng các cầu đường sắt tạm thời dài 845 mét. Vào mùng 7 tháng 1, chuyến tàu đầu tiên đã tới Leningrad. Thành phố được cũng cấp điện, có nước, tăng tiêu chuẩn bánh mỳ và các loại thực phẩm khác.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #67 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2013, 06:00:43 pm »


Bộ đội các phương diện quân Leningrad và Volkhov gặp nhau, tháng 1 năm 1943 và biên bản gặp nhau của hai phương diện quân


Mặc dù vậy, các cụm xung kích thuộc phương diện quân Leningrad và Volkhov vẫn tiếp tục tấn công. Cánh trái và trung tâm cụm tác chiến thuộc tập đoàn quân xung kích số 2 đã quay lại phía tây nam – tới các điểm cao Sinyavino, còn bộ phận cánh phải cùng với bộ đội tập đoàn quân 67, phương diện quân Leningrad tiếp tục đánh tan quân địch ở các làng Công nhân và trên bờ sông Ladoga. Ngày 20 tháng 1, đại tướng Zhucov đã báo cáo với Stalin:

1.Hôm nay, (tôi) đã trở về Leningrad, nơi cùng Leonidov (bí danh của Govorov), Efremov, Petrov và Afanasiev đã thảo luận chiến dịch quét sạch địch khỏi khu vực sông Neva và tuyến đường sắt Kirov. Theo các tính toán sơ bộ, chiến dịch sẽ bắt đầu ngày 26 tháng 1. Vào thời điểm này, chúng tôi dự kiến tiêu diệt quân địch ở khu vực Sinyavino và tiến tới khu vực Mga. Kế hoạch hoạt động chi tiết, tôi sẽ báo cáo cho đồng chí khi về tới Moskva.

2.Bộ đội của Leonidov và Afanasiev sau khi đột phá đã đứng chân trên các tuyến chiếm lĩnh, tiến hành tổ chức lại lực lượng trên hướng nam và từ 12 giờ ngày 20 tháng 1 đã bắt đầu tấn công trên phía nam.

3.Leonidov và Afansiev cần thêm đạn được để tiến hành chiến dịch. Yêu cầu đồng chí ra lệnh cho Yakovlev tăng cường khẩn cấp đạn (mìn, đạn cối) và đạn (pháo) cho mặt trận với số lượng theo báo cáo của tôi (trích: Leningrad, đứng vững và chiến thắng, trang 138).

Tuy nhiên, tập đoàn quân 67 và tập đoàn quân xung kích số 2 khi tiếp tục tấn công tới Mga, đã không phát triển tiếp được. Từ 19 đến 30 tháng 1, quân địch đã ném vào khu vực Sinyavino 5 sư đoàn và số lượng lớn pháo binh, cho phép chúng giữ được các cao điểm ở Sinyavino.

Để ngăn chặn các các khả năng có thể xảy ra dẫn tới quân địch khôi phục bao vây, bộ đội tập đoàn quân 67 và tập đoàn quân xung kích số 2 vào ngày 30 tháng 1 đã chuyển sang phòng thủ trên tuyến bắc và đông Gorodok thứ 2, phía nam làng Công nhân số 6 và bắc Sinyavino, phía tây Gontovaia Lipka và phía đông Gaitolov. Bộ đội tập đoàn quân 67 tiếp tục chiếm giữ trận địa không lớn trên bờ trái sông Neva tại khu vực Moskovskaia Dubrovka.


Bằng khen Leningrad từ tổng thống Mỹ Rosevelt


Phá vây Leningrad là thời điểm bước ngoặt trong trận đánh ở khu vực thành phố trên sông Neva. Kết thúc chiến dịch “Tia lửa”, thế chủ động trên chiến trường gần Leningrad đã chuyển sang quân đội Liên Xô. Tình hình thành phố, mặt trận Leningrad và hạm đội Baltic trở nên tốt hơn. Mối đe dọa từ quân phát xít và lính Phần Lan đã được giải tỏa. Chiến thắng gần Leningrad đã nhận được sự đánh giá cao từ các đồng minh Liên Xô. Tổng thống Mỹ Rusevelt đã gửi tặng bằng khen đặc biệt cho Leningrad “… kỷ niệm về các chiến sĩ quả cảm của thành phố và những người đàn ông, phụ nữ và trẻ con đáng tin cậy, đã bị quân thù tách khỏi phần còn lại của dân tộc mình và mặc dù bị oanh tạc thường xuyên và hứng chịu nỗi đau khổ từ cái lạnh, đói và bệnh tật, đã bảo vệ vững chắc thành phố thân yêu của mình trong giai đoạn khủng khiếp từ mùng 8 tháng 9 năm 1941 đến 18 tháng 1 năm 1943 và đã trở thành biểu tượng tinh thần bất khuất của nhân dân Liên bang các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên Xô cùng toàn bộ các dân tộc trên thế giới, các lực lượng chống xâm lược (trích Leningrad, hai lần được tặng thưởng huân chương, xuất bản năm 1945, trang 40).

Phá vây Leningrad đã thể hiện sự trưởng thành về nghệ thuật quân sự của Hồng Quân. Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh hiện đại, gần Leningrad đã đánh tan quân thù bao vây thành phố lớn nhất trong thời gian dài, bằng cuộc tấn công từ bên ngoài, phối hợp với các cuộc tấn công mạnh từ bên trong thành phố bị vây hãm. Tổn thất của địch – 13 000 người, cùng với bị thương và mất tích – 30 000.


Tù binh Đức trên đường phố Leningrad


Mặc dù trong chiến dịch “Tia lửa”, quân địch đã bị đẩy lùi khỏi bờ nam hồ Ladoga 10-12 kilomet, Leninrad, trước hết, vẫn còn là thành phố gần mặt trận. Chiến thắng trả bằng giá rất đắt. Tổn thất của tập đoàn quân 67 và tập đoàn không quân 13 thuộc phương diện quân Leningrad là 41 200 người, trong đó có 12 300 người hy sinh, còn phương diện quân Volkhov (tập đoàn quân số 2, tập đoàn không quân 8, 14), tương ứng – 73 800 và 21 600 người (Nga và Liên Xô trong chiến tranh thế kỷ XX, nghiên cứu thống kê – M: OLMA-PRESS, 2001, trang 238).

Trong quá trình chiến dịch, Hồng Quân đã nhạn được kinh nghiệm lớn về tổ chức và tiến hành tấn công trong điều kiện mùa đông khắc nghiệt, tuyết nhiều và địa hình rừng-đồi cũng như khi đột phá vào lực lượng phòng thủ mạnh của địch. Kinh nghiệm đã chỉ ra sự cần thiết lên kế hoạch thật chi tiết, cẩn thận cho pháo binh khi tấn công và di chuyển pháo binh trong trận chiến, thực hiện cơ động pháo binh nhanh chóng và khéo léo cũng như sử dụng hỏa lực tập trung trên diện rộng trong quá trình tấn công, phân phối pháo, trong đó có các loại pháo cỡ nòng lớn, để bắt trực xạ và các khí tài hỏa lực cũng như công trình phòng thủ của địch.

Tổng tư lệnh tối cao Stalin, trong mệnh lệnh ngày 25 tháng 1 năm 1943, vì thành công trong hoạt động phá vây Leningrad, đã tuyên bố cám ơn bộ đội các phương diện quân Leningrad và Volkhov, chúc mừng bộ đội giành được thắng lợi trước quân thù. Vì sự quả cảm và anh dũng, các sư đoàn 136 (tư lệnh – thiếu tướng Simonyak) và 327 (tư lệnh – đại tá Polyakov) đã được đổi tên thành các sư đoàn bộ binh Cận vệ số 63 và 64, lữ đoàn xe tăng 61 (tư lệnh – đại tá Khrustitsky) – thành lữ đoàn tăng Cận vệ 30. Khoảng 19 000 bộ đội phương diện quân Leningrad và Volkhov cùng hạm đội Cờ đỏ Baltic được tặng thưởng huân chương và huy chương, 25 người được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM