Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:53:14 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khí tài ra đa  (Đọc 49679 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #10 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2013, 12:01:01 am »

Ra đa “Most-2”

Nơi thiết kế: Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật vô tuyến toàn Nga

Đài ra đa vô tuyến bước sóng mét đầu tiên, được thiết kế trong vai trò đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu cho pháp phòng không, là dài ra đa vô tuyến nhìn vòng cơ động với tên gọi “Most-2”. Yêu cầu đặt ra cho đài ra đa bảo đảm phát hiện máy bay trong tầm xa 140 kilomet, độ xác định chính xác góc phương vị - 2 độ, tầm xa – 1 kilomet, khả năng cho phép theo góc phương vị - 20 độ (?). Đài hoạt động với công suất xung 80-100kW. Hệ thống ăng ten của đài ra đa gồm 4 “kênh sóng” bố trí theo cặp trong hai tầng ngang, bố trí trên một khung gầm với buồng thiết bị. Trong đài lắp máy phát, máy thu đổi tần, màn hình nhìn vòng và màn hình để xác định góc cao mục tiêu. Tầm xa và góc phương vị được xác định với sự hỗ trợ của màn hình nhìn vòng. Góc cao và tầm cao mục tiêu được xác định bằng phương pháp chuyển mạch các tầng ăng ten khi làm việc với màn hình xác định góc cao. Đài có thiết kế rất đơn giảm và các khả năng khai thác sử dụng cao.

Từ năm 1946, đài ra đa vô tuyến “Most-2” đã trả qua các thí nghiệm và được tiếp nhận vào trang bị lực lượng pháo phòng không, đồng thời được sử dụng trong không quân.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #11 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2013, 12:21:25 am »

Ra đa 55Zh6 “Nebo”


Nơi thiết kế: viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật vô tuyến Nizhegorod

Nơi sản xuất: xưởng vô tuyến Gorki (AO “Nitel”)

55Zh6 “Nebo” là đài ra đa vô tuyến ba tọa độ phát hiện và bám bắt mục tiêu trên không bước sóng mét. Theo mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đầu năm 1975, các công việc thiết kế - thí nghiệm “Nebo” đã được đưa ra với mục đích thiết kế hai đài ra đa vô tuyến đồng nhất bước sóng mét cho quân chủng Phòng không trong trong dạng chuyên chở (ra đa 55Zh6) và cho Lục quân trong dạng cơ động (1L13 “Nebo-SV). Cũng trong năm 1975, thêm một mệnh lệnh từ Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô mà trong đó, các công việc thiết kế thí nghiệm “Nebo” nằm trong số các công việc quan trọng nhất trong kế hoạch 5 năm. Cùng với các công việc nghiên cứu thiết kế, các công việc nghiên cứu khoa học “Ugol” cũng đã được đặt ra để nghiên cứu khả năng chế tạo đài ra đa vô tuyến bước sóng mét. Việc thiết kế đài ra đa vô tuyến 55Zh6 trong khuôn khổ các công việc nghiên cứu thiết kế “Nebo” được tiến hành bởi Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật vô tuyến Nizhigorod (thành phố Gorki, hiện nay là Nizhi Hovgorod) từ năm 1982, Tổng công trình sư Aleksandr Zachepitski. Do công trình nghiên cứu thiết kế đài ra đa vô tuyến, năm 1987, tập thể Viện nghiên cứu khoa học đã được tặng giải thưởng của chính phủ Liên Xô. Đài ra đa vô tuyến được sản xuất ở xưởng vô tuyến Gorki (AO “Nitel”).

Đài ra đa vô tuyến được sử dụng để phát hiện, nhận dạng, đo tọa độ và bám bắt mục tiêu trên không, bao gồm các máy bay chế tạo theo công nghệ “Stels”. Ra đa được tiếp nhận vào quân chủng Phòng không trong dạng hệ thống điều khiển tự động hoặc độc lập.

Đài ra đa làm việc trên bước sóng mét, kết hợp các chức năng đo xa và đo cao. Trong dải bước sóng vô tuyến này, đài ra đa ít bị tổn thương bởi đạn tự dẫn bắn và tên lửa chống ra đa hoạt động trong các dải tần khác. Hiện nay, chưa có loại vũ khí nào tiêu diệt được ra đa hoạt động theo dải sóng này. Trong tư thế đứng thẳng (không sử dụng lưới mảng pha), việc quét điện tử bằng tia đo cao trong mỗi phần tử theo tầm xa.

Khả năng chống nhiễu trong điều kiện bị tác động bởi nhiễu tích cực được đảm bảo bằng sự điều hưởng (điều chỉnh) thích nghi tần số hoạt động và hệ thống điều chỉnh tự động đa kênh. Hệ thống bảo vệ khỏi các loại nhiễu thụ động đồng thời được xây dựng trên cơ sở thiết bị điều chỉnh đối xạ tự động.

Sự đo đạc và cung cấp tọa độ được thực hiện với sự hỗ trợ của thiết bị tự động trên cơ sở máy tính lắp chìm. Có hệ thống kiểm tra tự động.

Khí tài phát có độ tin cậy cao, đạt được do kết quả tăng công suất dự trữ 100% và sử dụng bộ điều biến dạng rắn theo nhóm.

Các thông số kỹ chiến thuật

Kíp làm việc: 4 người

Số lượng đơn vị vận tải: 7-8 rơ moóc một cầu (trên 3 rơ moóc một cầu – khí tài ăng ten – trụ, trên 2 – thiết bị, trên 2 rơ moóc hệ thống nguồn điện độc lập). Có khí tài đi kèm bên ngoài.

Thời gian triển khai – 22 giờ

Thời gian hoạt động liên tục: 150 giờ

Công suất yêu cầu: 100kW

Ăng ten lưới mảng pha, kích thước: 16x3,24 mét

Bước sóng: mét

Tầm quan sát

+ tầm xa – 600/1200km (giới hạn)

+ phương vị: 360 độ

+ góc tà: 16 độ

+ cao: 75km

Tầm đo tọa độ mục tiêu “máy bay tiêm kích”

+ xa, km (trên cao,m): 65 (300), 300 (10 000), hơn 400 (20 000)

+ góc tà: 16 độ

+ cao: 60km

Đo tọa độ mục tiêu chính xác

+ xa: 400/500 mét (theo các thông tin khác)

+ phương vị: 24 góc.phút

+ cao: 750/850 mét (theo các thông tin khác)

Hệ số nhìn dưới tác động nhiệu của hệ thống chọn lọc mục tiêu đang di chuyển: 45 dB

Dạng thông tin đầu ra: các điểm tọa độ

Khối lượng thông tin cung cấp tới đài điều khiển tự động: trên 300 điểm tọa độ

Giai đoạn quay hoàn toàn 360 độ/tốc độ khôi phục thông tin:10 giây

Các biến thể

+ 56Zh6 “Nebo” – phiên bản cơ sở của đài ra đa vô tuyến

+ 55Zh6-1 “Nebo” – nâng cấp, theo một số nguồn là tên gọi đầu tiên của đài ra đa vô tuyến 55Zh6U “Nebo-U”
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2013, 12:08:36 am »

Ra đa “Nebo-SV” (1L13/1113-3-1)


Nơi thiết kế: viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật vô tuyến Nizhegorod

Nơi sản xuất: xưởng vô tuyến Gorki (AO “Nitel”)

Lịch sử chế tạo

Đài ra đa vô tuyến nhìn vòng bước sóng mét “Nebo-SV” (1L13) được sử dụng để phát hiện, nhận dạng mục tiêu trên không và cung cấp tọa độ của chúng (tầm xa và góc phương vị), phối hợp với các trạm xử lý thông tin (trạm điều khiển) của các đài ra đa vô tuyến POPI-P1 trong biên chế lữ đoàn và tiểu đoàn ra đa cùng trạm chỉ huy các lữ đoàn tên lửa phòng không Lục quân. Đài ra đa này có thể sử dụng trong Không quân và Phòng không quốc gia.

Việc thiết kế đài ra đa nhìn vòng “Nebo-SV” được tiến hành theo Quyết định của Ủy ban Quốc gia thuộc Hội đồng Bộ trưởng Lien Xô theo các vấn đề công nghiệp quốc phòng ngày 27 tháng 8 năm 1981 theo nhiệm vũ kỹ chiến thuật của Tổng cục pháo – tên lửa Bộ Quốc phòng và bổ sung cho chúng.

Các nhiệm vụ kỹ chiến thuật này được nghiên cứu bởi các chuyên viên thuộc Tổng cục pháo – tên lửa và 3 Viện nghiên cứu khoa học thuộc Bộ Quốc phòng – D.I.Nosov, A.P.Gorin, Yu.G.Sizov, S.Snopko, P.Z.Belnogov và các chuyên viên khác thuộc Cục chủ nhiệm binh chủng (Управления начальника войск) phòng không Lục quân.

Nhà (nơi) thiết kế ra đa “Nebo-SV” là viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật vô tuyến Gorki thuộc Bộ công nghiệp vô tuyến (Tổng công trình sư I.G.Krưlov).

Thành phần

Đài ra đa vô tuyến 1L13 là đài vô tuyến xung – tổng hợp cơ động bố trí trên 4 phương tiện vận tải (3 xe tải “Ural” và 1 rơ moóc kiểu 2-PN-4M).

Trên xe tải thứ nhất (trạm ăng ten) bố trí khí tài thu – phát, khí tài chống nhiễu, khí tài màn hình, khí tài tự động và cung cấp thông tin vô tuyến, khí tài mô phỏng, thông tin liên lạc và chỉnh lý tài liệu, đồng chỉnh với các yêu cầu của thông tin vô tuyến, kiểm tra chức năng và chuẩn đoán liên tục, khí tài máy hỏi vô tuyến mặt đất (trưc khí tài ăng ten quay), nguồn điện thứ cấp và thiết bị đảm bảo cuộc sống. Trên xe thứ hai (trạm ăng ten quay) bố trí thiết bị ăng ten quay của đài ra đa vô tuyến. Trên xe thứ ba bố trí các máy phát điện diezel kiểu ED2xZO-T23oP-ZRA và cáp đồng chỉnh bố trí trên rơ moóc được xe thứ 1 hoặc thứ 3 kéo. Đài ra đa vô tuyến có thể được ghép bộ bằng hai màn hình nhìn vòng ở ngoài và các dây cáp đồng chỉnh với các yêu cầu của thông tin ra đa vô tuyến.

Hệ thống ăng ten của đài ra đa vô tuyến gồm có ăng ten chính – là lưới dẹt, phẳng đều từ 72 nguồn bức xạ và các lưới ba phần tử bổ sung, lắp đối diện với ăng ten chính. Trên lưới ăng ten chính có 6 mảng hình khối thụ động, liên kết với các bộ chuyển mạch ăng ten.

Trong công suất xung 120kW, độ nhạy của máy thu – 103 dB/W và độ rộng biểu đồ hướng ăng ten (DNA) theo góc phương vị 6 độ, đài ra đa 1L13 bảo đảm trong chế độ “cung chính (góc nghiêng ăng ten 9 độ) – phát hiện mục tiêu dạng máy bay tiêm kích trong bối cảnh không nhiễu với xác suất 0,8 với các giới hạn:

+ tầm xa 22,5-27,5km (độ cao 100 mét)

+ 45–57km (500 mét)

+ 236-273km (10 000 mét)

+ 3350425km (27 000 mét)

Phạm vi quan sát theo góc phương vị: 360 độ; theo góc tà: 25-29 độ.

Trong chế độ “cung dưới” (góc nghiêng ăng ten 0 độ), tầm phát hiện mục tiêu theo góc nhỏ tăng lên 29km trên độ cao 100 mét và 278km ở độ cao 10 000 mét.

Trong chế độ “cung trên” (góc nghiêng ăng ten 13 độ), giới hạn phát hiện mục tiêu trên cao theo góc tà tăng lên 30 độ.

Khi đài bị tác động bởi nhiễu tông (tích cực), thụ động và nhiễu kết hợp, tầm hoạt động hiệu quả của đài ra đa vô tuyến theo mục tiêu ở độ cao 10 000 mét không giảm xuống dưới 200 kilomet. Đài đảm bảo điểu hưởng xung tần số hoạt động khi bị tác động bởi nhiễu ngắm.

Hệ số quan sát mục tiêu trong bố cảnh bị nhiễu tác động – hơn 50dB.

Sai số trung bình đo tọa độ mục tiêu: tầm xa: 600 mét; theo góc phương vị: 1 độ. Các lỗi đo góc tà (cao) mục tiêu được xác định bằng độ chính xác kết hợp với ra đa đo cao.

Khả năng hoạt động hiệu quả của đài ở cự ly hơn 50 kilomet là hơn 1000 mét theo tầm xa và 6 độ theo góc phương vị. Theo góc tà mục tiêu được xác định tương ứng với các khả năng phối hợp với đài ra đa đo cao.

Giai đoạn nhìn vòng của đài là 10 giây hoặc 20 giây. Trong chế độ tự động, thông tin có thể nhận được về hơn 50 mục tiêu.

Thời gian triển khai ra đa là 40 phút, còn thời gian mở khi đài phát điện làm việc – 3 phút.

Kíp chiến đấu: 6 người.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Giêng, 2013, 04:10:52 pm gửi bởi daibangden » Logged
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #13 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2013, 03:56:18 pm »

Bác chủ top nên mở ngoặc phần tên tiếng Nga của công trình sư chế tạo, tên nhà máy, viện nghiên cứu, tên mã trong trang bị, ..để còn tiện tra cứu   Cheesy

Sạn bài viết  Wink
Ra đa “Nebo-SV” (1113-3-1) - 1L13-3
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #14 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2013, 01:18:42 am »

Đài ra đa 5N48A “Oborona-14”  (РЛС "Оборона 14" 5Н84А)


Năm thiết kế: 1974

Đài ra đa vô tuyến 2 tọa độ bước sóng mét sử dụng để phát hiện từ xa và đo tọa độ và góc phương vị mục tiêu trên không trong thành phần đài điều khiển tự động hoặc độc lập. Đài ra đa vô tuyến “Oborona-14” – biến thể đài ra đa vô tuyến kháng nhiễu chở trên phương tiện vận tải “Lena”. Đài bố trí trên 6 phương tiện vận tải (2 rơ moóc một cầu với thiết bị, 2 - với thiết bị cột ăng ten và 2 rơ moóc với hệ thống cung cấp năng lượng). Trên rơ moóc một cầu riêng có trạm hoạt động ngoài với 2 màn hình. Nó có thể cách xa đài ra đa chính 1 kilomet. Để nhận dạng mục tiêu, đài ra đa vô tuyến được ghép bộ với máy hỏi vô tuyến mặt đất.

Trong đài ra đa có ba chế độ quan sát không gian

+ “cung dưới” – tăng cường tầm xa phát hiện các mục tiêu trên tầm thấp và tầm trung

+ “cung trên” – tăng cường giới hạn độ cao phát hiện mục tiêu theo góc tà

+ quét – mở lần lượt (qua quan sát) các tia trên và dưới.

Khả năng chống nhiễu của ra đa trong điều kiện bị tác động bởi nhiễu chủ động được bảo đảm bằng sự điều hưởng tần số hoạt động và hệ thống tự điều chỉnh ba kênh, được tiếp nhận lần đầu tiên. Để chống nhiễu thụ động (như trên đài ra đa “Lena”), sử dụng thiết bị điều chỉnh – kết hợp trên các ống điện. Đài ra đa vô tuyến “Oborona-14” có thể khai thác sử dụng trong điều kiện nhiệt độ môi trường -50… 50 độ, tốc độ gió 30m/s.

Các biến thể

+ 5N84AE – phiên bản xuất khẩu với máy điều hòa không khí

+ 44Zh6 – phiên bản cố định của 5N484AE

Tổng quan kỹ thuật

Thành phần

+ ANP-1

+ ANP-2

+ AP-1

+ AP-2

+ AP-3

+ 5E88

+ 5E96

Kíp chiến đấu: 15 người

Các thông số kỹ chiến thuật

Bước sóng: mét

Phạm vi hoạt động: 360 độ

+ theo góc phương vị: 12 độ (chế độ “cung dưới”)

+ theo góc tà: 17 độ (chế độ “cung trên”)

+ độ cao: 45km (chế độ “cung dưới”)

Tầm phát hiện mục tiêu (dạng “máy bay tiêm kích”) trên độ cao 10 000 mét, km

+ 300 (cung dưới)

+ 280 (cung trên)

Đo tọa độ chính xác (sai số)

+ tầm xa, mét: 1200

+ góc phương vị, độ: 1,2

Hệ chống chống nhiễu: 26dB

Dạng thông tin đầu ra: đồng dạng (?)

Tốc độ khôi phục thông tin – 10 và 20 giây

Thời gian làm việc liên tục: 90 giờ

Công suất yêu cầu: 100kW

Thời gian triển khai: 24 giờ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #15 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2013, 01:19:50 am »

Đài ra đa P-3A (РЛС П-3А)

Mệnh lệnh của Ủy ban Quốc phòng Nhà nước ngày 20 tháng 3 năm 1943 đã tính toán thiết kế trong Viện nghiên cứu khoa học thuộc Bộ công nghiệp vô tuyến ra đa vô tuyến tầm xa mới. Các nguyên nhân dẫn đến thiết kế ra đa này:

+ Các đài RUS-1 và RUS-2c được chế tạo cho binh chủng giám sát, thông tin và liên lạc đường không (thuộc quân chủng phòng không, tồn tại đến năm 1951). Nhưng kinh nghiệm chiến tranh đã chỉ ra rằng, chúng dã phục vụ cho việc cảnh báo sớm, và như đài dẫn đường cho không quân Phòng không, trong các trường hợp riêng biết, chúng là đài chỉ thị mục tiêu cho pháo phòng không.

+ Các đài dẫn đường và chỉ thị mục tiêu RUS-1 và RUS-2s không đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu về đo tọa độ chính xác và khu vực hoạt động.

+ Kinh nghiệm tích lũy trong những năm chiến tranh trong thiết kế và sản xuất cho phép tăng cường độ tin cậy trong khai thác sử dụng và đơn giản hóa việc bảo dưỡng.

Các yêu cầu kỹ chiến thuật cho đài này được hình thành bởi Viện nghiên cứu thí nghiệm thông tin liên lạc Hồng quân và được Bộ Tư lệnh Phòng khong phê chuẩn. Theo đó

+ tầm phát hiện – trên 130 kilomet, tìm phương – 70 kilomet

+ độ chính xác (sai số) phát hiện theo góc phương vị - 4 độ và tìm phương – 1,3 độ

+ độ chính xác (sai số) phát hiện tầm xa – 650 mét và độ cao – 300-700 mét

+ xác định tọa độ theo góc phương vị - từ 0 đến 360 độ và theo góc tà – từ 4 đến 18 độ

+ thời gian xác định 3 tọa độ - hơn 25 giây

+ độ dài bước sóng – 4, 16 mét

+ công suất bức xạ trong xung – 80-100kW, chiều dài xung – 10-15mks.

Ra đa được chế tạo trong dạng tháo rời với hai ăng ten – thăm dò (đứng) và phương vị.

Đặc điểm kỹ thuật của ra đa mới, có tên gọi P-3 là hệ thống ăng ten của nó gồm 2 ăng ten – phương vị - mà tín hiệu từ nó sẽ truyền tới đầu vào của máy thu qua bộ chuyển mạch ăng ten, và ăng ten đứng, hoạt động khi bức xạ từ máy phát, chuyển đổi trong giai đoạn tạm nghỉ và hoạt động cùng với ăng ten phương vị.

Sự xác định gần đúng góc phương vị tiến hành bằng phương pháp phổ thông – theo biên độ cực đại của tín hiệu từ ăng ten hướng tới máy bay. Trong chế độ làm việc ban đêm, việc xác định góc phương vị do hoạt động của bộ chuyển ăng ten và sự kết hợp giữa 2 bộ phận ăng ten phương vị trong pha ngược trên màn hình bộ đánh dấu khi hiệu chỉnh hệ thống tới mục tiêu nhìn rõ 2 xung dãn cách theo thang chia độ xung với biên độ bằng nhau. Khi mục tiêu lệch phải hay trái tương ứng với trục ăng ten, một xung tăng, xung khác giảm.

Để xác định độ cao của máy bay, sử dụng hệ thống gồm 2 ăng ten kiểu “kênh sóng”, đặt trên độ cao khác nhau so với mặt đất (7 và 11 mét). Mỗi ăng ten qua fide riêng kết nối tới thiết bị của đài qua thước đo góc. Thông số đo kết quả hướng của hai ăng ten so với mặt phẳng đứng phụ thuộc vào vị trí con lăn của thước đo góc.

Góc tà mục tiêu được xác định theo sự mất tính hiệu ở thời điểm dịch chuyển con lăn thước đo góc (sự bức xạ bằng 0 và thu). Theo tầm xa và góc tà đo được với sự hỗ trợ của hoa tự, xác định độ cao mục tiêu. Sự kiểm soát thông số hướng ăng ten so với mặt phẳng đứng cho phép không chỉ xác định độ cao bay, mà còn khắc phục khu vực quan sát “chết” trong giới hạn rộng. Đồng thời, việc sử dụng thước đo góc khi phát và khi thu cho phép tăng cường gấp độ độ nhảy cảm tìm phương của đài.

Viện nghiên cứu khoa học đã thực hiện thiết kế thành công và trong giai đoạn từ 20 tháng 7 đến 15 tháng 8 năm 1944, đài ra đa P-3 đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng ở ngoại ô Moskva, đáp ứng các yêu cầu được đưa ra cho đài ra đa. Và không đợi nó kế thúc các thí nghiệm trên bãi tập, đã đề nghị Ủy ban quốc phòng nhà nước chế tạo lô ra đa thí nghiệm trong cùng năm. Ủy ban quốc phòng nhà nước đã chấp nhận đề nghị này và giao cho Viện nghiên cứu khoa học chế tạo 14 tổ hợp ra đa P-3 trong quý 4 năm 1944.

Các thí nghiệm trên bãi tập của đài P-3 trong tháng 1-2 năm 1945 đã mang lại kết quả tốt, khẳng định các báo cáo cấp xưởng. Trên cơ sở các thí nghiệm này đã đề nghị sản xuất các đài P-3 Bzamea RUS-2, RUS-2s (P-2M”). Trong các thí nghiệm trên bãi tập đặc biệt nhấn mạnh sự đơn giản trong cấu trúc đài ra đa P-3, độ tin cậy cao trong khai thác sử dụng và không có biểu đồ qua sát hướng ăng ten các khu vực “chết” trong mặt phẳng đứng.

Năm 1945, đài ra đa P-3 đã được tiếp nhận vào các quân chủng Phòng không, Không quân và Hải quân và được sản xuất số lượng lớn trong dạng trên xe vận tải (P-3A) và dạng tháo rời (RUS-2s).

Tham gia thiết kế: I.N.Antonov, E.Ya.Boguslavski, R.S.Budanov, I.I.Volman, A.R.Volpert, S.P.Zavorotishev, L.V.Leonov, P.V.Podgoriov…

Các thông số kỹ chiến thuật

Tên gọi đài ra đa P-3A

Tầm xa phát hiện mục tiêu: 120 kilomet

Độ cao phát hiện mục tiêu: 10 kilomet.
Logged
kc135
Thành viên
*
Bài viết: 287


« Trả lời #16 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2013, 11:42:39 am »

góp ý với bác daibangden:
nếu radar nào có trong biên chế QDNDVN,bác để dấu(+) phía sau tiêu đề nhé.
trân trọng
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Giêng, 2013, 02:43:53 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #17 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2013, 12:42:33 am »

Đài ra đa “KASTA-2E1” (51U6 - «КАСТА-2Е1»(51У6))


Đài ra đa – đài ra đa dạng rắng cơ động hai tọa độ đơn giản, có giá thành tương đối thấp, được sử dụng để kiểm soát không gian, xác định tầm xa và góc phương vị, đòng thời xác định bạn – thù mục tiêu trên không (máy bay, trực thăng, khí tài dẫn đường đường không và tên lửa có cánh) bay ở tầm thấp và cực thấp trong bối cảnh bị gây nhiễu cường độ cao. Đài ra đa vô tuyến có khả năng phát hiện mục tiêu chế tạo theo công nghệ “Stels”. Ra đa có thể sử dụng để bảo đảm thông tin cho hệ thống phòng không, hệ thống phòng thủ bờ biển, đồng thời hệ thống kiểm soát không gian của cơ quan không lưu.

Đài ra đa lắp trên 2 xe vận tải KamAZ cơ động cao.

Điểm đặc biệt của đài ra đa là sử dụng thiết bị dạng rắn hoàn toàn (ngoại trừ màn hình nhìn vòng trên chỗ làm việc của trắc thủ), bảo đảm độ tin cậy cao, thuận lợi, đơn giản và an toàn trong khai thác sử dụng.

Trong đài ra đa tiếp nhận hệ thống chọn lọc mục tiêu đang di chuyển, trên cơ sở các phương pháp lọc số hóa. Phụ thuộc vào bối cảnh bên ngoài, độ rộng (lớn) khu vực phụ trách có thể được tối ưu hóa để áp chế các loại nhiễu, trong đó có nhiễu thụ động với mật độ cao.

Đài ra đa tiếp nhận hàng loạt các biện pháp bảo đảm chất lượng cao thông tin đầu ra khi chịu tác động của các loại nhiễu xung và nhiễu tông các loại khác nhau.

Đài ra đa có:

+ dải tần số hoạt động rộng (gần 10%), trong đó đảm bảo lựa chọn theo mệnh lệnh của trắc thủ 1 trong 10 tần số mang hoặc chỉnh lưu tự động các tần số mang theo quy luật ngẫu nhiên

+ điều biến pha các xung thăm dò bằng các mã M dài 127 và 225 дискрет với sự thay mã tự động theo quy luật ngẫu nhiên

+ sự ổn định cao trong cảnh báo bẫy do sử dụng sự co hẹp dấu hiệu đối xạ các tín hiệu được tiếp nhận

+ xử lý tiêu chuẩn đặc biệt các thông tin được tiếp nhận kết hợp với sự thay đổi tần số lặp lại của các xung thăm dò.

Đài ra đa có hệ thống kiểm soát tự động ngầm và chuẩn đoán để phát hiện các phần tử gặp sự cố (hỏng hóc).

Hệ thống kiểm soát và tổ hợp modul cùng các phần tử thay thế trong hệ thống phụ tùng hiệu quả cao đảm bảo sự khắc phục sự cố nhanh. Có chỗ làm việc ở ngoài của trắc thủ đặt cách xa đài ra đa chính 300 mét và hệ thống điều khiển từ xa cho mọi chế độ hoạt động của đài ra đa.

Để tăng cường giới hạn phát hiện mục tiêu bay tầm thấp, đồng thời hiệu quả hoạt động cao trong địa hình rừng và đồi núi, đài ra đa 51U6 có thể hoạt động với hệ thống ăng ten kiểu “Unzha” (1RL82M3), lắp trên cột trục nhẹ, không cố định (kiểu 1L81-1) với độ nâng cao 50 mét.

Các thông số chính

Khí tài phát: tranzictor

Tầm hoạt động

+ tầm xa, km: 5-150

+ góc phương vị, độ: 360

+ độ cao, km: 6

Chu kỳ quan sát không gian, giây: 5 và 10

Tầm xa phát hiện mục tiêu trên không bay ở độ cao

+ 100 mét, km: 32-58

+ 1000 mét, km: 95-10 (?)

Sai số xác định tọa độ

+ tầm xa, mét: 450

+ góc phương vị, phút: 100

Hệ số áp chế nhiễu, dB: 53

Thời gian làm việc liên tục, ngày: 20

Thời gian mở máy, phút: trên 3,3

Thời gian triển khai: trên 20

Công suất yêu cầu tối đa, kW: dưới 16

Kíp chiến đấu: 2 người

Số lượng phương tiện vận tải: 2.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #18 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2013, 08:08:47 pm »

Đài ra đa P-8 (П-8 Knife Rest A)


Lịch sử chế tạo

Bước tiến khoa học kỹ thuật đáng kể trong sự phát triển đài ra đa vô tuyến bước sóng mét là việc chế tạo ở Viện nghiên cứu khoa học thuộc công nghiệp vô tuyến đài phát hiện tầm xa P-8. Nó phát hiện máy bay trong chế độ nhìn vòng trong các điều kiện bị nhiễu chủ động và thụ động. Đài ra đa bảo đảm phát hiện máy bay ở tầm xa 150 kilomet trên độ cao 8000 mét,có khả năng phân giải theo tầm xa hơn 2,5 kilomet và theo góc phương vị 24 độ. Công suất bức xạ xung – 70-75kW, độ nhạy của máy thu – hơn 7mkV.

Đài có ăng ten hai tầng từ 4 phần tử “kênh sóng”, hoạt động trên máy phát và máy thu. Trong đài sử dụng 2 màn hình – nhìn vòng và nhìn cao. Màn hình nhìn cao trong tổ hợp với thước đo góc cho phép xác định góc tà mục tiêu với sự hỗ trợ của hoa tự - tầm bay cao. Trong thành phần đài có khối bảo vệ khỏi nhiễu và máy đáp vô tuyến mặt đất NR3-1, có ăng ten riêng và hoạt động trong hệ thống nhận dạng bạn – thù máy bay “Kremni-1”. Để chống lại nhiễu thụ động , sử dụng hệ thống chọn lọc mục tiêu đang di chuyển đơn giản nhất (CDTs) với bộ dao động cao tần kết hợp trong khí tài thu không có hệ thống điều chỉnh xung động qua các giai đoạn (череспериодная компенсация (ЧПК) импульсы). Sự báo mục tiêu di động được thực hiện theo những va đập giữa các điện áp của tín hiệu thua được và bộ dao động cao tần kết hợp. Máy phát của đài có hệ thống ổn định các tần số. Máy thu bộ dao động siêu cao tần bảo đảm sự điều biến gấp đôi các tần số cao tần, trung gian và thấp. Trong tần số thấp, việc bảo vệ đài khỏi các loại nhiễu sung tích cực được thực hiện với sự hỗ trợ của hệ thống chọn lọc các tín hiệu thu theo biên độ và tầm xa. Màn hình nhìn vòng (IKO) có ống tia điện tử với lõi phát huỳnh quang, phát sáng màu xanh da trời và da cam. Sự phát quang màu xanh da trời (triệt tiêu nhanh chóng - светящимися голубым и оранжевым цветом. Голубое (быстроисчезающее) cho phép chỉ thị một lần nữa các mục tiêu xuất hiện, còn sự phát quang màu da cam (triệt tiêu lâu) – nhìn vòng toàn bộ không gian trong giai đoạn ăng ten quay với tốc độ 2 vòng/phút.

Thiết bị của đài và các tổ hợp nguồn điện được bố trí trên hai xe.

Trong giai đoạn 1949-1950, đài ra đa vô tuyến P-8 đã tham gia thí nghiệm thành công trên bãi tập Donguzsk và được tiếp nhận vào trang bị. Đài được tiếp nhận rộng rãi trong quân chủng Phòng không và Không quân cùng các bộ phận phòng không bảo vệ bờ biển thuộc Hải quân.

Năm 1951, theo sáng kiến từ các kỹ sư quân sự M.M.Lobanov và A.I.Obkezin đối với đài ăng ten P-8 đã thiết kế thiết bị cột trụ mới cao 30 mét dưới tên gọi “Unzha”. Với sự hỗ trợ này đã tăng tầm phát hiện máy bay ở tầm trung (dưới 10 kilomet) lên 200-250 kilomet, còn tầm thấp – 60-70%. Đài ra đa P-8 được trang bị 2 hệ thống ăng ten cho phép mở rộng đáng kể thông số kỹ - chiến thuật của đài.

Cột trụ “Unzha” sau đó đã được tiếp nhận rộng rãi trong thông tin liên lạc vô tuyến và kỹ thuật quân sự.

Sự cơ động và các thông số kỹ chiến thuật khác của đài P-8 đã tạo ra tiền đề cho việc sử dụng đài ra đa này trong quân chủng Phòng không trong thành phần các trạm ra đa vô tuyến (RLP) phát hiện sớm các mục tiêu trên không và các trạm chỉ huy (KP) cho lực lượng pháo phòng không.

Các thông số kỹ chiến thuật

Tên gọi: đài ra đa vô tuyến P-8

Tầm xa phát hiện mục tiêu: 150km

Độ cao phát hiện mục tiêu: 10km.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #19 vào lúc: 17 Tháng Giêng, 2013, 03:51:29 pm »

Đài ra đa P-12 “Enisei” (РЛС П-12 "ЕНИСЕЙ" - SPOON REST)


Lịch sử chế tạo

Năm 1954-1956, ở Phòng thiết kế số 197 thuộc Ủy ban nhà nước về vô tuyến điện tử (GKRE) đã thiết kế đài ra đa vô tuyến bước sóng mét phát hiện mục tiêu tầm xa “Enisei” (P-12). Tổng công trinh sư – E.V.Bukvalov. Tầm phát hiện mục tiêu là khoảng 200 kilomet. Các máy bay có thể bị phát hiện trên độ cao 25 kilomet. Công xuất bức xạ sung của đài là 180kW. Đài ra đa vô tuyến P-12 được trang bị hàng loạt các khí tài chống nhiễu (hệ thống chọn lọc mục tiêu đang di chuyển và thiết bị điều hưởng tần số) và máy đáp vô tuyến mặt đất. Đài có ba màn hình: màn hình nhìn vòng (IKO) lắp chìm và màn hình nhìn độ cao, đồng thời màn hình nhìn vòng bố trí ở ngoài, có thể lắp trên trạm chỉ huy trong biên chế Phòng không, Không quân và Hải quân.

Đài ra đa P-12 sau các thí nghiệm trên bãi tập năm 1965 đã được tiếp nhận vào trang bị và sản xuất hàng loạt để thay thế toàn bộ các đài ra đa phát hiện mục tiêu bước sóng mét được chế tạo trước đó trong biên chế quân chủng Phòng không (quốc gia), Lục quân và Hải quân. Đài ra đa được sử dụng không chỉ để phát hiện mục tiêu trên không và cung cấp sự chỉ thị mục tiêu cho pháo phòng không và máy bay tiêm kích thuộc Phòng không, cho các khí tài Phòng không Hải quân (đài được lắp trên các tàu tuần dương lớp “Sverdlov”) mà còn cho các tổ hợp tên lửa phòng không S-75 xuất hiện trong những năm 50 thuộc Phòng không quốc gia, Lục quân và Hải quân. Rõ ràng, đài này là ra đa lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trong quân chủng Phòng không – trên các trạm ra đa vô tuyến trong biên chế tiểu đoàn ra đa, trên trạm chỉ huy (trong đại đội điều khiển) pháo và tên lửa phòng không cấp chiến dịch. Trải qua hàng loạt nâng cấp, đài tới thời điểm này tiếp tục được khai thác thành công trong các đơn vị phòng không Lục quân.

Số lượng biến thể nhiều đáng kể của đài ra đa P-12 liên quan với việc lắp trên nó hệ thống ăng ten fide mới, có dải tần “kênh sóng” thiết kế đơn giản. Trong mỗi tầng của ăng ten mới có 6 “kênh sóng”, cho phép giảm cấp độ búp sóng bên của đồ thị hướng ăng ten (DNA) tới 4% (theo công suất). Đồng thời trong đài áp dụng hệ thống tự động tinh chỉnh tọa độ chính xác, hệ thống gom các tín hiệu có ích và hàng loạt các thay đổi trong thiết kế.

Đài ra đa P-12 khác so với P-10:

+ thay đổi dải tần số

+ tự động điều hưởng lại một trong 4 tần số đã được điều hưởng trước đó

+ xác định tọa độ chính xác hơn

+ tăng tầm xa và tầm cao phát hiện mục tiêu

+ tằng khả năng chống nhiễu chủ động và thụ động

Từ dòng P-12, đã bắt đầu xuất khẩu ra nước ngoài.

Đài nâng cấp P-12M năm 1958 đã trải qua các thí nghiệm thành công và được tiếp nhận vào biên chế năm 1958. Năm 1959, các đài P-12M đã chuyển sang dải tần làm việc 10MHz. Năm 1962, đài ra đa P-12MP với độ tin cậy cao hơn đã được đưa vào thí nghiệm, giảm bức xạ phụ và có khả năng phối hợp với đài ra đa vô tuyến bước sóng centimet, đồng thời với tổ hợp điều khiển tự động hóa trong cụm phòng không “Vozdukh-Sh”. Năm 1970, trong đài P-12PM đã áp dụng các phần tử bổ sung mới: thiết bị chớp để chống tên lửa chống ra đa (PRR) kiểu “Shrike”, hệ thống mới cho máy thu (ШАРУ). Đặc biệt, có màn hình nhùn vòng chung ở ngoài khi phối hợp hoạt động với đài vô tuyến P-15.

Đài ra đa vô tuyến P-12 được tiếp nhận trong các hoạt động chiến đấu ở Việt Nam và Cận Đông. Có thông tin rằng trong thời gian chiến tranh tháng 12 năm 1969 giữa Ai Cập và Israel, đặc nhiệm Israel đã đánh cắp trạm ăng ten của đài P-12 từ trận địa ở khu vực thành phố Ras Ghreb.

Các công việc về chuyển đài P-12MP sang cơ sở phần tử mới và phố hợp nó với hệ thống phân biệt máy bay bạn – thù mới “Kremni-2M) đã được thực hiện. Kết quả nâng cấp này là đài nhận tên gọi P-18 (“Terek”, 1RL131) và sau các thí nghiệm đã được đưa vào trang bị năm 1971.

Các thông số kỹ chiến thuật

Tên gọi: Đài ra đa vô tuyến P-12

Tầm xa phát hiện mục tiêu, km: 250

Độ cao phát hiện mục tiêu, km: 25
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM