Đài ra đa P-3A (РЛС П-3А)
Mệnh lệnh của Ủy ban Quốc phòng Nhà nước ngày 20 tháng 3 năm 1943 đã tính toán thiết kế trong Viện nghiên cứu khoa học thuộc Bộ công nghiệp vô tuyến ra đa vô tuyến tầm xa mới. Các nguyên nhân dẫn đến thiết kế ra đa này:
+ Các đài RUS-1 và RUS-2c được chế tạo cho binh chủng giám sát, thông tin và liên lạc đường không (thuộc quân chủng phòng không, tồn tại đến năm 1951). Nhưng kinh nghiệm chiến tranh đã chỉ ra rằng, chúng dã phục vụ cho việc cảnh báo sớm, và như đài dẫn đường cho không quân Phòng không, trong các trường hợp riêng biết, chúng là đài chỉ thị mục tiêu cho pháo phòng không.
+ Các đài dẫn đường và chỉ thị mục tiêu RUS-1 và RUS-2s không đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu về đo tọa độ chính xác và khu vực hoạt động.
+ Kinh nghiệm tích lũy trong những năm chiến tranh trong thiết kế và sản xuất cho phép tăng cường độ tin cậy trong khai thác sử dụng và đơn giản hóa việc bảo dưỡng.
Các yêu cầu kỹ chiến thuật cho đài này được hình thành bởi Viện nghiên cứu thí nghiệm thông tin liên lạc Hồng quân và được Bộ Tư lệnh Phòng khong phê chuẩn. Theo đó
+ tầm phát hiện – trên 130 kilomet, tìm phương – 70 kilomet
+ độ chính xác (sai số) phát hiện theo góc phương vị - 4 độ và tìm phương – 1,3 độ
+ độ chính xác (sai số) phát hiện tầm xa – 650 mét và độ cao – 300-700 mét
+ xác định tọa độ theo góc phương vị - từ 0 đến 360 độ và theo góc tà – từ 4 đến 18 độ
+ thời gian xác định 3 tọa độ - hơn 25 giây
+ độ dài bước sóng – 4, 16 mét
+ công suất bức xạ trong xung – 80-100kW, chiều dài xung – 10-15mks.
Ra đa được chế tạo trong dạng tháo rời với hai ăng ten – thăm dò (đứng) và phương vị.
Đặc điểm kỹ thuật của ra đa mới, có tên gọi P-3 là hệ thống ăng ten của nó gồm 2 ăng ten – phương vị - mà tín hiệu từ nó sẽ truyền tới đầu vào của máy thu qua bộ chuyển mạch ăng ten, và ăng ten đứng, hoạt động khi bức xạ từ máy phát, chuyển đổi trong giai đoạn tạm nghỉ và hoạt động cùng với ăng ten phương vị.
Sự xác định gần đúng góc phương vị tiến hành bằng phương pháp phổ thông – theo biên độ cực đại của tín hiệu từ ăng ten hướng tới máy bay. Trong chế độ làm việc ban đêm, việc xác định góc phương vị do hoạt động của bộ chuyển ăng ten và sự kết hợp giữa 2 bộ phận ăng ten phương vị trong pha ngược trên màn hình bộ đánh dấu khi hiệu chỉnh hệ thống tới mục tiêu nhìn rõ 2 xung dãn cách theo thang chia độ xung với biên độ bằng nhau. Khi mục tiêu lệch phải hay trái tương ứng với trục ăng ten, một xung tăng, xung khác giảm.
Để xác định độ cao của máy bay, sử dụng hệ thống gồm 2 ăng ten kiểu “kênh sóng”, đặt trên độ cao khác nhau so với mặt đất (7 và 11 mét). Mỗi ăng ten qua fide riêng kết nối tới thiết bị của đài qua thước đo góc. Thông số đo kết quả hướng của hai ăng ten so với mặt phẳng đứng phụ thuộc vào vị trí con lăn của thước đo góc.
Góc tà mục tiêu được xác định theo sự mất tính hiệu ở thời điểm dịch chuyển con lăn thước đo góc (sự bức xạ bằng 0 và thu). Theo tầm xa và góc tà đo được với sự hỗ trợ của hoa tự, xác định độ cao mục tiêu. Sự kiểm soát thông số hướng ăng ten so với mặt phẳng đứng cho phép không chỉ xác định độ cao bay, mà còn khắc phục khu vực quan sát “chết” trong giới hạn rộng. Đồng thời, việc sử dụng thước đo góc khi phát và khi thu cho phép tăng cường gấp độ độ nhảy cảm tìm phương của đài.
Viện nghiên cứu khoa học đã thực hiện thiết kế thành công và trong giai đoạn từ 20 tháng 7 đến 15 tháng 8 năm 1944, đài ra đa P-3 đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng ở ngoại ô Moskva, đáp ứng các yêu cầu được đưa ra cho đài ra đa. Và không đợi nó kế thúc các thí nghiệm trên bãi tập, đã đề nghị Ủy ban quốc phòng nhà nước chế tạo lô ra đa thí nghiệm trong cùng năm. Ủy ban quốc phòng nhà nước đã chấp nhận đề nghị này và giao cho Viện nghiên cứu khoa học chế tạo 14 tổ hợp ra đa P-3 trong quý 4 năm 1944.
Các thí nghiệm trên bãi tập của đài P-3 trong tháng 1-2 năm 1945 đã mang lại kết quả tốt, khẳng định các báo cáo cấp xưởng. Trên cơ sở các thí nghiệm này đã đề nghị sản xuất các đài P-3 Bzamea RUS-2, RUS-2s (P-2M”). Trong các thí nghiệm trên bãi tập đặc biệt nhấn mạnh sự đơn giản trong cấu trúc đài ra đa P-3, độ tin cậy cao trong khai thác sử dụng và không có biểu đồ qua sát hướng ăng ten các khu vực “chết” trong mặt phẳng đứng.
Năm 1945, đài ra đa P-3 đã được tiếp nhận vào các quân chủng Phòng không, Không quân và Hải quân và được sản xuất số lượng lớn trong dạng trên xe vận tải (P-3A) và dạng tháo rời (RUS-2s).
Tham gia thiết kế: I.N.Antonov, E.Ya.Boguslavski, R.S.Budanov, I.I.Volman, A.R.Volpert, S.P.Zavorotishev, L.V.Leonov, P.V.Podgoriov…
Các thông số kỹ chiến thuật
Tên gọi đài ra đa P-3A
Tầm xa phát hiện mục tiêu: 120 kilomet
Độ cao phát hiện mục tiêu: 10 kilomet.