Nhờ sử dụng loại “Con ma” phiên bản mới và thay đổi chiến thuật, các phi công Không quân Mĩ đã bắn hạ được tới 7 chiếc Mig-21 mà không hề bị tổn thất chiếc “Con ma” nào trong 4 tháng đầu năm 1972. Thế nhưng tình thế đã thay đổi kể từ hôm 27-04.
Trong 4 tháng đầu năm 1972, cho đến trước ngày 27/4, không quân ta mất 7 MiG 21 do địch sử dụng máy bay mới và chiến thuật mới. Các bác cho em hỏi :
1. Máy bay mới của địch là loại gì ?
2. Chiến thuật mới của địch ?
3. Ngoài MiG 21, chúng ta còn thiệt hại gì về MiG 17 và J 6 ( MiG 19 ) ?
Trong nguồn tiếng Nga em đọc được, trước ngày 27 tháng 4 ghi nhận 1 tổn thất của Mig-17 ngày 6 tháng 3 năm 1972. Mig-17 bị F-4B Hải quân Mỹ (số đuôi 153019, mã khung thân (бортовой код) «NL-201» bắn rơi (tổ bay: trung úy phi công - Hary L. Weihend; phi công buồng sau/sỹ quan phụ trách ra đa hỏa lực Bill Friklitown).
Trong trận này, số hai của đôi bay Mig-17 trên đường bay về Thọ Xuân đã bị một tốp địch từ ngoài biển vào Nghĩa đàn bắn rơi, phi công hy sinh.
Tìm hiểu trong các tài liệu phía Mỹ thì thấy rằng trong 4 tháng đầu năm 1972, ta bị thiệt hại 7 Mig-21 và 1 Mig-17, trong đó 2 trường hợp là do không quân hải quân, 6 trường hợp là do không quân.
Dưới đây là 2 tài liệu của phía Mỹ:
1.
[USNavy-F4-Mig-72-73] Brad Elward, Peter Davies, US Navy F-4 Phantom II Mig Killer 1972-73
xem online tại:http://www.scribd.com/doc/73298308/Combat-Aircraft-030-Us-Navy-F-4-Phantom-II-Mig-Killers-1972-73-20022.
[USAF-F4-Mig-72-73] Peter Davies, USAF F-4 Phantom II Mig Killers 1972-73
Download tại:http://www.filefactory.com/file/084db2/n/USAF_F-4_Phantom_II_Mig_Killers_1972-73.pdfPhía dưới là danh sách thống kê, bao gồm các cột: ngày tháng, các phi công Mỹ trong kíp bay, loại máy bay địch, loại máy bay của ta, vũ khí địch, hướng bắn, binh chủng và số trang trong tài liệu tham khảo.
Trong 2 loại tên lửa của địch thì AIM-7 là tên lửa điều khiển bằng radar, AIM-9 là tên lửa tầm nhiệt.
-
19/01/1972: Randall H. Cunningham (Randy "Duke" Cunningham) & William P. Driscoll, F-4J, Mig-21, AIM-9G, bắn từ phía sau,
Không quân hải quân [USNavy-F4-Mig-72-73, trang 9]-
21/02/1972: Robert. A. Lodge & Roger. Locher, F-4D, Mig-21, AIM-7E, bắn đối đầu,
Không quân [USAF-F4-Mig-72-73, trang 14]-
01/03/1972: Joe. W. Kittinger & Leigh A. Hodgdon, F-4D, Mig-21, AIM-7E, bắn đối đầu,
Không quân [USAF-F4-Mig-72-73, trang 15]-
06/03/1972: Garry L. Weigand & William C. Freckleton, F-4B, Mig-17, AIM-9D, bắn từ phía sau,
Không quân hải quân [USNavy-F4-Mig-72-73, trang 15]-
30/03/1972: Frederick S. Olmsted Jr & Gerald Volloy, F-4D, Mig-21, AIM-7E, bắn đối đầu,
Không quân [USAF-F4-Mig-72-73, trang 17]-
16/04/1972: Frederick S. Olmsted Jr & Stu. W. Maas, F-4D, Mig-21, AIM-7E, bắn đối đầu,
Không quân [USAF-F4-Mig-72-73, trang 20]-
16/04/1972: Edward D. Cherry & Jeffrey S. Feinstein, F-4D, Mig-21, AIM-7E, bắn từ phía sau,
Không quân [USAF-F4-Mig-72-73, trang 22]-
16/04/1972: James C. Null & Michael D. Vahue, F-4D, Mig-21, AIM-7E, bắn từ phía sau,
Không quân [USAF-F4-Mig-72-73, trang 23]